Chi phí tăng thêm được tính toán như sau: đầu tiên, nhận dạng mức chi tiêu hiện tại cho môi trường, kế đến ước tính chi phí sau khi thực hiện chính sách, và cuối cùng xác định mức chênh
Trang 1CHƯƠNG 8 ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ CHO NHỮNG QUYẾT ĐỊNH
MÔI TRƯỜNG
Trong chương 7, chúng ta bắt khởi đầu việc nghiên cứu chính thức về phân tích lợi ích
- chi phí bằng phần lý thuyết và phương pháp đo lường lợi ích môi trường Phân tích chi phí môi trường hay chi phí cải thiện môi trường cũng không kém phần quan trọng Về phương diện quản lý rủi ro, những nhà làm chính sách phải xem xét giá trị của tất cả các nguồn lực kinh tế được sử dụng để giảm rủi ro môi trường Không giống như phần phân tích lợi ích, thách thức ở đây không phải là ấn định giá trị bằng tiền cho chi phí, bởi vì hầu hết những chi phí này đều đã được thể hiện bằng tiền Ngoài ra, một vấn đề quan trọng hơn là nhận dạng tất cả những nguồn lực được sử dụng để thiết lập, thực thi và thực hiện quy định chính sách
Một vài ý kiến tranh luận rằng nhận dạng những chi phí môi trường là một nhiệm vụ quan trọng Thử nghĩ ngân sách mà chính phủ cần chi tiêu hỗ trợ nghiên cứu khoa học, mạng lưới các cơ quan hành chính, và lực lượng lao động cần thiết để thực hiện một sáng kiến môi trường quan trọng Thêm vào đó hàng tỷ đôla chi cho những thiết bị giảm ô nhiễm và lao động mà những công ty tư nhân chi ra cho lao động và thiết bị giảm ô nhiễm để tuân theo những quy định môi trường Xác định những khoản chi phí lớn như vậy tự bản thân nó là một nhiệm vụ rất lớn Nhưng còn có một yếu tố nữa làm cho việc phân tích chi phí thêm khó khăn – đó là giả thuyết về các chi phí kinh tế, chứ không chỉ đơn giản là chi phí kế toán, sẽ được xác định
Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận về tất cả những vấn đề nêu trên, bắt đầu bằng phần giới thiệu tổng quan về các nguyên tắc cơ bản, phần này sẽ được trình bày giống như khi chúng ta phân tích lợi ích Cụ thể, chúng ta bắt đầu bằng định nghĩa các chi phí tăng thêm, phân biệt giữa chi phí hiển thị và chi phí ẩn, và khái niệm đánh giá chi phí môi trường Một khi đã thực hiện, chúng ta đề cập đến các phương pháp ước lượng chi phí được sử dụng trong thực tế hiện nay Cuối cùng, chúng ta thảo luận một số cách phân loại và báo cáo chi phí môi trường đang được áp dụng phổ biến
Trang 2Nhận dạng và đánh giá chi phí môi trường:
Vấn đề lý thuyết
Như khi đánh giá lợi ích, mức độ phân tích thích hợp để đánh giá chi phí của một sáng kiến môi trường là chi phí tăng thêm Cơ sở cho phép ta so sánh giữa các mức chi tiêu sau khi có chính sách với mức trước khi có chính sách
Định nghĩa chi phí tăng thêm
Bắt đầu với các vấn đề cơ bản, chúng ta biết rằng chi phí môi trường phải được định nghĩa ở dạng chi phí tăng thêm Lý do sử dụng các biến tăng thêm là để xác định những những thay đổi do chính sách gây ra Trong trường hợp này, thay đổi là sự gia tăng trong các chi phí có liên quan đến những cải thiện chất lượng môi trường do chính sách mang lại Chi phí tăng thêm được tính toán như sau: đầu tiên, nhận dạng mức chi tiêu hiện tại cho môi trường, kế đến ước tính chi phí sau khi thực hiện chính sách, và cuối cùng xác định mức chênh lệch giữa hai khoản này Xem qua ví dụ sau, Mỹ đã phải gánh chịu hàng triệu đôla chi phí tăng thêm giải quyết thiệt hại môi trường liên quan đến sự kiện tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 Tổng quan về những chi phí này được cho trong Ứng dụng 8.1
Theo quan điểm kinh tế, chi phí tăng thêm nên phản ánh những thay đổi trong chi phí kinh tế Như được đề cập trong Chương 2, những chi phí kinh tế là thước đo mức độ sử dụng nguồn lực chính xác hơn so với chi phí kế toán bởi vì chúng bao gồm cả chi phí hiển thị và chi phí ẩn Tuy nhiên, bởi vì chi phí ẩn khó có thể xác định, nên nhiều nhà phân tích thường chỉ dựa vào những khoản chi tiêu hiển thị để suy ra giá trị chi phí môi trường
Chi phí môi trường hiển thị
Những chi phí hiển thị để thực hiện một chính sách môi trường bao gồm các khoản chi phí hành chính, chi phí kiểm soát, và chí phí cưỡng chế thi hành của khu vực công, cũng như các chi phí tuân thủ của hầu hết tất cả các thành phần trong nền kinh tế Chi phí hiển thị và thành phần của nó dễ nhận dạng hơn so với lợi ích và thành phần của lợi ích, bởi vì hầu hết nguồn lực dùng để thực hiện các chính sách kiểm soát
ô nhiễm đều được trao đổi trên những thị trường tư nhân Những chi phí này liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực kinh tế - đất đai, lao động, vốn – lần lượt là tiền thuê đất, tiền lương và tiền lãi Bởi vì những nguồn lực này được trao đổi trên thị trường mở, nên các khoản chi tiêu được dựa trên các giá cả thị trường của nhập lượng Tuy nhiên, những khoản chi tiêu này không được thực hiện đồng thời, và trong ngắn hạn, có một số khoản chi tiêu khó có thể kiểm soát hơn so với những khoản khác
Trang 3Nhận ra những khác biệt này, các nhà kinh tế học phân loại chi phí ra thành hai thành phần: (1) chi phí cố định, là những chi phí khó có thể kiểm soát trong ngắn hạn và không phụ thuộc vào quy mô sản xuất, và (2) chi phí biến đổi, là những chi phí có các đặc điểm ngược lại so với chi phí cố định Trong trường hợp thực hiện và tuân thủ chính sách môi trường, thì các chi phí kế toán tương đương với các loại này được chia thành chi phí vốn và chi phí hoạt động
Chi phí vốn và chi phí hoạt động
Theo nguyên tắc chỉ đạo của chính phủ Mỹ do Bộ Thương Mại đưa ra và được cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) sử dụng, thì chi phí vốn và chi phí hoạt động có ý nghĩa riêng biệt Chi phí vốn là các khoản chi tiêu cho nhà xưởng, thiết bị, công trình xây dựng đang thực hiện, và những chi phí thay đổi trong các qui trình sản xuất nhằm làm giảm hoặc loại bỏ nguồn gây ô nhiễm Chi phí hoạt động là những chi phí phát sinh trong quá trình vận hành và bảo trì các qui trình giảm ô nhiễm, bao gồm chi tiêu cho nguyên vật liệu, linh kiện, lao động trực tiếp, nhiên liệu, và nghiên cứu phát triển
Sự khác biệt quan trọng giữa hai loại chi phí này là ở chổ các chi phí này có liên hệ như thế nào đến mức giảm ô nhiễm Chi phí vốn là những chi phí phải chịu bất kể lượng giảm ô nhiễm là bao nhiêu, tương tự như định nghĩa kinh tế về chi phí cố định
Ví dụ như giá lắp đặt hệ thống lọc khí đốt để làm giảm ô nhiễm không khí, chi phí xây dựng một nhà máy xử lý nước thải, và chi phí mua đất đai để làm bãi rác Chú ý phải chịu những chi phí vốn này trứơc khi thực hiện bất kỳ hoạt động đầu tư nào và độc lập với lượng vốn được sử dụng để giảm ô nhiễm Ngược lại, chi phí hoạt động có quan hệ trực tiếp đến lượng giảm ô nhiễm, tương tự định nghĩa kinh tế về chi phí biến đổi Ví dụ như chi phí giám sát sự phát thải và chi phí lao động để vận hành nhà máy xử lý ô nhiễm
Chi phí môi trường ẩn
Mặc dù những chi phí giảm ô nhiễm hiển thị có vẽ thể hiện khá đầy đủ, nhưng hóa ra chúng chỉ là một phần của chi phí kinh tế Cũng có các chi phí ẩn – là những chi phí liên quan đến bất kỳ những ảnh hưởng không thể hiện bằng tiền có ảnh hưởng tiêu cực đối với phúc lợi của xã hội Những chi phí này bao gồm giảm chủng loại hàng hoá do cấm sử dụng một số yếu tố đầu vào nhất định, chi phí thời gian tìm kiếm hàng hóa thay thế, và giảm sự tiện nghi do các chính sách kiểm soát môi trường gây ra Mặc dù những chi phí ẩn được cho là một yếu tố quan trọng, nhưng việc nhận dạng và đo lường chúng trong thực tế hoàn toàn là một vấn khác Thực tế, thì hầu hết các phân tích không tính đầy đủ các giá trị này, bỏ qua những tác động được coi như các
Trang 4chi phí thực cho xã hội Kết quả là gì? Nhiều nghiên cứu đã đánh giá quá thấp chi phí môi trường, một vấn đến nay vẫn chưa được giải quyết một cách đầy đủ
Đánh giá chi phí môi trường
Để có không khí hay nước sạch hơn thì phải sử dụng những nguồn lực kinh tế nào? Và chi phí của những nguồn lực này là gì? Một cách lý tưởng, để trả lời những câu hỏi này bạn nên xác định chi phí xã hội của chính sách môi trường
Theo lý thuyết, chi phí xã hội của bất kỳ sáng kiến chính sách nào là những chi tiêu cần thiết để bồi thường cho xã hội những nguồn lực đã đựơc sử dụng sao cho độ thỏa dụng của xã hội vẫn không thay đổi Sự bồi thường này có thể phải tính tất cả những ảnh hưởng giá cả, sản lượng, và thu nhập phát sinh từ một quy định nào đó Một ví dụ về ảnh hưởng như vậy là giá xe ôtô tăng do chi phí trang bị thiết bị làm giảm ô nhiễm Một ví dụ khác là giá những sản phẩm gia dụng cao hơn do sử dụng bao bì tái chế và chi phí do quy định về nhãn hiệu nghiêm ngặt hơn Cũng có những thay đổi thu nhập thực do mức thuế cao hơn để có nguồn chi cho những qui định này Ngoài những ảnh hưởng này, các chi phí ẩn hoặc không được thể hiện bằng tiền cũng phải được nhận dạng và lượng hoá thành tiền Ví dụ như sự bất tiện khi sử dụng những phương tiện vận chuyển công cộng hoặc xe dùng chung do những chính sách mới về không khí đô thị hoặc chi phí tìm kiếm những sản phẩm thay thế không độc hại
Theo quan điểm mô hình hóa, chúng ta tính chi phí xã hội biên (MSC) dựa vào đường cung hàng hoá công, chất lượng môi trường Mặc dù đường cầu hàng hoá công chỉ có thể được suy ra, nhưng hàm cung có thể được xác định một cách một cách trực tiếp theo cách tương tự như hàng hoá tư nhân Chúng ta xem lại mô hình cung thị trường đã được đề cập trong Chương 3 về chi phí làm giảm ô nhiễm biên của khí SO2 Hàm cung được xác định là MSC = 4 + 0.75A, trong đó MSC được tính bằng triệu đôla và A là phần trăm lượng khí SO2 được làm giảm
Trong Chương 4, chúng ta đã xác định MSC là tổng theo chiều thẳng đứng những chi phí giảm ô nhiễm biên theo thị trường (MACmkt) cộng với chi phí thực thi (enforcement) biên của chính phủ (MCE) Đồ thị được vẽ như trong Đồ thị 8.1
Trang 5Đồ thị 8.1 Chi phí xã hội biên (MSC) và tổng chi phí xã hội (TSC) của chất lượng
không khí (% lượng khí SO 2 giảm)
Đường cung thị trường về lượng khí SO 2 được làm giảm thể hiện bằng đường chi phí xã hội biên (MSC) của chất lượng không khí Đối với mỗi mức giảm A, MSC tương ứng được thể hiện bằng khoảng cách từ trục hoành đến đường cung Tổng chi phí xã hội (TSC) đối với bất kỳ mức giảm nào được tính bằng diện tích dưới đường MSC đến điểm đó Vì thế, diện tích được tô đậm thể hiện TSC để đạt mức giảm A 1
Tương tự như phần phân tích lợi ích, ở mỗi mức ô nhiễm được làm giảm, MSC được thể hiện bằng khoảng cách từ trục hoành lên đến đường cung Tổng chi phí xã hội (TSC) đối với mỗi mức ô nhiễm được làm giảm là diện tích dưới đường MSC tính đến mức ô nhiễm đựơc giảm đó Diện tích được tô đậm trong Hình 8.1 là thể hiện tổng chi phí xã hội (TSC) để đạt mức giảm ô nhiễm A1
Giống như phần phân tích lợi ích, việc đánh giá chi phí tăng thêm cũng theo qui trình gồm ba bước sau:
1 Xác định giá trị TSC gốc trước khi thực hiện chính sách
2 Xác định giá trị TSC mới sau khi thực hiện chính sách
3 Lấy TSC sau khi thực hiện chính sách trừ TSC gốc trước khi thực hiện chính sách để xác định chi phí tăng thêm
Trang 6Đồ thị 8.2 Mô hình hóa chi phí tăng thêm đối với chất lượng không khí (% lượng khí
SO 2 giảm) bằng cách sử dụng hàm MSC
Tại mức giảm ô nhiễm gốc là 20%, MSC bằng 19 triệu đôla, và TSC là diện tích dưới đường MSC tính đến điểm 20%, hay 230 triệu đôla Tại mức giảm ô nhiễm sau khi có chính sách là 25%, MSC là 22.75 triệu đôla, và TSC tương ứng là 334.375 triệu đôla
Vì thế, chênh lệch giữa hai giá trị TSC, hay 104.375 triệu đôla, thể hiện chi phí tăng thêm để đạt 5% lượng giảm SO 2 tăng thêm Các chi phí tăng thêm này được thể hiện bằng diện tích được tô đậm
Để minh họa qui trình này, chúng ta xem xét chi phí tăng thêm của một sự gia tăng lượng giảm khí SO2 từ 20% lên 25% do thực hiện chính sách Đầu tiên, chúng ta xác định TSC khi A bằng 20% Xem đồ thị 8.2, MSC tại mức giảm SO2 20% là 19 triệu đôla và TSC tương ứng là phần diện tích dưới đường MSC cho đến điểm A = 20%, hay 230 triệu đôla Thứ hai, chúng ta xác định TSC sau khi thực hiện chính sách tăng lượng giảm SO2 lên 25% Tương tự, khi A bằng 25% thì MSC là 22.75 triệu đôla và TSC là 334.375 triệu đôla Như vậy, chênh lệch giữa hai giá trị TSC, hay 104.375 triệu đôla, thể hiện chi phí tăng thêm để tăng thêm 5% lượng giảm SO2
Đồ thị 8.3 thể hiện một mô hình khác Mô hình này minh hoạ TSC một cách trực tiếp theo phần trăm lượng giảm SO2 Trong trường hợp này, TSC liên quan đến bất kỳ mức giảm ô nhiễm có thể được xác định đơn giản là khoảng cách theo chiều thẳng đứng trục hoành đến đường TSC Để xác định chi phí tăng thêm từ mô hình này, bước đầu chúng ta xác định các mức giảm SO2 trước và sau khi thực hiện chính sách (lần
Trang 7lượt là 20% và 25%) và các mức TSC tương ứng (lần lượt là 230 và 334.375 triệu đôla) Giá trị chênh lệch, 104.375 triệu đôla, là khoảng cách theo chiều thẳng đứng của hai giá trị chi phí
Đồ thị 8.3 Mô hình hóa chi phí tăng thêm đối với chất lượng không khí (% lượng khí
SO 2 giảm) bằng cách sử dụng hàm TSC
Một cách khác để mô hình hóa chi phí tăng thêm của việc làm giảm SO 2 là vẽ TSC trực tiếp như một hàm số của nhiều mức giảm ô nhiễm khác nhau Như thế, TSC liên quan đến bất kỳ mức giảm ô nhiễm có thể được xác định đơn giản là khoảng cách theo chiều thẳng đứng từ trục hoành đến đường TSC Lưu ý rằng các mức giảm ô nhiễm trước và sau khi thực hiện chính sách, lần lượt là 20% và 25%, các mức TSC tương ứng, lần lượt là 230 và 334.375 triệu đôla Vì vậy, giá trị chênh lệch, hay 104.375 triệu đôla, là khoảng cách theo chiều thẳng đứng của hai giá trị chi phí.
Trong thực tế, để đánh giá một cách hợp lý các chi phí xã hội của một sáng kiến môi trường, nhà phân tích có thể phải đo lường những sự thay đổi trong phúc lợi xã hội, có lẽ bằng cách ước lượng những thay đổi trong thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất Đây là một việc làm phức tạp, nhưng có bằng chứng cho thấy làm như vậy sẽ cải tiến được sự chính xác trong việc đánh giá chi phí Một nghiên cứu của Hazilla và Kopp (1990) ước lượng chi phí xã hội của các chính sách kiểm soát chất lượng nước và không khí ở Mỹ Theo nghiên cứu này, có một sự khác biệt đáng kể giữa chi phí xã hội và các ước lượng chi phí hiển thị điển hình được sử dụng trong thực tế Thực sự, những nhà nghiên cứu này đề nghị những nhà làm chính sách điều chỉnh các quy trình của họ để xem xét một cách tiếp cận cân bằng tổng quát trong phân tích chi phí Tuy nhiên, những phương pháp sẵn có để thực hiện việc đánh giá chi phí toàn diện
Trang 8hơn như thế này lại quá phức tạp và không chắc chắn không thể được sử dụng như một phương pháp chuẩn mực Do đó ít nhất là cho đến nay, phân tích chi phí tiếp tục chỉ dựa trên các khoản chi tiêu hiển thị, mặc dù, mặc dù nói chung người ta cho rằng một cách tiếp cận như thế đánh giá thấp chi phí xã hội thực
Các phương pháp ước lượng dùng để đo lường chi phí hiển thị
Các nhà kinh tế sử dụng hai cách tiếp cận chính để ước lượng chi phí môi trường tăng thêm: cách tiếp cận kỹ thuật và cách tiếp cận khảo sát Cách tiếp cận kỹ thuật ước lượng các chi tiêu giảm ô nhiễm dựa trên công nghệ hiện có với chi phí thấp nhất để đạt một mức giảm ô nhiễm nào đó Cách tiếp cận khảo sát xác định những tiêu khoảnchi tiêu giảm ô nhiễm một cách trực tiếp từ các nguồn gây ô nhiễm Mặc dù hai cách tiếp cận này khác nhau, nhưng thực tế phổ là sử dụng cách tiếp cận kết hợp từ cả hai cách tiếp cận này Trước hết, cách tiếp cận khảo sát được dùng để thu thập thông tin về những công nghệ hiện có và các điều kiện thị trường hiện tại Sau đó, sử dụng cách tiếp cận kỹ thuật để ước lượng giá trị bằng tiền từ các số liệu thu thập được Phần tiếp theo sẽ là một thảo luận ngắn gọn mỗi cách tiếp cận, trong đó có đề cập những hạn chế của mỗi cách tiếp cận
Bảng 8.1 Cách tiếp cận khảo sát ước lượng các khoản chi tiêu kiểm soát và giảm ô nhiên năm 1991
phí được xác định qua khảo sát Các chi phí giảm ô nhiễm
Tài chính chính phủ
Giá trị xây dựng mới
Tài trợ liên bang cho kiểm soát ô nhiễm
Cấu trúc và thiết bị khảo sát
Thiết kế và vận hành
Cục điều tra dân số Cục điều tra dân số Cục điều tra dân số Ban phân tích kinh
tế Cục điều tra dân số Bộ năng lượng
21
22
10
5
5
2
Nguồn: Vogan (tháng 9 năm 1996), p.54, bảng 10
Cách tiếp cận kỹ thuật
Cách tiếp kỹ thuật để ước lượng chi tiêu dựa trên kiến thức của những chuyên gia về công nghệ giảm ô nhiễm Dựa trên trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật trong việc làm giảm ô nhiễm, những kỹ sư và những nhà khoa học đựơc mời xác định những sự kết hợp của thiết bị, lao động, nguyên vật liệu người gây ô nhiễm cần để
Trang 9tuân thủ những quy định của pháp luật Sau đó, họ ước lượng những chi phí vốn và chi phí hoạt động cho tất cả các phương án giảm ô nhiễm khả thi Cuối cùng, những nhà phân tích chọn mô hình có chi phí thấp nhất trong số những phương án dựa vào công nghệ này và sử dụng kết quả đó để ước lượng tổng chi phí tăng thêm đối với tất cả nguồn gây ô nhiễm bị ảnh hưởng bởi chính sách
Mặc dù về mặt lý thuyết thì có vẽ hợp lý, nhưng cách tiếp cận kỹ thuật cũng có một số vấn đề Một hạn chế là, khó có thể thực hiện đầy đủ quy trình cho những công cụ kiểm soát môi trường dự kiến, vì sự không chắc chắn về xu hướng biến động giá cả, sự sẵn có của các nguyên vật liệu thô, và chi phí năng lượng trong tương lai Ngay cả khi không có những vấn đề về dự báo những chi phí này, thì bất kỳ cách tổng hợp nào cũng hàm chứa những khó khăn vốn có Hầu hết những sáng kiến về chính sách toàn diện đều ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp và các công trình công cộng Để tính chính xác những ảnh hưởng này, cách tiếp cận kỹ thuật phải được áp dụng linh hoạt để thích hợp với từng điều kiện sản xuất Nếu bỏ qua, thì các kết quả có thể sẽ không chính xác theo qui trình lấy trung bình Ngay cả khi đã tính được các giá trị của một ngành cụ thể, thì tính không đồng nhất của các công ty và các điều kiện thị trường mà mỗi công ty gặp phải có thể không được tính đến trong giá trị đã được khái quát hóa như thế Cuối cùng, bởi vì cách tiếp cận này dựa trên cơ sở phương án có chi phí giảm ô nhiễm thấp nhất, nên rõ ràng nó giả định rằng tất cả những công ty đều là những đơn vị hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả chi phí – một giả định rằng có thể đánh giá thấp các chi phí thực
Cách tiếp cận khảo sát
Trái lại với cách tiếp cận kỹ thuật, cách tiếp cận khảo sát dựa trực tiếp trên các nguồn gây ô nhiễm thay vì dựa vào dữ liệu do các chuyên gia bên ngoài cung cấp cho việc ước lượng chi phí Tương tự phương pháp đánh giá ngẫu nhiên dùng để ước lượng lợi ích, cách tiếp cận khảo sát thăm dò ý kiến một mẫu khảo sát các công ty và các công trình công cộng để suy ra những khoản chi tiêu cho môi trường hiện tại hoặc dự kiến Để minh họa khả năng ứng dụng của cách tiếp cận này, trong Bảng 8.1, chúng tôi liệt kê những cuộc khảo đã từng được sử dụng để thu thập dữ liệu chi phí của Mỹ năm 1994 Hơn nữa, những dữ liệu này do chính phủ chịu trách nhiệm quản lý khảo sát Khoảng 65% thông tin được sử dụng trong báo cáo chi phí năm 1994 được lấy ra từ một loại khảo sát nào đó Chú ý rằng những khảo sát này tập trung vào chi phí kiểm soát và chi phí giảm ô nhiễm của cả khu vực tư nhân và khu vực công Bên cạnh đó, phương pháp khảo sát là một cách thu thập dữ liệu chi phí giảm thải trực tiếp hơn so với cách tiếp cận kỹ thuật Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng có những hạn chế Thứ nhất, nó hàm ý giả định rằng những nguồn gây ô nhiễm được
Trang 10cung cấp thông tin một cách đầy đủ để đưa ra các giá trị ước lượng hợp lý Thứ hai, luôn tồn tại một ước lượng chệch vốn có Những nguồn gây ô nhiễm có động cơ thổi phồng những chi phí này với viên chức chính phủ bởi vì họ nhận ra rằng chi phí cao hơn sẽ tăng khả năng bác bỏ những quy định được đề xuất
Cũng như trường hợp đánh giá lợi ích, không có một phương pháp ước lượng chi phí nào là hoàn hảo Thực tế, nhận thức này đã thúc đẩy những nhà nghiên cứu sử dụng cách phối hợp cách tiếp cận kỹ thuật và cách tiếp cận khảo sát Mục tiêu là cố gắng tận dụng được những ưu điểm của hai cách tiếp cận và tối thiểu hoá ước lượng chệch tiềm năng Vì lợi ích và chi phí có vai trò ngày càng quan trọng trong các quyết định chính sách môi trường, nên những nổ lực như vậy đang diễn ra nhằm tăng tính chính xác của việc ước lượng chi phí môi trường
Các phân loại chi phí trong thực tế
Là một phần của việc đánh giá chi phí, những nhà phân tích quan tâm đến cấu thành của những chi phí kiểm soát môi trường Nguyên nhân có thể là cấu thành nào đó của các chi phí, chẳng hạn như chi cho kiểm soát chất lượng nước hoặc chi phí giảm ô nhiễm do khu vực tư nhân chịu, có liên quan đến một quyết định chính sách Quan trọng hơn, thông tin về cấu thành của chi phí kiểm soát giúp người làm chính sách hiểu rõ hơn về những nguồn lực hiện đang được sử dụng như thế nào để đạt đến mục tiêu môi trường - thông tin quan trọng để đánh giá chính sách trên cơ sở hiệu quả phân phối Tương tự, những điều chỉnh nhằm sửa chữa sự không công bằng về môi trường đòi hỏi phải hiểu biết về gánh nặng chi phí được phân bổ như thế nào giữa các thành phần kinh tế
Bởi vì tính đa dạng của các mục tiêu trong đánh giá chi phí, nên nhiều cách phân loại chi phí khác nhau được sử dụng để thu thập những loại thông tin khác nhau Sau đây là khái quát về hai cách phân loại đang được sử dụng phổ biến hơn cả
Phân loại chi phí theo khu vực kinh tế
Những nhà phân tích chính sách quan tâm đến những chi phí môi trường được phân bổ như thế nào giữa khu vực tư và công Ví dụ, các chi phí điều chỉnh chính sách nhằm đẩy mạnh các chương trình giám sát và cưỡng chế thực hiện sẽ chuyển gánh nặng chi phí sang khu vực công, có khả năng là ở tất cả chính quyền các cấp Điều này lại làm dịch chuyển đường MCE lên trên và do đó làm dịch chuyển đường MSC của giảm ô nhiễm Ngược lại, những quy định giảm ô nhiễm nghiêm ngặt hơn sẽ làm thay đổi gánh nặng chi phí về khu vực tư nhân Để minh họa hãy xem xét xu hướng của những dữ liệu từ năm 1975-1994 trong Bảng 8.2 Những khoản chi tiêu được