1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường

32 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 726,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo lý thuyết, nếu chúng ta có thể suy ra nhu cầu của xã hội về chất lượng môi trường, thì chúng ta có thể đo lường được các lợi ích tăng thêm liên quan đến bất kỳ chính sách môi trường

Trang 1

CHƯƠNG 7 ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH CHO VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH VỀ

MÔI TRƯỜNG

Đánh giá rủi ro và quản trị rủi ro là trung tâm của trong quá trình ra quyết định hướng dẫn chính sách môi trường Một khi mức độ rủi ro môi trường đã được nhận dạng, nhà chức trách bắt đầu nhiệm vụ hết sức quan trọng là suy nghĩ tìm ra chính sách Cuối cùng, mục tiêu là giảm thiểu rủi ro, mà giảm thiểu rủi ro là một lợi ích cho xã hội Tuy nhiên, đạt được mục tiêu này không phải là một quyết định không

bị ràng buộc Có nhiều chi phí cơ hội Các nhà chức trách cần xem xét việc nguồn lực được sử dụng để giảm sương mù thì không còn sẵn nữa để làm sạch Biển Hồ hay để bảo tồn loài kền kền ở California hay để cải tiến giáo dục cộng đồng Những người làm chính sách sẽ đương đầu với các quyết định khó khăn như thế bằng cách nào? Không có câu trả lời đơn giản, và, thực tế, hầu hết có thể lập luận rằng khu vực công vật lộn với vấn đề này trên cơ sở đang diễn ra Tuy nhiên, có nhiều chiến lược ra quyết định có thể hiệu quả trong xây dựng chính sách môi trường, trong số đó, có phân tích lợi ích – chi phí

Phân tích lợi ích – chi phí làm nền tảng của nhiều lý thuyết kinh tế Ví du,ï doanh thu biên bằng chi phí biên sẽ tối đa hoá lợi nhuận là một ứng dụng của phân tích lợi ích – chi phí Trong ngữ cảnh rộng hơn về quyết định chính sách, phân tích lợi ích - chi phí được sử dụng để đánh giá những cái được và mất đối với xã hội nói chung Trong mọi trường hợp, nguyên tắc cơ bản đều giống nhau: Nếu lợi ích biên bằng chi phí biên thì đó là một giải pháp hiệu quả

Như đã nói ở trên, rõ ràng cơ sở lý thuyết của phân tích – lợi ích là đúng đắn, nhưng áp dụng lý thuyết này trên thực tế không rõ ràng Để áp dụng phân tích lợi ích - chi phí trong các quyết định môi trường, những người làm chính sách phải lượng hóa những lợi ích và chi phí liên quan Tuy nhiên, có nhiều lợi ích – chi phí vô hình khó lượng hóa thành tiền, ví dụ như kéo dài tuổi thọ, cải thiện mỹ quan, và bảo tồn hệ sinh thái Mặc dù lượng hóa là một qui trình khó khăn, nhưng nó có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhiều chính phủ ở khắp nơi trên thế giới đang chi ra các khoản tiền khổng lồ để xây dựng và thực hiện chính sách môi trường Chỉ riêng ở Mỹ, số tiền chi tiêu hàng năm khoảng 120 tỷ đôla Những khoản tiền dành riêng cho chính sách môi trường lớn như thế không thể được thực hiện với sự không hiểu biết các ứng dụng kinh tế Vì thế, những người làm chính sách cần có các phương pháp đo lường các lợi ích và chi phí tin cậy để hướng dẫn ra các quyết định quan trọng như thế này là điều không có gì phải bàn cãi

Trang 2

Trong chương này, chúng ta đi tìm động cơ cho việc đánh giá các lợi ích môi trường và các phương pháp được sử dụng để đo lường chúng Ta bắt đầu bằng cách trình bày các vấn đề lý thuyết về như thế nào và tại sao xã hội phải đánh giá tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường Khung lý thuyết này hỗ trợ việc phân tích tiếp theo của chúng ta về nhiều phương pháp ước lượng lợi ích khác nhau Một khi đã hoàn thành vế này của việc phân tích lợi ích, ta tiến hành một nghiên cứu tương tự về các chi phí ở Chương 8 Tất cả nội dung này làm nền tảng để nghiên cứu xem hai yếu tố lợi ích và chi phí sẽ được kết hợp với nhau trong một phân tích lợi ích – chi phí, chủ đề của Chương 9, như thế nào

Nhận dạng và đánh giá các lợi ích môi trường: Vấn đề lý thuyết

Đầu tiên, chúng ta cần thiết lập mức độ thích hợp của phân tích để đánh giá các lợi ích môi trường do chính sách mang lại Từ những chương trước, chúng ta biết sức khoẻ và những lợi ích sinh thái có thể được đánh giá bằng giá trị giảm thiệt hại Điểm then chốt là phải nhận ra rằng thước đo thích hợp là sự thay đổi giá trị giảm thiệt hại do chính sách mang lại Trong thực tế, những thay đổi này được gọi là những lợi ích tăng thêm

Định nghĩa lợi ích tăng thêm

Để đánh giá những lợi ích xã hội do chính sách môi trường đem lại, những người ra quyết định phải tìm ra những thiệt hại về sức khoẻ, sinh thái và tài sản thay đổi như

thế nào như từ chính sách đó Trọng tâm đặt lên sự thay đổi trong thiệt hại thay vì

toàn bộ thiệt hại không phải là vấn đề mới Lý thuyết kinh tế đề cập đến các ảnh hưởng biên tế Mặc dù những thay đổi này cực nhỏ khi được đo lường tại một điểm, nhưng chúng thực chất là những thay đổỉ Khi sự thay đổi qua một dãy riêng biệt,

thì sự thay đổi đó được xem như tăng thêm hơn là biên tế Bởi vì đánh giá chính

sách quan tâm đến việc nhận dạng sự giảm thiệt hại qua một khoản thời gian riêng biệt nào đó, nên thước đo lợi ích thích hợp là lợi ích tăng thêm

Để nhận dạng các lợi ích tăng thêm, những người phân tích phải so sánh những lợi ích thực tế và lợi ích mong đợi đối với xã hội sau khi chính sách được thực hiện so với một thước đo gốc tương ứng vói các điều kiện hiện tại Những lợi ích môi trường thường được chia thành nhiều loại, như cải thiện sức khoẻ con người, mỹ quan, kinh tế, nghỉ ngơi giải trí, tài sản, và sinh thái Ứng dụng 7.1 thảo luận những lợi ích tăng thêm được ước lượng như thế nào để thẩm tra một sự thay đổi quan trọng về tiêu chuẩn chất lượng không khí đối với ô nhiễm bụi ở Mỹ

Xác định các lợi ích môi trường cấp một và cấp hai

Trong phạm vi phân loại rộng các lợi ích môi trường, có hai loại ảnh hưởng do giảm thiệt hại: những lợi ích môi trường cấp một và những lợi ích môi trường cấp hai Lợi ích môi trường cấp một là một ảnh hưởng do giảm thiệt hại từ kết quả trực

Trang 3

tiếp của việc thực hiện chính sách Trong khi đó, một lợi ích môi trường cấp hai là lợi ích gián tiếp cho xã hội liên quan đến việc thực hiện chính sách

Lợi ích môi trường cấp một

Hầu hết các hoạt động của chính sách môi trường đều nhằm mục đích tăng các lợi ích cấp một, đặc biệt những lợi ích liên quan đến sức khỏe con người Những ích lợi sức khoẻ bao gồm giảm tử vong (ví dụ giảm rủi ro tử vong do bệnh ung thư) và giảm sự hoành hành của bệnh tật (ví dụ một tỷ lệ mất bệnh đường hô hấp thấp hơn) Những lợi ích cấp một khác như các hệ sinh thái ổn định hơn và mỹ quan được cải thiện Ngoài ra, nhiều lợi ích cấp một khác thuộc kinh tế, chẳng hạn một ngành đánh bắt thịnh vượng hơn nhờ ban hành các qui định về nước sạch Điểm chung của các lợi ích này là chúng là một kết quả trực tiếp của chính sách môi trường

Lợi ích môi trường cấp hai

Những lợi ích môi trường cấp hai phát sinh gián tiếp từ sự thay đổi chính sách Một nguyên nhân có thể là tác động khuyến khích của một lợi ích cấp một, ví dụ như năng suất lao động cao hơn là do lợi ích cấp một của việc cải thiện sức khoẻ Năng suất cao hơn làm tăng sự sẵn có các hàng hoá và dịch vụ, có thể dẫn đến giá giảm Bởi vì những lợi ích này được kích thích bởi một loại lợi ích cấp một và phát sinh một cách gián tiếp nên chúng được xem là những lợi ích cấp hai Một nguyên nhân khác là do sự thay đổi cầu, chẳng hạn như cầu lao động để thực hiện một chính sách mới tăng lên Trong trường hợp này, lợi ích kinh tế của một thị trường lao động được cải thiện là một lợi ích cấp hai.1

Cơ sở lý thuyết đánh giá lợi ích môi trường

Giá trị đối với xã hội của không khí hay nước sạch hơn là bao nhiên? Giá trị xã hội ấn định cho việc làm sạch một điểm chứa chất thải độc hại là bao nhiêu? Như đã bàn luận ở các chương trước, cả hai câu hỏi trên có thể được trả lời một cách trực tiếp nếu hàng hóa trong mỗi trường hợp là một hàng hóa tư nhân được trao đổi trong thị trường mở Khi đó các giá cầu sẽ thể hiện lợi ích biên của mỗi đơn vị hàng hóa tăng thêm Vấn đề là chất lượng môi trường là một hàng hóa công, phi thị trường Không có giá cả và tình trạng không tiết lộ sở thích gây khó khăn cho việc xác định cách mà xã hội đánh giá cho một môi trường sạch hơn Theo lý thuyết, nếu chúng ta có thể suy ra nhu cầu của xã hội về chất lượng môi trường, thì chúng

ta có thể đo lường được các lợi ích tăng thêm liên quan đến bất kỳ chính sách môi trường nào

1 Có ý kiến tranh cải về việc liệu có nên xem xét các lợi ích cấp hai khi đánh giá các đề xuất chính sách công không Có người lập luận rằng các lợi ích gián tiếp này ở một thị trường hay một vùng chính là các tổn thất ở một thị trường hay một vùng khác Cũng có một vấn đề thực tế trong việc cố gắng đo lường các loại lợi ích này Do đó, nhiều người nghiên cứu loại bỏ chúng trong các phân tích của họ Xem Haveman và Weisbrod (1975)

Trang 4

Để minh họa khẳng định này, chúng ta quay lại mô hình về chất lượng không khí dựa trên việc giảm ô nhiễm khí SO2 được giới thiệu ở Chương 3 Xin nhắc lại rằng

do cầu loại hàng hoá công này là kết quả của các quyết định xã hội, nên nó bao

gồm cả lợi ích cá nhân biên (MPB) và lợi ích xã hội biên (MSB) của chất lượng

không khí Do đó, ta có thể xem nhu cầu giảm khí SO2 như MSB = 25 – 0,3A, trong đó MSB được tính bằng triệu đôla và A là tỷ lệ phần trăm khí SO2 được cắt giảm

Đồ thị 7.1 Lợi ích xã hội biên (MSB) và tổng lợi ích xã hội (TSB) của chất lượng

không khí (% lượng giảm thiểu khí SO 2 )

Đường cầu thị trường về giảm khí SO2 thể hiện chi phí xã hội biên

(MSB) của chất lượng không khí Ở mức giảm giả định A 1 , MSB tương ứng là khoảng cách từ trục hoành từ điểm A 1 đến đường cầu Tổng lợi

ích xã hội (TSB) của lượng giảm A 1 là phần diện tích màu đậm dưới

đường MSB

Đồ thị về mối quan hệ này được thể hiện ở Đồ thị 7.1 Tại mỗi mức giảm, MSB

được tính bằng khoảng cách từ trục hoành đến đường cầu Tổng lợi ích xã hội

(TSB) đối với bất kỳ mức giảm nào được đo tổng của các khoảng cách này, hoặc diện tích dưới đường MSB đến mức giảm đó.2 Ở Đồ thị 7.1, TSB của một mức giảm giả định A 1 được thể hiện là diện tích màu đậm dưới đường cầu đến A 1 Sử dụng mô

2 Nhắc lại Chương 2, diện tích dưới đường cầu và trên đường giá thị trường là thặng dư tiêu dùng, hoặc lợi ích ròng của người tiêu dùng Lưu ý lợi ích ròng này chính bằng tổng số lợi ích trừ tổng số tiền trả cho hàng hóa đó Thực tế, nếu một hàng hóa có giá thị trường là không, thì tổng lợi ích sẽ đúng bằng với giá trị thặng

dư người tiêu dùng

Trang 5

hình này, chúng ta có thể tính các lợi ích tăng thêm từ việc tăng từ chính sách giảm khí SO2 theo 3 bước:

1 Xác định mức TSB gốc trước khi thực hiện chính sách

2 Xác định mức TSB mới sau khi thực hiện chính sách

3 Lấy TSB mới trừ TSB gốc để xác định phần lợi ích tăng thêm

Giả sử mức giảm SO2 hiện tại là 20% và mục tiêu là xác định lợi ích tăng thêm do

có một chính sách làm tăng mức giảm lên đến 25% Trước tiên, xác định TSB gốc Xem Đồ thị 7.2, lưu ý MSB ở mức giảm 20% là 19 triệu đôla TSB ở mức này là diện tích dưới đường MSB đến mức 20%, hoặc 440 triệu đôla Giá trị bằng tiền này

thể hiện giá sẵn lòng trả (WTP) của xã hội cho các lợi ích nhận được khi 20% lượng phát thải khí SO2 được xử lý Kế đến, thực hiện các phép tính tương tự đối

với mức giảm dự kiến 25% Tại mức giảm sau khi có chính sách này, MSB là 17,5 triệu đôla và TSB là 531,25 triệu đôla Cuối cùng, lợi ích tăng thêm là khoản chênh lệch giữa hai giá trị TSB, hay 91,25 triệu đôla Trên Đồ thị 7.2, phần lợi ích tăng

thêm là diện tích màu đậm

Đồ thị 7.2 Mô hình hoá các lợi ích xã hội tăng thêm đối với chất lượng không khí

(% mức giảm SO 2 ) sử dụng hàm MSB

MSB ở mức giảm gốc 20% là 19 triệu đôla, và TSB là diện tích dưới đường MSB đến điểm đó, hay 44 triệu đôla Nếu một chính sách được

đưa ra nhằm tăng mức giảm SO2 lên 25%, thì MSB sẽ là 17,5 triệu đôla và TSB sẽ tăng lên 531,25 triệu đôla Vì vậy, phần lợi ích tăng thêm là khoản chênh lệch giữa hai giá trị TSB, hay 91,25 triệu đôla Trong mô hình này, phần lợi ích tăng thêm là diện tích màu đậm dưới đường MSB

giữa hai mức giảm

Trang 6

Một mô hình khác cho cùng kết quả được thể hiện ở Đồ thị 7.3, trong đó TSB được

vẽ trực tiếp theo mức giảm khí SO2 Trong mô hình này, TSB ứng với một mức giảm nhất định được tính đơn giản là khoảng cách đến đường TSB chứ không phải là một diện tích Ta nhận thấy trên đồ thị các giá trị TSB trước và sau khi có chính

sách tương ứng với các mức giảm 20% và 25% Lưu ý rằng lợi ích 19,25 triệu đôla

tăng thêm được tính bằng khoảng cách giữa hai mức TSB này

Cả hai mô hình này đều giả định rằng đánh giá chất lượng môi trường của xã hội, hay, nói một cách tương đương là nhu cầu giảm ô nhiễm của xã hội, có thể được xác định Tuy nhiên, do không có thị trường rõ ràng cho loại hàng hóa này, nên việc đánh giá không thể đạt được theo cách quan sát giá cả thị trường Thay vào đó, ta phải thực hiện các suy luận về cách mà xã hội có được giá trị hay sự hữu dụng từ nhiều mức độ khác nhau của chất lượng môi trường

Ứng dụng 7.1 Giá trị ước lượng lợi ích môi trường của sự thay đổi các tiêu chuẩn về ô

nhiễm bụi ở Mỹ

Năm 1983, EPA chuẩn bị một phân tích tác động chính sách (RIA) cho một đề án (proposal) thắt chặt tiêu chuẩn chất lượng không khí đối với ô nhiễm bụi (RIA là bắt buộc dưới Chỉ thị 12291 của Cơ quan hành pháp Chính quyền tổng thống Reagan) Ô nhiễm bụi (PM) đề cập đến một nhóm rất lớn các chất gây ô nhiễm được phát thải vào không khí dưới dạng các hạt nhỏ Là một phần của các qui định bắt buộc của RIA, EPA phải ước lượng các lợi ích tăng thêm của đề án này

Dựa vào các kết quả của các nghiên cứu khoa học, EPA xác định rằng sự phát thải bụi có liên quan đến các vấn đề sức khỏe như bệnh đường hô hấp và bệnh tim mạch Cơ quan bảo vệ môi trường còn phát hiện ra các ảnh hưởng phúc lợi liên quan bao gồm (1) làm bẩn các tòa nhà và vật liệu, (2) sự kết tủa acid tăng thông qua hiện tượngï giải phóng các phân tử muối sunfat, và (3) làm giảm tầm nhìn Sử dụng đánh giá định tính này làm cơ sở, EPA phải ước lượng những thiệt hại này có thể được làm giảm bao nhiêu bởi sự thay đổi dự kiến trong tiêu chuẩn bụi và sau đó lượng hóa thành tiền tất cả kết quả tìm được Để minh họa sự khác biệt vốn có trong việc lượng hóa các lợi ích môi trường, bảng dưới đây đưa ra một loạt các giá trị ước lượng thực sự được dùng trong đánh giá của EPA

Đối với các hạng mục lợi ích, các chữ từ A đến F chỉ các phương án khác nhau được sử

dụng để suy ra giá trị ước lượng

Phương án A là thận trọng nhất, vì tổng của nó là 1.24 triệu đôla chỉ gồm có các lợi ích do giảm tử vong và giảm bệnh mãn tính Trái lại, Phương án F là bao quát nhất Nó

bao gồm tất cả các lợi ích về phúc lợi và sức khỏe kỳ vọng, đó là, giảm tử vong và giảm bệnh tật, cộng với giảm làm bẩn nhà cửa và vật liệu Theo cách tiếp cận này, các lợi ích tăng thêm của việc thắt chặt các tiêu chuẩn về ô nhiễm bụi có giá trị là 52.36 tỷ đôla Ngoài các sự khác biệt trong mức tổng qua sáu phương án, còn có sự khác biệt trong

cách mà các nhóm lợi ích riêng lẻ được đánh giá Ví dụ, theo các Phương án A đến C, lợi ích do giảm tử vong được qui thành tiền là 1.12 tỷ đôla, nhưng Phương án D và E thì ấn đánh giá trị cho loại lợi ích này là 12.72 tỷ đôla, và Phương án F cho một giá trị cao hơn

13.84 tỷ đôla

Trang 7

Một suy luận quan trọng được đúc kết ra từ các số liệu này là đánh giá lợi ích không phải là một khoa học chính xác Đúng hơn, nó dựa vào các đánh giá gần đúng trên cơ sở nhất trí của các chuyên gia và được chứng cứ khoa học sẵn có ủng hộ Thường thường, như trường hợp ở đây, một dãy các giá trị ước lượng lợi ích được xem xét, với mỗi giá trị ước lượng dựa trên một số giả định quan trọng nhất định

Nguồn: Mathtech Inc (tháng 3 năm 1983), trang 1-52; U.S EPA, Phòng phân tích chính

sách, Cục chính sách, kế hoạch, và đánh giá (tháng 8 năm 1987)

Các ước lượng lợi ích tăng thêm, theo các

phương án tổng hợp

(tỷ đôla theo năm gốc 1980)

Loại lợi ích

A B C D E F

Giảm tử vong

Giảm các bệnh cấp tính

Giảm các bệnh mãn tính

Giảm làm bẩn nhà cửa và vật liệu

(khu vực hộ gia đình)

Giảm làm bẩn nhà cửa và vật liệu

(khu vực hộ sản xuất)

Tổng các lợi ích tăng thêm

1.12 0.00 0.12 0.00 0.00 1.24

1.12 1.32 0.12 0.00 0.00 2.56

1.12 10.65 0.12 0.73 0.00 12.63

12.72 10.65 0.12 0.73 0.00 24.24

12.72 10.65 11.40 3.14 30 39.22

13.84 11.97 11.40 13.85 1.30 52.36 Lưu ý: Một số giá trị tổng có thể không khớp do làm tròn số

Đồ thị 7.3 Mô hình hoá các lợi ích xã hội tăng thêm của chất lượng không khí

(% lượng giảm SO 2 ) bằng cách sử dụng hàm TSB

Một cách khác để mô hình hoá các lợi ích tăng thêm của việc cải thiện chất

lượng không khí là vẽ mối quan hệ giữa TSB và mức giảm SO2 Tại mỗi mức

giảm, TSB là khoảng cách từ trục hoành đến đường TSB Mô hình thể hiện

TSB đối với mức giảm gốc 20% và đối với mức giảm sau khi có chính sách

25% lần lượt là 440 và 531,25 triệu đôla Các lợi ích tăng thêm là khoảng

cách giữa hai điểm trên đường TSB, hoặc 91,25 triệu đôla.

Trang 8

Giá trị sử dụng và giá trị tồn tại 3

Khám phá ra cách mà xã hội đánh giá một hàng hóa là một việc khó khăn khi không có giá thị trường Thậm chí nếu tình trạng không tiết lộ ý thích có thể khắc phục được, thì giá trị của một mặt hàng như không khí hay nước sạch rất khó lượng hóa do liên quan đến nhiều giá trị vô hình Mặc dù các nhà kinh tế nhận ra rằng một số lợi ích vô hình không thể đo lường được, nhưng họ vẫn muốn biết xã hội nhận thức các lợi ích của chất lượng môi trường như thế nào Thật may, nhiều lý thuyết hữu ích đã được đưa ra

Xuất phát từ một điểm lý thuyết thuần túy, người ta nhận ra rằng xã hội có được sự hữu dụng từ chất lượng môi trường qua hai nguồn giá trị: giá trị sử dụng và giá trị tồn tại Giá trị sử dụng đề cập đến sự hữu dụng hay lợi ích nhận được từ việc sử dụng hoặc tiếp cận một hàng hóa môi trường Ngược lại, giá trị tồn tại là sự thỏa dụng hay lợi ích nhận được từ một hàng hóa môi trường đơn giản qua sự tồn tại của nó như một hàng hóa hay dịch vụ Nói chung, các thành phần này đo lường tổng giá trị xã hội của một hàng hóa môi trường, được phát biểu như sau:

Tổng giá trị của chất lượng môi trường = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại

Giá trị sử dụng

Để hiểu rõ hơn về giá trị sử dụng, hãy xem xét các lợi ích của việc sử dụng một hồ nước Nếu một cá nhân bơi trong hồ, về mặt vật chất thì người đó nhận được sự hữu dụng từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Tương tự, một đoàn tàu đánh cá thương mại có lợi ích sử dụng do đánh bắt cá Trong cả hai trường hợp, các lợi ích xuất phát trực tiếp từ việc tiêu thụ các dịch vụ do thiên nhiên cung cấp Các hoạt động này, cả giải trí và thương mại, tạo ra các lợi ích mà chúng mang lại giá trị sử dụng trực tiếp Việc đánh giá này giúp xác định điều mà cá nhân hay đoàn tàu đánh cá sẽ sẵn lòng trả để duy trì hoặc cải thiện chất lượng nước hồ

Tiếp tục với thí dụ này, một cá nhân khác có thể nhận được sự hữu dụng đơn giản từ việc ngắm nhìn quan cảnh quanh hồ Ở đây, sự hữu dụng có được từ chất lượng mỹ quan quanh hồ Loại hoạt động này đề cập đến việc sử dụng hồ nước theo một cách ít trực tiếp hơn so với bơi lội trong hồ hay đánh bắt cá Do đó, chúng

ta nói hồ nước tạo ra giá trị sử dụng gián tiếp Cả hai giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp đều là các thành phần của tổng giá trị xã hội của chất lượng môi trường.4

3 Hầu hết nội dung thảo luận tiếp theo được trích từ Mitchell và Carson (1989), chương 3

4 Mặc dầu các ví dụ này đề cập đến tiêu dùng ở giai đoạn hiện tại, nhưng các nhà kinh tế học cũng bắt đầu xem xét xã hội kỳ vọng có được lợi ích từ tiêu dùng ở giai đoạn nào đó trong tương lai như thế nào Khái niệm đánh giá này, cộng thêm sự không chắc chắn vào đánh giá lợi ích, được xem như giá trị nhiệm ý Để biết thêm chi tiết về khái niệm này, xem Mitchell và Carson (1989), chương 3, và Johansson (1991)

Trang 9

Giá trị tồn tại

Xã hội cũng nhận được các lợi ích từ các hàng hóa môi trường ngoài sự hữu dụng liên quan đến việc sử dụng trực tiếp hay gián tiếp Hãy thử nghĩ con người đánh giá những loại tài nguyên thiên nhiên như những cánh rừng mưa nhiệt đới, công viên quốc gia Grand Canyon, hay đại bàng trọc Sự tiêu thụ không giải thích bằng cách nào hay tại sao xã hội đánh giá các tài nguyên này Tuy nhiên, chúng ta biết rằng xã hội nói chung sẵn lòng trả để bảo tồn các tài nguyên này Trong các trường hợp như vậy, lợi ích cho xã hội đơn giản từ việc biết rằng các tài nguyên này đang tồn tại và đang được bảo tồn Thành phần này của tổng giá trị được biết đến như giá trị tồn tại

Nghe có vẻ trừu tượng, nhưng giá trị tồn tại là một động cơ quan trọng của nhiều nỗ lực bảo tồn do các cá nhân tài trợ và cho nhiều sáng kiến chính sách môi trường Một trường hợp thực tế là Đạo luật về các loài đang bị đe dọa, nhằm bảo vệ và bảo tồn một số loài động vật nhất định, các loài chim, cá, và các giống cây đang bị đe dọa tuyệt chủng.5 Như thảo luận ở Ứng dụng 7.2, đạo luật này là một ví dụ về sự thừa nhận của chính phủ Mỹ về giá trị tồn tại Một bằng chứng xác thực khác là sự sẵn lòng của xã hội để hỗ trợ cho hoạt động của các nhóm bảo vệ môi trường, như Hội động vật hoang dã Quốc gia, Câu lạc bộ cá thu Tây Ban Nha, và Hội Audubon về bảo tồn các loài chim Quốc gia – những nhóm mà chương trình hành động của họ tập trung vào việc bảo tồn các tài nguyên mà những người góp tiền ủng hộ kỳ vọng được sử dụng hay thậm chí chỉ được tận mắt nhìn thấy

Ứng dụng 7.2 Đạo luật về các loài đang bị nguy hiểm

Năm 1973, Quốc hội đã thông qua Đạo luật về các loài đang bị đe dọa để “cung cấp một phương tiện qua đó các hệ sinh thái cho các loài đang bị nguy hiểm hay

bị đe dọa có thể được bảo tồn” (mục 2b) Đạo luật này chính thức bảo vệ sự đa dạng sinh học của trái đất: sự đa dạng gen, loài, hệ sinh thái, và sự tương tác qua lại giữa chúng Kết quả quan trọng của đạo luật này là hình thành một danh sách

chính thức về các sinh vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, bất kể giá trị sử dụng trực tiếp hay gián tiếp cho con người Đầu tiên vào năm 1973 con số các loài đang

bị đe dọa là 109, danh sách các loài đang bị nguy hiểm và bị đe doạ ở Mỹ tăng lên hơn 1.250 vào năm 2002

Khi Đạo luật về các loài bị nguy hiểm được đề xuất lần đầu và khi nó được thông qua các lần tái cấp phép, nhiều tranh cãi diễn ra để biện minh việc thông qua đạo luật này trên nền tảng kinh tế Một lập luận cho rằng các loài phải được bảo vệ vì chúng có thể mang lại một lợi ích trực tiếp cho nhân loại mà các nghiên cứu khoa học chưa khám phá ra Biện minh cho lập luận này có thể được biết trong khám phá mới đây về thuốc trị ung thư taxol Hợp chất này, được tìm thấy

5 Để xem văn bản về Đạo luật về các loài đang bị đe dọa và để tìm kiếm thông tin về các loài đang bị đe dọa, hãy vào trang web: http://www.nmfs.noaa.gov/prot_res/laws/ESA/esatext/esacont.html

Trang 10

trong vỏ các loài cây thuỷ tùng ở Thái Bình Dương, hứa hẹn chữa trị một số bệnh ung thư nhất định Cần khoảng 60 cân Anh vỏ cây thủy tùng để sản xuất đủ một lượng taxol điều trị cho một bệnh nhân ung thư, và cây thủy tùng ở Thái Bình Dương là một loài sinh trưởng chậm nhưng đang bị các công ty khai thác gỗ khai

thác với một tốc độ chóng mặt Lưu ý rằng bài viết này chỉ tập trung vào giá trị sử dụng của các tài nguyên thiên nhiên

Nhiều người nắm giữ chức vụ quan trọng đã khẳng định rằng các tài nguyên môi trường cung cấp nhiều lợi ích không chỉ giới hạn ở giá trị trực tiếp hay gián tiếp trong tiêu dùng của con người Ở đây, giả thuyết rằng các loài nên được bảo vệ dựa trên quyền được tồn tại – bằng chứng về vai trò của giá trị tồn tại trong đánh giá lợi ích

Không phải bây giờ, cũng không thể trong tương lai, một sự nhất trí về liệu giá trị sử dụng có thích hợp với đánh giá lợi ích của đa dạng sinh học Điều rõ ràng là xã hội nhận biết và đánh giá cao giá trị tồn tại – một vấn đề tiếp tục nổi lên trong trong cuộc bàn cãi còn đang tiếp diễn về đa dạng sinh học và phát triển kinh tế

Nguồn: Đạo luật về các loài đang bị nguy hiểm năm 1973, 16 U.S.C § 153 – 44;

Adler và Hager (tháng 04/05 - 1992); Hội đồng chất lượng môi trường (tháng 01/1993), trang 17-28

Một trong những bàn luận trước đây về giá trị tồn tại được giới thiệu bởi Krutilla (1967), người khẳng định rằng: “Khi sự hiện hữu của một kỳ quan lộng lẫy hoặc một hệ sinh thái yếu ớt và duy nhất được đề cập, thì việc bảo tồn và duy trì sự sẵn có là một phần quan trọng trong thu nhập thực của nhiều cá nhân.”6 Từ công trình nghiên cứu đầu tiên này, các nhà kinh tế đã tiếp tục nghiên cứu các lý thuyết khác nhau về các động cơ cho giá trị tồn tại Trong bài viết về đánh giá giá trị các hàng hóa công, Mitchell và Carson (1989) phân loại các động cơ của giá trị tồn tại thành tiêu dùng của người khác và gìn giữ cho thế hệ tương lai

Tiêu dùng của người khác là nói đến ý niệm rằng các cá nhân đánh giá một hàng hóa công vì lợi ích mà nó mang lại cho người khác dù bản thân những người

đó có biết hay không Điều này nói lên sự hữu dụng nhận được có tính phụ thuộc lẫn nhau, nghĩa là một cá nhân có thể nhận lợi ích từ việc nhận thức rằng những

người khác đang tận hưởng hàng hóa công đó Gìn giữ cho thế hệ tương lai phát sinh từ ý thức phải bảo tồn môi trường cho các thế hệ tương lai và từ sự công nhận giá trị nội tại của tài nguyên thiên nhiên Tóm lại, chúng ta có thể phát biểu tổng giá trị của chất lượng môi trường như sau:

6 Krutilla (1967), trang 779 Krutilla cho rằng sự ra đời của kinh tế học về bảo tồn là do A C Pigou, một nhà kinh tế học người Anh đã viết : “Đó là một nhiệm vụ rõ ràng của chính phủ, người được ủy quyền trông nôm các thế hệ tương lai cũng như các công dân hiện tại, và nếu cần thiết, theo đạo luật, để bảo vệ, các tài nguyên thiên nhiên có thể kiệt quệ của quốc gia do khai thác bừa bãi và táo bạo” (Krutilla 1967, trang 777, trích dẫn Pigou 1952)

Trang 11

Tổng giá trị = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại

(trực tiếp và gián tiếp) (tiêu dùng của người khác và gìn

giữ cho thế hệ tương lai) Nhận ra xã hội đánh giá một tài nguyên môi trường như thế nào là một việc quan

trọng để nhận dạng các lợi ích xã hội của một đề xuất chính sách Điều đó cũng

giúp các nhà kinh tế quyết định xem phương pháp ước lượng nào hiệu quả nhất

trong việc lượng hóa các lợi ích đó Tuy nhiên vấn đề vẫn chưa được giải quyết:

Các nhà kinh tế sẽ ấn định giá trị bằng tiền cho các hàng hóa môi trường không có

thị trường như nước sạch, sức khoẻ con người, và loài chim cú đốm như thế nào?

Nên nhớ rằng mục tiêu của chúng ta là lượng hóa thành tiền hay xác định WTP cho

những thay đổi trong giá trị sử dụng và giá trị tồn tại có được nhờ cải thiện chất

lượng môi trường do thực hiện chính sách

Các cách tiếp cận để đo lường các ích về môi trường: Giới thiệu tổng quan7

Các nhà kinh tế đã có những bước tiến dài trong việc phát triển các phương pháp

ước lượng lợi ích từ những cải thiện chất lượng môi trường Phần lớn, các phương

pháp này nhằm mục đích ước lượng các lợi ích cấp một, với giả sử rằng các lợi ích

cấp hai là không đáng kể và có thể được bù đắp bởi các chi phí cấp hai Việc xem

xét lại lý thuyết về chủ đề này cho thấy có một vài phương pháp được sử dụng

trong thực tế Một số phương pháp thì tốt hơn các phương pháp khác ở chỗ lượng

hóa các lợi ích vô hình của chất lượng môi trường đã được cải thiện, kể cả khái

niệm về giá trị tồn tại

Để tổ chức cuộc thảo luận của chúng ta về các phương pháp đo lường lợi ích,

chúng ta dựa vào một sự phân loại chung bởi Smith and Krutilla (1982), đã xếp

nhiều phương pháp đo lường khác nhau thành hai nhóm chung nhất: cách tiếp cận

liên hệ vật chất và cách tiếp cận liên hệ hành vi Bảng tóm tắt các phương pháp

đánh giá lợi ích được chọn trong mỗi cách tiếp cận được trình bày trong Bảng 7.1

Bảng 7.1 Bảng tóm tắt các phương pháp ước lượng lợi ích

Cách tiếp cận và phương pháp Mô tả

Cách tiếp cận liên hệ vật chất

Phương pháp hàm thiệt hại Sử dụng một mô hình về mối quan hệ giữa các

mức của một chất gây ô nhiễm và thiệt hại môi trường quan sát được (hoặc được suy luận theo thống kê) để ước lượng mức giảm thiệt hại do giảm chất gây ô nhiễm từ chính sách

7 Mục này được trích dẫn chủ yếu từ Mitchell and Carson (1989), đặc biệt trang 74-78, và từ Cropper and

Oates (tháng 06/1992)

Trang 12

Cách tiếp cận liên hệ hành vi

Các phương pháp trực tiếp

Phương pháp trưng cầu dân ý Sử dụng thị trường thực sự của một hàng hoá

công bằng cách theo dõi kết quả bầu cử từ các cuộc trưng cầu dân ý cho các thay đổi dự kiến trong chất lượng môi trường

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

(CVM)

Sử dụng các cuộc điều tra để thăm dò sự giá sẵn lòng trả (WTP) của cá nhân cho những cải thiện môi trường dựa trên các điều kiện thị trường

Các phương pháp gián tiếp

Phương pháp chi tiêu bảo vệ

(AEM)

Đánh giá các thay đổi trong chi tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ của cá nhân mà những hàng hóa và dịch vụ này thay thế cho chất lượng môi trường của cá nhân để ấn định giá trị cho những thay đổi trong môi trường nói chung

Phương pháp chi phí du hành

(TCM) Đánh giá một sự thay đổi về chất lượng của một tài nguyên môi trường bằng cách đánh giá ảnh

hưởng của thay đổi đó lên cầu của một hàng hóa

bổ sung

Phương pháp giá hưởng thụ

(HPM) Sử dụng lý thuyết cho rằng một hàng hóa được đánh giá theo các thuộc tính của nó để ước lượng

giá hưởng thụ hoặc giá ẩn của một thuộc tính môi trường và xác định đường cầu của nó như như một cách xác định giá trị cho những cải thiện trong chất lượng do chính sách mang lại

Cách tiếp cận liên hệ vật chất để đánh giá lợi ích môi trường

Các phương pháp trong cách tiếp cận liên hệ vật chất sử dụng một số thuộc tính hữu hình của môi trường để tạo ra một sự liên kết đến một cá nhân thông qua các lợi ích có thể được quan sát hoặc được suy ra và sau đó được đánh giá Một cách chính thức hơn, cách tiếp cận liên hệ vật chất đo lường các lợi ích dựa trên mối quan hệ vật chất giữa một tài nguyên môi trường và người sử dụng tài nguyên đó Một qui trình ước lượng chung sử dụng cách tiếp cận này là phương pháp hàm thiệt hại Phương pháp này sử dụng mối quan hệ hàm số để thiết lập mối liên hệ giữa một chất gây ô nhiễm và bất kỳ các thiệt hại nào liên quan Dựa vào hàm số này, các lợi ích tăng thêm được đo lường như là lượng giảm thiệt hại từ việc làm giảm chất gây ô nhiễm do chính sách đem lại Lượng giảm thiệt hại này sau đó được lượng hóa thành tiền để có được giá trị bằng tiền của lợi ích do chính sách mang lại

Trang 13

Cách tiếp cận liên hệ hành vi để đánh giá lợi ích môi trường

Nói chung, dùng cách tiếp cận liên hệ hành vi để lượng hóa các lợi ích được dựa

trên cơ sở những quan sát hành vi trong các thị trường thưcï tế hoặc những câu trả

lời từ khảo sát các thị trường giả định cho các hàng hóa môi trường Một yếu tố khác của các phương pháp liên hệ hành vi là giải quyết vấn đề rằng hành vi hoặc các trả lời được liên kết chặt chẽ như thế nào với các hàng hóa môi trường Các phương pháp đánh giá những câu trả lời liên quan đến thay đổi môi trường ngay lập tức được nhóm thành các phương pháp trực tiếp Như được đưa ra trong Bảng 7.1, hai phương pháp trực tiếp là phương pháp trưng cầu dân ý, dựa vào thông tin về thị

trường thực sự, và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM), sử dụng dữ liệu về thị

trường giả định Các phương pháp gián tiếp là những phương pháp xem xét những câu trả lời không chỉ bản thân hàng hóa môi trường mà còn một số điều kiện thị trường liên quan đến hàng hóa đó Ba thí dụ về các phương pháp ước lượng lợi ích gián tiếp là phương pháp chi tiêu bảo vệ (AEM), phương pháp chi phí du hành (TCM), và phương pháp giá hưởng thụ (HPM)

Tài liệu đã xuất bản về các phương pháp đánh giá lợi ích thì rất nhiều Nhiều bài nghiên cứu đưa ra những phát hiện thực tế đặc trưng, và có vô số bài viết tập trung vào phương pháp luận Chúng ta chỉ đưa ra một cái nhìn tổng quan về các vấn đề thực tiễn liên quan đến các phương pháp phổ biến đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng.8

Ước lượng theo cách tiếp cận liên hệ vật chất

Phương pháp hàm thiệt hại

Khi sử dụng phương pháp hàm thiệt hại, nhà nghiên cứu chỉ rõ mô hình quan hệ giữa một chất gây ô nhiễm môi trường và một vài loại thiệt hại được quan sát.9Một hàm thiệt hại tổng quát hóa được thể hiện ở Đồ thị 7.4 Các mức của một chất

gây ô nhiễm môi trường (C) được tính theo trục hoành, và tổng thiệt hại (TD) do sự

phát thải của chất gây ô nhiễm đó được tính theo trục tung.10 Một khi hàm này được xác định, thì người phân tích sẽ sử dụng để ước lượng lượng giảm thiệt hại do giảm chất gây ô nhiễm nhờ chính sách mang lại nào Ở điểm này, lượng giảm thiệt hại được tính theo đơn vị phi tiền tệ, ví dụ, số hồ nước bị axit hoá, diện tích rừng bị thiệt hại, hay số trường hợp chết yểu Sau đó, lượng giảm thiệt hại này phải được ấn định một giá trị bằng tiền, hoặc bằng cách sử dụng giá thị trường (nếu có sẵn) hoặc sử dụng một phương pháp ước lượng

10 Mô hình trong Đồ thị 7.4 là mối quan hệ hàm bậc ba, nhưng đây chỉ là một dạng hàm có thể có của hàm thiệt hại Để biết thêm chi tiết, xem Halvorsen and Ruby (1981), trang 106

Trang 14

Để minh hoạ qui trình này, hãy xem Đồ thị 7.4, và giả sử rằng một sáng kiến

chính sách kỳ vọng làm giảm chất gây ô nhiễm từ C 0 đến C 1 Dựa vào mô hình hàm thiệt hại, đề xuất này có thể làm giảm thiệt hại (hoặc, tương đương, làm tăng

lợi ích) bằng đoạn giữa TD 0 và TD 1 Ví dụ, nếu giảm thiệt hại là giảm bớt lượng lúa

mì hư hại, khoảng cách này có thể được tính theo nghìn giạ lúa mì Sau khi đã lượng hóa lợi ích tăng thêm, một cách đơn giản để lượng hóa thành tiền phần lợi ích tăng thêm này có thể bằng cách nhân số giạ lúa mì với giá thị trường của nó

Đánh giá phương pháp hàm thiệt hại

Mặc dù phương pháp hàm thiệt hại rất hữu ích, nhưng nó cũng một số hạn chế Thứ nhất, phương pháp này chỉ ước lượng một khía cạnh của các lợi ích tăng thêm Trong ví dụ của ta, các lợi ích tính được là số lượng lúa mì tăng lên Trong hầu hết các trường hợp, giảm chất gây ô nhiễm có thể là tăng các loại lợi ích khác, có lẽ tăng các vụ cây trồng khác hay cải thiện sức khỏe con người Do đó, một sự đánh giá đầy đủ các lợi ích sử dụng cách tiếp cận hàm thiệt hại có thể đòi hỏi phải áp dụng cùng một qui trình ước lượng đã được thực hiện cho mỗi loại giảm thiệt hại Thứ hai, qui trình chỉ là cách tiếp cận bước đầu nên không thể cùng lúc lượng hóa thành tiền các lợi ích mà nó lượng hóa

Các ứng dụng của phương pháp hàm thiệt hại

Nhận ra các hạn chế của phương pháp hàm thiệt hại, những người phân tích sử dụng phương pháp này để đo lường một loại lợi ích tăng thêm khác với thực hiện một sự đánh giá lợi ích toàn diện Hơn nữa, phạm vi áp dụng thường là một trường hợp trong đó giá thị trường có thể được sử dụng để lượng hóa thành tiền lợi ích

Để minh hoạ, hãy xem xét một sự đánh lợi ích của các điều khoản của Đạo luật về không khí sạch nhằm giảm ozon ở tầng khí quyển thấp hoặc tầng đối lưu Theo chứng cứ khoa học, thì một loại lợi ích liên quan đến việc làm giảm khí ozon

ở tầng đối lưu là một sự gia tăng sản lượng cây trồng.11 Về mặt lý thuyết, các lợi ích nông nghiệp có thể được mô hình hoá bằng cách đo lường sự thay đổi trong các thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất liên quan tới sự gia tăng sản lượng cây trồng Đồ thị 7.5 mô hình hóa ảnh hưởng của chính sách này như một sự gia tăng

cung từ S 0 đến S 1 , sự tăng cung này đến lượt nó làm giảm giá từ P 0 đến P 1

11 Người đọc quan tâm có thể tham khảo Kopp and Krupnick (Tháng 12/1987) để biết các kết quả của một nghiên cứu thực nghiệm ước lượng lợi ích nông nghiệp của việc làm giảm khí ozon

Trang 15

Đồ thị 7.4 Đo lường các lợi ích tăng thêm bằng cách sử dụng phương pháp hàm

thiệt hại: Cách tiếp cận liên hệ vật chất

Một hàm thiệt hại cho thấy mối quan hệ giữa một chất gây ô nhiễm

môi trường (C) và tổng thiệt hại (TD) do sự phát thải của chất gây ô

nhiễm đó Một khi hàm số này được xác định, người phân tích có thể sử dụng nó để ước lượng lượng giảm thiệt hại do giảm chất gây ô nhiễm mà chính sách đem lại Lượng giảm thiệt hại này thể hiện các lợi ích tăng thêm tính theo đơn vị phi tiền tệ

Trước hết hãy xem xét qui mô thặng dư trước khi có thay đổi chính sách, sử dụng

đường cung S 0 Thặng dư tiêu dùng là diện tích dưới đường cầu và trên đường giá

thị trường, hoặc diện tích P 0 ab Thặng dư sản xuất là diện tích trên đường cung và dưới đường giá thị trường, hoặc diện tích P 0 be Vì vậy, tổng thặng dư trước khi có thay đổi chính sách là diện tích eab Sau khi chính sách giảm khí ozon được thực thi và đường cung chuyển sang S 1 , thặng dư tiêu dùng là diện tích P 1 ac, và thặng dư sản xuất là diện tích P 1 ce Do đó, tổng thặng dư sau khi có sự thay đổi chính sách là diện tích eac Do tổng thặng dư tăng từ eab lên eac, nên câu trả lời là có, và lợi ích tăng thêm có thể được lượng hóa là diện tích ebc (nghĩa là, eac - eab)

Trang 16

Lược đồ 7.5 Mô hình hoá các lợi ích của chính sách giảm khí ozon

Tăng sản lượng cây trồng liên quan đến một chính sách giảm khí ozon giả định có thể được mô hình hoá như một sự dịch chuyển

đường cung từ S 0 sang S 1 Trước khi chính sách được thực hiện, thặng

dư tiêu dùng là diện tích P 0 ab và thặng dư sản xuất là diện tích P 0 be, và tổng thặng dư là diện tích eab Sau khi chính sách được thực hiện và đường cung chuyển sang S 1, thì thặng dư tiêu dùng là diện tích

P 1 ac và thặng dư sản xuất là diện tích P 1 ce, và tổng thặng dư là diện tích eac Vì vậy, lợi ích tăng thêm là diện tích ebc (nghĩa là, eac - eab)

Tuy nhiên lưu ý rằng phân phối các lợi ích không dễ như đã định trước đây Người

tiêu dùng rõ ràng là có lợi, vì thặng dư tiêu dùng tăng từ P 0 ab lên P 1 ac, nhưng ta

không thể khẳng định giống như vậy đối với người sản xuất Một số thặng dư sản

xuất ban đầu, diện tích P 0 bfP 1, đã được chuyển sang người tiêu dùng, nhưng người

sản xuất vẫn có lợi là diện tích efc Khoản tăng efc có lớn hơn khoản chuyển giao

P 0 bfP 1 hay không tùy thuộc vào hình dạng của đường cầu và đường cung và độ lớn của khoản dịch chuyển đường cung Trên cơ sở lý thuyết, để đo lường các lợi ích

tăng thêm của chính sách và để xác định sự phân phối các lợi ích này, phải sử dụng

các mô hình phức tạp Ứng dụng 7.3 đưa ra các kết quả thực tế của một ước lượng lợi ích như vậy như một phần của báo cáo đánh giá chất lượng không khí của Mỹ

Ứng dụng 7.3 Đánh giá các lợi ích nông nghiệp: Trường hợp giảm khí ozon trong

tầng đối lưu

Chương trình đánh giá mưa acid quốc gia (the National Acid Precipitation Assessment Program - NAPAP) được ban bố như một kế hoạch nghiên cứu thu thập thông tin nhằm thiết lập chính sách hiện kết tủa acid Theo báo cáo của NAPAP năm 1990, nghiên cứu khoa học không thể tìm ra một sự ảnh hưởng bất lợi

Ngày đăng: 08/12/2015, 18:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 7.1    Lợi ích xã hội biên (MSB) và tổng lợi ích xã hội (TSB) của chất lượng - Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường
th ị 7.1 Lợi ích xã hội biên (MSB) và tổng lợi ích xã hội (TSB) của chất lượng (Trang 4)
Đồ thị 7.2   Mô hình hoá các lợi ích xã hội tăng thêm đối với chất lượng không khí - Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường
th ị 7.2 Mô hình hoá các lợi ích xã hội tăng thêm đối với chất lượng không khí (Trang 5)
Đồ thị 7.3   Mô hình hoá các lợi ích xã hội tăng thêm của chất lượng không khí - Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường
th ị 7.3 Mô hình hoá các lợi ích xã hội tăng thêm của chất lượng không khí (Trang 7)
Đồ thị 7.4 Đo lường các lợi ích tăng thêm bằng cách sử dụng phương pháp hàm - Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường
th ị 7.4 Đo lường các lợi ích tăng thêm bằng cách sử dụng phương pháp hàm (Trang 15)
Bảng 7.2 Các hành động ngăn ngừa để giảm các rủi ro do ô nhiễm - Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường
Bảng 7.2 Các hành động ngăn ngừa để giảm các rủi ro do ô nhiễm (Trang 21)
Đồ thị 7.7  Đo lường các lợi ích tăng thêm sử dụng phương pháp chi phí du hành - Đánh giá lợi ích cho những quyết định môi trường
th ị 7.7 Đo lường các lợi ích tăng thêm sử dụng phương pháp chi phí du hành (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w