Kỹ thuật cổ xưa nhất từng được biết đến là phương pháp của Homma Munehisa vào thế kỷ 18: sử dụng đồ thị hình nến-một trong những đồ thị phổ biến hiện nay.. Lý thuyết Dow Khối lượng giao
Trang 2Một số vấn đề lưu ý
Nắm được các vấn đề cơ bản về phân tích kỹ
thuật: giả thiết, khái niệm cơ bản, các mô hình, chỉ số phân tích kỹ thuật, chiến lược trading
Tài liệu tham khảo:
Sách:
Technical Analysis of Stock Trends (Edwards)
Phân tích kỹ thuật (Lê Đạt Chí)
Website
www.stockcharts.com, www.investorpedia.com
www.saga.vn, www.vietstock.com.vn,
Trang 4PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
PHẦN 1 TỔNG QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LÝ THUYẾT CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
Trang 6chứng khoán là dựa trên giả định rằng
trong tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp
lại những sai lầm mà họ đã mắc phải
trong quá khứ.
(Edwin Lefevre, Reminiscenses
of a Stock Operator)
Trang 7Tổng quan về PTKT
PTKT là phương pháp phân tích nhằm dự báo xu
hướng giá trong tương lai dựa trên việc phân tích các
số liệu trong quá khứ, chủ yếu là giá và khối lượng.
(Kirkpatrick and Dahlquist Technical Analysis: The Complete Resource
for Financial Market Technicians (Financial Times Press, 2006), page 3)
PTKT quan tâm nhiều nhất đến giá và khối lượng, với giả định rằng giá và khối lượng là hai nhân tố hợp lý nhất để xác định xu hướng tương lai.
Ứng dụng trong PT giá chứng khoán, tiền tệ, hàng hoá…
Trong PTKT,các mô hình và các chỉ số kỹ thuật
thường được sử dụng.
Trang 8 Các nhà PTKT tin rằng giá có xu thế lên, xuống hoặc đi ngang.
Mục đích đồ thị mô tả biến động giá là nhằm xác định được sớm xu thế giá, từ đó tham gia giao dịch trên xu thế này.
Mục đích của PTKT là nhằm xác định sự lặp lại của biến động giá trong quá khứ để đưa ra quyết định phù hợp.
Lịch sử có xu hướng lặp lại:
Các nhà PTKT tin rằng các nhà đầu tư lặp lại hành vi của các nhà đầu tư
đi trước Do vậy các hình mẫu về giá sẽ được tạo ra trên đồ thị.
“Tâm lý con người thường không thay đổi” PTKT tập trung nghiên cứu hành vi con nguời Chẳng hạn những mô hình phản ánh tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá.
Trang 9So sánh PTCB và PTKT
PTCB:
o Tập trung vào các động lực kinh tế của
cung và cầu - những nguyên nhân gây
ra sự vận động của giá
o Tiếp cận theo hướng phân tích các
thành tố có liên quan ảnh hưởng đến giá
thị trường: Phân tích top-down, tình hình
cty, định giá…
o Mục đích: Tìm giá trị của công ty xác
định các điểm thị trường bán trên giá trị
thực tế và các điểm thị trường bán dưới
giá trị thực (underprice)
PTKT:
o Phân tích biến động thịtrường
Trang 10hoá, tương lai….
Không phụ thuộc vào BCTC
“random walk”
Mang tính chủ quan cao Cáchdiễn giải tuỳ thuộc người phântích
Một số chỉ số sử dụng công cụtoán học phức tạp
Trang 11Lịch sử của PTKT
PTKT xuất phát từ việc theo dõi thị trường tài chính hàng trăm năm Kỹ thuật cổ xưa nhất từng được biết đến là phương pháp của Homma Munehisa vào thế
kỷ 18: sử dụng đồ thị hình nến-một trong những đồ thị phổ biến hiện nay.
Lý thuyết Dow: do Charles Dow phát triển và là cơ sở cho các phân tích kỹ thuật hiện đại phát triển cuối
thế kỷ 19.
Lý thuyết sóng Elliot: do Ralph Nelson Elliot phát
triển đầu thế kỷ 20.
Với sự phát triển của máy tính, nhiều lý thuyết và
công cụ phân tích kỹ thuật hiện đại đã được phát
Trang 12Lý thuyết Dow
Nguyên lý cơ bản:
Chỉ số bình quân thị trường phản ánh tất cả (trừ hành động của chúa)
Trang 13Lý thuyết Dow
Trang 14Lý thuyết Dow
Thị trường bò tót (bull market) - thị trường
tăng giá Gồm 3 thời kỳ:
TK tích tụ: thị trường vẫn xấu CP chào bán nhiều nhưng các nhà đầu tư dài hạn đã bắt đầu xem xét đầu tư Các nhà đầu tư khác lo sợ và muốn thoát khỏi thị trường.
TK tăng trưởng: Thị trường khởi sắc, các DN làm
ăn tốt TK làm ăn tốt cho các nhà PTKT.
TT sôi sục mạnh: công chúng háo hức đầu tư, đầu
cơ tràn lan.
Trang 15Lý thuyết Dow
Thị trường con gấu (bear market) - thị trường giảm giá:
TK phân bổ: bắt đầu từ cuối TK sôi sục của Bull market
Những nhà đầu tư nhìn xa thấy rằng giá CP đã cao hơn bìnhthường và bán ra Công chúng vẫn rất năng động nhưng bắtđầu lo lắng
TK hỗn loạn: người mua giảm dần và người bán bắt đầu
tăng bán Giá CK nhanh chóng tụt, thậm chí quá thấp nếu sotình hình DN Sau gđoạn này, có thể là gđ hồi phục (xu thếcấp 2): thể hiện tâm lý chán nản của nhà đầu tư Thông tinngày càng xấu đi
TK 3: xu thế đi xuống đã yếu dần, nhưng lệnh bán nhiều,thể hiện “nỗi buồn” và sự lo lắng các nhà đầu tư cần tiềncho nhu cầu của họ Các CP giảm đến mức thấp nhất
Trang 16Lý thuyết Dow
Trang 17Lý thuyết Dow
Hai đường chỉ số bình quân phải cùng xác nhận xu thế thị trường: nguyên lý này muốn nói đến là không thể có dấu hiệu chính xác nào về thay đổi xu thế
thị trường mà chỉ dựa vào việc xem xét một loại chỉ số bình quân.
Trang 18Lý thuyết Dow
Trang 19Lý thuyết Dow
Khối lượng giao dịch đi kèm với xu thế thị trường:
Thể hiện thực tế là khi giá biến động đúng theo xu thế cấp 1 thì các hđkd có xu hướng mở rộng hơn.
Bull market: KL giao dịch tăng nếu giá tăng và ngược lại
Bear market: KL giao dịch tăng nếu giá giảm và ngược lại
Một xu thế cần được giả định rẳng vẫn đang tiếp tục cho đến khi có dấu hiệu thực sự về sự đảo chiều của
xu thế đó được xác định: tránh “cầm đèn chạy trước
ô tô”
Trang 20Lý thuyết sóng Elliot
Theo ông Elliott, sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn
sóng Một cơn sóng cơ bản sẽ có 5 cơn sóng “chủ” và 3 cơn
sóng điều chỉnh
Trong 5 con sóng chủ thì sóng số 1, 3 và số 5 gọi là sóng “chủ
và động”, và sóng 2, 4 gọi là sóng “chủ và điều chỉnh” 2 consóng điểu chỉnh được gọi là sóng A,B, C
Trong mỗi một con sóng như vậy lại có những con sóng nhỏ vàcũng tuân theo quy luật của lý thuyết Elliot Một đợt sóng chủhòan chỉnh sẽ có 89 sóng và đợt sóng điều chỉnh hòan chỉnh sẽ
có 55 sóng
Trang 21Lý thuyết sóng Elliot
Trang 22 Supercycle: kéo dài từ vài năm đến vài thập kỹ
Cycle: kéo dài từ 1 đến vài năm
Primary: kéo dài từ vài tháng đến vài năm
Intermediate: kéo dài từ vài từ tuần đến vài tháng
Minor: kéo dài trong vài tuần
Minute: Kéo dài trong vài ngày
Minuette: Kéo dài trong vài giờ
Subminutte: Kéo dài trong vài phút
Trang 23Lý thuyết sóng Elliot
Một dãy sóng 5-3 điển hình trong thị
tăng trưởng:
Trang 24Lý thuyết sóng Elliot
Sóng chủ số 1 Đợt sóng đầu tiên này là có điểm xuất phát từ thị
truờng con gấu (suy thóai), do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay
từ đầu Lúc này thông tin cơ bản về các công ty niêm uớc vẫn đang là thông
tin tiêu cực Chiều hướng của thị trường trước khi sóng 1 xảy ra chủ yếu vẫn
là thị truờng suy thoái Những nhà phân tích cơ bản vẫn đang tiếp tục điều chỉnh thu nhập kỳ vọng thấp xuống so với dự kiến Khối lương giao dịch có tăng chút ít theo chiều hướng giá tăng Tuy vậy việc tăng này là không đáng
kể Do đó nhiều nhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của
đợt sóng số 1 này.
Sóng chủ số 2 Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất
của sóng 2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1 Tin tức dành cho thị trường vẫn chưa khả quan Thị trường đi xuống ở cuối sóng
2 để thực hiện việc “kiểm tra” độ thấp của thị trường Những người theo
phái con gấu vẫn đang tin rằng thị trường con gấu vẫn đang ngự trị.
Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1 Giá sẽ được điều chỉnh giảm và
thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1.
Trang 25Lý thuyết sóng Elliot
Sóng chủ số 3 Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu hướng lên giá Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận
những thông tin tiêu cực vì vậy có nhiều nhà kinh doanh không kịp chuẩn
bị để mua vào Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị trường bắt đầu nhận
những thông tin cơ bản tích cực và những nhà phân tích cơ bản bắt đầuđiều chỉnh thu nhập kỳ vọng Mặc dù có những đợt điều chỉnh nho nhỏ
trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh Điểmcao nhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ1,618:1
Sóng chủ số 4 Đây thật sự là một con sóng điều chỉnh Giá có khuynh
hướng đi xuống và đôi khi có thể răng cưa kéo dài Sóng 4 thường sẽ điềuchỉnh sóng 3 với mức 0.382 – 0.618 của sóng 3 Khối lượng giao dịch của
sóng 4 thấp hơn của sóng 3 Đây là thời điểm để mua vào nếu như
nhà kinh doanh nhận biết được tiềm năng tiếp diễn liền sau đó
của con sóng 5 Tuy vậy việc nhận biết điểm dừng của sóng 4 là một
Trang 26Lý thuyết sóng Elliot
Sóng chủ số 5 Đây là đợt sóng cuối cùng của 5 con sóng “chủ” Thông tin tích cực tràn lan
khắp thị trường và ai cũng tin rằng thị trường đang ở trong thế bò húc Khối lượng giao dịch của sóng 5 khá lớn , tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3 Điều đáng nói là những nhà kinh doanh “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng 5 Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng.
Sóng điều chỉnh A Sóng này bắt đầu cho đợt sóng điều chỉnh A,B,C Trong thời gian diễn
ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang rất lạc quan Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà kinh doanh vẫn cho rằng thị trường đang trong thế bò húc Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A.
Sóng điều chỉnh B Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng A Sóng B
được xem là điểm kéo dài của thị trường bò húc Đối với những người theo trường phái phân tích kỹ thuật cổ điển, điểm B chính là vai phải của đồ thị Đầu và Vai ngược Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn của sóng A Vào lúc này, những thông tin cơ bản của các công ty không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũng chưa chuyển hẳn qua tiêu cực.
Sóng điều chỉnh C Giá có khuynh hương giảm nhanh hơn các đợt sóng trước Khối luợng
giao dịch tăng Hầu như tất cả mọi nhà kinh doanh, đầu tư đều nhận thấy rõ sự ngự trị của
“gấu ngủ” trên thị trường, chậm nhất là trong đợt sóng nhỏ thứ 3 của sóng C Sóng C
thường lớn như sóng A Điểm thấp nhất của sóng C ít nhất bằng điểm thấp nhất của sóng A nhân với 1.618.
Trang 27PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
PHẦN 2.
CÁC DẠNG BIỂU ĐỒ, XU THẾ,
HỖ TRỢ VÀ KHÁNG CỰ
Trang 29Đơn vị thời gian
Đơn vị thời gian dùng cho phân tích: trong
ngày, tuần, tháng, quý, năm…
Đơn vị thời gian dài sẽ làm giảm độ chi tiết
của đồ thị nhưng giúp cho nhìn toàn cảnh tốt hơn.
tư trung và dài hạn
hạn và bức tranh chung
Trang 30Đơn vị giá
Hai phương pháp để biểu diễn mức giá dọc theo trục
tung (trục y)
Số học (arithmetic): mỗi đơn vị đo đều như nhau.
Tăng từ 10-20 tương đương với tăng từ 70-80
Không tương đương về %
Loga (logarithmic): đo sự tăng giảm của giá theo %.
Tăng từ 10-20 tương đương với tăng từ 50-100 (đều tăng100%)
Hầu hết các chương trình vẽ biểu đồ đều cho rằng dạng
loga là dạng semi-log vì trục thời gian vẫn được biểu diễntheo kiểu số học
Trang 31Giá số học và Giá loga
Trang 32 Hữu ích khi giá cả tăng giảm mạnh.
Các đường biểu diễn không quá chênhlệch
Hợp cho những biểu đồ có thời giandài để dự đoán mức tăng phần trămsau 1 khoảng thời gian dài Những dịchchuyển lớn trở nên cân đối hơn
Cổ phần được đánh giá tương đối quaviệc dùng các tỷ lệ như PE, PB… Điềunày cũng giúp phân tích sự chuyểndịch giá theo phần trăm 1 cách hợp lý
Trang 33Biểu đồ
Biểu đồ thể hiện chuỗi dao động của
giá trong một đơn vị thời gian.
Ba loại biểu đồ phổ biến nhất trong
PTKT:
Biểu đồ dạng đường (line chart)
Biểu đồ dạng then chắn (bar chart)
Biểu đồ dạng nến (candlestick chart)
Trang 34Biểu đồ dạng đường (line chart)
Là loại biểu đồ cơ bản
nhất Thể hiện dao
động của giá đóng cửa.
Không đưa ra cái nhìn
hiện đại đều có mức
dao động trong thời
gian ngắn khá cao)
Trang 35 Độ cao của thanh cho biết
khoảng biến động giá trong
ngày.
Gạch bên trái thể hiện giá
mở cửa, gạch bên phải thế
hiện giá đóng cửa.
Điểm cao nhất và thấp nhất
thể hiện tương ứng giá cao
nhất và thấp nhất trong
Trang 36Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)
Trang 37Biểu đồ dạng
nến (candle stich
chart)
Người Nhật sử dụng đầu tiên
trên thị trường hợp đồng gạo.
Có hai phần: thân (body) và
chân hay bóng (shadow).
Phần thân thể hiện giá mở cửa
và đóng cửa trong một đơn vị
thời gian Màu xanh/trắng hay
đỏ/đen thể hiện tương ứng giá
tăng hay giảm.
Phần chân (bóng) thể hiện giá
giao dịch nằm ngoài phạm vi
Trang 39Biểu đồ dạng nến:
Cuộc chiến mua - bán
1. Nến trắng dài (long white
candle) cho thấy đội MUA kiểm
soát bóng trong suốt trận đấu
2. Nến đen dài (long black candle)
cho thấy đội BÁN kiểm soát
bóng trong suốt trận đấu
3. Nến ngắn và không có chân
(hoặc chân ngắn), cho thấy
không đội nào kiểm soát được
bóng và giá hầu như không
thay đổi so với lúc ban đầu
4. Nến với chân phía dưới dài cho
thấy đội BÁN kiểm soát phần
đầu trận đấu, nhưng đã bị mất
Trang 40Biểu đồ dạng nến:
Cuộc chiến mua – bán (tiếp)
5. Nến với chân phía trên
dài cho thấy đội MUA
kiểm soát phần đầu trận
đấu, nhưng đã bị mất
phần kiểm soát vào bên
đội BÁN vào cuối trận và
đội BÁN giằng co trở lại
6. Nến với cả 2 phần chân
đều dài cho thấy cả đội
MUA và đội BÁN đều có
giai đoạn kiểm soát trận
đấu, nhưng không ai áp
đảo được đối phương,
và kết quả là vẫn giằng
co nhau
Trang 41dài, dấu hiệu cho biết
bên mua/bán đã yếu
thế dần và có xu hướng
đảo chiều.
Trang 42Các loại nến đặc trưng (D oji)
Hình Doji xuất hiện khi mức
giá đóng cửa xấp xỉ mức giá
mở cửa , doji trông như 1
gạch ngang nằm giữa phạm vi
giá ,
Là dấu hiệu cho thấy người
mua và người bán đang do
dự
Khi định đặt lệnh mà gặp hình
doji hay spinning top thì nên
chuẩn bị sẵn sàng nhập lệnh
để đi theo xu hướng tiếp theo
khi có dấu hiệu thông báo bên
bán hoặc bên mua thắng thế
Trang 43Các loại nến đặc trưng (tiếp)
Búa (Hammer): thân nến trên cùng, trùng với giá cao nhất, dưới là
bóng dài (thường gấp đôi thân), thường xuất hiện sau đợt giá xuống.
Người treo cổ (Hanging man): giống búa, chỉ khác là xuất hiện sau đợt
tăng trưởng dài.
Hammer báo hiệu sự thắng thế của người mua và giá cả từ đây có thể
sẽ đổi hướng từ giảm sang tăng, ít nhất là trong ngắn hạn
Trang 44Các loại nến đặc trưng (búa
ngược và sao mai)
Trang 45Sao hôm (evening star) và Sao
mai Doji (morning Doji star)
Trang 46Xu thế
3 loại xu thế: lên, xuống, dao động ngang
Xu thế lên: gồm liên tiếp những đỉnh và đáy cao hơn Xu thế giá tăng được coi là duy trì cho đến khi xuất hiện đáy mới thấp hơn đáy trước đó.
thế giá giảm được coi là duy trì cho đến khi xuất hiện đỉnh mới cao hơn đỉnh trước đó.
Trang 47Xu thế
Trang 48Đường xu thế (Trend line)
Xu thế giá tăng và giảm cũng được nghiên cứu
qua đường xu thế
Đường xu thế giá tăng: nối các điểm đáy cao dần
lên Ít nhất phải có hai điểm, tuy nhiên thường
đợi để có điểm đáy thứ 3 Nếu đường xu thế đi
qua cả 3 điểm là xu thế tương đối tin cậy Lúc
này đường xu thế là biên thấp nhất của dao động
giá
Đường xu thế giá giảm: Nối các đỉnh thấp dần
Tương tự như trên Lúc này đường xu thế là biên
cao nhất cho dao động giá
Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu
thế giảm hoặc dưới đường xu thế tăng thì đây là
dấu hiệu cho sự thay đổi trong xu thế thị trường
Đây là công cụ đơn giản nhưng hữu ích và quan
trọng
Trang 49 Nếu giá dao động trong một dải thì
dải đó gọi là kênh Kênh được xác
định bởi hai đường biên song song
với nhau, đường xu thế và đường
kênh (channel line)
Làm thế nào xác định kênh (giả sử
xu thế giảm):
Vẽ đường xu thế
Vẽ đường song song với đường xu thế
và đi qua đỉnh rõ nhất đầu tiên Nếu ở
các lần giảm giá tiếp theo, giá chạm
hoặc gần với đường này thì đó là đường
kênh và dải dao động là kênh
Trang 50Kênh (tiếp)
Nếu giá chuyển động phá vỡ đường xu thế
thì có thể gây ra xu thế đảo chiều.
Nếu giá chuyển động phá vỡ đường kênh
thì xu thế hiện tại có thể tăng mạnh
Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại
- xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại, giá
thường sẽ chuyển động một khoảng bằng
với độ rộng của kênh đó
Lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh
thì đường xu thế luôn có vai trò quan
trọng và đáng tin cậy hơn, đường kênh chỉ
là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ
đường xu thế