1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đa dạng sinh học ở Việt Nam

23 866 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hiền Thảo
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 293,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa. Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền

Trang 1

I MỞ ĐẦU:

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa Do vị trí địa lý, Việt Nam rất đa dạng về địahình, kiểu đất, cảnh quan, có đặc trưng khí hậu khác nhau giữa các miền Trải dài từ 8030tới 230 vĩ độ Bắc, với sự khác biệt về khí hậu và địa hình giữa các miền nên Việt Nam có

sự đa dạng lớn về môi trường tự nhiên và sinh học Hệ sinh thái từ rừng mưa thường xanhcận nhiệt đới ở phía Bắc tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, rừng ngập mặn và đất ngậpnước ven biển đã tạo ra hệ động, thực vật phong phú và có giá trị Đặc điểm đó là cơ sở rấtthuận lợi để giới sinh vật phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lượng.Lĩnh vực sinh học hiện nay vẫn còn nhiều điều mới lạ và bí ẩn bởi những gì chúng ta biếtmới chỉ là một phần rất nhỏ của thiên nhiên rộng lớn này Không chỉ các nhà sinh họctrong nước mà nhiều nhà sinh học nước ngoài đến Việt Nam để nghiên cứu về đa dạng sinhhọc (ĐDSH) bởi sự bùng nổ của công nghệ sinh học, vấn đề kiểm soát các thông tin ditruyền và an toàn sinh học được đặt ra trên phạm vi quốc tế

Theo công ước về đa dạng sinh học được đưa ra vào năm 1992 tại hội nghị Liên HiệpQuốc về môi trường và sự phát triển, đa dạng sinh học (ĐDSH) được định nghĩa: "là toàn

bộ sự phong phú của các cơ thể sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, baogồm sự đa dạng bên trong giữa các loài vật và sự đa dạng của các hệ sinh thái" Đa dạngsinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tựnhiên Trong hệ sinh thái, số lượng các giống, các loài nhiều tức là phong phú về nguồngen thì tính đa dạng sinh học cao (theo luật Bảo vệ môi trường)

Đa dạng sinh học có một vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất, không có gìthay thế được nhưng trong thời kỳ phát triển hiện nay, khi xu hướng toàn cấu hoá, côngnghiệp hoá đang trên đà phát triển Việt Nam cũng không nắm ngoài xu thế đó, là một

ĐDSH Việt Nam

ĐD loài trong HST trên cạn

Đa dạng loài đất ngập nước

Cây

trồng Vật nuôi

Đặc trưng

ĐD loài

HST rừng

HST đất ngập nước

HST biển

Trang 2

nước đang phát triển, từng bước chuyển mình sang nền kinh tế công nghiệp lớn, kèm theo

đó là đời sống dân cư ngày càng phát triển, đô thị hoá cao và điều này đe doạ đến mốitrường Việt Nam nói chung và đa dạng sinh học nói riêng Nó làm cho nhiều loài đang bịsuy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí có một số loài đang ở ngưỡng cửa của sự diệtvong mà nguyên nhân chủ yếu là do môi trường sống bị phá huỷ, do săn bắt quá mức và do

sự tấn công một cách dữ dội của các loài nhập cư cũng như sự cạnh tranh của các kẻ thùkhác Các chu trình hoá học và thuỷ văn tự nhiên đang bị phá vỡ do việc phá rừng và mỗinăm có hàng tỷ tấn đất mặt đã bị bào mòn và cuốn trôi theo các dòng nước xuống các ao

hồ đại dương Loài người đang sử dụng một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên quýgiá nhất mà không thể thay thế được trên thế giới, đó là sự đa dạng sinh học - cơ sở của sựsống còn, sự thịnh vượng và sự phát triển bền vững của chính họ Tất cả tài sản quý giá đórất cần thiết để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của loài người hiện nay, trong tương lai,cũng như đã đáp ứng cho tổ tiên trước kia Thế nhưng loài người đã không biết giữ gìnnguồn tài nguyên quý giá đó mà lại đang khi thác quá mức, tiêu hao và phá huỷ nó vớidanh nghĩa là để phát triển sự suy thoái đa dạng sinh học trên trái đất hàng ngày, hàng giờ

âm thầm phá huỷ khả năng phát triển của loài người Việt nam cũng như nhiều nước kháctrên thế giới đang đứng trước những thử thách lớn về vấn đề suy giảm đa dạng sinh học

Để có cái nhìn và cách hiểu chính xác, bằng phương pháp thu thập và kế thừa tài liệuqua sách, mạng và internet phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu thu thập được,Nghĩ ngược lại những quan điểm thông thường nhận dạng những vướng mắc trong hoạtđộng thực tế lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu những câu hỏi bấtchợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào Từ đó rút ra những đánh giá về thực trạng cũngnhư sự hợp lý của đa dạng sinh học, chúng ta cần đi sau nghiên cứu kỹ hơn về vấn đề này.Đây cũng chính là lý do để em lựa chọn đề tài tìm hiểu là :"vấn đề suy giảm đa dạng sinhhọc" Mục đích là nghiên cứu Giá trị đa dạng sinh học ở Việt Nam, đánh giá thực trạng vàtình hình nhắm nâng cao nhận thức của mọi người về đa dạng sinh học đối với cuộc sốngcủa họ và tăng quyền chủ động của họ trong việc quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tàinguyên thiên nhiên mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào đó

Trang 3

II NỘI DUNG:

1 Thực trạng ĐDSH:

Như đã đề cập ở trên thì đa dạng sinh học gồm có 3 loại: đa dạng nguồn gen, đa dạng vềloài, đa dạng hệ sinh thái

a) Đa dạng nguồn gen:

Đa dạng về gien di truyền được thể hiện bởi sự đa dạng về gen trong mỗi loài

Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là 1 trong 12 trung tâm nguồn gốcgiống cây trồng của thế giới Mức độ ĐDSH của hệ thực vật cây trồng ở Việt Nam cao hơnnhiều so với dự đoán

Nguồn gen giống cây trồng ở Việt Nam, hiện nay đang sử dụng trong sản xuất nôngnghiệp có 16 nhóm các loại cây trồng khác nhau như cây lượng thực chính, cây lương thực

bổ sung, cây ăn quả, cây rau, cây gia vị, cây làm nước uống, cây lấy sợi, cây thức ăn giasúc, cây bóng mát, cây công nghiệp, cây lấy gỗ với tổng số trên 800 loài cây trồng vớihàng nghìn giống khác nhau

Bảng: Số lượng các loài cây trồng phổ biến ở Việt Nam

Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ

Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.

Có 3 nhóm cây trồng được nông dân sử dụng:

 Các giống cây trồng bản địa: Nhóm giống cây trồng này hiện nay

đang chiếm vị trí chủ đạo đối với nhiều loại cây trồng Trong số nhómgiống cây trồng này có những giống đã được nông dân sử dụng vì lưutruyền hàng nghìn năm nay

Trang 4

 Các giống cây trồng mới: Là những giống cây có khả năng cho năng

suất cao vì có một số đặc tính tốt khác như: phẩm chất nông sản tốt,khả năng chống chịu sâu bệnh cao được các nhóm khoa học chọnlọc, lai tạo thành Những năm gần đây các giống cây trồng được cácnhóm khoa học chọn lọc và lai tạo mới cũng như các loại giống câytrồng được nhập nội, trước khi đưa ra sản xuất rộng răi, được hội đồngkhoa học Bộ NN & PTNT xem xét công nhận như lúa: 156 giống;

ngô: 47 giống; đậu tương: 22 giống; cao su: 14 giống; cà phê: 14giống

 Các giống cây trồng được nông dân ở các tỉnh biên giới trao đổi với

nhau qua biên giới hoặc mua bán qua đường tiểu ngạch

Hiện nay, Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.300giống của 115 loài cây trồng Đây là tài sản quý của đất nước, phầnlớn không còn trong sản xuất và trong tự nhiên nữa Một bộ phậnquan trọng của số giống này là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tínhquý hiếm duy nhất chỉ nước ta có

Nguồn gen giống vật nuôi ở Việt Nam,

Bảng: Các giống vật nuôi chủ yếu T.T Giống

Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ

Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005.

Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Namkhoảng 50 loài Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt

Đặc trưng đa dạng nguồn gen:

 Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam rất phong phú Riêng kiểu gen cây lúa cóđến hàng trăm kiểu hình khác nhau, thể hiện ở gần 400 giống lúa khác nhau

 Các kiểu gen ở Việt Nam thường có nhiều biến dị, đột biến Trong đó có những biến

dị xảy ra dưới tác động của các yếu tố tự nhięn (sấm, chớp, bức xạ ), có những độtbiến xảy ra do những tác nhân nhân tạo Đây lŕ một trong những nguồn tạo giốngmới

Trang 5

 ĐDSH gen ở Việt Nam chứa đựng khả năng chống chịu vŕ tính mềm dẻo sinh thái

cao của các kiểu gen

b) Đa dạng về loài:

Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhấtđịnh tại một vùng nào đó

Tổng số ước tính = 10 triệu.

Chưa được mô tả = 8.3 triệu.

Đã được mô tả = 1.7 triệu

Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điềutra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như các tổchức quốc tế thực hiện Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài động, thựcvật, các hệ sinh thái đặc trưng Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học,các cơ quan nghiên cứu cho thấy:

Bảng: Thành phần loài sinh vật đã biết được cho đến nay

TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được

s?Số loài trên Trái Đất

Chưa được mô tả

?Đã được mô tả

Trang 6

Nguồn: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật,2005

Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ ĐDSH cao tręn thếgiới với dự tính có thể có tới 20.000-30.000 loài thực vật Việt Nam được xếp thứ 16 vềmức độ ĐDSH (chiếm 6,5% số loài có trên thế giới)

 Đa dạng loài trong hệ sinh thái trên cạn:

Khu hệ thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đă ghi nhận có 15.986loài thực vật ở Việt Nam Trong đó, có 4.528 loài thực vật bậc thấp và 11.458 loài thực vậtbậc cao Trong số đó có 10 % số loài thực vật là đặc hữu

Khu hệ động vật: cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán kýsinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng,

260 loài bò sát, 120 loài ếch nhái, 840 loài chim, 310 loài và phân loài thú

Trong hệ thống các khu bảo vệ vùng Đông Dương - Mã Lai của IUCN, Việt Nam đượcxem là nơi giàu về thành phần loài và có mức độ đặc hữu cao so với các nước trong vùngphụ Đông Dương Động vật giới Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu: hơn 100 loài và phânloài chim, 78 loài và phân loài thú đặc hữu Riêng trong số 25 loài thú linh trưởng đã đượcghi nhận thẻ ở Việt Nam có tới 16 loài, trong đó có 4 loài và phân loài đặc hữu của ViệtNam, 3 phân loài chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào, 2 phân loài chỉ có ở vùng rừng hai nướcViệt Nam - Cămpuchia

 Đa dạng loài trong hệ sinh thái đất ngập nước nội địa

Các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam rất đa dạng về hệ thực vật cũng như hệ độngvật, bao gồm các nhóm vi tảo, rong, các loŕi cây cỏ ngập nước và bán ngập nước, động vậtkhông xương sống và cá

- Vi tảo: đă xác định được có 1.438 loŕi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành;

- Cho đến nay đă thống kê và xác định được 794 loŕi động vật không xương sống Trong

đó, đáng lưu ý là trong thành phần loài giáp xác nhỏ, có 54 loài và 8 giống lần đầu tiên

Trang 7

được mô tả ở Việt Nam Riêng hai nhóm tôm, cua (giáp xác lớn) có 59 loài thì có tới 7giống và 33 loài (55,9% tổng số loài) lần đầu tiên được mô tả Trong tổng số 147 loài trai

ốc, có 43 loài (29,2% tổng số loài), 3 giống lần đầu tiên được mô tả, tất cả đều là nhữngloài đặc hữu của Việt Nam hay vùng Đông Dương Điều đó cho thấy sự đa dạng và mức độđặc hữu của khu hệ tôm, cua, trai, ốc nước ngọt nội địa Việt Nam là rất lớn

- Theo các dẫn liệu thống kê, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nambao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép có

276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam.Phần lớn các loài đặc hữu đều có phân bố ở các thủy vực sông, suối, vůng núi

 Đa dạng loài trong các hệ sinh thái biển và ven bờ:

Đặc tính của khu hệ sinh vật biển Việt Nam thể hiện rõ ở đặc tính nhiệt đới, đặc tínhhỗn hợp, đặc tính ít đặc hữu và đặc tính khác biệt bắc - nam Trong vùng biển nước ta đãphát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình

và thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có hai vùng biển: Móng Cái

-Đồ Sơn, Hải Vân - Vũng Tàu có mức độ đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại Đặcbiệt, tại vùng thềm lục địa có 9 vùng nước trồi có năng suất sinh học rất cao, kèm theo làcác bãi cá lớn Tổng số loài sinh vật biển đã biết ở Việt Nam có khoảng 11.000 loài, trong

đó cá (khoảng 130 loài kinh tế) có 2.458 loài; rong biển có 653 loài; động vật phù du có

657 loài; thực vật phù du có 537 loài; thực vật ngập mặn có 94 loài; tôm biển có 225 loài Các nghiên cứu về biến động nguồn lợi đă cho thấy danh sách khu hệ cá biển của ViệtNam đến tháng 1/2005 là 2.458 loài, tăng 420 loài so với danh sách được lập năm 1985 (có2.038 loài) và đã phát hiện thêm 7 loài thú biển mới

Một số loài sinh vật mới được phát hiện trong thời gian gần đây ở Việt Nam:

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ các kết quả điều tra cơ bản các vůng lãnh thổ khácnhau ở Việt Nam, một số loài mới được phát hiện và mô tả, trong đó nhiều chi, loài mớicho khoa học Một số các nhóm sinh vật trước đây chưa được nghiên cứu, nay đã có nhữngdẫn liệu bước đầu

Đặc trưng đa dạng loài ở Việt Nam:

 Số lượng các loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn Tính ra bình quân trên 1 km2 lãnhthổ Việt Nam có 4,5 loài thực vật, gần 7 loài động vật, với mật độ hŕng chục nghìn

cá thể Đây là một trong những mật độ đậm đặc các loài sinh vật so với thế giới

 Cấu trúc loài rất đa dạng Do đặc điểm địa hình, do phân hóa các kiểu khí hậu, cấutrúc các quần thể trong nội bộ loài thường rất phức tạp Có nhiều loài có hàng chụcdạng sống khác nhau

 Khả năng thích nghi của loŕi cao Thích nghi của các loài được thực hiện thông quacác đặc điểm thích nghi của từng cá thể, thông qua chuyển đổi cấu trúc loŕi Loàisinh vật ở Việt Nam nói chung có đặc tính chống chịu cao đối với các thay đổi củacác yếu tố và điều kiện ngoại cảnh

Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2003, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đóđược phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v

c) Đa dạng hệ sinh thái:

Trang 8

Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như

ở nước tại một vùng nào đó Hệ sinh thái là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tácđộng lẫn nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng và trao đổi thông tin.Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên của Việt Nam hiện nay tập trung ở 3 hệsinh thái (HST) chính là: HST trên cạn ( HST rừng), HST đất ngập nước và HST biển

Hệ sinh thái đất ngập nước:

Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặcvùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy haynước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu khôngquá 6 mét khi triều thấp"

Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhómĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH cao:

 Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị như cung cấpcác sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương cácloài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố địnhcác bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển vàbão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư(chim, thú, lưỡng cư, bò sát)

 Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á U Minhthượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy thanbùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam

 Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam Do đặc tính pha trộngiữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phúbao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn Cấu trúc quần xã sinh vật đầmphá thay đổi theo můa rõ rệt

 Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặcbiệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới Quần xã rạn san hô rất phong phúbao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn Thảm cỏ biển thường

là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon

 Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rấtphong phú Vůng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thů như rạn san hô, cỏ biển Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng

và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:

 ĐNN ở vůng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha Đây là nơi tậptrung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngậpmặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim nước

 ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha Đây là bãi

đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông Mê Công.Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năngsản xuất cao Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở đồng bằng sông Cửu Long, đó lŕ hệsinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệsinh thái cửa sông

Trang 9

Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của měnh Tuy nhiên, đặctính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan vàvùng địa lý tự nhiên.

Hệ sinh thái đất ngập nước rất đa dạng, theo đánh giá của Viện Điều tra quy hoạch rừng(1999) có 39 kiểu đất ngập nước, bao gồm:

 Đất ngập nước tự nhiên 30 kiểu

 Đất ngập nước ven biển 11 kiểu

 Đất ngập nước nội địa 19 kiểu

 Đất ngập nước nhân tạo 9 kiểu

Hệ sinh thái biển:

Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng khoảng 226.000 km2 Do vậy hệ sinhthái biển cũng rất phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng sinh học vànăng suất sinh học cao.Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinhvật cư trú trong các vùng đa dạng sinh học biển khác nhau Thành phần quần xã trong hệsinh thái giàu, cấu trúc phức tạp, thành phần loài phong phú Đây là môi trường sản xuấtthuận lợi và rộng lớn gắn chặt với đời sống của hàng triệu cư dân sống ven biển của ViệtNam

Diện tích rừng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động khác nhau Theo thống

kê của tác giả Paul Maurand (1943), năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng là 14,3 triệuhecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43% Từ năm 1943-1975, diện tích rừng đã bị suy giảmcòn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976) Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ pháttriển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếptục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủchỉ đạt 27,8%

Giai đoạn 1990 đến nay Chính phủ đã có nhiều biện pháp về chính sách và đầu tư nêndiện tích rừng đã dần được phục hồi kể cả diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng Năm

2005, diện tích rừng đã đạt trên 12,6 triệu hecta với độ che phủ 37%

Bảng: Diễn biến diện tích và độ che phủ rừng qua các thời kỳ

Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ Ha/Đầu người

Trang 10

Tổng cộng Rừng tự

nhiên

Rừngtrồng

Nguồn: Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Cục Kiểm lâm

Do nhiều nguyên nhân đã làm cho diện tích rừng tự nhiên bị giảm sút trong thời gian qua

đã kéo theo sự suy giảm về đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái rừng nói chung Các hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên các hệ sinh thái nàyhiện nay cũng đang đối mặt với nhiều thách thức chủ yếu từ các hoạt động kinh tế xã hộicủa con người và những biến động của sự thay đổi khí hậu của trái đất Diện tích rừng tựnhiên đang có chiều hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng Môi trường biển cũngđang bị tác động bới các hoạt động khai thác tài nguyên như dầu khí, hải sản và cả ô nhiễmv.v

Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam:

Tính phong phú và đa dạng của các kiểu hệ sinh thái: Với một diện tích không rộng, nhưngtrên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau Ở từng vùng địa lý khônglớn cũng tồn tại nhiều kiểu hệ sinh thái

 Thành phần các quần xã trong các hệ sinh thái rất giàu Cấu trúc quần xã trong các

hệ sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh Điểm đặc trưng này làm cho đadạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thếgiới

 Tính phong phú của các mối quan hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học,giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể trong cùng mộtloài sinh vật Mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với nhiều khâu nối tiếpnhau làm tăng tính bền vững của các hệ sinh thái Các mối quan hệ năng lượng đượcthực hiện song song với các mối quan hệ vật chất rất phong phú, nhiều tầng, bậcthông qua các nhóm sinh vật: tự dưỡng (sinh vật sản xuất), dị dưỡng (sinh vật tięuthụ), hoại sinh (sinh vật phân hủy) trong các hệ sinh thái ở Việt Nam là những chuỗiquan hệ mà ở nhiều nước khác trên thế giới không có được

 Các hệ sinh thái ở Việt Nam có đặc trưng tính mềm dẻo sinh thái cao, thể hiện ở sứcchịu tải cao; khả năng tự tái tạo lớn; khả năng trung hoà và hạn chế các tác động có

Trang 11

hại; khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả năng tiếp nhận, chuyển hóa, đồnghóa các tác động từ bęn ngoài.

 Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm Tính mềmdẻo sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ đó luôn ở trong trạngthái hoạt động mạnh, vì vậy, thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể

cả các tác động của thiên nhiên, cũng như những tác động của con người

2 Tầm quan trọng của ĐDSH Việt Nam:

 Giá trị sinh thái và môi trường:

Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người.Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực):ôxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho Chúng duy trì sự ổn định

và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm,thiên tai Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở cácthuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng

Bảo vệ tài nguyên đất và nước: các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọngtrong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độhạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nước Việc hủy hoại thảm rừng do khai thác

gỗ, do khai hoang làm nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của conngười trong quá trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn đất, sạt lở đất, hoangmạc hóa đất đai tăng lên rất nhanh Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thểphục hồi càng gia tăng các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán hoặc gây ô nhiễmmôi trường đất và nước

Điều hòa khí hậu: quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậuđịa phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: tạo bóng mát, khuyếch tán hơi nước,giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực, hạn chế sự mất nhiệt khi khí hậu lạnhgiá, điều hòa nguồn khí ôxy và cacbonic cho môi trường trên cạn cũng như dưới nướcthông qua khả năng quang hợp Phân hủy các chất thảiCác quần xã sinh vật, đặc biệt các loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp phụ, hấp thụ

và phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hạikhác

 Giá trị kinh tế:

Theo một số tài liệu, ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con người một giá trịtương đương 33.000 tỷ USD/năm Trong Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam(1995) cũng ước tính, hàng năm việc khai thác tài nguyên nông, lâm nghiệp và thủy sảncủa Việt Nam có giá trị tương đương 2 tỷ USD Lấy số liệu thực của năm 2004, riênghàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD Ngành nông - lâmnghiệp hiện đang quản lý nguồn tài nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn Với giákhoảng 250 USD/m3 gỗ, thì hàng năm chỉ riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệu giấy,ĐDSH đă cho giá trị khoảng 1,5 - 3,5 tỷ USD Đó là chưa kể hàng năm rừng đă cungcấp các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ USD cho xuất khẩu vàcũng khoảng đó cho tiêu dùng trong nước

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ đáng kểtrong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): gần 21%, ngŕnh lâm nghiệp chiếm tỷ lệ gần

Ngày đăng: 24/04/2013, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w