HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC VÀ HÓA CHẤT TẠI SÂN GOLF 3.1 Tổng quan về tình hình sử dụng nước, hóa chất tại sân golf: Theo một số chuyên gia ngành Tài nguyên và Môi trường, đất sử dụng làmsâ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TIỂU LUẬN MÔN STMT ỨNG DỤNG:
TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN SÂN
GOLF ĐẾN HỆ SINH THÁI
Ở VIỆT NAM
CBGD: TS NGUYỄN THỊ HAI LỚP: 11SMT01
SVTH:
1 Kiều Thị Lê Nga
2 Nguyễn Thị Hòa
3 Phan Dũng
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2011
MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU VỀ GOLF 3
2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN SÂN GOLF Ở VIẾT NAM 5
2.1 Về tình hình sử dụng quỹ đất phát triển sân Golf ở Việt Nam 5
2.2 Về chi phí xây dựng và lợi nhuận từ sân Golf 6
3 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC VÀ HÓA CHẤT CỦA SÂN GOLF 6
3.1 Tổng quan về tình hình sử dụng nước, hóa chất tại sân Golf 6
3.2 Một số loại thuốc bảo vệ thực vật thường dùng tại sân Golf 8
4 TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHU SÂN GOLF ĐẾN HỆ SINH THÁI 10
4.1 Tác động của việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 10
4.2 Tác động tới tài nguyên đất 13
4.3 Tác động tới tài nguyên nước 14
4.4 Tác động tới môi trường không khí 15
4.5 Tác động tới đa dạng sinh học 15
4.6 Độc tính của các loại hoá chất BVTV đang sử dụng 16
4.7 Tác động đến sức khỏe con người 21
5 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN SÂN GOLF 22
Trang 31 GIỚI THIỆU VỀ GOLF
-Golf bắt nguồn từ một trò chơi ở vùng biển phía Đông Scotland khoảng từthế kỉ 15 và rất thịnh hành ở các nước phương Tây
-Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa từ những năm 1945 - 1980 đều không cósân golf, sau khi Liên Xô tan rã, golf du nhập vào các nước Đông Âu và hiện naynước nào cũng có
-Ở các nước công nghiệp hóa hoặc mới công nghiệp hóa, con người làm việccàng căng thẳng thì nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí càng lớn và theo quy luật phát triểncủa thị trường tự nhiên thúc đẩy, ngành dịch vụ nghỉ ngơi, giải trí phải kịp thời pháttriển Chính vì vậy mà các câu lạc bộ đánh golf hiện đại ngày nay không còn là mộtsân golf đơn thuần mà nó được kết hợp với nhiều bộ môn thể thao khác, nhiềungành hoạt động vui chơi khác về nhiều mặt sinh hoạt, văn hóa rất đa dạng, phongphú, kết hợp lại thành một quần thể tổng hợp về thể thao và văn hóa đáp ứng nhucầu giải trí, nghỉ ngơi của du khách
-Sân golf Đà Lạt là sân golf đầu tiên ở nước ta, được thiết kế năm 1922 nhưngđến năm 1933 mới đưa vào sử dụng, sân golf này bị bỏ hoang khi chiến tranh thếgiới thứ 2 xảy ra và phục hồi vào năm 1959 Sau năm 1975, sân golf này bị bỏ
Trang 4hoang lần nữa, mọi người vẫn gọi là Đồi Cù (nhiều người thấy Đồi Cù đẹp màkhông biết đó là sân golf cũ).
Bảng 1.1 Chỉ tiêu bình quân về sân golf ở một số quốc gia trên thế giới
Tên
quốc gia
Diện tích tự nhiên (Nghìn
km 2 )
Dân số (Triệu người)
Số lượng sân golf (sân)
GDP/người
2007 (USD)
Lượng khách DLTB năm (tr.người)
Mật độ DS/sân golf (Nghìn người)
Mật độ DTTN/sân golf (km 2 )
Nguồn: Liên Đoàn Golf Thế Giới
Bảng 1.2 Số lượng sân golf và người chơi golf ở một số nước Đông Nam Á
TT Quốc gia Số lượng sân golf Số lượng người chơi Golf
Trang 56 Singapore 14 55.000
Nguồn: Liên Đoàn Golf Đông Nam Á
2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN SÂN GOLF Ở VIỆT NAM
2.1 Về tình hình sử dụng quỹ đất phát triển sân Golf ở Việt Nam
- Cả nước hiện có 144 dự án có mục tiêu kinh doanh sân golf đã được cấpphép hoặc có chủ trương cho phép nghiên cứu thực hiện Trong đó, hơn 140 dự ánsân golf chỉ có 41 dự án (7.095ha) được ghi rõ trong quy hoạch, còn lại là hoàntoàn tự phát (57 dự án/18.746ha) hoặc lấn vào diện tích dành chung cho hoạt độngthể thao, vui chơi giải trí, du lịch, cảnh quan môi trường (41 dự án/15.071ha)
- Theo quy hoạch của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng sân Golf được quyhoạch đến 2020 sẽ là 90 sân nằm trên địa bàn 34/63 tỉnh, thành phố Trong đó có
29 sân golf đang hoạt động, 21 sân đang xây dựng, 13 sân được cấp Giấy phépchứng nhận đầu tư, 27 sân được chấp nhận chủ trương đầu tư Trong số 90 dự ánsân golf nằm trong quy hoạch, chỉ 21 dự án là kinh doanh sân golf đơn thuần, cònlại 69 dự án khác kết hợp bất động sản (BĐS) và khu du lịch, sân golf chỉ là một dự
án thành phần Điều này đồng nghĩa với việc chỉ 40% quỹ đất dành cho sân golf,còn lại tập trung cho khu du lịch sinh thái, trung tâm thương mại đi kèm Ví dụ nhưsân golf Tam Nông (Phú Thọ) đất dự án là 2.000ha song đất xây sân chỉ gần 172ha,
Trang 6đất xây sân golf trong tổng 1.200ha dự án Khu du lịch quốc tế Tản Viên (Hà Nội)chỉ chiếm 200ha…
- Trong 64 dự án thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường đã có
55 dự án được phê duyệt báo cáo, 9 dự án đang thực hiện
2.2 Về chi phí xây dựng và lợi nhuận từ sân Golf
- Chi phí xây dựng trung bình của 01 sân golf khoảng 20- 50 triệu USD
- Khả năng phục vụ 200 - 300 hội viên
- Mức phí phải trả của một hội viên khoảng 100 USD/lượt chơi Như vậy sângolf không mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư Tiền thu từ khách đánh golf và cácdịch vụ liên quan chỉ đủ trang trải chi phí hoạt động Lợi nhuận của sân golf chủyếu dựa vào kinh doanh bất động sản (bán và cho thuê biệt thự)
- Trung bình 01 sân golf chiếm 100 - 200 ha đất Như vậy, 144 dự án sân golfhiện nay chiếm tới 50.000 ha đất, trong khi chỉ phục vụ khoảng 5.000 người chơi.Vấn đề đáng nói là rất nhiều diện tích đất trồng lúa phải nhường chỗ cho sân golf
- Một số dự án lấy đất NN làm sân Golf ở Việt Nam:
+ Dự án sân golf tại xã Mỹ Phú (Thủ Thừa - Long An) được triển khai ngaytại vùng đất làm hai vụ lúa/năm Toàn xã có 777 ha đất lúa thì bị thu hồi 256,3 halàm sân golf nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của khoảng 600 hộ nôngdân
+ Tỉnh Hưng Yên đã quy hoạch 180 ha đất lúa tại 2 xã Long Hưng, Nghĩa Trụ(huyện Văn Giang) làm dự án sân golf 18 lỗ kết hợp kinh doanh bất động sản
+ Sân golf Vân Trì (Đông Anh - Hà Nội) chiếm 128 ha đất, trong đó đất nôngnghiệp là 93 ha, khiến 600 gia đình mất đất, kèm theo đó là thất nghiệp
3 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC VÀ HÓA CHẤT TẠI SÂN GOLF
3.1 Tổng quan về tình hình sử dụng nước, hóa chất tại sân golf:
Theo một số chuyên gia ngành Tài nguyên và Môi trường, đất sử dụng làmsân golf gây ô nhiễm môi trường gấp 5 - 8 lần so với sử dụng sản xuất nông nghiệp
Trang 7Trung bình mỗi ngày tiêu tốn 150.000m3 nước mặt để tưới, sử dụng nhiều loại hóachất độc hại để giữ đất, giữ cỏ cho sân, trong đó có chất giữ đất khỏi trượt lở có khảnăng gây ung thư cao Lượng phân bón hóa học tưới cỏ cũng được tính toán là lớnhơn gấp 5 lần hóa chất trong sản xuất nông nghiệp các chuyên gia này cảnh báo,quỹ đất một khi đã dùng để làm sân golf rồi thì khi hoàn trả, chất đất không lấy lạiđược như ban đầu kể cả khi phải tiêu tốn một khoản đầu tư không nhỏ để cải tạo lạiđất.
- Các số liệu nghiên cứu trên thế giới cho thấy, trung bình mỗi năm, một sânGolf 18 lỗ sử dụng khoảng 1,5 tấn hóa chất (cao gấp 3 lần so với cùng diện tích đấtnông nghiệp) Trong đó, có các chất như axit silic, ôxit nhôm và ôxit sắt (tác nhângây ung thư), chất xúc tác làm cứng đất để gia cố nền và bờ các hồ nhân tạo ở sânGolf có sử dụng Acrylamide là chất cực độc đối với sinh vật và sức khỏe conngười Tất cả các loại hóa chất này có thể ngấm xuống long đất, vào nước ngầm,chảy tràn khi mưa sẽ đưa đến các vùng đất, nước mặt lân cận, gây nên trình trạng ônhiễm môi trường Người sử dụng nước thải này hoặc nông sản được trồng cấy gầnkhu vực sân golf có thể bị nhiễm độc và rối loạn chức năng hệ thần kinh trungương Ngoài ra, khi phun hóa chất vào các thảm cỏ, một phần chúng phát tán vàomôi trường làm ô nhiễm không khí
- Hiện nay các sân golf Việt Nam sử dụng 3 dạng phân bón: hữu cơ, vi sinh và
vô cơ Tỷ lệ sử dụng các loại phân trên ở các sân có khác nhau nhưng trung bình là70% vô cơ, 30% vi sinh + hữu cơ Tỷ lệ này sẽ còn được thay đổi khi phân vô cơchỉ dùng cho cỏ sân đẩy
- Phân vô cơ dùng cho cỏ ở các sân golf Việt Nam cũng là loại phân vô cơthông thường dùng cho lúa và cây hoa quả (như Kali Clorua (KCL), Urê và đạmtổng hợp NPK)
- Ngoài ra, còn có loại phân vô cơ chống côn trùng Pest, loại này dùng đểchăm sóc cỏ sân đẩy là chủ yếu nhưng do đắt tiền nên phần lớn các sân golf Việt
Trang 8Nam ít nhập Ngoài tính chất chống côn trùng nó còn có tính chất phân hủy chậmđều, nhỏ giọt để đảm bảo không phí và lúc nào cỏ cũng có thức ăn.
- Với 147 ha sân golf Tam Đảo, mỗi năm người dân thôn Sơn Long (nơi cósân golf Tam Đảo) phải hứng chịu khoảng 220,5 tấn hóa chất
3.2 Một số loại thuốc bảo vệ thực vật thường dùng tại sân golf:
- Thuốc trừ sâu Carbaryl
Tên hoá học: 1-napthyl methylcarbamate
Nhóm hoá học: carbamate
Công thức hóa học: C12H11NO2
Công thức cấu tạo:
Đặc tính: Carbaryl được phân loại dễ tan trong nước Độ tan: 50 mg/lít
Carbaryl được đánh giá có khả năng di động trung bình trong đất Thời gianbán phân hủy: Carbaryl không bền trong môi trường Trong đất Carbaryl kém bền.Thời gian bán phân huỷ từ 7 – 14 ngày trong đất thịt pha cát, từ 14 – 28 ngày trongđất thịt pha sét, trong nước: khoảng 10 ngày trong nước trung tính
Độ độc cấp tính: trung bình – độc nhẹ, thuộc nhóm II – III (phân loại theoWHO)
- Thuốc diệt nấm Mancozeb
Tên hoá học: [[1,2-ethanediylbis[carbamodithioato]](2-)] manganese mixturewith [[1,2-ethanediylbis [carbamodithioato]](2-)] zinc
Nhóm hoá học: Carbamate fungicide; Ethylene bisdithiocarbamate (EBDC)
Công thức phân tử: [(CH2NHCSS)2Mn]x[Zn]y
Công thức cấu tạo:
Trang 9Đặc tính: Mancozeb tan trung bình trong nước Nhưng thực tế Mancozebkhông tan trong nước Độ tan 6 mg/lít.
Mancozeb ít có khả năng di động trong đất, thời gian bán phân hủy: Mancozebkhông bền trong môi trường Trong đất Mancozeb không bền, thời gian bán phânhủy từ 1 - 7 ngày Trong nước: khoảng 1 - 2 ngày trong môi trường nước acid nhẹ -kiềm nhẹ
Độ độc cấp tính: không độc
Sản phẩm phân huỷ: ETU, bền hơn Mancozeb (thời gian bán phân huỷ 5 – 10tuần), có khả năng di động trong đất
- Thuốc diệt nấm Thiophanate - methyl
Tên hoá học: Dimethyl [(1,2-phenylene) bis-(iminocarbonothioyl)] bis[carbamate]
Nhóm hoá học: Benzimidazole precursor
Công thức phân tử: C12H14N4O4S2
Công thức cấu tạo:
Đặc tính: Thiophanate – methyl rất ít tan trong nước, Thiophanate – methyl diđộng trung bình trong đất Thiophanate – methyl không bền trong đất Thời gianbán phân huỷ là 1 ngày đối với đất hiếu khí, 2 ngày đối với đất kỵ khí Thiophanate– methyl hơi bền trong môi trường nước, thời gian bán phân huỷ là 41 ngày
Độ độc cấp tính: không độc
- Thuốc trừ sâu Chlorpyrifos
Tên hoá học: 0,0 - diethyl 0 - (3,5,6 - trichloro - 2 - pyridinyl)phosphorothicate
Trang 10Công thức hóa học: C9H11Cl3NO3PS
Cấu trúc hóa học:
Đối với động vật (qua đường miệng, với chuột cống, chó và các động vật có vúkhác) Chlorpyriphos bị chuyển hóa nhanh và chủ yếu thải ra đường nước tiểu Ðốivới thực vật, Chlorpyriphos không bị rễ cây hấp thụ Trong đất, Chlorpyriphosphân giải chậm, thời gian bán phân hủy khoảng 60 - 120 ngày, Chlorpyriphos tiếptục phân giải thành hợp chất clo hữu cơ và khí CO2
- Thuốc trừ sâu Diazinon
Tên hóa học: O,O-diethyl O-2-isopropyl-6-methylpyrimidin-4-ylphosphorothioate
Công thức hóa học: C12H21N2O3PS
Cấu trúc hóa học:
Trong đất Diazinon có thời gian bán phân hủy là 1 -12 tuần, trong nước thờigian bán phân hủy của Diazinon là 12 ngày đối với nước có pH=5, 138 ngày đốivới nước có pH=7, trong không khí Diazinon chuyển đổi thành diazoxon (một chất
ức chế mạnh hơn so với diazinon) trong khí quyển
4 TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHU SÂN GOLF ĐẾN HỆ SINH THÁI
4.1 Tác động của việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
Trang 11Các nhà khoa học thuộc Cơ Quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) tính ra rằngmỗi ha sân golf sử dụng khối lượng hoá chất gấp 3 lần cùng một diện tích canh tácnông nghiệp Kết quả khảo sát ở 107 sân golf tại Long Island (Mỹ) còn cho con sốcao gấp 5 lần Ngay ở khu vực Đông Nam Á, các khảo sát cũng cho thấy mỗi hasân golf sử dụng đến 1,5 tấn hoá chất mỗi năm Vậy ước tính lượng hóa chất dùngchăm sóc sân golf 36 lỗ với tổng diện tích 39,6 ha khoảng 64,4 tấn hóa chất mỗinăm.
Bảng 4.1 Loại phân bón và chế độ sử dụng trong sân golf.
Loại phân Cách bón Tần suất Liều lượng Lượng sử dụng
trong năm (kg)
URE Phun dung dịch
nước
01 lần/3tháng
Tính toán tính toán lượng phân bón sử dụng như sau:
- Tính cho việc bón phân mỗi tháng bón 1 lần, mỗi lần bón 5 ngày liên tục với
số lượng là 4.600kg
- Giả sử rằng 2 loại phân NPK 30:5:10 và NPK 15:15:15 được sử dụng xen kẽvới số lượng coi như bằng nhau cho mỗi loại trong năm, đồng thời lượng Ure sửdụng khá nhỏ so với NPK nên giả định nó bằng với lượng được hấp thụ bởi cây cỏ.Đây là giả định khắc nghiệt nhất (bất lợi nhất) trong việc tính toán hàm lượng dinhdưỡng thoát vào nguồn tiếp nhận Khi đó:
- Tổng lượng nước mưa chảy tràn tính cho toàn mặt bằng sân golf là4.274,440 m3/ngày
+ Tỷ lệ phân NPK trong phân bón sẽ là: 22,5:10:12,5
+ Lượng nitơ trong một lần bón phân là: 22,5x4.600kg : 100 = 1.035kg
Trang 12+ Lượng phospho trong một lần bón phân là: 10x4.600kg :100 = 460kg
+ Lượng mưa trung bình ngày mùa mưa là: 4.274,440 m3/ngày
+ Lượng nước mưa trung bình trong 5 ngày bón phân mùa mưa là:4.274,440m3 x 5 = 21.372,27.200 m3
+ Hàm lượng nitơ trong nước là: 1.035.000g: 21.372,27.200 m3 = 48,4 (mg/l)
+ Hàm lượng tổng phospho trong nước là: 460.000g : 21.372,27.200 m3 =21,5 (mg/l)
Các loại hoá chất này tiêu diệt gần như toàn bộ côn trùng trên sân, kéo theo sựsuy giảm các loài chim, cũng như đa dạng sinh học trong khu vực Đặc biệt, hoáchất tan chảy theo nguồn nước và ngấm xuống đất làm ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồnnước mặt, nước ngầm trong khu vực, nhất là gây ra hiện tượng phú dưỡng hoá hồ
Đà Ròn Việc phun thuốc bằng máy dẫn đến gây ô nhiễm không khí gây ảnh hưởngđến du khách và cư dân xung quang khu vực dự án, nhất là gây ảnh hưởng trực tiếpđến các công nhân trực tiếp phun thuốc như gây các bệnh ngoài da, sưng mắt, thậmchí là gây nên bệnh ung thư
Vì vậy, Chủ đầu tư sẽ áp dụng các biện pháp chăm sóc cỏ phù hợp nhằm quản
lý và kiểm soát chặt chẽ dư lượng sử dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật(BVTV) này trong quá trình hoạt động của dự án sân golf, tuyệt đối không sử dụngcác loại hóa chất cấm sử dụng Danh mục các hoá chất BVTV được sử dụng choviệc chăm sóc cỏ và cây xanh tại sân golf bao gồm :
- Thuốc trừ sâu : Karate 2.5EC; Nissorun 5EC; Pegasuss 500DD; Selecron500DD; Suprathion 40EC; Trigard 100 SL; Vitashield 40EC; Asitrin
50EC;Tornado 10EC; Bazan; 95SP; Southsher 10EC;Caradan 5h;Cyper Alpha;
Just 050EC; Dibrom 50EC; Trebon; 20WP; Methink 25EC; Pasha 50EC
- Thuốc trừ nấm : Anvil 5SC ;Ridomil Gold 68WP; Impact 12.5EC
Trang 134.2 Tác động tới tài nguyên đất
Dư lượng phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật sử dụng để chăm sóc cỏ, câyxanh là nguyên nhân chính gây ô nhiễm đất, gây tác động tiêu cực tới môi trường.Nếu tính toán như trên, khối lượng hoá chất sử dụng hàng năm cho sân golf 36 lỗ(39,6 ha) tại dự án ước tính là 64,4 tấn hoá chất/năm, tương đương 0,18 tấn/ngày
Diện tích phun xịt là 39,6 ha và chiều dày trung bình của lớp đất và cách phíatrên của hệ thống gom nước ngầm là 0,5m Khi đó,thể tích đất được phun xịt là :396.000 m2 x 0,5m = 198.000 m3 Coi rằng tỉ trọng của đất thấp nhất là 1 tấn/m3,khi đó khối lượng đất được phun xịt là : 198.000 tấn Như giả thiết cho rằng, 50%hoá chất BVTV sau khi phun xịt được giữ lại trong đất và trong hoá chất có 50%hợp chất có tính hoạt hóa
- Dư lượng HCBV thực vật trong đất : 180 kg x 50% x 50% = 45 kg
- Lượng HCBV thực vật/kg đất là: 45000 mg : 198.000 tấn = 0,23 mg/tấn
=0,00023 mg/kg
So sánh với tiêu chuẩn (TCVN 5941 – 1995) cho thấy: giá trị này nằm trongkhoảng giữa của giới hạn cho phép đối với từng loại hoá chất BVTV (từ 0,1 –0,5mg/kg) Hơn nữa, việc lấy mẫu trong tiêu chuẩn quy định sau vụ thu hoạch khácvới giả định tính toán của ta là vào đúng thời kỳ sử dụng hoá chất và đồng thời ởđây cũng bỏ qua thời gian bán phân huỷ của hoá chất Từ đây có thể khẳng địnhrằng tác dụng của việc sử dụng hoá chất BVTV trong sân golf đến môi trường đất
là không lớn, có thể chấp nhận được
Bên cạnh đó cũng cần nhấn mạnh rằng, việc tích tụ hoá chất BVTV trong đất
và trong chuỗi thực vật trong trường hợp này là không cần thiết xem xét vì cỏ trồng
ở đây chỉ nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo kỹ thuật của sân golf và tạo cảnhquan chứ không sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác