1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng đa dạng sinh học

19 892 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng đa dạng sinh học
Chuyên ngành Đa dạng sinh học
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Quảng Ngãi
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 523,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày thực trạng đa dạng sinh học

Trang 1

CHƯƠNG VI THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC

6.1 Các nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học

Những nghiên cứu gần đây đã xác định những mối đe doạ chính đồng thời cũng

là những nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học (ĐDSH) Quảng Ngãi nói riêng

và cả Việt Nam nói chung, bao gồm hai nhóm chính: nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp gián tiếp

6.1.1 Các nguyên nhân trực tiếp

a) Khai thác quá mức tài nguyên sinh vật

Nhiều cộng đồng dân cư ở Quảng Ngãi có truyền thống lâu đời về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đời sống vẫn phụ thuộc nhiều vào rừng và biển như đánh bắt thủy hải sản, động vật rừng, thu hái, khai thác lâm sản ngoài gỗ, chất đốt và vật liệu xây dựng Do có sự thay đổi nhanh về phát triển kinh tế, xã hội và tăng trưởng dân số, nên mô hình tiêu thụ của người dân thành thị cũng đã thay đổi và mạng lưới giao thông đã xâm nhập tới các vùng sâu, vùng xa hẻo lánh, nơi giàu tài nguyên sinh học, phong phú về đa dạng sinh học, làm cho các vùng này trở nên dễ tiếp cận hơn đối với các thị trường từ bên ngoài Những thay đổi to lớn đó đã dẫn tới việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên tới mức độ nguy hiểm tại nhiều vùng như khai thác thủy hải sản gần bờ, săn bắt động vật quý hiếm, khai thác sâm Ngọc Linh, lâm sản ngoài

gỗ

Hầu hết các loài thực vật có giá trị kinh tế, trong đó, có nhiều loài được dùng làm thức ăn (như măng, nấm), làm chất đốt, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng hay nguyên liệu làm đồ thủ công mỹ nghệ đều bị khai thác ồ ạt nhằm phục vụ tiêu thụ tại chỗ, thương mại và tăng trưởng

Khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ

Nhằm hạn chế sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng tự nhiên, Chính phủ và UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành hàng loạt các quy định và áp dụng nhiều biện pháp để kiểm soát nạn phá rừng, khai thác gỗ thương mại Mặc dù vậy, các hoạt động khai thác gỗ lậu đã và đang diễn ra ngày càng trầm trọng và không thể kiểm soát được đối với tất cả các loại rừng, trong đó cũng không ngoại trừ rừng đặc dụng Việc xây dựng phát tiển các đường giao thông thường cũng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các hoạt động khai thác gỗ, săn bắt động vật và khai thác trái phép lâm sản ngoài gỗ, gây

áp lực càng lớn đối với các quần thể động, thực vật hoang dã vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự suy thoái và chia cắt sinh cảnh

Đánh bắt thủy sản không bền vững

Khoảng 1/4 dân số tỉnh Quảng Ngãi sống dựa vào đánh bắt thủy sản để sinh sống

và các hoạt động này cũng đóng góp một phần rất lớn cho nhu cầu thực phẩm của nhân dân và xuất khẩu Tuy nhiên, việc gia tăng mức độ tiêu thụ, cộng với việc quản lý đánh bắt kém hiệu quả đã dẫn tới việc khai thác thủy sản quá mức ở nhiều vùng làm suy giảm tổng lượng đánh bắt Nhiều loài hải sản có giá trị cao bị suy giảm nghiêm

trọng, như tôm hùm (Panulirus spp.), bào ngư (Haliotes spp.), điệp (Chlamys spp.)

Các kỹ thuật đánh bắt mang tính hủy diệt như dùng chất nổ, chất độc và sốc điện để đánh bắt cá đang lan tràn cả trong nội địa và vùng duyên hải, và được coi là mối đe

Trang 2

dọa cao đối với hơn 80% rạn san hô của Quảng Ngãi nói riêng và của cả Việt Nam nói chung

Săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã

Các hoạt động săn bắt diễn ra do nhiều yếu tố quan hệ mắt xích với nhau, gồm cả các nhu cầu sống và giải trí Về bản chất, nhu cầu tiêu thụ của các thị trường buôn bán động vật hoang dã quốc tế và nội địa lại là nguyên nhân chủ yếu của nạn săn bắt này Các loài động vật hoang dã bị buôn bán phổ biến là những loài được dùng trong thành phần bào chế các loại thuốc đông y cổ truyền như gấu, khỉ, cầy cáo, rùa, kỳ đà và trăn, rắn; nhiều loài chim cũng bị bắt để bán làm chim cảnh

Mặc dù Việt Nam đã xây dựng kế hoạch hành động quốc gia để tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã tới năm 2010 với mục tiêu chung là tăng cường kiểm soát nạn buôn bán trái phép, nhưng năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ động vật hoang dã còn rất thấp

b) Chuyển đổi mục đích sử dụng đất một cách thiếu cơ sở khoa học

Việc chuyển đổi đất rừng và các vùng đất ngập nước thành đất canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; sự mở rộng đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng cũng dẫn đến việc mất hay phá vỡ các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên

Mở rộng diện tích sản xuất cây nông nghiệp, công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

Sự mở rộng đất nông nghiệp là một trong những lý do lớn nhất của việc mất các sinh cảnh tự nhiên ở Quảng Ngãi Các vùng đất ngập nước nội địa, vùng cửa sông ven biển bị chuyển đổi sử dụng thành đất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, rừng đang bị phá hủy việc mở rộng thiếu kiểm soát diện tích các loài cây công nghiệp và cây kinh tế

là nguyên nhân lớn nhất gây mất rừng Vùng cát ven biển là kiểu HST đặc thù của tỉnh Quảng Ngãi bị phá hủy để nuôi tôm, dể khai thác quăng imenhit - titan

Việc chuyển vùng cát sang đầm nuôi tôm sú với năng suất trung bình ở Quảng Ngãi khoảng trên 5tấn/ha/vụ vào những năm đầu đã mang lại lợi nhuận rất lớn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân ở vùng đất nghèo khó này, nâng cao đời sống

xã hội cho địa phương

Bên cạnh lợi ích kinh tế-xã hội, dưới góc độ sinh thái-môi trường và phát triển bền vững thì phát triển nghề nuôi tôm trên vùng đất cát chưa tính đến một cách đầy đủ những thiệt hại lâu dài như: mất diện tích rừng phòng hộ, các đầm nuôi tôm thâm canh, công nghiệp với lượng nước thải lớn hầu như không được xử lý gây ô nhiễm môi trường tiếp nhận nước thải đồng thời gây bệnh dịch tôm hàng loạt Trong điều kiện hiện nay, ở Quảng Ngãi cũng như ở hầu hết các tỉnh miền trung lượng nước ngọt cung cấp cho việc nuôi tôm trên cát cũng như khai thác sa khoáng imenhit chủ yếu được khai thác từ nước ngầm Vậy, nếu việc khai thác lạm dụng nguồn nước ngầm sẽ dẫn đến tình trạng sụt lún địa tầng, tăng xâm nhập mặn nguồn nước ngầm, gây ảnh hưởng đến môi trường chung Mặt khác, việc tăng diện tích nuôi tôm, khai thác sa khoáng imenhit trên cát dẫn tới giảm diện tích rừng phi lao phòng hộ, góp phần làm tăng nhanh tốc độ lấn cát sâu vào đất liền Nếu xem xét về bản chất thì sự chuyển đổi HST vùng cát đã dẫn tới sự xung đột về mục tiêu sử dụng chức năng của cùng một HST giữa các các ngành kinh tế Nông, Lâm và Ngư nghiệp

Phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển thủy diện vừa và nhỏ

Trang 3

Việc xây dựng các công trình đập hồ chứa nước, đường, điện và các cơ sở hạ tầng khác đã trực tiếp gây ra sự suy thoái, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư và làm mất các sinh cảnh tự nhiên, gây nên những tác hại nghiêm trọng và lâu dài tới sự sống còn của các quần thể động vật hoang dã Ngoài ra, việc phát triển cơ sở hạ tầng còn làm tăng dân số cơ học tạo ra tác động gián tiếp đến suy thoái ĐDSH

Hiện nay, Quảng Ngãi có nhiều công trình hồ chứa, đập, trạm bơm tiêu, các kè, đập , nhằm đáp ứng cho các mục tiêu khác nhau như tưới, thuỷ điện, cấp nước sinh hoạt, phòng chống lũ, cấp nước công nghiệp, vui chơi giải trí Ở Quảng Ngãi quy hoạch 48 công trình thủy điện bậc thang, trong đó thủy điện vừa và nhỏ quy hoạch 25 công trình (1 đã hoạt động, 3 đang xây dựng, 12 chuẩn bị xây dựng, 9 đang nghiên cứu).Tác động của việc xây đập, hồ chứa thủy lợi, thủy diện tới đa dạng sinh học là rất lớn như làm mất rừng, mất nơi sinh sống, chia cắt phân mảnh các vùng sinh sống của sinh vật, hạn chế sự giao lưu của các loài, ảnh hưởng tới vùng sông hạ lưu sau đập là rất lớn: (i) Làm thay đổi các kiểu nơi cư trú như vực sông-suối, ghềnh, bãi cát chắn trên sông, đồng bằng ngập lụt ven sông, lòng sông Bởi vậy làm thay đổi cấu trúc thành phần loài thuỷ sinh; (ii) Nhịp sống của thuỷ sinh vật như thời kỳ sinh sản, sinh trưởng, kiếm mồi và các phản ứng khác với môi trường sống bị thay đổi (iii) Nhiều loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài có tập tính di cư dài, có tính di chuyển kết nối theo chiều dọc sông bị ảnh hưởng và (iv) Thay đổi dòng chảy tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ngoại lai xâm nhập vào hệ sinh thái sông

Các công trình thủy điện hầu như chưa có khái niệm phải duy trì dòng chảy tối thiểu theo qui định, do vậy các công trình đã và đang xây dựng không tính toán đến biện pháp để xả dòng chảy tối thiểu, với tốc độ đầu tư xây dựng như hiện nay, thì trong năm 2010 và 2011 hầu hết các công trình thủy điện trong qui hoạch sẽ xây dựng xong và việc đảm bảo duy trì dòng chảy tối thiểu sau công trình cũng như trên các lưu vực sông sẽ trở thành việc làm bất khả kháng

Nhiều dự án không đánh giá tác động môi trường cho khu vực phụ trợ, đường thi công, khu vực tái định cư… dẫn đến tình trạng một số dự án với qui mô rất nhỏ nhưng diện tích chiếm dụng rừng hoặc diện tích đất lấn chiếm trên thực tế lớn hơn nhiều diện tích xin khai thác

Một sô dự án lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường sai qui định, một số dự án khi thay đổi qui mô, công suất, vị trí không tiến hành đánh giá tác động môi trường bổ sung

Tình hình trồng rừng trả lại diện tích rừng bị ảnh hưởng của dự án (theo nghị định 23/2006 về phát triển rừng) đa phần là không thực hiện được do địa phương không chỉ ra quĩ đất để trồng lại rừng dù các chủ dự án khi cam kết bảo vệ môi trường

có dự trù một khoản kinh phí để thực hiện việc trồng rừng

c) Sự du nhập các giống mới và các loài sinh vật ngoại lai

Trong thời gian qua, việc trao đổi, di nhập một số giống loài cây con đã mang lại hiệu quả kinh tế Trong cơ cấu cây trồng, nhiều giống mới đưa vào đã chiếm 70-80%

và cho năng suất cao Kết quả nghiên cứu cho thấy sự du nhập các giống mới, đặc biệt các giống lai có năng suất cao đã làm suy giảm cả về diện tích lẫn nguồn gen của các giống cây trồng bản địa Tuy chưa có con số thống kê đầy đủ ở Quảng Ngãi về hoạt động này đã làm nghèo nguồn gen cây trồng bản địa và gây nên những tổn thất nguồn gen đáng tiếc trong nông nghiệp, nhưng trong thực tiễn cũng cho thấy những nguồn

Trang 4

gen bản dịa có tính kháng sâu bệnh, tính đặc sản của địa phương đã không còn Ví dụ vào những năm 1985-1990, Quảng Ngãi đã mất đi 9 giống lúa bản địa (bao gồm 6 giống lúa nếp và 3 giống lúa tẻ) trong tổng số 73 giống lúa của cả tỉnh (PhanTrường Giang, 2002)

Cho đến nay, đã có 114 loài thuỷ sinh vật ngoại lai được di nhập vào Việt Nam (Phạm Anh Tuấn, 2002) Trong đó, có 17 loài cá nước ngọt, 10 loài cá nước lợ mặn,

40 loài cá cảnh, 3 loài tôm nước ngọt, 5 loài tôm và giáp xác biển, 4 loài lưỡng cư, 4 loài thân mềm, 14 loài tảo nước ngọt, 15 loài tảo nước mặn Việc di nhập các loài trên đều có các mục đích khác nhau như nuôi trồng thuỷ sản, làm cảnh, cải tạo giống Nhìn chung, tuy chưa có số liệu thống kê đầy đủ nhưng việc làm này đã làm tăng sản lượng thủy sản nuôi trồng của Quảng Ngãi tăng đáng kể Tuy nhiên, có một số vấn đề tiêu cực đến bảo tồn quỹ gen bản địa chưa được đánh giá đầy đủ nhưng có thể nêu như sau:

Di nhập các loai thủy sản về nuôi dễ xảy ra hiện tượng tạp giao dẫn đến mất quần

thể bản địa thuần chủng như trước (cá mè trắng Trung Quốc H molitrix với cá mè trắng Việt Nam H harmandii hoặc giữa cá trê phi Clarias garriepinus với các loài cá trê bản địa C batrachus, C macrocephalus, C fuscus)

Di nhập các loài cá dễ kèm theo việc di nhập một số mầm bệnh bản xứ (ký sinh trùng gây bệnh) mà trước đây không thấy có Gần đây, loài tôm he chân trắng

(Litopenaeus vannamei) được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam để nuôi ở các vùng

ven biển Bênh cạnh có được một đối tượng nuôi mới có giá trị thực phẩm xuất khẩu nhưng qua một số vụ nuôi, đã thấy có một số biểu hiện dịch bệnh của loài tôm he chân trắng này Hoặc việc di nhập nuôi loài cá Chim trắng nước ngọt (một loài cá khá dữ) cũng có những vấn đề bất cập Bộ Thủy sản đã ra các thông tư hạn chế và kiểm soát việc nuôi tôm he chân trắng và cá chim trắng ở Việt Nam

Việc di nhập nhiều giống mới một cách tràn lan có thể là nguy cơ tiềm tàng làm các giống bản địa bị mai một thông qua sự cạnh tranh nơi cư trú, nguồn thức ăn đồng thời gây các dịch bệnh tới quần xã sinh vật bản địa Tác hại ngay lập tức có thể thấy do một số trường hợp phát triển tự phát, nhiều loài sinh vật đưa vào nước ta bằng nhiều con đường không qua kiểm dịch, thiếu hiểu biết và chưa có thử nghiệm khoa học nên

một số loài như ốc bươu vàng (Pomacea spp.) từ khi được di nhập vào Việt Nam đã

phát triển thành nạn dịch phá hoại lúa nghiêm trọng

Từ thập kỷ 1930, loài bèo Nhật Bản (Eichhornia crassipes) được di nhập vào

Việt Nam theo đường biển đã phát triển rất mãnh liệt khắp các mặt nước đứng nội địa

Sự phát triển quá mức loài bèo này đã gây ảnh hưởng đến môi trường sống của khu hệ thủy sinh vật Hàng năm, các công ty nuôi cá phải dành một chi phí đáng kể để thu gom lượng bèo này

Cây Mai dương còn được gọi là Trinh nữ đầm lầy (Mimosa pigra), loài cây cây

hoang dại này có khả năng lan truyền và đã rất phát triển, lấn át các loài thực vật bản địa trong nhiều hệ sinh thái ở Quảng Ngãi Việc loại bỏ các loài cây này trở nên khó khăn và tốn kém

Trong các năm gần đây, do ngành công nghệ sinh học phát triển, đã hình thành một số nhóm sinh vật chuyển gen với mục đích gia tăng năng xuất, khả năng chống chịu bệnh cao Tuy nhiên, các rủi ro của việc sử dụng các sinh vật chuyển gen còn là vấn đề để ngỏ, đặc biệt mức độ an toàn thực phẩm và khả năng gây dịch bệnh

Trang 5

Trong thực tế, không một Quốc Gia nào tự túc được hoàn toàn nguồn gen tài nguyên sinh vật cần thiết Vì vậy, cần có trao đổi vật liệu di truyền giữa các Quốc Gia

và các vùng Mặt khác, di nhập loài ngoại lai cũng như sử dụng chúng là vấn đề phức tạp, có thể gây ảnh hưởng đến tập đoàn cây, con bản địa và môi trường Bởi vậy, bên cạnh các quy định có tính chất pháp lý bắt buộc trong công tác kiểm dịch động, thực vật thì các cơ quan chức năng cần có trách nhiêm kiểm soát chặt chẽ cácgiống loài nhập nội trước khi đưa ra sản xuất rộng rãi

Bộ Thuỷ sản (2005) đã công bố danh sách 41 loài động vật thuỷ sinh lạ xâm nhập (33 loài cá, 8 loài động vật khác với các bậc xếp hạng: Trắng - 9 loài (loài lạ không có tác động xấu tới ĐDSH ở nước và nghề nuôi trồng thuỷ sản truyền thống; Xám -18 loài (loài lạ chưa rõ có hay không có tác động xấu đến ĐDSH ở nước và nghề nuôi trồng thuỷ sản truyền thống nhưng cần phải tiếp tục theo dõi); Đen - 14 loài (loài lạ có tác động xấu tới ĐDSH ở nước và nghề nuôi trồng thuỷ sản truyền thống Cần quản lý chặt chẽ ở các cơ sở nuôi và tiêu diệt ở các vực nước tự nhiên)

6.1.2 Các nguyên nhân gián tiếp

a) Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu

Ô nhiễm môi trường

Hiện nay, chất lượng môi trường nói chung đã xuống cấp Nhiều thành phần môi trường bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm do các chất thải khác nhau không được xử lý đổ

ra môi trường bên ngoài là nguyên nhân đe dọa tới đa dạng sinh học: gây chết, làm giảm số lượng cá thể, gián tiếp làm hủy hoại nơi cư trú và môi trường sống của các loài sinh vật hoang dã

Thuốc trừ sâu được sử dụng ngày càng phổ biến đã góp phần làm suy thoái các quần thể chim ở các vùng nông thôn và ngoại ô thành phố, do chúng đã tiêu diệt các hệ động vật không xương sống là các mắt xích ở bậc thấp trong chuỗi thức ăn của các loài chim Các hệ sinh thái nước ngọt, duyên hải và biển cũng đang bị đe dọa bởi nạn ô nhiễm từ nhiều nguồn, bao gồm nước thải chưa được xử lý, hệ thống thoát nước nông nghiệp và các dòng thải công nghiệp

Bên cạnh sự thay đổi khí hậu có tính chất toàn cầu như nhiệt độ tăng dần, lượng khí các bo níc tăng lên thì hiện nay, chất lượng môi trường ở nhiều nơi, nhiều lúc đã tới mức báo động Việc tiếp nhận nước thải với hàm lượng dinh dưỡng cao đã gây sự phú dưỡng của hầu hết các hồ ở Hà Nội và các khu dân cư, đô thị khác Sự phú dưỡng

đã gây hiện tượng nở hoa thực vật nổi (algel bloom) mà điều quan trọng là đóng góp chính cho sự nở hoa thực vật nổi ở các hồ nội địa là nhóm tảo lam tấm (Microcystis spp.), là loài tảo độc nguy hại tới môi trương sống của nhiều loài động vật thủy sinh và chất lượng nước

Vấn đề gây ô nhiễm môi trường vùng nước, đất ven bờ ở Quảng Ngãi đang là một yếu tố trở nên cấp bách do phát triển công- nông-ngư nghiệp, du lịch vùng ven biển đang gia tăng mạnh mẽ như hiện nay Các nguồn thải điểm, phân tán càng ngày càng lớn cùng với phương thức khai thác nguồn lợi tự nhiên lạc hậu đang đe dọa môi tường sinh thái nước, đất vùng triều Một số hiện tượng đã xảy ra tại các hệ sinh thái nhân tạo như đầm nuôi hải sản có những thời điểm môi trường nước xấu dẫn tới các loại bệnh dịch tôm làm tôm nuôi bị chết hàng loạt Tại vùng nước ven bờ, hiện tượng

nở hoa thực vật nổi do phì dinh dưỡng (eutrophication), gây nên thuỷ triều đỏ (chủ yếu

Trang 6

là các loài tảo giáp), thuỷ triều xanh (chủ yếu các loài tảo silíc) tác động xấu tới chất lượng môi trường nước và quần xã thuỷ sinh vật

Tại các vùng biển tỉnh Quảng Ngãi các nghiên cứu cho thấy do các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội mạnh mẽ làm tăng các chất gây độc như dầu, lượng trầm tích, nước thải đã làm thu hẹp diện tích hoặc làm suy thoái các hệ sinh thái nhạy cảm ven biển như hệ sinh thái rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển Mặt khác, sự ô nhiễm còn làm giảm chất lượng của các nhóm sinh vật có giá trị kinh tế do khả năng tích tụ các độc tố (các kim loại nặng ) trong cơ thể

Các kết quả điều tra nghiên cứu của viện nghiên cứu biển cho thấy trong mô của các loài thân mềm hai vỏ ở khu vực ven biển miền Trung như ngao (Meretrix meretrix), ngán (Donsinia gibba), có hàm lượng Pb dao động 2,5-34,5 μg/g khô và Zn dao động 52,5-95,5μg/g khô, vượt quá giới hạn cho phép (GHCP )với thực phẩm biển của một số nước Riêng với ngao, hàm lượng Hg trong mô cũng vượt quá GHCP Như vậy, các loài thân mềm hai vỏ trên đều có khả năng tích luỹ sinh học cao các kim loại nặng trong cơ thể

Thuốc trừ sâu có vai trò quan trọng để tăng năng suất của các cây nông nghiệp và kiểm soát sâu bệnh, nhưng bên cạnh đó chúng cũng gây ra những tác động môi trường hết sức nghiêm trọng lên đời sống của con người cũng như các loài động vật hoang dã

Sự tồn lưu trong môi trường hoặc trong cơ thể sinh vật các loại thuốc trừ sâu như DDT

đã gây những ảnh hưởng lớn đến đời sống của giới sinh vật và đe dọa sức khỏe của con người Sự rửa trôi các phân bón hóa học có nguồn gốc nitơ, phốt pho gây sự phú dưỡng các thủy vực Dư lượng thuốc trừ sâu trong đất tại một số vùng ở Quảng Ngãi

đã đến mức báo động

Chiến tranh cũng là một trong những nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học Đáng kể nhất là chiến tranh Đông Dương lần thứ hai Trong giai đoạn từ

1961-1975, Mỹ đã ném 13 triệu tấn bom và rải 72 triệu lít chất độc hóa học chủ yếu ở miền Nam Việt Nam Các nghiên cứu gần đây tại một trong những vùng bị rải chất độc hoá học ở Quảng Ngãi cũng đã có ch thấy các quần xã sinh vật trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước đều có các biểu hiện bị tác động của chất da cam/dioxin với các mức

độ khác nhau Lưới thức ăn tự nhiên của nhiều nhóm động vật lớn vẫn chưa được hồi phục

Thảm thực vật nhiệt đới thường xanh trước đây vốn phong phú, nhiều tầng chưa phục hồi trở lại Những nơi bị ảnh hưởng bởi chất độc hoá học chỉ là các trảng cỏ, cây bụi, cây sim thay thế rừng gỗ trước đây và vẫn tồn tại gần 30 năm nay mà không thể phát triển diễn thế tiếp theo để phục hồi lại thảm thực vật rừng

Sa mạc hóa đất đai

Việc diện tích các rừng có chất lượng bị thu hẹp do sự khai thác, phá hủy là một nguyên nhân cơ bản cùng với một số tác động khác dẫn tới tác động tiêu cực các dòng chảy môi trường (Environmental flows) của những dòng sông nhằm duy trì các HST vùng hạ lưu vùng duyên hải Trung Bộ Một điều thấy rõ nhất là sự sa mạc hóa đang diễn ra ở một số vùng Theo ước tính có khoảng 3 triệu ha đất đai bị thoái hóa khô hạn

và sa mạc hóa, trong đó đán kể là vùng ven biển Trung Bộ,(Nguyễn Tử Xiêm, Thái Phiên, 1999; Nguyễn Văn Cư, 2002; Lê Thái Bạt, 2003) đang diễn ra với các mức độ khác nhau như thiếu nước, mất khả năng giữ nước, thảm thực vật che phủ bị thu hẹp, tất cả đã dẫn tới sự suy thoái nhanh và khó hồi phục các quần xã sinh vật ở đây

Trang 7

Cháy rừng

Do điều kiện khí hậu của Quảng Ngãi, có mùa khô hạn kéo dài nên khả năng bị cháy rừng vào mùa khô hàng năm là rất lớn Cháy rừng đã gây nên thiệt hại đáng kể đói với đa dạng sinh học

Biến đổi khí hậu

Việt Nam là nước đặc biệt nhạy cảm với các tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và là 1 trong 10 nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng và đầu tiên của biến đổi khí hậu Các hệ sinh thái bị chia cắt (điều đã trở nên phổ biến ở Việt Nam) chắc chắn sẽ phản ứng kém cỏi hơn trước những sự thay đổi này và có thể sẽ không tránh khỏi sự mất mát các loài sinh vật với tốc độ rất cao Các vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi cũng được dự báo là những vùng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần thể sinh vật của nhiều hệ sinh thái Các nhà khoa học đã chứng minh được sự di cư của một số loài do sự ấm lên của trái đất, nhiều loài cây trên dãy Trường Sơn đang phải chuyển dịch lên cao hơn để tồn tại Nhiệt độ tăng còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa gia tăng lượng phát thải khí nhà kính làm gia tăng biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu cùng với

sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn, sử dụng tài nguyên nước không hợp lý dẫn tới hiện trượng lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất… xảy ra ngày càng nhiều, hậu quả ngày càng nghiêm trọng đối với đời sống con người và môi trường.Hậu quả đo cũng đã từng xẩy

ra đối với Quảng Ngãi

6.2 Hiện trạng và diễn biến suy thoái đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ngãi 6.2.1 Hiện trạng đa dạng sinh học

Quảng Ngãi là tỉnh có địa thế chủ yếu là núi đồi, dải đồng bằng hẹp, với địa hình nghiêng từ tây sang đông Các dãy núi trong vùng có độ cao trên 300m hình thành nhiều đỉnh, với sườn núi hướng về các phía khác nhau, tạo nên nhiều vùng tiểu khí hậu Do vậy, thảm thực vật cũng có những thành phần và số lượng thay đổi, kéo theo

sự phân bố đặc trưng của các loài động vật

Cấu tạo phức tạp của các dãy núi ở Quảng Ngãi đã tạo nên nhiều khe suối, từ đó hình thành nên các sông nhỏ với lưu tốc nước lớn Ven bờ có nhiều loại cây bụi có tính chống chịu với chu kỳ ngập nước, thực vật nổi kém phát triển, nên khu hệ động vật ở đây chủ yếu gặp các nhóm động vật bậc cao, những loài thích nghi với đời sống bơi lội giỏi hoặc hình thành giác bám để chống chịu với dòng nước chảy xiết

Đa dạng sinh học có vai trò vô cùng quan trọng, trước hết là giá trị kinh tế của chúng Chúng cung cấp lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người hơn hai triệu năm nay Mặt khác, đa dạng sinh học còn cung cấp cho con người nhiều loại vật nuôi, cây trồng rất quý Nguồn gen của chúng được bảo tồn và lan tràn trong các quần xã sinh vật Gỗ, củi từ những khu rừng tự nhiên cung cấp trên 60% giá trị xuất khẩu ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới

Các loài động thực vật là một nguồn dược liệu rất quý Sản phẩm từ các loài thú, chim, bò sát, như răng, da, vảy, mật, là những vị thuốc chữa được nhiều loại bệnh rất hiệu quả Do đó, chúng là đối tượng bị khai thác nặng nề, dẫn đến một số loài có nguy

cơ tuyệt chủng

Trang 8

Vai trò của đa dạng sinh học còn thể hiện trong nền kinh tế du lịch Du lịch sinh

thái hiện nay đang phát triển rất mạnh thông qua các vườn quốc gia và các khu bảo

tồn Các vườn quốc gia và các khu bảo tồn này cho phép giữ gìn các quần thể của các

loài cũng như bảo tồn các quá trình sinh thái sao cho chúng ở trạng thái không bị nhiễu

loạn

Một vai trò rất quan trọng khác của đa dạng sinh học đang được cả thế giới quan

tâm là duy trì sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên thông qua các quá trình: chuyển hóa

năng lượng, điều hòa khí hậu, tuần hoàn nước, mối quan hệ tương tác giữa các thành

phần trong tự nhiên

Đa dạng sinh học còn hỗ trợ cho các quá trình khác của hệ sinh thái như chuyển

lưu nguồn gen thông qua quá trình thụ phấn và phát tán quả, hạt Qua đó duy trì được

sự phát triển bền vững tự nhiên và tiến hóa của hệ sinh thái Ngoài ra, chúng còn đóng

góp vào sự phát triển kinh tế của con người, thông qua đấu tranh sinh học và hình

thành các loài thiên địch

Rừng tự nhiên ở Quảng Ngãi có nhiều loài cây gỗ quý như gõ, sến, chò, giổi, lim,

táu, trắc, kiền, quao; đồng thời có nhiều loài cây đặc sản rừng có giá trị nhiều mặt như

các loài cây dược liệu quý: sa nhân, hà thủ ô, thiên niên kiện, ngũ gia bì, các loài cây

cho sản phẩm làm nguyên liệu tiểu thủ công nghiệp có giá trị xuất khẩu mây, song, lá

nón Ở đây, hiện hữu cả những thực vật đặc trưng cho hệ thực vật miền Nam và cao

nguyên như bằng lăng, dầu rái, dầu con quay, gõ mật, sao, trắc và hệ thực vật miền

Bắc như dẻ cau, re xanh, quế rừng, ngọc lan

Về động vật hoang dã, những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy ở Quảng

Ngãi có 38 loài thú, 77 loài chim Thú được chia làm hai nhóm: nhóm có giá trị kinh tế

(lợn rừng, hoẵng, nai, nhím…) và nhóm thú có giá trị dược liệu (hổ, gấu, tê tê, khỉ, cầy

hương…) Về chim gồm có nhóm chim có giá trị kinh tế (gà rừng, gà gô, cu gáy…) và

nhóm chim cảnh (vẹt đầu hồng, vẹt ngực đỏ…)

Vùng biển Quảng Ngãi có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao, như cá thu, cá

chuồn, cá trích, cá ngừ, mực, v.v

a) Thành phần loài động vật có xương sống ở cạn

Những nghiên cứu về thành phần loài động vật có xương sống ở cạn tại Quảng

Ngãi chỉ mới là bước đầu của quá trình khảo sát, điều tra Tuy nhiên, kết quả của công

trình cũng phản ảnh được phần nào tính đa dạng vốn có của nó

Tính đến năm 2005, các công trình khoa học đã thống kê được cho Quảng Ngãi

một danh mục gồm 478 loài, thuộc 279 giống, 102 họ Tất cả được xếp trong 28 bộ

thuộc 4 lớp động vật có xương sống ở cạn - Tetrapoda Trong đó, có 76 loài thuộc 50

giống, 27 họ và 10 bộ thuộc lớp Thú (Mammalia); có 308 loài thuộc 172 giống, 52 họ

và 15 bộ thuộc lớp Chim (Aves); có 65 loài thuộc 46 giống, 17 họ, 2 bộ thuộc lớp Bò

sát (Reptilia); và có 29 loài thuộc 11 giống, 6 họ nằm trong bộ ếch nhái không đuôi

thuộc lớp Ếch nhái (Amphibia)

Bảng 6.1 Thành phần loài một số nhóm động vật có xương sống ở Quảng Ngãi

Trang 9

3 Bò sát (Reptilia) 2 17 46 65 15

Nhìn chung, khu hệ động vật của Quảng Ngãi khá phong phú, đặc trưng cho vùng đa dạng sinh học khu vực Trung Trung Bộ Chúng thể hiện được tính phong phú

về thành phần loài, đa dạng về các taxon, đặc biệt là taxon bậc giống (Genus) Trong tổng số 478 loài động vật kể trên có đến 279 giống Như thế, bình quân mỗi giống chỉ chứa 1,7 loài; có 102 họ, bình quân mỗi họ chứa 2,7 giống và 4,7 loài Có 28 bộ, bình quân mỗi bộ chứa 3,6 họ; 9,96 giống và 17,1 loài

b) Động vật dưới nước

Đến nay Quảng Ngãi chưa có công trình nghiên cứu điều tra cụ thể xác định một cách hệ thống và đầy đủ các thành phần, số lượng bộ, họ, giống, loài của khu hệ động vật dưới nước, lưỡng cư nói chung và các loài thủy sản có giá trị kinh tế nói riêng Tuy nhiên, qua thực tế khai thác đánh bắt và tham khảo các tài liệu, có thể xác định được một số loài thủy sản có giá trị kinh tế chủ yếu đặc trưng ở 3 vùng nước lợ, nước mặn

và nước ngọt của Quảng Ngãi như sau:

Bảng 6.2 Một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế

3 Cá sỉnh (cá niên) Onychostoma gerlachi (Peters)

4 Cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus (C&V)

7 Cá mè trắng Hypophthalmichthys harmandi Sauvage

8 Cá thát lát Nolopterus notopterus

Trang 10

13 Cá rô đồng Anabas testudineus (Bloch)

14 Cá chình hoa A marmorata Quoy & Gaimard

15 Cá chình mun A bicolor pacifica (Schmidt)

Ngoài cá, còn có các loài thủy sản nước ngọt và lưỡng cư khác có giá trị kinh tế như ốc, ếch, rùa, ba ba

Bảng 6.3 Một số loài thủy sản nước mặn có giá trị kinh tế

2 Cá thu ngàng Acanthocybium solandri

7 Cá ngừ vây vàng Thunnus albacares

10 Cá chỉ vàng Selaroides leptolapis C.V

17 Cá chim đen Formio niger Bloch

18 Cá hồng đỏ Lutjanus erythropterus Bloch

Ngày đăng: 25/04/2013, 15:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 6.2. Một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế - thực trạng đa dạng sinh học
Bảng 6.2. Một số loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế (Trang 9)
Bảng 6.3. Một số loài thủy sản nước mặn có giá trị kinh tế - thực trạng đa dạng sinh học
Bảng 6.3. Một số loài thủy sản nước mặn có giá trị kinh tế (Trang 10)
Bảng 6.4. Một số loài thủy sản nước lợ - thực trạng đa dạng sinh học
Bảng 6.4. Một số loài thủy sản nước lợ (Trang 12)
Bảng 6.6. Cấu trúc thành phần loài chim Quảng Ngãi - thực trạng đa dạng sinh học
Bảng 6.6. Cấu trúc thành phần loài chim Quảng Ngãi (Trang 13)
Bảng 6.7. Cấu trúc thành phần loài bò sát và ếch nhái ở Quảng Ngãi - thực trạng đa dạng sinh học
Bảng 6.7. Cấu trúc thành phần loài bò sát và ếch nhái ở Quảng Ngãi (Trang 14)
Bảng 6.8. Danh mục những loài động vật quý hiếm ở Quảng Ngãi - thực trạng đa dạng sinh học
Bảng 6.8. Danh mục những loài động vật quý hiếm ở Quảng Ngãi (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w