1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam

14 963 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam
Trường học Thư Viện Điện Tử Trực Tuyến
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2004
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn về phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam

Trang 1

Phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam

Theo Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004, năm 2004, trên cả nước đã

phát sinh 15 triệu tấn chất thải rắn (CTR) trong đó khoảng 250.000 tấn chất thải

nguy hại CTR sinh hoạt (đô thị và nông thôn) chiếm khối lượng lớn với số lượng

khoảng 13 triệu tấn, CTR công nghiệp phát sinh vào khoảng 2,8 triệu tấn và CTR

từ các làng nghề là 770.000 tấn Do quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, tỷ lệ

phát sinh CTR sinh hoạt đang tăng nhanh trung bình đạt 0,7-1,0 kg/người/ngày và

có xu hướng tăng đều 10-16% mỗi năm Theo nghiên cứu của Bộ Xây dựng năm

2009, tổng khối lượng CTR phát sinh cả nước năm 2008 vào khoảng 28 triệu tấn,

trong đó lớn nhất là CTR đô thị chiếm gần 50%, CTR nông thôn chiếm 30%,

lượng còn lại là CTR công nghiệp, y tế và làng nghề Dự báo tổng lượng CTR cả

nước có thể sẽ phát sinh khoảng 43 triệu tấn vào năm 2015, 67 triệu tấn vào năm

2020 và 91 triệu tấn vào năm 2025, tăng từ 1,6 đến 3,3 lần so với hiện nay

Thực trạng quản lý và tái chế chất thải rắn ở Việt Nam

1 Quản lý chất thải rắn

Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh

CTR; phân loại tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái sử dụng, tái chế;

xử lý và tiêu huỷ Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa

tiếp cận được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng

đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải

phải chôn lấp Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp

quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng

Chưa có các hoạt động giảm thiểu CTR sinh hoạt Ở quy mô công nghiệp, số cơ sở

áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng 300/400.000 doanh nghiệp Hoạt động phân

loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm trên qui mô nhỏ

ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Tỷ lệ thu gom chất thải ở

các vùng đô thị trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở

Hà Nội cao hơn (90%); ở các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55% Khoảng 60% khu

vực ở nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất thải, chủ yêu dựa vào tư nhân hoặc

cộng đồng địa ph¬ương Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng dần song vẫn

còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các khu

vực nông thôn Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát

triển nhưng chưa rộng và chưa sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thị lớn Năng

lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tới tình trạng tại một

Trang 2

số đô thị đã thực hiện phân loại CTR tại nguồn nhưng khi thu gom, vận chuyển lại

đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại Tái sử dụng và tái chế chất

thải mới chỉ được thực hiện một cách phi chính thức, ở qui mô tiểu thủ công

nghiệp, phát triển một cách tự phát, không đồng bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là

do khu vực tư nhân kiểm soát Công nghệ xử lý CTR chủ yếu vẫn là chôn lấp ở các

bãi lộ thiên không đạt tiêu chuẩn môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn quốc

không hợp vệ sinh Các lò đốt rác chủ yếu dành cho ngành y tế và chỉ đáp ứng

được 50% tổng lượng chất thải y tế nguy hại Việc phục hồi môi trường đối với các

cơ sở xử lý CTR còn nhiều hạn chế Tình trạng đổ chất thải không đúng nơi quy

định còn xảy ra, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng

2 Hoạt động tái chế

Hoạt động tái chế đã có từ lâu ở Việt Nam Các loại chất thải có thể tái chế như

kim loại, đồ nhựa và giấy được các hộ gia đình bán cho những người thu mua đồng

nát, sau đó chuyển về các làng nghề Công nghệ tái chế chất thải tại các làng nghề

hầu hết là cũ và lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến tình

trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở một số nơi Một số làng nghề tái chế

hiện nay đang gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như Chỉ Đạo (Hưng Yên),

Minh Khai (Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Bắc Ninh)… Một số

công nghệ đã đ¬ược nghiên cứu áp dụng như trong đó chủ yếu tái chế chất thải

hữu cơ thành phân vi sinh (SERAPHIN, ASC, Tâm Sinh Nghĩa) hay viên nhiên

liệu (Thủy lực máy-Hà Nam) song kết quả áp dụng trên thực tế chưa thật khả quan

Nhìn chung, hoạt động tái chế ở Việt Nam không được quản lý một cách có hệ

thống, có định hướng mà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiện một cách tự phát

Các chính sách của Nhà nước về thúc đẩy tái chế CTR

* Luật bảo vệ môi trường 2005 Luật BVMT 2005 khuyến khích hoạt động giảm

thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải (Điều 6), đồng thời bắt buộc tổ

chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái

chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải

bỏ (Điều 66) Luật cũng quy định chất thải phải được phân loại tại nguồn theo các

nhóm phù hợp với mục đích tái chế, xử lý, tiêu huỷ và chôn lấp và tổ chức, cá nhân

đầu tư xây dựng cơ sở tái chế chất thải được hưởng ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất

đai để xây dựng cơ sở tái chế chất thải (Điều 68)

* Nghị định 59/2007/NĐ-CP Theo Nghị định này, công nghệ xử lý CTR bao gồm

9 loại hình trong đó có 4 loại công nghệ tái chế, thu hồi năng lượng: đốt rác tạo

Trang 3

nguồn năng lượng; chế biến phân hữu cơ; chế biến khí biogas; tái chế rác thải

thành các vật liệu và chế phẩm xây dựng (Điều 29) Khuyến khích lựa chọn công

nghệ đồng bộ, tiên tiến cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải để tạo ra

nguyên liệu và năng lượng, đồng thời giảm thiểu khối lượng CTR phải chôn lấp,

tiết kiệm quỹ đất sử dụng chôn lấp và bảo đảm vệ sinh môi trường

* Nghị định 04/2009/NĐ-CP về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi

trường Nghị định này quy định về ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, vốn; miễn, giảm thuế,

phí đối với hoạt động bảo vệ môi trường; trợ giá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm từ hoạt

động bảo vệ môi trường và các ưu đãi, hỗ trợ khác đối với hoạt động và sản phẩm

từ hoạt động bảo vệ môi trường Theo đó đầu tư vào nghiên cứu và phát triển

(R&D) kỹ thuật xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường chiếm

25% doanh thu trở lên; nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ, vật liệu

sử dụng trực tiếp trong việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải là

những hoạt động được đặc biệt ưu đãi, hỗ trợ Các hoạt động sản xuất năng lượng

từ việc tiêu hủy chất thải và các sản phẩm từ hoạt động tái chế chất thải thuộc danh

mục được ưu đãi, hỗ trợ

Một số tổ chức làm việc trong lĩnh vực quản lý chất thải ở Việt Nam

 Cục quản lý chất thải và cải thiện môi trường-Tổng cục Môi trường- Bộ Tài

nguyên và Môi trường

 Viện Công nghệ môi trường- Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

 Viện Khoa học và Công nghệ môi trường

 Trung tâm Sản xuất sạch Việt nam

 Trung tâm Môi trường và sản xuất sạch

 Công ty Môi trường đô thị

 Công ty cổ phần Công nghệ môi trường xanh

 Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tâm Sinh Nghĩa

Công nghệ xử lý chất thải rắn đô thị tại Việt Nam

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi

trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu,

vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững Nhận thức về bảo

Trang 4

vệ môi trường trong các cấp, ngành và nhân dân đã được nâng lên đáng kể Tuy

nhiên, quá trình đô thị hóa, sự gia tăng dân số, việc đẩy mạnh phát triển công

nghiệp, dịch vụ làm môi trường nước ta bị xuống cấp nhanh Hiện nay, theo

thống kê, tổng lượng chất thải rắn phát sinh trong các đô thị cả nước là khoảng 6,4

triệu tấn/năm Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt chiếm khoảng 80% Lượng chất

thải rắn thu gom tại các đô thị Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 70% yêu cầu so với

thực tế và chủ yếu tập trung tại các khu vực nội thành

Chôn lấp là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất Về thực chất, chôn lấp là

phương pháp lưu giữ chất thải trong một khu đất có phủ đất bên trên Hiện nay,

nước ta có tới 85% đô thị (từ thị xã trở lên) sử dụng phương pháp chôn lấp chất

thải không hợp vệ sinh

Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh rất ít và tập trung ở các thành phố lớn Với các bãi

chôn lấp hợp vệ sinh, thì công nghệ xử lý nước tại các bãi chôn lấp vẫn chưa hoàn

thiện Quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ tại các bãi chôn lấp không hợp vệ

sinh có thể gây một số nguy hại tới môi trường như cháy nổ, ô nhiễm nguồn nước

mặt, nước ngầm, không khí và tạo ra một số vật chủ trung gian gây bệnh cho người

và gia súc như các loài côn trùng, gặm nhấm…

Ngày nay, với các công nghệ mới, có thể biến rác thải đô thị thành tiền, có thể

được xem như một nguồn tài nguyên Ngày 16/7/2005, dự án Khu liên hợp xử lý

chất thải rắn Đa Phước, Bình Chánh, TP HCM, do Công ty California Waste

Solutions (Mỹ) đầu tư với tổng số vốn lên đến hơn 400 triệu USD, đã chính thức

làm lễ động thổ Khu liên hợp gồm một nhà máy phân loại rác, một nhà máy sản

xuất phân vi sinh compost và bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh Nhà máy phân loại có

công suất tối thiểu là 500 tấn/ngày và nhà máy compost có khả năng chế biến đến

1.000 tấn nguyên liệu rác mỗi ngày thành khoảng 600 tấn phân hữu cơ Mỗi năm,

nước ta sản xuất và tiêu dùng khoảng 2 tỷ chai nhựa PET (tương đương khoảng

120.000 tấn/năm) Lượng nhựa PET phế thải hiện nay vẫn được thu gom xuất sang

Trung Quốc với khối lượng mỗi năm hàng nghìn tấn Từ năm 2001, Viện Vật liệu

xây dựng đã có những nghiên cứu tái chế nhựa PET phế thải để sản xuất nhựa

polyester không no dùng cho chế tạo vật liệu Polymer composite đang có nhu cầu

rất lớn hiện nay trong nhiều lĩnh vực như giao thông vận tải, xây dựng, đánh bắt

hải sản, bưu chính viễn thông… Sản phẩm có chất lượng cao hơn so với sản phẩm

cùng loại của nước ngoài hiện nay đang bán tại Việt Nam (ETERES - 2504 của

Trang 5

Đài Loan) với giá thành rẻ hơn 20% Dự án nâng cấp công trường xử lý rác Gò

Cát, TP HCM có tổng vốn đầu tư khoảng 260 tỷ đồng, trong đó 60% là tiền viện

trợ của Chính phủ Hà Lan vào tháng 8/2005 đã phát 125.000 KW điện sản xuất từ

rác ở bãi rác này lên lưới điện quốc gia Công ty KM Green (Hàn Quốc) trả cho

TP HCM trên 20 triệu USD trong vòng 7 năm để khai thác nguồn khí thải từ bãi

rác Đông Thạnh (Hóc Môn) và Phước Hiệp 1 (Củ Chi) Đây là dự án đầu tiên tại

Việt Nam thực hiện theo cam kết tại Nghị định thư Kyoto về giảm phát khí thải

gây hiệu ứng nhà kính

Chất thải rắn sinh hoạt của một số đô thị ở Việt Nam có thành phần là các chất hữu

cơ dễ phân hủy khoảng 50-60% Vì vậy, chúng phù hợp với công nghệ ủ sinh học

tạo sản phẩm phân hữu cơ (compost) Ủ sinh học có thể coi là quá trình chuyển hóa

sinh học các hợp chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học trong điều kiện có hoặc

không có không khí để tạo thành các chất mùn có thể làm tăng độ phì của đất

Công nghệ ủ rất đa dạng: ủ trong thùng, ủ đảo trộn hoặc bể ủ có hệ thống cấp khí

Hiện ở nước ta chỉ có khoảng 9% các đô thị (từ thị xã trở lên) có nhà máy chế biến

phân hữu cơ từ chất thải rắn sinh hoạt Theo xuất xứ công nghệ, hiện Việt Nam

đang có một số công nghệ điển hình như công nghệ Tây Ban Nha tại Cầu Diễn, Hà

Nội, công nghệ Việt Nam - Trung Quốc tại Việt Trì, công nghệ Pháp - Tây Ban

Nha tại Nam Định, công nghệ DANO tại Hóc Môn, TP HCM Do nguồn vốn đầu

tư tương đối lớn, nên chủ yếu các nhà máy xử lý rác thải này được xây dựng từ

nguồn vốn ODA Việc xây dựng bằng nguồn vốn ODA cũng có không ít những

khó khăn: vốn đầu tư cao và thường thi công chậm; công nghệ không hoàn toàn

phù hợp với điều kiện Việt Nam, khó khăn trong sửa chữa, thay thế thiết bị

Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, thời gian qua, một số doanh nghiệp trong

nước đã nghiên cứu, áp dụng một vài công nghệ mới trong thu gom, xử lý chất thải

rắn sinh hoạt đô thị với các quy mô khác nhau từ cấp thị trấn, thị tứ đến thị xã,

thành phố và đã thu được những kết quả nhất định Điển hình là công nghệ

SERAPHIN và công nghệ AN SINH - ASC được hình thành từ năm quy trình công

nghệ chính: phân loại, ủ sinh học, tái chế chất dẻo, công nghệ thiêu hủy và chôn

lấp Sản phẩm sau khi xử lý rác thải là phân vi sinh và những sản phẩm nhựa như:

ống nước, balet nhựa, dải phân cách, thùng rác, bàn ghế ngoài trời, xô nhựa và

gạch lát đường Công nghệ Seraphin đang được triển khai ứng dụng tại Nhà máy

xử lý rác Đông Vinh, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, nhà máy xử lý rác thải tại thị

Trang 6

xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây và Công nghệ An Sinh - ASC đang được áp dụng tại Nhà

máy rác Thủy Phương, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế Tuy nhiên, để có

thể kết luận các công nghệ này có phù hợp với điều kiện Việt Nam hay không thì

cần phải có sự thẩm định, đánh giá Các tiêu chí để đánh giá bao gồm:

a) Bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường: Kết quả xử lý các chất thải phải đạt

các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường; Phải có các giải pháp phòng ngừa và xử lý

các chất thải thứ cấp phát sinh trong quá trình thu gom, xử lý; Bảo đảm tính an

toàn, hạn chế mức thấp nhất những tác hại đến sức khỏe của người vận hành;

Không gây ảnh hưởng xấu đến đời sống vật chất, văn hóa của cộng đồng dân cư và

các hệ sinh thái;

b) Tính khả thi về kỹ thuật: Phù hợp với các điều kiện tự nhiên tại nơi triển khai

công nghệ; Phù hợp với các điều kiện về cơ sở hạ tầng trong quá trình thi công và

vận hành; Thuận lợi trong việc cung cấp thiết bị, sửa chữa, bảo dưỡng, mở rộng và

cải tiến công nghệ, thiết bị; Thuận lợi trong quản lý, vận hành và duy trì hoạt động

ổn định; Có các giải pháp phòng ngừa, khắc phục sự cố và các giải pháp thay thế

khi cần thiết;

c) Tính khả thi về kinh tế như chi phí đầu tư và vận hành hợp lý cũng như lợi ích

kinh tế thu được từ sản phẩm và từ quá trình xử lý Nhằm khuyến khích đầu tư áp

dụng các công nghệ được nghiên cứu trong nước giải quyết vấn đề xử lý rác thải

đô thị tại Việt nam, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Xây dựng chủ trì phối

hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ đánh giá các

công nghệ này và cấp giấy chứng nhận công nghệ xử lý chất thải rắn phù hợp với

điều kiện Việt Nam đối với hai công nghệ xử lý rác thải trên nếu đáp ứng được yêu

cầu Trường hợp cần bổ sung hoàn thiện công nghệ để nhân rộng và áp dụng trong

cả nước thì Nhà nước hỗ trợ kinh phí từ nguồn nghiên cứu khoa học của Bộ Khoa

học và Công nghệ (theo Thông báo số 50/TB-VPCP ngày 19/3/2007 của Văn

phòng Chính phủ)

TP HCM sắp có thêm nhà máy xử lý rác bằng công nghệ vi sinh

UBND huyện Củ Chi (TP HCM) vừa phê duyệt quy hoạch xây dựng nhà máy xử

lý rác bằng công nghệ vi sinh tại Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn (xã Phước Hiệp)

với tổng vốn đầu tư 52 triệu USD, được xây dựng thành 2 giai đoạn, trong đó giai

đoạn 1 đạt công suất xử lý 500 tấn rác/ngày và giai đoạn 2 là 2.000 tấn/ngày Nhà

Trang 7

máy sử dụng men compost stater để phân hủy rác và diệt khuẩn gây mầm bệnh,

nên đảm bảo vệ sinh môi trường và không gây ra mùi khó chịu trong quá trình xử

Trang 8

ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG MỘT SỐ CHẤT THẢI RẮN

TRONG CÁC ỨNG DỤNG XÂY DỰNG

TS ĐÀO VĂN ĐÔNG

GS TS PHẠM DUY HỮU

KS NGUYỄN NGỌC LÂN

Bộ môn Vật liệu Xây dựng Viện KH và CN xây dựng giao thông Trường Đại học Giao thông Vận tải

Tóm tắt: Bài báo trình bày tổng quan về tình hình chất thải rắn ở Việt Nam và các giải

pháp có thể tái sử dụng chúng trong các ứng dụng xây dựng

Summary: This paper presents an overview on solid wastes in Viet Nam and solutions to

recycle them in construction applications

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay ở Việt Nam song song với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá là vấn đề xử lý

các chất thải rắn từ công nghiệp và sinh hoạt Hàng năm khối lượng các chất thải rắn tạo ra từ

các ngành công nghiệp và sinh hoạt tương ứng như: tro bay nhiệt điện; xỉ lò cao; bụi từ các nhà

máy ximăng; lốp cao su thải; thuỷ tinh thải; bùn hệ thống thoát nước thải đô thị; chất thải phá dỡ

công trình xây dựng; tro trấu… khá nhiều Trên thế giới, các chất thải trên đã được tận dụng một

cách có hiệu quả trong các ứng dụng xây dựng Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề trên vẫn chưa

được nghiên cứu một cách có hệ thống Do đó việc định hướng nghiên cứu và đề xuất các giải

pháp tận dụng chúng là cần thiết để góp phần giảm thiểu các tác động bất lợi của chúng đến môi

trường

T CT2

II PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN

Chất thải rắn bao gồm nhiều loại và được chia thành các loại sau [20]:

CHÊT TH¶I R¾N

CHÊT TH¶I R¾N

C¤NG NGHIÖP

CHÊT TH¶I R¾N §¤ THÞ

CHÊT TH¶I R¾N N¤NG NGHIÖP

TRO BAY BôI XIM¡NG XØ LUYÖN THÐP

CELLULOSE BïN TH¶I

PHÕ TH¶I XÂY DùNG

TRO Lß

§èT R¸C CHÊT TH¶I

Y TÕ CHÊT TH¶I R¾N SINH HO¹T

CAO SU PHÕ TH¶I

THUû TINH PHÕ TH¶I

NHùA PHÕ TH¶I

S¥ DõA

Vá Cμ PH£

Vá L¹C

Vá TRÊU

phÕ th¶i kim lo¹i

Trang 9

III TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hiện nay khối lượng các chất thải rắn ở các nhà máy và các khu đô thị Việt Nam (bao gồm chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải phá dỡ công trình xây dựng, …) tạo ra ngày

càng nhiều Theo thống kê của Viện chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ tài

nguyên - Môi trường) hàng năm cả nước thải ra khoảng hơn 15 triệu tấn chất thải rắn, trong đó

80% chất thải sinh hoạt (12 triệu tấn) và 20% chất thải công nghiệp (3 triệu tấn) 50% chất thải

rắn ở các đô thị là rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình Khoảng 70% lượng rác thải đô thị đã

được thu gom

Hình 1 Tỷ lệ các chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay [5]

Phế thải phá dỡ công trình xây dựng đổ trên đường

Bùn thải đổ trên đường Láng - Hoà Lạc Phế thải tro bay ở nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 Bụi nhà máy ximăng Hà Tiên 2

CT 2

Hình 2 Một số hình ảnh ô nhiễm chất thải rắn ở Việt Nam

Dự báo đến năm 2020 lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng 50 triệu tấn 1 năm Trong

đó chỉ có 15 ÷ 20% lượng chất thải rắn được phân loại và tái chế thủ công tại các làng nghề, số

Trang 10

còn lại được chôn lấp Nguồn phát sinh chất thải rắn tập trung chủ yếu ở các khu đô thị lớn

Hiện nay, khoảng 80% chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp

lớn ở miền Bắc và miền Nam Trong đó, 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát

sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, 30% còn lại phát sinh ở vùng đồng bằng

sông Hồng và Bắc Trung Bộ Thêm vào đó, gần 1500 làng nghề tập trung chủ yếu ở các vùng

nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải công nghiệp

IV MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN ỨNG DỤNG

TRONG XÂY DỰNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG TẬN DỤNG Ở VIỆT NAM

Trên thế giới việc tận dụng các chất thải rắn làm vật liệu ứng dụng trong xây dựng đã được

nhiều nước nghiên cứu, điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà nguồn vật liệu xây dựng tự nhiên

ngày một khan hiếm Các chất thải rắn như: tro bay; tro trấu; phế thải thuỷ tinh; xỉ lò cao; lốp

cao su thải; phế thải xây dựng… đã được ứng dụng nhiều trong xây dựng với các mục đích khác

nhau và được đánh giá là đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật

1 Tro bay (Fly Ash)

Tro bay là loại bụi thu được tại bộ phận khí thải của ngành năng lượng Hiện nay trên thế

giới tro bay được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng với các mục đích khác nhau như: làm phụ

gia cho bêtông ximăng [7], chất khoáng làm đầy cho bêtông asphalt [2], làm lớp móng cho kết

cấu áo đường [8],… Ở Việt Nam, trữ lượng tro bay tương đối lớn và bước đầu cũng đã áp dụng

vào công nghệ chế bêtông đầm lăn [1], gia cố vật liệu đất đắp [2], còn trong công nghệ bêtông

asphalt việc sử dụng tro bay vẫn chưa được nghiên cứu ứng dụng Theo các kết quả đã nghiên

cứu [9] bêtông asphalt sử dụng tro bay có thể tăng độ cứng, tăng khả năng chống vệt lún bánh

xe

T CT2

Sử dụng tro bay làm lớp móng

cho kết cấu áo đường [8] Bêtông đầm lăn sử dụng tro bay [6] Bêtông asphalt sử dụng tro bay [9]

Hình 3 Một số ứng dụng của tro bay trong xây dựng giao thông

2 Tro trấu (Rice Husk Ash - RHA)

Tro trấu là sản phẩm sau khi đốt vỏ trấu Trên thế giới việc tận dụng tro trấu đã được

nghiên cứu từ đầu những năm 1970 [10] Tro trấu đã được sử dụng có hiệu quả trong các ngành

công nghiệp như: công nghiệp thép để sản xuất các loại thép tấm chất lượng cao; sản xuất các

vật liệu cách nhiệt [11], ngoài ra tro trấu còn được dùng để sản xuất ra các loại ximăng hỗn hợp,

chế tạo bêtông ximăng Trong công nghệ bêtông ximăng tro trấu có thể thay thế 40% lượng

ximăng nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật của bêtông Tro trấu được sản xuất nhiều ở Ấn

Độ, Nhật Bản Hiện nay tro trấu cũng đã được sản xuất ở Việt Nam tuy nhiên theo các kết quả

đã nghiên cứu của TS Đào Văn Đông [3] thì chất lượng của tro trấu của Việt Nam vẫn còn

thấp

Ngày đăng: 22/04/2013, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w