1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm văn xuôi nghệ thuật võ thị hảo

124 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 780,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đoàn Cầm Thi đã phát hiện ra nét mới trong tác phẩm viết về chiến tranh của Võ Thị Hảo là khi đề cập đến sự phá hủy của chiến tranh đối với con người, đặc biệt là cơ thể người nữ, Võ Thị

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011

Trang 3

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thành Thi, người thầy hướng dẫn đã bỏ nhiều tâm sức chỉ bảo tận tình, định hướng và giúp đỡ tôi từ những bước đi đầu tiên cho đến khi hoàn thiện luận văn

Xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa và Phòng KHCN&SĐH trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi trang bị những kiến thức cần thiết, làm nền tảng để thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học

Xin cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp cũng như lãnh đạo của trường THPT Phú Quốc, nơi tôi đang công tác, đã chia sẻ những khó khăn trong công việc để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và thực hiện luận văn đúng tiến độ

Xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã ủng hộ và luôn ở bên tôi những lúc khó khăn để tôi có đủ niềm tin và nghị lực vượt qua những gian nan trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin cảm ơn tất cả những nhà nghiên cứu đi trước đã khai mở những con đường, để luận văn có dịp góp thêm chút tiếng nói vào cuộc hành trình của khoa học nghiên cứu những vấn đề về Văn học Việt Nam

Xin trân trọng tất cả những tấm lòng đã đến bên tôi!

TP Hồ Chí Minh, Ngày 20 tháng 10 năm 2011

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 : VĂN CHƯƠNG VÕ THỊ HẢO – TỪ QUAN NIỆM ĐẾN SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT 6

1.1 Sự nghiệp văn chương của Võ Thị Hảo 6

1.1.1 Vài nét về tiểu sử 6

1.1.2 Sự nghiệp văn chương 6

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Võ Thị Hảo 8

1.2.1 Văn chương và sứ mệnh của nhà văn 8

1.2.2 Quan niệm về con người và “thiên tính nữ” hay là “ý thức nữ quyền” 11

1.3 Võ Thị Hảo – chủ thể sáng tạo giàu cá tính 22

CHƯƠNG 2 : CON NGƯỜI VÀ NHỮNG BI KỊCH CÁ NHÂN 24

2.1 Cái nhìn nhiều phía về con người và những nội dung tự sự chủ yếu trong VXNT Võ Thị Hảo 24

2.2 Con người đối diện với nỗi đau chiến tranh 24

2.2.1 Con người bị tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần 25

2.2.2 Con người không thể hòa nhập với cuộc sống đời thường sau cuộc chiến và sự méo mó về mặt nhân cách 30

2.2.4 Hình ảnh những người phụ nữ góa bụa, cô đơn – sự ám ảnh khôn nguôi về nỗi đau chiến tranh 33

2.3 Con người tham vọng và tha hoá 35

2.3.1 Con người tham vọng 35

2.3.2 Sự tha hóa của con người 44

2.4 Con người bé nhỏ 48

2.5 Người phụ nữ cô đơn 58

CHƯƠNG 3 : TỰ SỰ ĐẦY MA LỰC VÀ ÁM ẢNH 67

Trang 5

3.1 Khung cảnh “Liêu Trai” và lối dựng truyện huyền ảo, giàu kịch tính 67

3.2 Một thế giới nghệ thuật được chạm khắc chủ yếu bằng biểu tượng 90

3.3 Những triết luận u trầm, riết róng 97

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Từ sau năm 1986, thành tựu của quá trình cải cách xã hội cộng với nhiệt tình đổi mới, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật của đội ngũ nhà văn đã tạo đà cho văn xuôi nghệ thuật bùng nổ thành những cao trào sôi nổi Trải qua hơn hai thập niên, nhiều cây bút văn xuôi đã từng bước khẳng định tên tuổi của mình trong lòng độc giả Thành tựu của

cả giai đoạn văn học này đã được đề cập khá nhiều trong các giáo trình văn học sử cũng như các chuyên đề phê bình và lý luận Chúng tôi xét thấy, việc đi sâu đánh giá những đóng góp riêng của từng tác giả, nhân tố quan trọng làm nên diện mạo văn học của cả thời kỳ, là vô cùng cần thiết Chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn thông qua việc nghiên cứu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Võ Thị Hảo để thấy được đặc điểm và thành tựu của văn xuôi thời

kỳ đổi mới, đồng thời bổ sung cái nhìn toàn diện hơn cho bức tranh văn học hai mươi năm trở lại đây

truyện ngắn phản ánh cuộc sống đời thường, phản ánh số phận của những con người bé nhỏ, đặc biệt là người phụ nữ Từ đó trở đi, đề tài này trở thành một dòng mạch khá xuyên suốt trong sáng tác của chị Bên cạnh những cây bút cùng khai thác đề tài này, trong đó có không

ít tác giả nữ mới xuất hiện những thập niên gần đây, Võ Thị Hảo đã tạo được dấu ấn riêng trên những trang viết của mình Tìm hiểu một cách hệ thống đặc điểm văn xuôi nghệ thuật

Võ Thị Hảo là một cách để lí giải nét riêng biệt và đóng góp của tác giả cho mảng đề tài này

Không dừng lại ở mảng truyện ngắn, năm 2003, tiểu thuyết “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo ra mắt độc giả, góp phần đánh dấu sự trở lại sôi nổi của thể loại tiểu thuyết lịch sử trên văn đàn Tác phẩm này tạo được sức hấp dẫn không chỉ bởi cách lí giải các vấn đề lịch sử

mà còn ở cách viết đậm chất huyền tích, kỳ ảo, phiêu diêu của tác giả Lối văn này không chỉ có trong mỗi “Giàn thiêu” Nó xuất hiện trong phần lớn sáng tác của Võ Thị Hảo, trở thành một thế mạnh riêng của tác giả Do đó, nghiên cứu toàn diện văn xuôi nghệ thuật của

Võ Thị Hảo sẽ góp phần làm bật lên nét độc đáo của lối viết này, lý giải được sức hấp dẫn trong những sáng tác của chị đối với độc giả đương thời

Ngoài ra, con người trong sáng tác của Võ Thị Hảo mang sức sống, hơi thở của thời đương đại Người đọc hôm nay có thể tìm thấy những điều gần gũi với bản thân mình khi đọc các tác phẩm của chị Nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo là một cách giúp

Trang 7

chúng ta khám phá thế giới hiện thực đang tồn tại xung quanh, để từ đó có thể hiểu rõ hơn

về bản thân và thời đại Đó cũng là một cách trải nghiệm bổ ích trong quá trình hoàn thiện bản thân của mỗi con người bằng văn học

Vì những lí do trên người viết chọn đề tài “Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo” để nghiên cứu trong luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Nhận định về văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào hoàn chỉnh và đầy đủ Chủ yếu là những bài phỏng vấn, giới thiệu tác giả, tác phẩm đăng rải rác trên các báo, tạp chí, một số chuyên luận đề cập đến một vài tác phẩm hoặc một vài khía cạnh nghệ thuật… Có thể kể đến một vài nhận định xoay quanh các mặt sau:

2.1 Nhận định về nội dung, cảm hứng trong sáng tác của nhà văn này,

Thụy Khê cho rằng Võ Thị Hảo là thế hệ nhà văn chối bỏ cổ tích, không tin “thần thoại chiến trường”, “cuộc sống trong văn của chị là một xã hội tan chiến nhưng không tàn chiến” [43] Đoàn Cầm Thi đã phát hiện ra nét mới trong tác phẩm viết về chiến tranh của Võ Thị Hảo là khi đề cập đến sự phá hủy của chiến tranh đối với con người, đặc biệt là cơ thể người nữ, Võ Thị Hảo thường để cho các nhân vật nữ của mình diễn đạt trực tiếp nhu cầu nhục thể, thể hiện khát vọng sống một cách mãnh liệt

đằm sâu trong sáng tác của Võ Thị Hảo; họ cho rằng “chính niềm dự cảm mong manh về hạnh phúc của nữ giới” khiến sáng tác của các nhà văn nữ đương đại (trong

đó có Võ Thị Hảo) “gợi lên được những cảm xúc về lòng tha thiết sống, tha thiết yêu,

dù quá khứ có nặng nề, dù hiện tại còn đau khổ vẫn mong mỏi cuộc sống ngày mai tốt đẹp hơn cho người và cho mình” [56], [72]

2.2 Nhân vật và tính khuynh hướng trong sáng tác của Võ Thị Hảo được

đề cập đến nhiều Trong đó, nhân vật trong sáng tác của chị thường được giới nghiên cứu chú ý là những người phụ nữ, đặc biệt là “những con người bé mọn” và những người phụ nữ thành đạt nhưng cô đơn [1], [76] Một số ý kiến cho rằng Võ Thị Hảo

là một nhà văn nữ quyền khi khảo sát một số hình tượng nữ tiêu biểu trong sáng tác của chị [6], [19], [77] Các tác giả thường đi sâu mô tả thân phận của người phụ nữ

Trang 8

qua sáng tác của Võ Thị Hảo và phần lớn đều thừa nhận rằng, người phụ nữ trong sáng tác của chị phần lớn đều đáng thương và bất hạnh Ở một khía cạnh khác, Bùi Việt Thắng đã chỉ ra rằng nhân vật trong văn xuôi Võ Thị Hảo thường có nét “dị dạng, khác người nhưng tâm hồn họ thánh thiện, giàu lòng vị tha và đức hy sinh”

trong tiểu thuyết Giàn thiêu và cho rằng đấy là những sáng tạo độc đáo, thể hiện một

cái nhìn mới của tác giả đối với lịch sử [6], [52], [54], [69], [81]

2.3 Về mặt nghệ thuật, âm hưởng chung trong sáng tác của Võ Thị Hảo

cũng có nhiều ý kiến nhận định đáng lưu ý Thụy Khê cho rằng “có thể tìm thấy trong văn phong Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn, chất huyền thoại phảng phất cơn mưa Nguyễn Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thị Hoài” [43] Bùi Việt Thắng nhận xét rằng “truyện ngắn Võ Thị Hảo dẫn dắt người đọc vào cõi tình yêu vừa “mê cung”, vừa kỳ lạ, với các tình huống đặc sắc” (…) văn Võ Thị Hảo có cái dập dìu của những “chàng” và

“nàng”, không khí truyện lúc tỏ lúc mờ, câu chuyện được kể lắm khi phiêu diêu” [72] Đọc Võ Thị Hảo nhiều ý kiến đều nhận xét văn của chị có nhiều tầng hình tượng với những lớp ngữ nghĩa khác nhau ẩn mình sau những câu chữ; đó là lối văn được thổi linh hồn, với những câu văn huyền ảo, mê hoặc, thậm chí ma quái [31],

qua rất nhiều trải nghiệm về cõi đời, về nhân tình thế thái Một số nhà nghiên cứu khi

đề cập đến các yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại thường nhắc đến nhiều sáng tác của Võ Thị Hảo như một trong những tác phẩm “liêu trai hiện đại” tiêu biểu nhất Tác

giả Cao Thị Thu Hoài với luận văn Thạc sỹ “Yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị

Hảo qua tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm”, bảo vệ năm 2009 tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã đi sâu

nghiên cứu các yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Giàn thiêu và một số truyện ngắn của

Võ Thị Hảo như một chất liệu quan trọng tạo nên sức hấp dẫn trong sáng tác của nhà văn này [31] Tác giả luận văn đã phân loại và mô tả các loại nhân vật kì ảo cũng như các thủ pháp nghệ thuật thể hiện cái kì ảo trong các sáng tác của Võ Thị Hảo Tuy

Trang 9

nhiên việc khảo sát của tác giả Cao Thị Thu Hoài chỉ dừng lại ở một vài tác phẩm, chưa bao quát hết các sáng tác của Võ Thị Hảo

Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu về yếu tố kì ảo, một số nhà phê bình còn quan tâm đến khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử trong tác phẩm của Võ Thị Hảo, xem đây như một cách xử lý có hiệu quả các chất liệu lịch sử, một hướng tìm tòi và đóng góp riêng của tác giả trong khuynh hướng chung của thể loại này [7], [13], [70] Nhà phê bình Lại Nguyên Ân đã chỉ ra rằng trong Giàn thiêu, nhà văn Võ Thị Hảo đã hình dung lịch sử như những giả định, sử dụng các chất liệu có sẵn để dày công hư

cấu, thiết kế lại quá khứ, tạo ra một thế giới của riêng mình Điều đó cho thấy sự

tiếp cận của Võ Thị Hảo đối với các vấn đề lịch sử là sự tiếp cận với tinh thần của thời đại mới, tư duy mới và thực sự có đóng góp cho mảng đề tài này

Chính những ý kiến quý báu trên đã gợi mở những lối đi nhất định để luận văn tiếp tục khám khá đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo một cách toàn diện hơn

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật

Võ Thị Hảo

Phạm vi khảo sát là toàn bộ các sáng tác văn học đã in của Võ Thị Hảo gồm 4

tập truyện ngắn: Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen, Những

truyện không nên đọc lúc nửa đêm và 1 tiểu thuyết: Giàn thiêu

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp loại hình để xem xét và tìm ra những đặc điểm cơ bản của văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo; sử dụng phương pháp cấu trúc

– hệ thống, luận văn khảo sát toàn bộ các tác phẩm đã in của nhà văn, phân tích một

cách hệ thống các đặc trưng cơ bản về nội dung và phương thức tự sự của các tác phẩm, để khái quát thành những đặc điểm chính; đồng thời sử dụng thêm phương

và đóng góp của tác giả cho nền văn học Việt Nam đương đại

Trang 10

5 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu một cách bao quát, có hệ thống đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo, khẳng định vị trí và những đóng góp của nhà văn cho nền văn học dân tộc

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có 148 trang, ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (4 trang),

Tài liệu tham khảo (10 trang), Phần nội dung (128 trang) được trình bày thành 3

C hương 2: Con người và những bi kịch cá nhân (53 trang)

Phần này luận văn mô tả những nội dung tự sự chủ yếu trong sáng tác của Võ Thị Hảo tập trung vào các hình tượng con người với những bi kịch cá nhân Trong đó nổi bật là con người với nỗi đau chiến tranh, con người tham vọng – tha hóa, con người bé nhỏ và chân dung những người phụ nữ cô đơn

Chương 3: Tự sự đầy ma lực và ám ảnh (53 trang)

Ở chương 3, luận văn đi sâu tìm hiểu những phương thức tự sự tạo nên sức hấp dẫn trong sáng tác của Võ Thị Hảo Tập trung trong ba vấn đề: lối dựng truyện huyền

ảo, kịch tính; xây dựng hệ thống biểu tượng đầy ám ảnh và chất triết luận qua nghệ thuật xây dựng chân dung cũng như giọng văn giễu nhại và tâm tình thương cảm xót

xa

Trang 11

CHƯƠNG 1 : VĂN CHƯƠNG VÕ THỊ HẢO – TỪ QUAN NIỆM

Võ Thị Hảo vừa viết văn vừa làm báo Chị là hội viên của Hội nhà văn Việt Nam với nhiều đóng góp đáng kể cho mảng văn xuôi Việt Nam hai thập niên cuối thế

kỷ XX; và cũng là cộng tác viên uy tín của nhiều tờ báo khác nhau, trong đó chủ yếu

nhất là báo Phụ nữ Chị từng là trưởng ban đại diện Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí

Minh tại Hà Nội, rồi trưởng ban Thư ký tòa soạn của báo Giáo Dục và Xã Hội Có thời gian chị cũng về công tác cho Tạp chí Vì trẻ thơ Đi nhiều, thấy nhiều, chính

nghề báo đã hỗ trợ cho chị rất lớn trong sáng tác văn chương

Sau cuộc nhân đỗ vỡ, chị sống cùng hai con tại ngoại thành Hà Nội, rồi xin về hưu trước tuổi, chuyên tâm vào hoạt động sáng tác Năm 2005, chị sáng lập công ty Văn hóa truyền thông Võ Thị, cho in lại phần lớn những tác phẩm của mình Kinh doanh được một thời gian, chị giao lại cho người khác quản lý, bắt tay vào việc hoàn tất những sáng tác mới của mình

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

1.1.2.1 Quá trình sáng tác của Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo có một niềm đam mê sâu sắc đối với văn chương Từ nhỏ chị đã thích đọc sách, rồi tập làm thơ từ rất sớm và cũng có suy nghĩ sẽ trở thành nhà thơ Nhưng duyên số lại đưa chị đến với nghề báo, để không biết tự bao giờ cái nghiệp văn chương bén rễ và trở thành một nỗi ám ảnh không dứt đối với chị, cho dù cuộc

Trang 12

sống gia đình riêng nhiều khó khăn vất vả và ngay cả người bạn đời cũng không ủng

hộ chị theo đuổi nó

Xuất hiện trên văn đàn vào những năm cuối của thập niên 80, truyện ngắn đầu tiên

của Võ Thị Hảo đăng trên báo Phụ nữ thủ đô năm 1989 là truyện “Người gánh nước

thuê” Câu chuyện kể về số phận của những người nghèo khổ, dị dạng đã nhận được nhiều đồng cảm nơi người đọc

Tạo được dấu ấn ngay trong tác phẩm đầu tiên ra mắt, suốt hơn 10 năm tiếp theo,

Võ Thị Hảo từng bước khẳng định tên tuổi của mình ở mảng truyện ngắn viết về đề tài chiến tranh và số phận của con người trong thời hậu chiến Người ta bắt đầu chú ý

nhiều hơn đến cái tên Võ Thị Hảo qua những truyện ngắn “lạ” như: Người sót lại của

rừng cười, Hồn trinh nữ, Biển cứu rỗi, Vườn yêu… Tác phẩm của chị được công

chúng đón nhận và chờ đợi Sáng tác của chị được tuyển tập và in chung với nhiều tác giả khác, chị được đánh giá là một trong những cây bút nữ tiêu biểu của văn học sau những năm đổi mới

Năm 2003, Võ Thị Hảo đánh dấu bước chuyển quan trọng trong sự nghiệp bằng

việc cho ra đời tiểu thuyết dã sử Giàn thiêu Tác phẩm gây tiếng vang lớn trên văn

đàn bởi cách viết mê hoặc, huyền ảo, cách tiếp nhận và đánh giá lịch sử một cách uyển chuyển, mới mẻ, đánh dấu những bước đi mới cho thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

Năm 2005, Võ Thị Hảo cho in lại toàn bộ sáng tác của mình gồm bốn tập truyện ngắn và một tiểu thuyết Những năm gần đây, nhà văn Võ Thị Hảo vẫn tiếp tục công việc sáng tác và dự định sẽ cho ra đời nhiều tác phẩm mà chị đã ấp ủ nhiều năm qua

1.1.2.2 Tác phẩm đã in của Võ Thị Hảo

- Truyện ngắn (bốn tập): Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Góa phụ đen,

Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm

- Tiểu thuyết: Giàn thiêu

1.1.2.3 Các giải thưởng đã đạt được

Trang 13

1.2 Quan n iệm nghệ thuật của Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo là người có quan điểm về văn chương rất rõ ràng và nghiêm túc Trong nhiều bài trả lời phỏng vấn trên báo chí, chị đã không ít lần bày tỏ thái độ của mình về vai trò của văn chương và sứ mệnh cao cả của nhà văn Võ Thị Hảo từng nói: “văn chương là nơi thổ lộ những khát vọng, những nỗi đau lớn của kiếp người Sứ mệnh của nhà văn là chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri”

Điều mà Võ Thị Hảo tâm đắc nhất khi nói về văn chương chính là khả năng “nói thật” của nó Theo chị, văn chương đi ra khỏi sự thật thì chỉ là thứ văn chương trưởng giả, phù phiếm Trách nhiệm của người viết là không né tránh sự thật Chị nói:

“Thiên chức nhà văn là tôn trọng tự nhiên Tự nhiên nghĩa là sự thật Như những con sóng biển và gió vẫn đêm ngày cồn cào đến với đất liền Khi nhà văn mà chối bỏ sự thực viết dối trá và đứng ngoài những nỗi đau, khát vọng cũng như khát vọng thật sự của con người khi ấy, nhà văn đó trở nên nguy hiểm cho đồng loại” [14]

Những khát vọng mà Võ Thị Hảo gửi gắm qua văn chương chính là khát vọng tự

do, công lý, khát vọng được hạnh phúc, yêu thương và chia sẻ

Nói về Giàn thiêu, Võ Thị Hảo cho rằng: “Một trong những thông điệp của Giàn

thiêu: Dựng giàn thiêu người trên đảo Âm Hồn, đốt sách mổ bụng moi gan người dưới đoạn đầu đài, hay bất cứ cực hình nào đó cũng không thiêu hủy được sự thật, khát vọng tự do và công lý” [21] Hình tượng Lê Thị Đoan trong tác phẩm này chính

là một sự hóa thân của tác giả Võ Thị Hảo đã gửi gắm trong đó rất nhiều những tư tưởng, khát vọng, quan niệm của chị đối với văn chương

Lê Thị Đoan có thể được xem là một chân dung “lạc điệu” của thời đại Đã “bạo gan” giả trai đi thi chỉ với một mong muốn “đem chút tài hèn nhi nữ mà giúp rập quốc gia”, chí nguyện không thành vì tiểu nhân hãm hại, bà vẫn hiên ngang vạch trần những tội ác man rợ, tố cáo những kẻ lộng quyền, ỷ thế, gieo rắc tai họa cho nhân dân Cái chết tức tưởi của bà chính là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ của lương tri và

ác, không vì mưu cầu danh lợi mà trở thành bọn ca công “uốn lưỡi nịnh hót xum xoe”, bẻ cong ngọn bút của mình Con người bà có thể bị lấp vùi trong tro bụi, nhưng

Trang 14

văn chương của bà vẫn tồn tại với thời gian và bất tử trong lòng nhân dân Nói như quan Tham tri chính sự Từ Văn Thông: “Dù có đem đốt cả ngàn vạn lần cuốn sách

“Lê Thị Đoan trước tác” thì cuốn sách vẫn cứ nhơn nhơn tồn tại, vì chúng đã ăn vào trong ruột kẻ có chữ và còn được lưu truyền không mệt mỏi trên miệng bọn dân đen”

Và “sở dĩ chúng đi thun thút vào bụng dạ chúng dân, là bởi tài cao học rộng, bởi văn chương cái thế, bởi gan óc tế thế kinh bang đẫm trên từng trang, bởi mụ ta không viết điều gì ngoài sự thật” [Giàn thiêu, 508, 509] Cho nên một tác phẩm văn chương đích thực phải là một tác phẩm có ích cho cuộc đời, nó có khả năng “thanh lọc” tâm hồn (chữ dùng của Thạch Lam) Dù người ta có gán cho nó là “tà thư” hay “lộng ngôn sáo ngữ” thì nó vẫn cứ là “chính văn chính sử” trong lòng những người biết phân biệt phải trái trắng đen Chính quan Gián nghị đại phu Mâu Du Đô, một người còn có chút lương tri trong triều đình đã nói: “sách nào, chữ nào có ích cho dân cho nước, sách nào chữ nào khiến cho người đọc cầm cuốn sách trên tay mà như cầm tấm gương soi lại chính mình, đọc chữ nào thì chữ đó là lời khen tiếng chê ứng mỗi hành

vi cử chỉ, tâm tình thiện ác của chính mình thì sách đó, chữ đó là chính văn chính sử” [GT, 511] Và để tạo nên những trước tác để đời như thế không phải người cầm bút nào cũng có thể làm được “Chỉ có người nào trên hiểu lẽ trời, dưới hiểu lẽ đời, ngày ngày ăn chung bát cơm gạo hẩm, húp chung bát cháo cầm hơi, đêm đêm chia sẻ manh chiếu rách với kẻ khốn cùng nhất trong thiên hạ, nung nấu trong lòng mộng ước cứu đời cứu người, làm cho dân thịnh nước cường thì mới có thể cầm bút viết nên những dòng như thế” [GT, 512]

Chính khát vọng tự do đã khiến cho rất nhiều nhân vật của Võ Thị Hảo lựa chọn con dường “không thỏa hiệp” như Lê Thị Đoan Một nhà phê bình đã nói những người đàn bà trong sáng tác của Võ Thị Hảo thường hay “nổi loạn” là như thế Một tiểu thư Nhuệ Anh (Giàn thiêu) yêu hết mình, sống hết mình, sẵn sàng chết cho tình yêu với chàng thư sinh Từ Lộ, nhưng đến khi đối diện với một Thần Tông (hậu thân của Từ Lộ) ngất ngưỡng trên ngai vàng mà tình yêu đối với nàng vẫn còn ám ảnh trong tiềm thức, nàng đã không chần chừ lựa chọn ra đi Mặc dù đằng sau chiếc áo cà

sa thoát tục kia vẫn nguyên vẹn một trái tim đập cho tình yêu thời tuổi trẻ, nhưng cái

tự do tuyệt đối trong trái tim nàng mới là điều nàng mong cầu lớn nhất

Trang 15

Một nàng H’Điêu nguyện làm một cây chanh lẻ loi cô độc suốt ngàn năm, chứ không muốn tái sinh để rồi lại tiếp tục làm một người đàn bà “ngây thơ, bị chồng nghi ngờ, dằn vặt rồi phụ bạc”, và “sẽ lại biến thành cây chanh cô đơn bên bờ suối

cạn mà thôi” (Khát của muôn đời – Hồn trinh nữ)

Hay chính vì bảo vệ công lý mà Nữ hoàng Pháp luật cũng trở thành một nữ hoàng

cô độc, chấp nhận bị giam cầm ngàn năm trong vương quốc của thần Tiền Tài và Dục Vọng, chứ không thể nào thỏa hiệp với chúng, nàng cũng không thể nào thuộc về bất

cứ một ai, bởi vì “nếu không, cán cân công lý sẽ nghiêng lệch” (Nữ hoàng cô đơn)

Quá trình đấu tranh cho công lý của rất nhiều nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo có lúc thành công nhưng phần lớn là thất bại hoặc thành công phải đánh đổi bằng một cái giá nào đó Nhưng dù sao đi nữa thì văn chương của chị cũng là một tiếng kêu đòi công lý, quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc cho con người Chị nói: “đối tượng của những, truyện ngắn, bài báo của tôi là nhân tính và sự bất bình trong xã hội” [tôi vốn là người đàn bà thích được che chở]

Với Võ Thị Hảo, khi nào cuộc sống còn khổ đau, khi đó văn chương còn tồn tại Đó là nơi con người tìm thấy sự đồng cảm và trải nghiệm cuộc sống đích thực Cho nên chị ý thức rất cao sứ mệnh của một nhà văn đối với xã hội Nhà văn phải là người biết chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức tỉnh lương tri con người

Võ Thị Hảo thường xuyên sử dụng những từ như “mang”, “vác”, “trả nợ”, gánh nợ”, “chia sẻ”, “đồng hành” để nói về trách nhiệm của một nhà văn Từ suy nghĩ về

số phận của nhà văn Lê Đạt (một nạn nhân của phong trào Nhân văn – Giai phẩm) chị khái quát chung về số phận của những người đeo nghiệp văn chương, chị ví họ như những người “vác thập giá chữ” trên đôi vai của mình Những bước đi nặng nhọc giữa cuộc đời Nhưng số phận của họ là như thế, không thể nào không mang vác, chỉ

có cái chết mới có thể kết thúc cuộc hành trình của họ Đó là một sự lựa chọn sòng phẳng mà cũng vô cùng khắc nghiệt đối với một nhà văn chân chính Võ Thị Hảo từng tâm sự viết văn tức là lúc chị đã phải “nhận lĩnh kiếp nạn của những kẻ không thể im lặng trước nỗi đau của người khác” “Nhà văn là người gánh món nợ của lịch

sử, cuộc đời Vì thiên chức của nhà văn là gánh nỗi đau của con người Cái thân nhà văn như thân con lừa ưa nặng vậy, chưa nặng thì chưa bước” Có lúc chị lại ví von:

Trang 16

“Sứ mệnh của một nhà văn không hơn sứ mệnh của một người trồng cây (…) Có điều, nhà văn có thể trồng được cả một cánh rừng bằng ngòi bút” [14]

Nhìn chung, những phát biểu trên báo chí về sứ mệnh nhà văn của Võ Thị Hảo cũng khá thống nhất với ý nghĩa của hình tượng gợi lên từ tác phẩm của chị Trên những trang văn của Võ Thị Hảo luôn có bóng dáng của cái tôi tác giả đồng hành, sẻ chia, đôi lúc xuất hiện trực tiếp để phẩm bình bày tỏ tình cảm, thái độ Chị thường viết về số phận của những con người bất hạnh, đó là những thân phận bé nhỏ, đáng thương, những con người nghèo đói, tật nguyền, bệnh hoạn, cô đơn Chị viết về tất

cả những bi kịch của cuộc đời với một trái tim biết yêu thương và chia sẻ

Nhà văn không né tránh cái ác, cái xấu mà phanh phui đến tận cùng vì mục đích cao cả là hướng con người đến cái chân, cái thiện Đằng sau những bế tắc của con người không hoàn toàn là niềm bi quan như ai đó đã từng đánh giá về kết thúc truyện ngắn của Võ Thị Hảo Điều còn lại sau những trang viết có lẽ là sự tỏa sáng của lương tri con người Bởi chỉ có lương tri con người mới giúp mỗi chúng ta nhận ra chân giá trị của những nỗi đau và bất hạnh

Quan niệm về văn chương và sứ mệnh của nhà văn đã ảnh hưởng sâu sắc đến cách khai thác đề tài, cách nhìn nhận về con người, cũng như cách lựa chọn ngôn ngữ, thể hiện giọng điệu của nhà văn Võ Thị Hảo

1.2.2 Quan niệm về con người và “thiên tính nữ” hay là “ý thức nữ quyền”

1.2.2.1 Quan niệm về con người

Sau 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, sự thức tỉnh trở lại của ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm đổi thay quan niệm về con người Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người với hạt nhân cơ bản là tư tưởng nhân văn, tinh thần nhân bản Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi

sự kiện và biến cố lịch sử Nó báo hiệu xu hướng phát triển hướng nội, đi vào chiều sâu của văn học thời kỳ đổi mới, báo hiệu sự trưởng thành của nền văn học Nói như

nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà: Nhận thức đúng mối quan hệ giữa đời sống và chính

trị, con người và giai cấp là một trong những điều kiện làm cho văn học chúng ta có

Trang 17

khả năng phong phú và hấp dẫn hơn ( ) Văn học, đặc biệt là văn học đã thực sự bước vào giai đoạn trưởng thành, không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng thương xót con người mà còn là một lĩnh vực quan sát và khám phá về con người

và soi chiếu ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng tình cảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ quát… [48, 16]

nghệ thuật được đề cao, con người với đời tư, cá tính, bản lĩnh, phẩm chất, năng lực

cá nhân được chú trọng Con người như một thế giới riêng phong phú, phức tạp, với

số phận riêng, và trong mối quan hệ cũng hết sức đa dạng của nó đối với toàn xã hội, trở thành mối quan tâm hàng đầu của sáng tác

Bên cạnh đó, có thể thấy con người trong những tác phẩm văn học sau đổi mới

đã được trả về với bản thể, nó tồn tại với tư cách một cái tôi đích thực, nó không đại diện cho một cái gì đó, hay nói lên một điều gì đó, mà nó là sự tự thể hiện, tự nói về bản thân mình bằng tiếng nói chân thành và say đắm nhất Nhà văn luôn để cho nhân vật của mình vật vã trăn trở với chính bản thân, ở cái bản ngã nửa tối nửa sáng của

họ Và có khi các tác giả còn muốn “lộn trái” ra để phơi bày tất cả những xấu xa, đê tiện của con người Từ Nguyễn Minh Châu đến Nguyễn Huy Thiệp đã là một bước đi dài Bên cạnh đó còn là sự góp tiếng của hàng loạt các cây bút đầy tâm huyết như Lại Văn Long, Tạ Duy Anh, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Dương Hướng, Phạm Thị

cùng bức thiết như vậy, dù có lúc thật vật vã, khó khăn và đau đớn Nói như một thời

Trang 18

Hoài Thanh đã bày tỏ trong Thi nhân Việt Nam đó là “cái khát vọng nói rõ những

điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn”

Xuất hiện trong thời kỳ đổi mới, tác phẩm của Võ Thị Hảo thấm đẫm tinh thần chung của thời đại trong quan niệm về con người Khảo sát qua tác phẩm và các ý kiến phát biểu trực tiếp của nhà văn, luận văn nhận thấy vấn đề quan niệm về con người của chị thường bộc lộ theo mấy khía cạnh sau:

Trước hết, con người trong văn xuôi Võ Thị Hảo chủ yếu là con người thế sự,

đời tư Mỗi một con người là một số phận riêng với những mảnh đời khác nhau Đó

nhận con người ở nhiều khía cạnh khác nhau, một cách sống động và thành thực nhất,

tham vọng thấp hèn, những khát khao thầm kín nhất Rất nhiều chân dung trong sáng tác của Võ Thị Hảo không thể gọi là người tốt hay kẻ xấu, người cao thượng đạo đức

chia rất rạch ròi nay lại trở nên mờ hóa Cảm giác mà nó đem lại cho người đọc cũng vậy Với mỗi nhân vật đọc lên có lúc ta cảm thấy đồng tình có khi lại muốn phê phán,

vật chính là chất men tạo nên sức hấp dẫn và lôi cuốn trong sáng tác Võ Thị Hảo nói riêng và của các nhà văn đương đại nói chung

Thứ hai, con người trong văn xuôi Võ Thị Hảo đầy bí ẩn với đời sống nội tâm

phong phú và phức tạp Nhân cách con người không chỉ là kết quả của lí trí, mà còn

có sự tham gia của vô thức, tiềm thức, tâm linh Sự cộng hưởng của các yếu tố này khiến cho hình tượng con người trong sáng tác của Võ Thị Hảo không chỉ bí ẩn, khác thường, mà đôi lúc trở nên xa lạ một cách đầy mê hoặc Tâm trạng con người cũng được chú ý khơi sâu với những rung cảm tinh tế Bằng cảm thức và sự nhạy cảm của một nhà văn nữ, Võ Thị Hảo đã xây dựng rất nhiều chân dung những con người tâm trạng, với những số phận chìm nổi khác nhau đặc biệt là những kiếp đàn bà đa đoan

và bất hạnh

Trang 19

Điểm đáng chú ý trong quan niệm về con người của Võ Thị Hảo là nhà văn

quan tâm nhiều đến sự bấp bênh trong số phận của mỗi cá nhân Qua sáng tác của chị,

con người dường như dễ trở nên bé nhỏ, đáng thương và tội nghiệp trong thế giới xô bồ, nhiều cạm bẫy bủa vây; con người đầy đau khổ với những bi kịch cá nhân triền miên không dứt Ở khía cạnh này, con người trong văn xuôi nghệ thuật

Võ Thị Hảo mang đậm dấu ấn hiện sinh

Trong quan niệm của các nhà hiện sinh chủ nghĩa, nỗi đau lớn nhất của kiếp người chính là không tìm thấy tiếng nói chung giữa cộng đồng, không tìm thấy được niềm đồng cảm để làm điểm tựa cho tâm hồn Sự cô đơn như là một định mệnh mà con người phải chịu đựng

Trong văn học Việt Nam đương đại, người ta hay bắt gặp bóng dáng của con người vừa bước ra từ cuộc chiến, trở về với cuộc sống đời thường, họ đã mất đi cái sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng tập thể Mất đi chỗ dựa, con người phải tự đứng

yếu ớt, có khi bất lực và rơi vào bi kịch Nhìn lại cuộc chiến đã đi qua con người lắm khi không khỏi cảm thấy rùng mình, ghê sợ

Thế giới chiến trận trong sáng tác của Võ Thị Hảo không còn cái không khí

lên đường”, mà thay vào đó là thế giới của chết chóc và hủy diệt nhân tính con người, thế giới của đau khổ và những nỗi buồn u uất triền miên, những ám ảnh rợn người dai

dẳng Thế hệ của những kẻ vừa rời chiến trận như người đàn ông trong Biển cứu rỗi, Thảo trong Người sót lại của rừng cười, người chồng trong Hồn trinh nữ trở thành

một thế hệ lạc loài khi trở lại với những mối quan hệ đời thường sau cuộc chiến Họ không còn là “những tượng đài bất tử” với những tấm huy chương sáng ngời trên ngực, lúc nào cũng phơi phới niềm tin hát vang những bản hùng ca lạc quan chiến thắng Vinh quang của cuộc chiến chỉ còn là cái bóng mờ trong quá khứ, họ bị lột trần và trả về với bản chất của một con người thực thụ, cũng có những nỗi sợ hãi, lo

âu thường trực đối với số phận của chính mình Va đập với cuộc sống đầy bất trắc, họ trở nên bé nhỏ đáng thương hơn lúc nào

Trang 20

Giờ đây bước vào hành trình tìm kiếm bản thể, con người lao vào vòng quay

vô tận của sự sống và cái chết, của hiện hữu và hư vô, hữu hạn và vô hạn của kiếp nhân sinh giữa cõi vô thường, có khi chỉ để bắt gặp ảo ảnh của mình, rồi trở thành

“kẻ xa lạ” với chính mình, có khi đơn thuần chỉ là để nếm trải và rồi chấp nhận trả giá cho những sự lựa chọn của mình Đến một lúc nào đó con người đã nhận ra rằng nỗi đau của phận người, một nỗi đau luôn đồng hành với con người trần thế chính là một tất yếu mà con người không thể nào phủ nhận

Võ Thị Hảo thường khai thác con người với những bi kịch triền miên Xét trong những mối quan hệ nhất định, phần lớn các nhân vật trong sáng tác của chị ai cũng có nỗi khổ tâm riêng Bậc quyền uy tột đỉnh ngất ngưởng trên ngai vàng như Thần Tông thì mang nỗi ám ảnh về cái chết của tiên vương và mối tình với nàng Nhuệ Anh được gieo từ kiếp trước, khiến cho không ít phen hoang mang, sợ hãi, tiếc nhớ, đến chết vẫn không thể nào thỏa mãn được khát khao chiếm hữu nàng cung nữ Ngạn La hoang dại Hay một nguyên phi Ỷ Lan đầy quyền lực đến cuối đời cũng phải sống trong dằn vặt, đau đớn vì ám ảnh bởi những tội lỗi đã gây ra cho thái hậu họ Dương và bao nhiêu cung nữ (Giàn thiêu) Người giàu có cái khổ của người giàu, kẻ nghèo hèn thấp kém cũng có những bất an riêng Với Ả Tuynh (Dệt cỏ) là nỗi khổ tâm bị cái nghèo bám riết, có nỗi oan khiên mà không biết phải kêu ai, cho đến chết vẫn ôm mối hận chưa đòi được người ta công nhận liệt sĩ cho chồng và phát cái sổ thương binh cho con trai bệnh tật Cái nghèo, cái đói bám riết lấy số phận của những

ngày không phải mút tay (Ngần trong Ngày không mút tay), kẻ thì lay lắt kiếm sống qua ngày, vắt kiệt sức lực mà không có đủ cơm ăn, áo mặc (Ông Tiếu, bà Diễm trong

Người gánh nước thuê), kẻ thì phải chọn lấy cái chết để giải thoát khỏi sự bế tắc của

cuộc đời (Thùy Châu trong Vũ điệu địa ngục)

tổn thương và đầy bất trắc, đó là thế giới của sự khủng hoảng về chân giá trị mà đôi khi muốn tồn tại con người phải trả giá bằng chính nhân phẩm của mình Thông qua

Trang 21

thế giới đó, nhà văn đã nói được những điều mà mình day dứt, sự day dứt của lương tri đối với thân phận con người

giàu tình thương, đầy nghị lực và luôn khát khao tình yêu, hạnh phúc Trong quan niệm về con người, Võ Thị Hảo luôn thể hiện niềm tin sâu sắc vào cái thiện cũng như lương tri của con người Chị mang niềm tin đó đặt vào rất nhiều những chân dung nhân vật nữ

1.2.2.2 Về “thiên tính nữ” hay là “ý thức nữ quyền”

Trong các bài trả lời phỏng vấn trên báo chí, Võ Thị Hảo đánh giá cao vai trò

dân nên đương nhiên sẽ gánh vác những trách nhiệm xã hội, rồi lại còn yêu đàn ông nữa, lại nhân lên sức mạnh của họ là tình da diết yêu con Ngoài xã hội, phụ nữ lo

bỉ Điều quan trọng là phụ nữ cần thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến Người

mẹ có lương tri, kiến thức và văn minh sẽ trực tiếp, êm dịu và nhanh chóng nhất truyền sức mạnh cho con cái họ Ai có người vợ, văn minh, trí tuệ, không ích kỷ, con

họ sẽ có rất nhiều cơ hội văn minh và trưởng thành” [Phụ nữ cần thoát khỏi những nô

lệ, tự ti và định kiến]

Nhiều người nhận xét trong sáng tác của Võ Thị Hảo đậm đặc tính nữ quyền

Có thể thấy, đây yếu tố tự thân trong quá trình sáng tác của Võ Thị Hảo cũng như đã trở thành xu hướng mạnh mẽ trong văn học Việt Nam những năm gần đây với sự xuất hiện hàng loạt cây bút nữ từng bước khẳng định tên tuổi trên văn đàn như Lê Minh Khuê, Vũ Thị Thu Huệ, Dạ Ngân, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Hòa Vang, Thuận Nhà phê bình Bùi Việt Thắng

đã nhận xét rằng “Văn học đang mang gương mặt nữ, ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế mà đằm thắm” [72]

Điểm mạnh của các nhà văn nữ này chính là bản năng mà tạo hóa ban tặng Bằng sự nhạy cảm tinh tế, sự trắc ẩn khoan dung, những người phụ nữ khi cầm bút họ viết bằng tất cả trái tim, bằng tất cả cuộc đời mình Cộng với xu hướng dân chủ, cởi

mở của thời đại, nhà văn nữ cũng đã mạnh dạn bộc lộ sự tự tin và thẳng thắn, họ

Trang 22

mạnh dạn thể hiện cái tôi của bản thân cũng như sự tìm tòi và sáng tạo qua từng tác phẩm Họ không chỉ đối thoại với những quan niệm đã được mặc định về vị trí, vai trò của người phụ nữ, mà còn mạnh dạn lên tiếng khẳng định cái tôi bản thể, bộc lộ những khát vọng trong đời sống riêng tư của nữ giới, khơi nguồn cho sự xác lập ý thức cá nhân một cách trọn vẹn hơn Bằng tài năng và bản lĩnh, nhiều nhà văn nữ đã thể hiện trọn vẹn thiên chức của mình, khẳng định sự độc lập của mình, chứng tỏ họ thực sự có khả năng trở thành “chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mỹ” trong sáng tác văn học

Võ Thị Hảo là một trong những tác giả ý thức rất rõ sức mạnh thuộc về “thiên

chỉ là vấn đề giải phóng tính dục của người phụ nữ Không quyết liệt và táo bạo như một số cây bút nữ cùng thời, cũng không quá khắt khe, chị ủng hộ việc sử dụng các yếu tố sex nhưng như một phương tiện nghệ thuật và đòi hỏi nhà văn phải thực sự có tay nghề và bản lĩnh Bởi theo chị đó là điều cần thiết để một tác phẩm nghệ thuật tránh rơi vào dung tục, tầm thường Điều mà Võ Thị Hảo quan tâm là sự xác lập vai trò vị trí của người phụ nữ trên tất cả các mặt của đời sống với tư cách một con người Qua sáng tác của chị có thể thấy được quá trình người phụ nữ từng bước vươn

vẻ đẹp thuộc về “thiên tính nữ”, một vẻ đẹp bất tận và vĩnh cửu của thế gian

Cụ thể, trong sáng tác của Võ Thị Hảo, người phụ nữ thường mạnh mẽ, giàu nghị lực, tự chủ trong cuộc sống, nhưng cũng mang đầy đủ phẩm chất của giới nữ với

đã đặt vai trò cứu rỗi vào nhiều hình tượng nữ trong sáng tác của mình

Bản thân là một nhà văn nữ, sự khúc xạ giới tính lên sáng tác của Võ Thị Hảo

là rất rõ Có lúc, tâm thức của một nhà văn nữ chi phối rất nhiều đến các nhân vật mà chị tạo ra trong tác phẩm Chị thừa nhận: “Theo những điều đã được tiền nhân gieo trong tiềm thức, tôi đã là một người đàn bà Việt Nam đội hai chữ “hy sinh” lên đầu hơn quá nửa cuộc đời (…) Điều đó ảnh hưởng đến nhân vật của tôi” [Phụ nữ cần thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến] Tuy nhiên, đứng ở góc độ của một người

Trang 23

đồng giới quan sát các nhân vật của mình, Võ Thị Hảo đã có những khám phá chân thực và sinh động về “một nửa thế giới” Từ tiếng nói rất riêng của các nhà văn nữ như Võ Thị Hảo mà cái nhìn về người phụ nữ trong văn chương trở nên đa dạng và phong phú hơn rất nhiều

Võ Thị Hảo nhận thức rất rõ vị trí hiện tại của người phụ nữ trong xã hội cũng

như sự thiệt thòi mà họ còn đang gánh chịu Chị đã dùng cụm từ “những thân phận

bé mọn” để chỉ người phụ nữ trong sáng tác của mình Những con người mà theo

như chị nói “nếu họ sống thì cũng vẫn tiếp thân phận bé mọn, vẫn ngơ ngác, lạc lõng, hẳn phải có rất nhiều thời gian để đánh thức họ sang giấc mơ khác” [Suốt đời chỉ mơ một giấc] Cho nên chị cũng mong đến một ngày “người phụ nữ bi ai trong tôi nổi loạn và nhân vật của tôi cũng nổi loạn chống lại số phận và hoàn cảnh” [Phụ nữ cần thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến]

Truyện ngắn “Hành trang của người đàn bà Âu Lạc” có lẽ là một trong những tiếng kêu thương của người phụ nữ chống lại số phận và hoàn cảnh như nhà văn đã nói Tác giả đã chỉ ra rằng cái gánh trên vai những người phụ nữ thực sự là quá sức Thời phong kiến, để kìm giữ đàn bà, người ta đặt ra triết lí, đặt ra tôn ti, đặt ra công, dung, ngôn, hạnh Đến thế kỉ giải phóng phụ nữ, tưởng như túi hành trang của người đàn bà vơi bớt phần nào, nhưng chẳng những không vơi mà còn nặng thêm bởi những

mĩ của thời đại mới mà “mỗi mĩ từ lại óc ách đầy những giọt mồ hôi, nước mắt và cả máu của đàn bà, những sợi tóc bạc, những vệt nhăn nheo trước tuổi” [94, 82] Cái gánh của người đàn bà Âu Lạc hiện đại còn nặng hơn cả gánh của bà Dạ Dần và mẹ

Âu Cơ, vì trong gánh của bà Dạ Dần và mẹ Âu Cơ chưa có triết lý, chưa có bình đẳng

và những mĩ từ

Nói về vai trò của người phụ nữ, Võ Thị Hảo cũng đề cập đến vấn đề bình đẳng giới Chị ủng hộ giải phóng phụ nữ, nhưng chị cũng cho rằng bình đẳng giới

bằng của xã hội đem lại Khi những kẻ yếu bị những kẻ mạnh ức hiếp, rồi chính kẻ mạnh cũng đến lượt bị tổn thương gián tiếp vì không kẻ mạnh nào có thể tách rời hoàn toàn được những kẻ yếu” Trong một bài phỏng vấn, chị nói rõ hơn:

Trang 24

Trước đến giờ chúng ta thường quan niệm thiên lệch: giải phóng phụ nữ là một quyền lợi, một ân huệ, một sự ban ơn của xã hội cho phụ nữ Thực ra giải phóng phụ nữ cần được quan niệm là giải phóng xã hội hiện tại ra khỏi những cản trở phát triển và hạnh phúc cho mỗi người Vì trong xã hội dã man thì nhiều người, trong đó có các kẻ yếu đuối, kém may mắn, trong đó có thể có cả đàn ông,

bị kẻ mạnh hơn tước đoạt cơ hội Bất kỳ một người nào bị tước đoạt cơ hội và quyền sống, quyền tự do thì bản thân sự tước đoạt ấy là một phản lực gây tác hại trước mắt và lâu dài đến toàn xã hội Một người đàn ông gây bạo lực trong gia đình anh ta có hạnh phúc không, theo tôi là không, nếu chuẩn hạnh phúc của anh

ta không trùng với chuẩn của một con dã thú Và chỉ khi nào chúng ta quan niệm

và hành động thoát khỏi sự dã thú, quan niệm một cách công bằng về việc giải phóng phụ nữ - không, nói đúng hơn là trả lại quyền làm người bình đẳng của bất

kỳ ai, trong đó có phụ nữ - trả lại quyền bình đẳng trước tạo hóa - như tuyên ngôn nhân q uyền đã nói thì khi đó việc ấy mới dần trở thành hiện thực [Phụ nữ cần

thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến]

Quan niệm của Võ Thị Hảo cho thấy nhà văn đã đề cập đến một vấn đề mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Nhận thức được điều đó nên những trang văn của chị không chỉ hướng về quyền sống của những người phụ nữ mà còn là cho tất cả mọi người

đó có Võ Thị Hảo) bởi vì ngòi bút của họ thường hướng về phụ nữ, viết về phụ nữ với tất cả sự trân trọng và trìu mến của trái tim những “người cùng giới”, một điều

Hảo đặc điểm này bộc lộ trong việc nhà văn thể hiện rất rõ ý thức về vị trí, chỗ đứng của người phụ nữ trong xã hội, cũng như sức mạnh của “thiên tính nữ” với biểu hiện

rõ nhất các tố chất của nó là vẻ đẹp thiên bẩm, tinh thần vị tha, nhân hậu, bao dung và bản năng yêu thương dồi dào, mãnh liệt

Rất nhiều người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo đẹp một cách lung linh

kỳ ảo và đầy ma mị Sắc đẹp của họ là hiện thân cho nguồn sống, sự thanh khiết, tính

lý tưởng và sự tự do tuyệt đối Người đàn bà Âu Lạc (trong truyện Hành trang của

người đàn bà Âu Lạc) là hiện thân cho vẻ đẹp tinh khiết của vũ trụ trong thuở hồng

Trang 25

hoang, với cơ thể căng tràn sức sống và tâm hồn ngây thơ chân thật hồn nhiên, thỉnh thoảng nàng lại nghển cao “cái cổ xinh đẹp” nhìn ra tứ phía tìm kiếm những sinh linh khác trong vũ trụ cũng đẹp đẽ và quyến rũ như nàng để cùng bầu bạn Nữ hoàng Pháp

luật (trong truyện Nữ hoàng cô đơn) mang trong mình vẻ đẹp lộng lẫy, huy hoàng của

vầng dương buổi sáng, nàng là hiện thân cho công lý và cũng chính là sự bất tử

Dung mạo của Ngạn La (Giàn thiêu) thì đầy vẻ “xa xăm cô tịch” trong thế giới hiện

hữu khắc nghiệt, không ai có thể sở hữu được nàng, nàng mãi mãi vẫn là cô bé bắt cua ngây thơ của tuổi 13 với những bài đồng dao êm ả Nhuệ Anh với nét buồn đa

đoan luôn là nỗi ám ảnh cho bất kỳ người đàn ông nào nhìn thấy Còn Sải (Con dại

của đá) mang vẻ đẹp của núi rừng vừa hoang sơ vừa mạnh mẽ với những khát khao

cháy bỏng Những người phụ nữ hiện đại như Thuận, Trang, Phương… mang vẻ đẹp

trong cái nhìn chiêm ngưỡng của người khác giới và bạn đọc, xen vào những trang viết về bi kịch của con người những khoảnh khắc thăng hoa của tình yêu cái đẹp Họ đem đến sức sống tươi trẻ cho những trang văn của Võ Thị Hảo, khiến cho hình tượng con người trở nên lung linh và căng tràn sức sống Trong cái nhìn khám phá về chính những con người cùng giới, Võ Thị Hảo đã phô bày tất cả vẻ đẹp của người phụ nữ như một sự tự nhìn ngắm đầy say mê và ngưỡng mộ

“Thiên tính nữ” còn thể hiện ở tinh thần vị tha, sự nhân hậu bao dung và đức hi sinh của người phụ nữ Đó là vẻ đẹp mang tính truyền thống, tiềm ẩn nguồn sức mạnh dồi dào mà rất nhiều người (trong đó có cả phụ nữ) đôi lúc ngộ nhận như một điểm yếu gây cản trở cho sự vươn lên của phụ nữ Võ Thị Hảo đã nhìn thấy sức mạnh của tố chất này trong rất nhiều chân dung, nó khiến cho nhân vật của chị dù có nghèo hèn, ít học, quê mùa cũng xứng đáng nhận được sự trân trọng của đọc giả và những

người khác giới Lòng nhân hậu, chất phác của Ả Tuynh (Dệt cỏ) luôn khiến cho một

công chức như Thân cứ phải xót xa, day dứt Thân luôn thấy mình bội bạc với ả vì

những lời hứa suông mà ả không bao giờ hờn giận Đọc truyện Mắt miền Tây người

ta có thể trách Hải vì sao cứ phải bao dung mãi với cái gã đàn ông luôn luôn bội bạc, nhưng người ta vẫn sẽ đồng cảm với chị, cảm thông cho chị bởi lòng trắc ẩn của chị đối với người thân của gã – nỗi bận lòng duy nhất khiến chị phải cưu mang anh ta

Trang 26

Nhiều người lúc đầu có thể ngạc nhiên vì sao người vợ cả trong truyện ngắn Chuông

vọng cuối chiều có thể mở lòng đón nhận người tình của chồng, sẵn sàng chăm sóc

chị ta và đứa con rơi của chồng mình Nhưng những giọt nước mắt thấu hiểu của cô con gái khi đã trưởng thành chính là câu trả lời đầy đủ nhất cho sự thấm thía về tấm lòng vị tha của mẹ, bởi như bà mẹ đã nói, dù sao cũng cùng chung một kiếp đàn bà, cũng đều là những người mẹ, những người phụ nữ biết yêu chồng thương con Đó mới chính là sức mạnh đích thực của người phụ nữ

Có thể thấy, người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo luôn là những con người khát khao tình yêu và hạnh phúc Trái tim họ dâng hiến trọn vẹn cho tình yêu

dù có phải trắc trở, dù có lúc bị dối lừa, dù phải lựa chọn sự cô đơn Họ luôn khát khao một bến bờ hạnh phúc Nhưng lớn lao hơn có lẽ là ý thức mang lại hạnh phúc cho người khác ở họ Đây là một tố chất rất đặc biệt thuộc về “thiên tính nữ” Nó khiến cho những chân dung nhân vật nữ trở thành công cụ đắc lực để Võ Thị Hảo kí thác những tư tưởng quan trọng, là chìa khóa để nhà văn mở cái nút thắt cho rất nhiều câu chuyện kể Bằng bản năng yêu thương của mình những người phụ nữ này đã mang đến sự cứu rỗi cho cuộc đời khắc nghiệt, sự cứu rỗi đầy tính nhân văn Chính những Nhuệ Anh, Ngạn La với bản năng sống và yêu mãnh liệt đã tưới tắm sự thanh

khiết và tươi mát lên cái không khí chết chóc và thù địch của Giàn thiêu Chính sự

xuất hiện của cô gái tuổi trăng rằm với đôi mắt đầy tình yêu thương khi đối diện với

linh hồn cụt đầu trong Đêm Vu Lan đã giải đáp cho câu hỏi suốt mấy trăm năm của

linh hồn người đàn ông mải mê chinh chiến, giúp họ siêu sinh và tìm lại được những thân thể vẹn nguyên Chính cuộc đời đầy đau khổ và bất hạnh cũng như cái chết tức

tưởi của người đàn bà bị bệnh hoại huyết trong Biển cứu rỗi đã làm cho người đàn

ông nhận ra được bi kịch của đời mình Chính sự quên mình của người con gái đêm

đêm tết tóc cầu nguyện cho người yêu mà chàng trai cựu binh trong Dây neo trần

gian mới neo lại được bến đời… Chính vẻ đẹp tận tụy dịu dàng và tình yêu quên mình của những người phụ nữ mà thế giới này còn đầy ắp những niềm tin tốt đẹp ở con người

Nhìn chung, người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo dù có là “những thân phận bé mọn”, trải qua lắm thăng trầm, dang dở nhưng ở họ luôn chứa đựng

Trang 27

những sức sống mạnh mẽ với khả năng “cứu rỗi” lớn lao, lung linh vẻ đẹp dịu dàng của “thiên tính nữ” Họ luôn mong tìm được cho mình một bến đỗ bình yên, một chỗ dựa để họ tựa vào suốt đời Nói như tâm sự của tác giả: “Tôi vốn là người đàn bà thích được che chở Nhưng oái oăm thay số phận không cho tôi điều đó Tôi luôn phải gánh vác những công việc của đàn ông từ khi mới lớn đến tận bây giờ (…) Nhưng trong tôi vẫn khắc khoải là mình sinh ra để làm đàn bà, mong được là “dây leo đẹp” bên một “cây đại thụ” [Suốt đời chỉ mơ một giấc]

1.3 Võ Thị Hảo – chủ thể sáng tạo giàu cá tính

Võ Thị Hảo sinh ra từ mảnh đất xứ Nghệ giàu truyền thống đấu tranh, chị bảo rằng bên trong chị luôn thường trực cái chất “ông đồ gàn” của người xứ Nghệ Có lẽ chính mảnh đất giàu truyền thống và cũng lắm khắc nghiệt này đã tạo cho chị một bản lĩnh và sự sắc sảo cần thiết để trở thành một nhà văn nữ giàu cá tính

Một người bạn văn đã viết về Võ Thị Hảo: “Mỏng manh đến điệu đà, nhạy cảm đến mức khắt khe, đó là cảm giác ban đầu về nữ văn sĩ xứ Nghệ này khi mới đọc, mới tiếp xúc Còn ẩn sâu đằng sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt

khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái” [29] Trên những trang viết, người đọc luôn nhìn thấy một Võ Thị Hảo cứng cỏi và sắc sảo trong từng lập luận, đôi lúc khá gai góc và quyết liệt, đặc biệt với những gì mà chị cho là bất công, đi ngược lại với lương tri con người Chất quyết liệt đó có lẽ bắt nguồn từ những trăn trở thường trực về số phận con người luôn đau đáu trong tâm hồn của chị Lớn lên từ ruộng nương khoai sắn, chị thấm thía cái khắc nghiệt của nghèo đói

những thân phận con người có số phận không may, bị cái nghèo bám riết Những trải nghiệm của thời niên thiếu đã tác động không nhỏ đến cách nghĩ và đánh giá về cuộc đời trên những trang văn của chị Cho nên khi nghĩ về tuổi thơ của mình, chị thường nói: “Tôi cảm ơn những kỷ niệm mà đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, vì chính chúng

đã tạo ra tôi” [29] Cách suy nghĩ này khiến cho chị dù ở hoàn cảnh nào cũng có thể thích nghi và vượt qua những đoạn trường chìm nổi của cuộc đời mình

Nhà văn Võ Thị Hảo có cuộc sống gia đình riêng nhiều lận đận, một mình chị phải cáng đáng luôn cả trách nhiệm làm mẹ và làm cha, rồi vừa phải thu vén gia đình,

Trang 28

vừa bươn chải kiếm sống Thế nhưng chị bao giờ cũng tự tin ở bản thân, dám lựa chọn và chấp nhận trả giá cho sự lựa chọn của mình Chị luôn khát khao hạnh phúc, mong cầu yên ổn, nhưng chị cũng lại là người thường xuyên phải quyết định ra đi Bởi như chị nói: “mình không phải là người thích phiêu lưu hoặc thích thay đổi mà đơn giản mình là người phụ nữ viết văn, để giữ lòng tự trọng và một trái tim luôn đập cho những điều tốt đẹp trong cuộc đời, một trái tim có quá nhiều nhạy cảm, vì vậy rất

dễ bị rớm máu thương tổn ( ) Dẫu biết cuộc ra đi nào cũng đầy bất trắc và lắm chông gai, người ngoài nhìn vào có thể cho là mình điên rồ, nhưng đó là cách giải quyết của mình từ trước đến nay Nó làm cho mình cảm thấy thanh thản, giữ được cái tôi của mình trước xô bồ đời sống có quá nhiều cạm bẫy và thói xấu Sự ra đi giúp cho tâm hồn của mình không bị cằn cỗi tha hóa, để cố gắng dù trong hoàn cảnh nào thuận lợi hay khó khăn, hạnh phúc hay bi đát thì nhân cách của mình cũng không bị tha hóa Mình sợ nếu mình ở lại, mình thỏa hiệp và sống chung với những điều mình cho là giả dối, căm ghét thì mình sẽ bị tha hóa đi lúc nào chẳng hay” [29] Với chị yêu và ghét phải thật rạch ròi là như vậy

Võ Thị Hảo còn là lớp người lớn lên khi đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, chị tận mắt chứng kiến nhiều xáo trộn của cuộc sống thời hậu chiến Rồi cũng đã từng cùng gia đình nhỏ của mình trải qua thời kỳ bao cấp đầy khó khăn, biến động, chị cảm nhận rõ sự tù túng chật hẹp của một xã hội trì trệ, kém phát triển như thế nào Tất cả những dư ba của chiến tranh và sự hỗn độn của thời cuộc đã không ngừng tác động đến chị, thôi thúc chị phải nói và viết Khát vọng tự do, dân chủ trong chị cũng trở nên mạnh mẽ, có lúc khiến chị như muốn nổ tung trên từng trang viết

Vừa là nhà văn lại vừa làm báo, xông xáo trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, chị đã chứng kiến rất nhiều những bất công ngang trái ở đời Điều đó không chỉ tác động mạnh đến tâm hồn một nhà văn, làm phong phú thêm cái nhìn của nhà văn,

mà còn giúp chị mài sắc thêm ngòi bút để đấu tranh đến cùng cho những điều chị cho

là chính đáng

tính trên từng trang viết

Trang 29

CHƯƠNG 2 : CON NGƯỜI VÀ NHỮNG BI KỊCH CÁ NHÂN

2.1 Cái nhìn nhiều phía về con người và những nội dung tự sự chủ yếu trong VXNT Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo quan tâm tới nhiều khía cạnh của con người như: Con người

và nghĩa vụ với dân tộc; Con người và hạnh phúc cá nhân; Tình yêu và sự nghiệp; Tham vọng sống nhiều kiếp của con người; Sống hưởng lạc và hành xác;

Sự thờ ơ vô cảm của con người; Tình thương của những người nghèo khổ; Hôn nhân và sự chia ly; Sự cứu rỗi của cái chết; Vấn đề tâm linh, vô thức; Con người

và hận thù; Sự tha hóa, méo mó về nhân cách con người…

Khảo sát tần số xuất hiện của các vấn đề liên quan đến con người trong văn xuôi nghệ thuật của Võ Thị Hảo, chúng tôi nhận thấy nhà văn đặc biệt quan tâm đến bốn nhóm đối tượng sau:

Những nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo là những số phận rất riêng, với những vui buồn, sướng khổ, những đớn đau và bất hạnh thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau Và nhìn chung, đó đều là những bi kịch cá nhân, những bi kịch liên quan tới thân phận con người, những thân phận bấp bênh và dễ vỡ Đó cũng chính là những nội dung tự sự chủ yếu trong văn xuôi nghệ thuật của nhà văn Võ Thị Hảo

2.2 Con người đối diện với nỗi đau chiến tranh

Khi nhu cầu nhìn lại của Văn học Việt Nam sau thời kì đổi mới trở thành một nhu cầu bức thiết, mỗi nhà văn trong tác phẩm của mình ít hay nhiều cũng đều muốn trở về với không gian của chiến tranh và số phận của những con người vừa đi qua cuộc chiến Chiến tranh, với độ lùi mười năm, hai mươi năm chưa thể đánh giá là đủ

để có thể nhìn nhận hết tất cả các mặt của nó Tuy nhiên, trong con mắt của ngày hôm

Trang 30

nay và người hôm nay, ít nhiều nó cũng đã được nhìn ngắm và đánh giá một cách bình tĩnh hơn, đa diện hơn và dân chủ hơn

Võ Thị Hảo là lớp nhà văn viết về chiến tranh với con mắt của những người cảm nhận về một xã hội Việt Nam “tan chiến” nhưng vẫn chưa “tàn chiến” Trong sáng tác của chị vẫn dành một mảng để nói về những nỗi đau của con người khi đối diện với chiến tranh, đặc biệt là thế hệ những người vừa ra khỏi cuộc chiến, trở về với cuộc sống đời thường Họ không chỉ bị tổn thương về thể xác mà còn chịu những ám ảnh đau đớn về tinh thần Phần lớn những người lính trở về sau chiến trận trong sáng tác của chị đều không thể hoặc không còn đủ khả năng để hòa nhập với cuộc sống đời thường sau những gì đã trải qua trong chiến tranh Họ thường rơi vào những bi kịch tinh thần không lối thoát Còn những người không trực tiếp cầm súng thì ít hoặc nhiều cũng bị dòng thác của chiến tranh cuốn đi Họ cũng là những con người phải đối diện với nỗi đau chiến tranh Đặc biệt là người phụ nữ Hình ảnh những người phụ nữ góa bụa cũng góp phần kéo dài nỗi ám ảnh không dứt về sự khốc liệt và bi thảm tột cùng của chiến tranh trong văn xuôi Võ Thị Hảo

2.2.1 Con người bị tổn thương cả thể xác lẫn tinh thần

Chiến tranh trong văn học cách mạng là cuộc chiến đấu vĩ đại, hào hùng, là những nung nấu đêm ngày về một quốc gia độc lập, thống nhất Có mất mát, hi sinh nhưng đó là tất yếu để giành độc lập, mọi nỗi đau riêng tư đều phải gác lại để đau cái đau chung của toàn dân tộc, vì đó là những cái lớn lao hơn

Chiến tranh trong văn học thời kì đổi mới bên cạnh cái hào hùng, vĩ đại còn có những cái rất riêng thuộc về nỗi đau và số phận của con người cá nhân Sự tàn khốc của chiến tranh, sự mất mát của chiến tranh được đo đếm một cách tỉ mỉ hơn trên những nỗi đau rất thực của con người Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, chiến tranh hủy diệt sự sống của con người một cách trực tiếp, mau chóng nhưng cũng có khi nó hủy hoại một cách từ từ, gián tiếp và tạo nên những bi kịch đau đớn

Trước hết, Võ Thị Hảo rất ít mô tả những cuộc giao tranh ác liệt trong chiến trận Nhà văn chú ý đến dấu hiệu của sự hủy diệt ngay trên cơ thể của những người lính

Trang 31

Trong Biển cứu rỗi người đàn ông từ giã đời lính trở về với một con mắt giả và

thân hình tiều tụy Vết thương cũ vẫn nhiều đêm hành hạ khiến anh mất ngủ và đau đớn không thể chịu được

Thằng Phục con trai ả Tuynh (Dệt cỏ) đi lính về vào trại thương binh với một

mảnh đạn nhỏ trong đầu và thỉnh thoảng lên cơn động kinh Năm năm sau Phục vào trại tâm thần rồi bỏ đi lang thang

Tác phẩm viết về người lính được chú ý nhất của Võ Thị Hảo là truyện Người

sót lại của rừng cười, trong đó nhân vật Thảo chính là một ca “đặc biệt” Thời gian ở

rừng của cô không dài, tính từ ngày nhập ngũ đến khi giải phóng khoảng chừng ba năm Cô lại không ra mặt trận, không trực tiếp chiến đấu, chỉ làm nhiệm vụ của một người canh giữ kho quân nhu Thế nhưng khi đã dấn thân vào cuộc chiến khốc liệt này, cô cũng không tránh khỏi sự tàn phá ghê gớm của nó

Ngày đầu tiên đến với kho quân nhu trong rừng sâu, Thảo là một cô gái “đầy sức sống, mái tóc óng mượt dài chấm gót”, mái tóc được những cô gái ở rừng “nâng niu như báu vật” Nhưng “chỉ sau hai tháng, bất chấp đủ mọi lá thơm mà đồng đội đã mang về cho gội, mái tóc Thảo chỉ còn một túm sợi mỏng mảnh xơ xác” [91, 87] Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc cô Dấu hiệu của sự hủy diệt đã hiện rõ trên cơ thể của người con gái

Dù vậy Thảo vẫn hạnh phúc hơn các cô gái khác, cô còn có tình yêu để bấu víu vào đó mà vượt qua những năm tháng cô đơn trong rừng sâu Nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, cô bắt đầu thấm thía sự hủy diệt của chiến tranh trên cơ thể mình qua ánh mắt của người yêu ngày gặp mặt: “anh ngỡ ngàng đến không thốt nổi một lời khi vừa nhìn thấy cô Đôi mắt anh lướt qua thân hình gầy gò trong bộ quân phục lạc lõng, qua làn da nhợt nhạt, mái tóc xơ xác của cô” [91, 98] “Thảo vẫn giữ được những đường nét bẩm sinh nhưng đôi mắt cô như mắt của người đang đi trong một giấc mộng dài Làn da tái xanh vì những cơn sốt rét rừng (…) và nụ cười thì thật hiếm hoi” [91, 96] Cô không còn cảm thấy tự tin vào mình nữa Một niềm mặc cảm mạnh mẽ bủa vây cô, cô biết tuổi xuân của mình đã để lại nơi khu rừng cười oan nghiệt

Trang 32

Từ mặc cảm vì diện mạo hao gầy, sức sống của tuổi thanh xuân bị mai một,

và mối dây ràng buộc giữa cô và Thành trở nên mỏng manh hơn bao giờ hết Cô tự thấy mình không còn xứng đáng với tình yêu, không còn khả năng tạo nên sức hấp dẫn đối với người yêu của mình nữa Ở hai người đã bắt đầu xuất hiện sự nhàm chán với những buổi tối thứ bảy vô vị đều đều như cái máy Để rồi bi kịch lên cao khi cô nhìn thấy người thứ ba xuất hiện, người con gái “có đôi mắt mòng mọng như nũng nịu, với làn da trắng hồng, tươi mát trẻ trung, nhìn Thành bằng ánh mắt say mê ngưỡng mộ” [91, 100] Đau đớn nhận ra Thành cũng say mê cô gái đó, Thảo cảm thấy mình trở thành vật cản, cô tự nghĩ Thành gắn bó với cô vì nghĩa chứ không có tình Cô liên tưởng đến một cuộc sống vợ chồng sau này sẽ nhàm chán và tẻ nhạt biết mấy Và cô quyết định xa Thành Từ bỏ tình yêu của mình, Thảo đã tự mình khép chặt cánh cửa hạnh phúc của đời cô

Ở khía cạnh này, tác phẩm của Võ Thị Hảo đã có điểm gặp gỡ với một số tác phẩm viết về chiến tranh sau đổi mới Khi khai thác những mất mát trong chiến tranh, nhiều nhà văn, đặc biệt là những nhà văn nữ đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tính dục của con người Theo họ thì một trong những điều khốc liệt nhất của chiến tranh

là cướp đi khả năng sinh sản của con người Rất nhiều người lính khi rời cuộc chiến

đã không còn khả năng yêu thương bởi vì cơ thể họ là những cơ thể không lành lặn

Không chỉ có cảm giác bị tổn thương về thể xác, những cơn đau đớn về tinh thần đến với họ càng khốc liệt hơn Nỗi cô đơn triền miên, nỗi ám ảnh về những cái chết, nỗi lo sợ bị nhiễm chất hóa học khiến cho cuộc sống của họ như rơi vào địa ngục

Với những cô gái ở rừng (Người sót lại của rừng cười) nỗi cô đơn đeo bám họ

như một bóng ma Ở tít trong rừng sâu, họ dường như bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài Thỉnh thoảng cũng có vài người đàn ông đến “chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hi vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến, cho các cô gái càng thấm thía nỗi cô đơn” [91, 89] Cả bốn cô đều si mê người yêu của Thảo, cái

sự si mê hộ người khác ấy “không thể hi vọng cắt nghĩa nỗi trong thời bình”, “mà chỉ

những ai đã từng trải qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang

Trang 33

cựa quậy giữa chốn giáp ranh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi” [91, 88]

Đỉnh cao của nỗi cô đơn đó là những cơn điên dại mất cả lí trí Khi phát bệnh, họ khóc cười man dại, dứt tóc và xé quần áo, lõa lồ trước mặt những người đàn ông xa

lạ Để khi tỉnh ra, họ đau đớn “khóc không ra tiếng” Họ thương cho tấm thân con

gái, tiếc cho lòng trinh bạch và tủi hổ biết bao cho số kiếp của mình Cái tên “Rừng cười” nổi danh như một nỗi ám ảnh không dứt cho bi kịch của những người phụ nữ

cô đơn này Hiên, người cứu các cô gái trong cơn điên loạn đã ghi vào trong nhật kí của mình:

Sẽ không bao giờ mình quên được những gì đã thấy ở Rừng Cười Có lẽ cảnh chết chóc còn dễ chịu hơn Ôi! Thế là sau chín năm ở chiến trường, nay tôi đã nhìn thấy ở Rừng Cười cái cười méo mó man dại của chiến tranh

Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào chiến cuộc thật khủng khiếp Tôi sẵn sàng chết hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh ấy

Tôi rùng mình khi nghĩ rằng, người yêu tôi, em gái tôi, cũng đang cười sằng sặc như thế giữa một khu rừng mênh mang nào đó” [91, 95, 96]

Câu chuyện xảy ra ở Rừng Cười thực sự đã tạo nên những tổn thương tinh thần ghê gớm cho người lính

Khác với những cô gái trong Rừng Cười, bi kịch của người lính trong truyện

Dây neo trần gian bắt đầu khi anh rời cuộc chiến với nỗi ám ảnh không dứt về trận

mưa chất hóa học trong thời gian tham chiến Chứng kiến những người bạn đồng ngũ lần lượt qua đời, anh bắt đầu bị cái chết ám ảnh vì đinh ninh rằng mình cũng bị nhiễm

độc “Anh lấy vợ nhưng không dám có con vì sợ đẻ ra một quái thai không đầu hoặc

không tay” [91, 72] Anh sống như một bóng ma, không ai hiểu anh cần gì Mỗi lúc

mường tượng ra cái cảnh những người bạn của mình “bỗng dưng ốm mòn dần rồi

chết”, “người tóp như một nắm xương khô” gương mặt anh trở nên thật đáng sợ:

“những tia sáng chập choạng trôi dạt trong mắt anh như lửa ma trơi” [91, 77] Anh

tìm đến với rượu “Nhưng chẳng còn gì có thể làm cho gương mặt sầu thảm dìm

trong rượu của anh sáng lên được một chút” [91, 76] Anh tìm đến với thơ Những

bài thơ của anh thì như “lời những kẻ đang nằm dưới mồ và kể vọng lên trần thế

những cảm giác của cái thế giới bị chôn vùi ấy” [91, 77] Hình như anh chỉ còn hai

Trang 34

việc: làm thơ và chờ chết Người đàn ông này giống như một con thuyền không còn một cái dây neo nào, anh ta không biết phải bám trụ vào đâu cho nên cứ trôi lững lờ, sống dật dờ theo ngày tháng

Nói về chiến tranh trong văn học sau 1975, Võ Thị Hảo đã gặp gỡ với Bảo Ninh, Dương Hướng, Chu Lai, Lưu Minh Sơn… trong việc đề cập đến những đau thương mất mát và những hệ lụy của nó trong thời hậu chiến Tuy nhiên ở tác phẩm của Võ Thị Hảo, những di chứng của chiến tranh không chỉ dừng lại ở nỗi đau, mà còn như một tác nhân sâu xa hình thành nên những bi kịch nối tiếp của con người

Người lính trong tác phẩm của Võ Thị Hảo thường không rời cuộc chiến trong những tấm huân chương chói sáng, không trở về trong cái không khí tưng bừng rực

rỡ cờ hoa Dù mang danh chung là những người chiến thắng, nhưng với cá nhân họ,

có khi, ngày trở về chính là ngày đón nhận thất bại cay đắng nhất và là sự khởi đầu cho những chuỗi bi kịch của cuộc đời

Người đàn ông trong Biển cứu rỗi là một bi kịch như thế “Số phận không dành

cho anh người đàn bà bạc tóc chờ chồng” [91, 40] Ngôi nhà của anh trở thành “ngôi nhà bên đường chiến tranh” Vợ anh trở thành người phụ nữ qua đường, những giọt

nước mắt đón anh về không phải là “những giọt nước mắt sung sướng dành cho ngày

gặp mặt” Con gái anh trở thành một đứa trẻ mới tí tuổi đầu mà giọng nói đã có hơi

hướng của sự “đổi chác” Trong ngôi nhà của anh là những đứa trẻ khác bố, ra đời từ

“ những cuộc giao hoan vội vã thoảng mùi chết chóc trước khi đi vào họng tử thần”

ai, nỗi đau đớn trong anh trở thành một sự phẫn uất tột cùng, “hai bàn tay anh bỗng

thèm máu, anh chỉ muốn bóp chết tất cả - những đứa trẻ lạc loài đói khát, cả người

vợ phụ bạc chỉ còn hai con mắt, cả hơi sữa đổi chác kia” [91, 40] Nhưng cái gớm

ghét trong lòng anh còn mạnh hơn tất cả, “anh rũ xuống nền nhà và nôn ọe ra những

bụm nước trong vắt”, anh trở nên “gớm ghét đàn bà và nhân thể gớm ghét luôn cả đồng loại” [91, 40] Ở anh chỉ còn tồn tại sự uất hận

Người đàn ông này là một trong rất nhiều những số phận đã trải qua cuộc chiến Chiến tranh là số phận của họ, cái số phận mà bản thân những người như họ không có sự lựa chọn và hiển nhiên nỗi đau của họ cũng chính là nỗi đau chung cho

Trang 35

bất cứ dân tộc nào lâm vào cảnh chiến tranh Một lần nữa, văn học viết về chiến tranh sau 1975 đã có chung tiếng nói: ở góc độ con người, chiến tranh là mất mát và hủy diệt Những vết thương mà nó gây ra cho thể xác và tinh thần của con người là rất lớn, có khi trở thành nỗi ám ảnh khủng khiếp cho những người đã trải qua Điều quan trọng hơn là họ sẽ không thể nào hòa nhập với cuộc sống đời thường sau khi rời cuộc chiến Đó lại là những bi kịch tiếp nối cuộc đời của họ

Những đau đớn về thể xác cùng những chấn thương tinh thần khiến cho người trở về từ cuộc chiến trong sáng tác của Võ Thị Hảo không thể hòa nhập ngay với cuộc sống đời thường Đối diện với những bi kịch của cuộc đời mình, họ thường chọn cách “chạy trốn”

Sau những giấc mơ khủng khiếp tỉnh dậy “Thảo thấy mình thật là quỷnh, thật

là khó nhập cuộc” Bởi khi nhìn sang những cô sinh viên bên cạnh, họ cũng đang

mơ, nhưng “giấc mơ của họ khác xa với giấc mơ của đồng đội cô hồi còn sống” [91,

ra khỏi cuộc sống của cộng đồng Từ chỗ khó nhập cuộc với bạn bè cùng giới, Thảo chạy trốn luôn khỏi tình yêu và hạnh phúc của đời mình Cô làm mọi cách để xa Thành, ngay cả việc bịa ra một người tình phương xa với những lá thư tự viết, tự gửi cho mình và chưa bao giờ được mở Để rồi trong đêm tân hôn của người yêu, mình

cô xuôi tàu phiêu bạt và tan biến khỏi cuộc đời Thành

Người đàn ông trong Biển cứu rỗi thì trốn chạy ra đảo gác đèn, nơi quanh năm chỉ có

gió và sóng biển thét gào, anh muốn trốn tất cả loài người, sống một cuộc đời hoang dã, anh

cảm thấy hả lòng “khi không phải nhìn thấy một ai”, “anh dự định sẽ ở suốt đời trên đảo để

tránh xa đồng loại nhẹ dạ, phản trắc và đầy tội lỗi đã tước đi của anh chút ham hố muốn sống trên cõi đời” [91, 41] Anh trở thành một con người khắc nghiệt, khắc nghiệt ngay với

Trang 36

người khác nhau dưới tay kiếm của anh” [93, 80] Niềm say mê đó chỉ dừng lại cho đến khi

anh ta nhận ra sự ghê sợ trong mắt của người vợ, anh ta chỉ còn biết “nức nở gầm lên rung

chuyển cả căn phòng” rồi “xách kiếm trên tay bỏ đi biệt xứ” [93, 83]

Dường như cùng với trạng thái khó hòa nhập, con người đồng thời cũng bắt đầu có dấu hiệu tha hóa Biểu hiện rõ nhất trong truyện của Võ Thị Hảo là sự méo mó về nhân cách của con người Đó cũng là một trong những bi kịch của con người khi đối diện với nỗi đau chiến tranh

Đa số những nhân vật đi ra từ cuộc chiến trong sáng tác của Võ Thị Hảo đều trở nên trơ lì và vô cảm

Người đàn ông trong Hồn trinh nữ trở thành một kẻ có khuôn mặt không biết cười với

ánh mắt lạnh lẽo như ánh thép Ngay cả trong những giây phút nói với vợ những lời ái ân

“khóe miệng anh vẫn mím chặt khắc nghiệt” và cái nhìn của anh ta thì “lạnh lẽo như cái nhìn của thần Chết” Càng cố gắng để cười “anh ta lại thêm vẻ dữ dằn đe dọa của một con

bắt đầu một nụ cười như thế nào” “Khó nhọc lắm anh ta mới nhớ ra rằng khi cười, người

ta phải để lộ ít nhất là một hàm răng Anh nhếch môi để lộ hai hàm răng chắc khỏe Nhưng anh quên rằng, khi người ta cười chính đôi mắt cười trước, cái miệng cười sau.(…) Mà đôi mắt muốn cười trước hết trong lòng phải cười trước”[93, 82] Lòng anh ta đã hóa đá, làm

Người đàn ông trong Biển cứu rỗi sau khi ra sống ở đảo gác đèn thì trở thành một con

người hoang dã, anh mất thói quen đi dép và xa lạ với chính giọng nói của mình, giọng nói của anh “nó nghe như là tiếng gió hú” Những đêm bị hành hạ bởi những vết thương của chiến tranh, anh nổi cơn điên loạn, “ngồi thu lu, đầu gối quá tai, tay cầm gậy, rình đập nát bét dăm chục con cua vừa mới lóp ngóp lên khỏi mặt nước trong một đêm cua động rồ, khiến cho đảo đèn tanh sặc mùi cua chết đến ba tháng ròng” [91, 37]

Có thể thấy, không chỉ trở thành những con người trơ lì vô cảm, trong những người đàn ông này, tính hiếu chiến cũng như bản chất dã thú trong người họ đã được gieo và phát

lộ mạnh mẽ qua chiến tranh Lao vào những cuộc chém giết mất còn, tính người trong họ dần dần bị lấn át, nhiều lúc họ trở thành những kẻ khát máu lúc nào không hay

Qua những nhân vật này, nhà văn dường như cũng muốn cất lên tiếng nói cảnh báo về

sự cấp thiết phải bảo vệ lương tri và nhân tính của con người Đồng thời một lần nữa khẳng định rằng: chiến tranh thực sự quá tàn khốc Chiến tranh đã tàn, nhưng nỗi đau thể xác và

Trang 37

những tổn thương tâm lí đối với những người còn sống thì mãi mãi không thể nào nguôi ngoai Nó ám ảnh và bám víu cái dân tộc này như những bóng ma cụt đầu không thể nào siêu thoát Linh hồn của những bóng ma đó hàng năm vẫn trở về trong những đêm Vu Lan, vất vưởng lang thang đi cầu xin lời giải thiêng cho số kiếp Và máu của những người chết trận thì vương vãi tích tụ từ năm này qua tháng khác, bết lại thành cái màu nâu của đất, tưới tắm cho quê hương này Khám phá số phận của những con người đã trải qua cuộc chiến, Võ Thị Hảo đi tìm lời giải cho những nỗi đau và bất hạnh của con người Việt Nam Với chị, chiến tranh là nỗi đau, là số phận mà không bất cứ dân tộc nào muốn gánh trên vai mình

2.2.3 Nhiều chiến công thầm lặng đã bị lãng quên

Bên cạnh nỗi đau chết chóc và mất mát trong chiến tranh, nhiều số phận trong sáng tác

của Võ Thị Hảo còn phải chịu đựng những bất công vô lí Lão Nhát (Vầng trăng mồ côi) và gia đình của ả Tuynh (Dệt cỏ) là những số phận điển hình

Đúng với cái tên, lão Nhát (Vầng trăng mồ côi) là một kẻ nhát gan, lão rất sợ tiếng

máy bay Không hiểu lão đã làm gì mà dân làng ai cũng nghi ngờ lão là tên chỉ điểm, người

với con chó Ghẻ trong một túp lều cỏ cô quạnh Đêm đó làng bị tấn công, một đoàn xe tải đạn có nguy cơ rơi vào tầm ngắm của chúng Chính giây phút đó, lão Nhát đã tự tay châm

tiêu cũ, đồng loạt bay đến đám cháy và trút tất cả những quả bom lúc lỉu xuống đỉnh đồi”

Nhát bị đạn phạt ngang người, khi chết, hai tay lão vẫn còn ôm đầu, cổ rụt vào, “người ta bảo nhau: lão chỉ điểm đến chết mà vẫn còn nhát” Cậu bé Nhạ, người chứng kiến cái chết của lão Nhát đã nói mãi với người làng rằng chính lão Nhát đã tự tay đốt lều của mình để

cứu đoàn xe và dân làng, nhưng chẳng ai tin, phần lớn người ta xoa đầu cậu bảo “Mi thì biết

tích “đưa chiếc xe chở đầy đạn dược lao qua bom đạn một cách thần kì” Người ta viết cho

anh chàng nông dân chất phác đó “một bản thành tích kêu như chuông” và “anh ta đã đọc

rất nhiều lần trước công chúng”, vừa đọc vừa ngơ ngác “sao thế nhỉ?” Nhưng mà anh

không dám nói ra, bởi vì anh thấy “được làm anh hùng thật dễ chịu ngoại trừ việc cứ bị

phỏng vấn luôn luôn và cứ phải “nhớ lại tình huống như mẫu” luôn luôn”[91, 35]

Bi kịch của lão Nhát là bi kịch của một con người bị đồng loại xa lánh, phỉ nhổ, bị những thành kiến của đồng loại hành hạ tủi nhục, ngay cả hành động dũng cảm và cái chết

Trang 38

đau đớn của lão cũng bị phủ nhận bởi thói hư vinh của con người Câu chuyện về lão Nhát

có lẽ không phải là duy nhất trong xã hội Việt Nam trong và ngay cả sau chiến tranh Nhà văn đã đánh động đến lương tâm con người và mạnh dạn lên tiếng đòi công lí cho những người bị đối xử và phán xét thiếu công tâm

trai ả Tuynh, là cả một quá trình gian nan “Hàng mấy chục lá đơn gửi từ xã lên huyện

Huyện nhận được lá đơn thứ năm thì trả lời lên mà hỏi tỉnh Tỉnh im lặng cho đến lá đơn thứ bảy thì nói Trung ương chưa gửi về Hỏi Trung ương, Trung ương nói do tỉnh chưa đưa danh sách Hỏi tỉnh, tỉnh bảo đã đưa mà Trung ương làm thất lạc Nhờ “tay trong” xem trộm danh sách ở huyện, thấy có tên thằng Phục và có người kí lĩnh hàng tháng Nhờ huyện truy xem đó là ai thì nói chữ kí lằng nhằng không rõ Và tỉnh bảo thắc mắc làm gì, tỉnh nhận được hàng mấy trăm đơn mỗi năm mà đã giải quyết được đâu vì đang điều tra xem có phải thằng Phục đúng là bị thương khi đang chiến đấu hay vào lúc đào ngũ”[94, 20, 21] Nghe

mà chua xót và căm phẫn Công lao của những thương binh trong chiến trận như Phục

không được xem xét bởi sự vô tâm của những người thi hành chính sách Còn ả Tuynh thì

đến khi lưng còng, tóc trụi, đến giờ phút sắp chết vẫn còn mơ về món tiền trợ cấp chưa đòi được

Phanh phui những sự thật có thể khiến lương tâm của con người căm phẫn, nhà văn cũng muốn cất lên tiếng nói đòi công lí cho những kiếp người bất hạnh

đau chiến tranh

Sau cuộc chiến, những bi kịch của con người khi đối diện với chiến tranh dường như vẫn còn đeo bám, không chỉ với chính bản thân người lính mà cả những người thân của họ

Đặc biệt là những người phụ nữ Được ví như những hiền nhân “không tan trong thời gian,

họ là những người đầu tiên kêu gọi nhân loại hãy phỉ nhổ sự đẫm máu, bằng bản năng mềm yếu đầu tiên của giống yếu Nhưng khi cuộc chiến xảy ra, thì họ lại chính là những người nhoi ra khỏi nó muộn nhất, và gần như không bao giờ họ nhoài ra được cái vũng đẫm máu ấy”[92, 71,72]

Trong sáng tác của Võ Thị Hảo, những người phụ nữ có chồng hoặc người thân đi chinh chiến hầu hết đều trở thành những người phụ nữ góa bụa, hoặc không còn khả năng sống hạnh phúc bên cạnh người đàn ông vừa trở về từ cuộc chiến

Trang 39

Trong truyện ngắn Hồn trinh nữ có đến ba thế hệ người phụ nữ chờ chồng đi trận

trong một gia đình Hai kiếp thứ nhất, hai người đàn ông lần lượt ra đi nhưng người về thì

chỉ một, người đàn bà đón chồng mà chỉ biết khóc thầm trong dạ: “Cân đai, mũ áo, bổng

lộc vua ban… tất cả đều đẹp, nhưng đầu ta và ông ấy đã ngã màu sương”[92, 74, 75] Tuổi

xuân và hạnh phúc của họ thật sự đã tàn phai Kiếp đàn bà thứ ba ra đời, cả nhà đã quyết sẽ không gả nó cho người lính nào nữa cả, bởi họ đã quá ngán ngẩm cái cảnh đợi chờ Vậy mà rồi cô bé cũng đã yêu và chờ đợi một người đi chiến trận suốt mười bảy năm trời để rồi trả

về cho cô là một người đàn ông có “gương mặt không biết cười” và “đôi bàn tay đầy máu”

Người đàn ông không thể hòa nhập với cuộc sống trong đêm tân hôn đã bỏ đi biệt tích Cô gái trở thành nàng trinh nữ lỡ thì, sống âm thầm như cái bóng Nàng chết mà vẫn là trinh nữ, rồi linh hồn hóa thành cây cỏ gai xấu hổ ở bên đường, loài hoa với những nụ hoa tròn màu tím buồn man mác như cuộc đời nàng

Trong truyện Trận gió màu xanh rêu người phụ nữ lấy chồng chẳng được mấy hôm là

anh ra trận, sau hai tháng đã có giấy báo tử, lúc này chị đã có mang Bao năm trôi qua, con gái đã mười lăm, mười sáu tuổi chị vẫn chưa tin là anh chết vì hài cốt của anh vẫn còn đang thất lạc Cho đến một ngày, sau bao cuộc tìm kiếm, cứ ngỡ đã tìm được anh, nào ngờ đào

mộ lên chỉ thấy xác của một con thú rừng, chị ngất xỉu hóa điên hóa dại và bỏ làng đi lang thang Đến làng Đẽo, nhìn thấy hàng đoàn người phụ nữ góa của làng Đẽo, đầu chít khăn tang, với những mâm cỗ và khói nhang nghi ngút trong “ngày giỗ chung” chị mới giật mình choàng tỉnh cơn điên Rồi cuối cùng “nhập cư” luôn vào cái làng đó, ngôi làng của những người phụ nữ góa bụa, nói như Đoàn Cầm Thi, “thay vì yêu đương và sinh đẻ họ lại suốt ngày ngồi tạc những tượng đá mang dáng khum khum của đầu và vai người, đó là những chiếc bia mộ”[73] Họ bất hạnh biết là bao

Hình ảnh những người phụ nữ này còn xuất hiện ở một vài truyện khác, trở thành một

ám ảnh về chiến tranh trong cái nhìn của Võ Thị Hảo Chiến tranh đã cướp đi những người

đàn ông, đồng nghĩa với việc cướp đi hạnh phúc có một mái ấm, hạnh phúc được làm vợ làm mẹ của những người phụ nữ Những bi kịch của cuộc đời họ chính là nỗi mất mát ghê gớm của dân tộc Việt Nam

Số phận con người khi đối diện chiến tranh là một đề tài quen thuộc trong văn học nhưng qua sáng tác của Võ Thị Hảo người đọc vẫn tìm thấy nhiều điều mới mẻ Cái mới ở đây không chỉ xuất phát từ tư duy và quan niệm sáng tác mà còn bởi tấm lòng biết nhìn thẳng vào nỗi đau để đồng cảm sẻ chia với những mất mát, những bi kịch của con người

Trang 40

Chân dung những người lính trong văn xuôi nghệ thuật Võ Thị Hảo không lấp lánh những ánh hào quang, mà gẫn gũi, chân thực và có khi trần trụi đến khốc liệt nhưng vẫn dành được

sự trân trọng, sẻ chia nơi người đọc

Một lần nữa, văn chương của Võ Thị Hảo cùng với văn học sau đổi mới đã góp thêm cái nhìn khác về bản chất của chiến tranh, đó không hẳn là cái nhìn thiên lệch khi nhà văn chỉ mô tả toàn những mất mát, đau thương, những bi kịch cuộc đời Nó là tiếng nói bổ sung cho văn học viết về kháng chiến, một sự bù đắp thật sự xứng đáng cho những đè nén, dồn tụ trước đây Bởi nó chính là sự thật cuộc đời, một cuộc đời luôn có niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và khổ đau, nó chẳng cần ai phải tô hồng hay bôi đen

2.3 Con người tham vọng và tha hoá

2.3.1 Con người tham vọng

Người ta thường hay nhầm lẫn giữa “tham vọng” và “khát vọng” ở chỗ cả hai đều là những mong muốn gắt gao Tuy vậy hai khái niệm này có ranh giới tương đối rõ ràng, khát vọng cũng là những mong cầu, những ao ước lớn lao nhưng đó là những ao ước mà con người có thể đạt được trong khả năng của mình, là động lực giúp con người tiến bộ và làm cho xã hội phát triển Còn tham vọng là “ham muốn trên sức mình”, nói rõ hơn đó là lòng ham muốn, mong ước quá lớn, thường vượt xa khả năng thực tế, khó có thể đạt được Tham vọng thường khiến con người bất chấp tất cả để đạt được cái mình muốn, kể cả thỏa hiệp với cái xấu, sẵn sàng làm điều xấu và có thể trở thành nô lệ cho cái ác

Trong thế giới nghệ thuật do Võ Thị Hảo dựng nên, con người thường hay hoang mang trước những chân giá trị của cuộc sống Mọi chuẩn mực dễ trở nên méo mó trong một thế giới xô lệch đa chiều Khi những ham hố vô biên trỗi dậy, con người lao vào những cuộc kiếm tìm các yếu tố giúp họ thỏa mãn những mong cầu đang ngày một lớn dần cả về vật chất lẫn tinh thần Và đến khi những mong cầu đó trở thành không giới hạn, biến thành những tham vọng điên cuồng thì cũng chính là lúc họ phải trả giá bằng những bi kịch của cuộc đời mình

2.3.1.1 Tham vọng được sống nhiều kiếp

Nhân vật Từ Đạo Hạnh trong tiểu thuyết Giàn thiêu có thể xem là một bi kịch

lớn của con người trong bể trầm luân vô tận Từ đã trải qua hai kiếp nhân sinh và có thể nói là đã sống qua ba cuộc đời nhưng vẫn cứ loay hoay trong những mong cầu không bao giờ thỏa mãn

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy An (2007), Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn nữ, luận văn Thạc sĩ văn học, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn nữ
Tác giả: Trần Thúy An
Năm: 2007
2. V ũ Tuấn Anh (2001), “Đời sống văn học đương đại”, Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn học đương đại”, "Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định
Tác giả: V ũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
3. Tuấn Anh (2008), “Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật”, Tạp chí Sông Hương, (236) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học tính dục và cuộc phiêu lưu giải phóng thiên tính nữ trong văn học nghệ thuật”
Tác giả: Tuấn Anh
Năm: 2008
4. Lại Nguyên Ân (biên soạn) (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
5. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
6. Lại Nguyên Ân (2009), “Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại”, Mênh mông chật chội (Phê bình – Tiểu luận), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại”, "Mênh mông chật chội (Phê bình – Tiểu luận)
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2009
7. Lại Nguyên Ân (2009), “Tiểu thuyết và lịch sử” (Nhân đọc “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo)”, Mênh mông chật chội (Phê bình – Tiểu luận), Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và lịch sử” (Nhân đọc “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo)”, "Mênh mông chật chội (Phê bình – Tiểu luận)
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2009
8. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca (nhiều tác giả dịch và giới thiệu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Năm: 1999
9. Trần Lê Bảo (2005), ““Liêu trai” hiện đại Việt Nam”, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Liêu trai” hiện đại Việt Nam”, "Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
10. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
11. M. Bakhtin (1992), Lí luận, thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận, thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
12. Gordon E. Bigelow (1961), “Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh”, Cao Hùng Lynh dịch, đăng trên College Enghlish , số tháng 12, bản điện tử: talawas.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh”, Cao Hùng Lynh dịch, đăng trên "College Enghlish
Tác giả: Gordon E. Bigelow
Năm: 1961
13. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỉ 80 đến nay”, Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỉ 80 đến nay”, "Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
14. Thảo Chi (thực hiện) (2004), “Trách nhiệm của người viết là không né tránh sự thật”, Báo Người lao động, nguồn: nld.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm của người viết là không né tránh sự thật”, "Báo Người lao động
Tác giả: Thảo Chi (thực hiện)
Năm: 2004
15. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học – Lý luận và ứng dụng , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học – Lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
17. Trần Thị Kim Dung (2010), “Đi tìm thân phận người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo”, Tạp chí điện tử của Sở thông tin và truyền thông Đà Nẵng, Chuyên mục Câu chuyện truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm thân phận người phụ nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo”, Tạp chí điện tử của Sở thông tin và truyền thông Đà Nẵng, Chuyên mục
Tác giả: Trần Thị Kim Dung
Năm: 2010
18. Bùi Tiến Dũng (thực hiện) (2010), “Nhà văn Võ Thị Hảo: Phụ nữ cần thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến”, Báo thế giới mới, Nguồn:tgm007.wordpress.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Võ Thị Hảo: Phụ nữ cần thoát khỏi những nô lệ, tự ti và định kiến”, "Báo thế giới mới
Tác giả: Bùi Tiến Dũng (thực hiện)
Năm: 2010
19. Nguyễn Đăng Điệp (2006), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại, Hội thảo quốc tế 2006, Nguồn: Việnvănhọc.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2006
20. Hoàng Dĩ Đình (2008), “Ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm Hồn trinh nữ - điểm nhìn và nhân xưng”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN , (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm Hồn trinh nữ - điểm nhìn và nhân xưng”, "Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Tác giả: Hoàng Dĩ Đình
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w