Để lý giải cho quan điểm của mình, khi nhận xét về tập truyện ngắn Phấn thông vàng, nhà nghiên cứu tìm thấy cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu trong truyện ngắn Phấn thông vàng " Đó là tấ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÙI TH Ị THU THỦY
VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA XUÂN DIỆU
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Trang 3MỤC LỤC
M ỤC LỤC 3
D ẪN NHẬP 6
1 - LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI 6
2-GI ỚI HẠN ĐỀ TÀI 7
3-L ỊCH SỬ VẤN ĐỀ 8
3.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN NGẮN 8
3.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KÝ CỦA XUÂN DIỆU 13
3.4 Nhận định chung về những công trình nghiên cứu, phê bình 16
4 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
5- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 18
6- C ẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 18
CHƯƠNG 1: VĂN XUÔI CỦA MỘT NHÀ THƠ 20
1.1.XUÂN DI ỆU - NHÀ THƠ VIẾT VĂN XUÔI 20
1.1.1.Xuân Diệu viết văn xuôi khi nào ? 20
1.1.2.Nguyên nhân nào khiến Xuân Diệu viết văn xuôi ? 24
1.1.2.1.Sáng tác để kiếm sống ? 24
1.1.2.2.Sáng tác do ch ịu ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp - văn hoá thời Ph ục Hưng: 25
1.2.VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA XUÂN DIỆU MANG TÂM HỒN LÃNG MẠN CỦA NHÀ THƠ: 32
1.2.1.Cách nhìn cuộc sống: 34
1.2.2.Cách nhìn con người: 36
1.2.3.Cách sống: 39
Trang 41.2.4.Bộc lộ cái "tôi" nội tâm của người nghệ sĩ 44
1.3.VĂN XUÔI CỦA XUÂN DIỆU LÀ VĂN XUÔI CỦA MỘT NGƯỜI NGHỆ SĨ ĐI TÌM CÁI ĐẸP 47
1.3.1.Quan niệm của Xuân Diệu về cái đẹp: 47
1.3.2.Hành trình đi tìm cái đẹp của Xuân Diệu: 50
CHƯƠNG 2: TRUYỆN NGẮN CỦA XUÂN DIỆU 53
2.1.C ẢM HỨNG, ĐỀ TÀI VÀ CHỦ ĐỀ: 53
2.1.1.Cảm hứng: 53
2.1.2.Đề tài và chủ đề: 56
2.2.C ốt truyện, nhân vật và kết cấu: 62
2.3.NGÔN NG Ữ 69
CHƯƠNG 3: KÝ CỦA XUÂN DIỆU 75
3.1.C ảm hứng, đề tài và chủ đề 76
3.1.1.Cảm hứng 76
3.1.2.Đề tài và chủ đề 80
3.2.Nhân v ật, kết cấu: 91
3.2.1.Nhân vật: 91
3.2.2.Kết cấu: 94
3.3.Ngôn ng ữ 96
3.3.1.Giọng điệu 97
3.3.2.Biện pháp nghệ thuật tu từ: 101
3.3.2.1.So sánh: 101
3.3.2.2.Đồng nghĩa kép: 103
3.3.2.3.Phép l ặp (phép điệp): 103
Trang 5K ẾT LUẬN 107
PH Ụ LỤC 111 THƯ MỤC THAM KHẢO 122
Trang 6tình" Chế Lan Viên tìm thấy sự nổi trội của Xuân Diệu trong lĩnh vực bút ký và gọi ông là
"Ông chúa bút ký " Riêng Lưu Khánh Thơ đã khẳng định ông là người có "đôi mắt xanh" trong
phê bình, tiểu luận
Tuy vậy, đọc lại những bài viết về Xuân Diệu, ta thấy hầu như các nhà nghiên cứu chỉ xoay quanh về sáng tác thơ, đặc biệt là thơ tình của Xuân Diệu Còn vãn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu, chỉ được nhìn nhận rải rác, chưa hệ thống, chưa trọng điểm mà chỉ coi như là sự
tô điểm cho ngòi bút tài năng đa dạng của ông Phải chăng ông chỉ có một tập truyện ngắn, chưa đủ để thẩm định? Phải chăng nó là một dạng văn xuôi ngọt ngào giàu âm thanh, màu sắc?
Vậy vấn đề đặt ra là: Phải chăng Xuân Diệu chỉ thành công trong lĩnh vực thơ ca mà ít thành công trong sáng tác văn xuôi nghệ thuật? Phải chăng văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu
chỉ là một dạng thơ văn xuôi mà thôi? Với suy nghĩ trên, chúng tôi thấy đây là một đề tài đáng
để nghiên cứu Luận văn này của chúng tôi mong muốn làm rõ những đóng góp của Xuân Diệu cho văn xuôi nghệ thuật Việt Nam
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy: văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu giàu
chất thơ, chất trữ tình Đó là kiểu văn được viết bằng cảm xúc, ý tưởng từ những nỗi niềm nên
thấm đẫm chất nhân văn, màu sắc văn chương Dạy văn, học văn là quá trình khám phá, tìm
hiểu, cảm nhận cái đẹp qua những áng văn chương Đây là công việc khó khăn nhưng vô cùng
hứng thú cần phải giúp học sinh ngoài việc tiếp thu kiến thức còn phải có kỹ năng cảm thụ vãn chương Vì vậy, việc nghiên cứu này giúp chúng tôi xem xét lại, bổ sung những kiến thức còn thiếu về văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu trong quá trình giảng dạy trong nhà trường
Trang 7Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài Văn xuôi nghệ thuật cửa Xuân
Di ệu để nghiên cứu trong luận văn này
2- GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp văn chương của Xuân Diệu vừa đồ sộ về khối lượng, vừa phong phú về thể loại
và chia làm hai giai đoạn :
- Trước 1945: Xuân Diệu sáng tác chủ yếu là thơ và văn xuôi (Tập truyện ngắn Phấn
thông vàng và bút ký Trường ca) Nếu với tập "Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu đã
mang đến cho thi ca Việt Nam nhiều cái mới cùng với sự đằm thắm, nồng nàn của chiều sâu
c ảm xúc thì trong Phấn thông vàng và Trường ca dường như là nối dài, mở rộng những ý tưởng nghệ thuật mà Xuân Diệu đã nhiều lần nói tới trong Thơ thơ và Gửi hương cho
gió"(Lưu Khánh Thơ)
- Sau 1945: Xuân Diệu viết nhiều bút ký, ký sự và tiểu luận phê bình, bên cạnh vẫn tiếp
tục sáng tác thơ Những bài ký của Xuân Diệu giờ đây vẫn là những trang viết của một tâm hồn
con người ham sống, thiết tha với đời được đổi đời Có thể thấy "Xuân Diệu trải lòng mình
và g ởi gắm biết bao tình ý trong những trang viết cửa mình "( Lưu Khánh Thơ ) Vì vậy mà
Xuân Diệu vừa được coi là "người thư ký trung thành của thời đại, vừa là người nghệ sĩ" Bởi
lẽ, những trang ký ấy chứa đựng "phần hồn" những phút giây thăng hoa của cảm xúc và một
cái gì đó rất thật, rất sâu, rất Việt Nam
Qua những tác phẩm văn chương nghệ thuật của Xuân Diệu, chúng tôi nhận thấy: tuy sáng tác ở hai giai đoạn khác nhau, nhưng những tác phẩm ấy lại có nét giống nhau, thể hiện sở trường và bút pháp của Xuân Diệu
Để đạt được mục đích khoa học đã đề ra, trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu, tìm
hiểu các sáng tác về thơ và tiểu luận phê bình của Xuân Diệu, mà chỉ dùng các tác phẩm ấy để soi sáng cho nghiên cứu của luận văn Như vậy, đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi là văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu (truyện ngắn và ký ), ở cả hai giai đoạn trước và sau Cách
mạng Tháng Tám
Trang 8cứu lưu ý đến Nhưng trước Cách mạng Tháng Tám, sự tìm hiểu ấy cũng mới chỉ ở dạng phác
thảo sơ lược Sau 1945, số lượng những sáng tác văn xuôi của Xuân Diệu cũng nhiều hơn trước, và những sáng tác ấy cũng được quan tâm nhiều hơn, nhất là vào những năm sau khi nhà thơ qua đời
Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận án, sau đây chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua một số công trình nghiên cứu, phê bình có đề cập đến văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu trước và sau 1945( về truyện ngắn, ký) Tất nhiên do khuôn khổ có hạn của luận án, chúng tôi không thể xem xét được tất cả, mà chỉ đề cập đến những công trình quan trọng, theo sự nhìn nhận của chúng tôi Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ tổng kết, đưa ra một vài nhận định chung về các công trình nghiên cứu này
Để hình dung cụ thể có hệ thống những công trình nghiên cứu, phê bình có liên quan đến
luận án, chúng tôi phân ra hai loại ý kiến sau:
3.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỆN NGẮN
Trước Cách mạng Tháng Tám, Hoài Thanh- Hoài Chân trong Thi nhânViệt Nam là
người đầu tiên phát hiện ra phong cách viết văn của Xuân Diệu bên cạnh những sáng tác thơ
của ông "Lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay
người ngoại quốc võ vẽ tiếng Nam Câu văn tuồng bỡ ngỡ Nhưng cái dáng thơ bỡ ngỡ ấy chính là ch ỗ Xuân Diệu hơn người Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường
có s ẵn Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu vãn phải lung lay."(104,tr.l08)
Chỉ một thời gian sau, Vũ Ngọc Phan với tác phẩm Nhà văn hiện đại (91,tr.20) đã có một
bài viết khá dài nghiên cứu cả về thơ và văn xuôi của Xuân Diệu Đặc biệt, nhà nghiên cứu cũng đã đi sâu, tìm hiểu về tập truyện ngắn Phấn thông vàng Cảm nhận đầu tiên của Vũ Ngọc
Trang 9Phan khi đọc Phấn thông vàng khác với quan niệm của Xuân Diệu "Trong quyển Phấn thông
vàng mà Xuân Di ệu gọi là một tập truyện tiều thuyết ngắn, tôi chỉ thấy rặt thơ là thơ Không
ph ải thơ ở những câu có vần có điệu, không phải thơ ở những lời đẽo gọt, mà thơ ở lối diễn tính tình cùng tư tưởng Nó là những bài thơ trường thiên không vần, không điệu, nó là những bài thơ tự do để phô diễn hết cả cảm tưởng của tác giả về những người, những vật, tuy chỉ là
nh ững cuộc đời rất nhỏ, nhưng gợi hứng cho thi nhân rất nhiều" (96,ư.25-26)
Để lý giải cho quan điểm của mình, khi nhận xét về tập truyện ngắn Phấn thông vàng,
nhà nghiên cứu tìm thấy cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu trong truyện ngắn Phấn thông
vàng " Đó là tất cả cái náo nức, cái rùng rợn, cái thê lương trong tâm hồn một con ngươi đa
c ảm, trước những con người, những vật như Cái giây không đứt, Chó mèo hoang, Truyện cái
giường " (96,tr.25) Chính cảm hứng nghệ thuật ấy khiến cho truyện ngắn của ông “rặt thơ là
th ơ”
Về nghệ thuật viết văn, Vũ Ngọc Phan cũng thấy văn xuôi của Xuân Diệu chưa hay "Cớ
l ẽ Xuân Diệu đã chú trọng về ý nghĩa, về tình cảm thái quá, nên không nghĩ đến sự lựa lời Lời
ch ẳng qua chỉ là những dấu hiệu để ghi ý nghĩa và tình cảm, vậy cứ gì lời thanh, lời thô, lời nào phô di ễn được hết tình, hết ý, đều có thể dùng được cả đến cả những chữ rất thô bạo, ông cũng không từ Ngoài những câu thô bạo lại có những đoạn réo rắt như khúc bi ca"(96,tr.26)
Ở đây Vũ Ngọc Phan đã có suy nghĩ giống với Hoài Thanh-Hoài Chân về cách viết văn của Xuân Điệu: chưa hay, chưa chú trọng đến dùng từ và đặt câu Mặc dù vậy, cả hai nhà nghiên
cứu đều nhận thấy đó là phong cách viết văn khác người của Xuân Diệu
Có thể thấy, trước 1945, những công trình nghiên cứu, phê bình về truyện ngắn của Xuân
Diệu còn quá ít Các nhà nghiên cứu cũng còn e dè, thận trọng trong việc đánh giá truyện ngắn
của Xuân Diệu - một thể loại mới xuất hiện trong thời đại mới
Sau 1945(vào năm 1967), Mai Quốc Liên có bài viết Qua thi hào dân tộc Nguyễn
Du(126, tr.239) Trong bài nghiên cứu này, mặc dù Mai Quốc Liên chỉ chủ yếu nghiên cứu về
mảng văn xuôi phê bình của Xuân Diệu, nhưng ông cũng nhận thấy điều mà hơn hai mươi năm
trước đây, Hoài Thanh đã từng nhận xét "Cũng vì sự dồn ép của nhiệt tình mà câu văn Xuân
Di ệu ít khi mực thước Câu văn của anh bị xô đẩy, dài ngắn không thường; kể đó cũng là một phong cách trong ngôn ng ữ văn xuôi” của Xuân Diệu (126,tr.243)
Trang 10Năm 1970, Phạm Văn Diêu trong Việt Nam Văn học giảng bình, trên cơ sở bình giảng
truyện ngắn toả nhị kiều (96,tr.72), cho rằng "Văn xuôi của Xuân Diệu là cả một lối thơ trá
hình thành t ản văn Văn xuôi Xuân Diệu cũng giống như thơ ông, bát ngát một hồn thơ mơ màng Điều ấy, thấy rõ trong sự vận động từ ngữ, trong nhạc câu văn, lại càng thây nhiều hơn trong hình ảnh câu vấn."(96,tr.73) Nhận xét của Phạm Văn Diêu tuy không mới, nhưng nhà
nghiên cứu cũng đã tìm ra vẻ khác lạ trong truyện ngắn của Xuân Diệu "Văn xuôi Xuân Diệu
cũng giống như thơ ông, bát ngát một hồn thơ mơ mộng"(96,tr.73)
Đến 1979, Hà Minh Đức trong bài nghiên cứu Xuân Diệu- nhà thơ- nhà nghiên cứu và
phê bình văn học(96,tr.33), đã có hướng nghiên cứu khác tìm hiểu về kiểu nhân vật trong
truyện ngắn của Xuân Diệu như Chú lái khờ, Người lệ ngọc và cho rằng "thực ra họ chỉ là
nh ững biểu tượng mà Xuân Diệu vay mượn để tự thể hiện "mình với ta tuy hai mà một"
(96,tr.33) Nhận xét trên, chưa thật rõ ý nhưng đó cũng là một phát hiện về nghệ thuật xây dựng nhân vật trữ tình trong văn xuôi của ông
Vào 5/1982, trong lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu (tập l),(111, tr.64), Hoàng Trung Thông tìm thấy cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Xuân Diệu Đó là cảm hứng hướng về
con người, cuộc đời "Mọi người yêu thiết tha con người, loài người, cuộc sống và sự sống", nên "T ấm lòng yêu thương rộng lớn của nhà thơ tất yếu phải hướng về quần chúng lao động
ch ứ không thể hướng về những kẻ kè kè một túi tiền "(111, tr.65).Đây là một phát hiện mới mà
những bài nghiên cứu trước đây chưa nói tới
Đặc biệt sau khi Xuân Diệu qua đời, trên văn đàn xuất hiện nhiều bài viết về Xuân Diệu (về truyện ngắn, ký) Đáng chú ý là bài viết "Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu" của
Nguyễn Đăng Mạnh(126,tr.98) vào cuối thu 1986 Khác với những công trình nghiên cứu trước đây, Nguyễn Đăng Mạnh dành cả bài nghiên cứu để viết về văn xuôi nghệ thuật của Xuân
Diệu Có thể coi đây là bài viết mang tính chất nghiên cứu đầu tiên, khá đầy đủ về văn xuôi của Xuân Diệu Trong một chừng mực nào đây, bài viết đã khám phá được một vài đặc điểm trong văn xuôi của Xuân Diệu (truyện ngắn và ký), cả về nội dung và nghệ thuật, ở hai giai đoạn trước và sau 1945
Trước hết, với truyện ngắn Phấn thông vàng, Nguyễn Đăng Mạnh không cho đó là tập
truyện ngấn (Truyện ý tưởng) như Xuân Diệu quan niệm, mà gọi nó là tập "Tùy bút tâm tình"
Trang 11Có lẽ ông cho rằng Phấn thông vàng không mang đặc tính "tự sự" của truyện Bởi ở trong đó
"cái tôi cá nhân c ủa nhà văn lấn át hình ảnh của hiện thực"(126,tr 105)
Ngoài ra, nhà nghiến cứu còn thấy cách nhìn đời, nhìn người của Xuân Diệu trong truyện
ngắn "Đời trong con mắt của Xuân Diệu hồi ấy thực ra chỉ giới hạn ở cái môi trường chật hẹp
và tù túng c ủa những tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, nên càng nhìn đời, càng thấy ngán cho đời
To ả nhị Kiều đã làm cho ta hít thở trong bầu không khí của cái đời ấy Trong đó vật vờ ngoi
ngóp nh ững kiếp sống mở mờ nhạt nhạt, cử động lặng lẽ, ngơ ngác như những kẻ không
h ồn."(126, tr.101)
Dù vậy, Nguyễn Đăng Mạnh cũng có suy nghĩ giống như Hoàng Trung Thông về ngòi
bút nhân đạo của Xuân Diệu trong văn xuôi, nhà văn đã "Mở rộng tâm hồn về phía những lớp
người cùng khổ Hình ảnh một bà lão nhà quê nghèo khó"(126,tr.l02) Trên cơ sở đó, nhà
nghiên cứu nhận thấy: bên cạnh khuynh hướng lãng mạn trữ tình, trong Phấn thông vàng xuất
hiện khuynh hướng hiện thực trữ tình "như một dòng phụ lưu trong sáng tác thơ văn của Xuân
Di ệu hướng về những khiếp người mờ mờ nhân ảnh những sinh mệnh nhỏ bé tội nghiệp cần được thương."(126,tr 102-103) Và đây cũng chính là sự phát hiện kỹ hơn về nhân vật trong
truyện ngắn của Xuân Diệu
Năm 1994, Nguyễn Thị Hồng Nam trong bài viết Quan niệm nghệ thuật về con người
trong thơ Xuân Diệu (111, tr.339) đã tìm thấy trong Phấn thông vàng "quan niệm sống, quan
ni ệm tình yêu mang tính nhân văn cao cả Phấn thông vàng là hình ảnh điển hình cho khao
khát được hòa nhập với ngoại giới, cho trái tỉm đầy tình cảm được san sẻ, dạng hiến cho mọi người, cho tất thầy, như những hạt phấn thông vàng vung vãi muôn nơi "(111,tr.343) Để
chứng minh cho ỹ kiến của mình, nhà nghiên cứu nhận thấy Xuân Diệu có một quan niệm sống đẹp, một tình yêu cuồng nhiệt với cuộc sống Ông ghét cay, ghét đắng sự hờ hững, lạnh lùng,
lối sống thụ động, đơn điệu Trong Tỏa nhị Kiều, ông bực bội với nhân vật Phan, ông xót
thương cho hai cô gái Quỳnh và Giao "Họ như hai hột cơm họ thua hai cái cây, bởi cây còn
ra hoa, ra trái, ch ứ đời con gái của họ, họ biết làm gì?"(111, tr.346)
Trang 12Năm 1997, Lê Bảo trong bài Thời đại, con người và văn nghiệp Xuân Diệu (12,tr.5), đã nghiên cứu về một biểu hiện khác trong nghệ thuật viết truyện ngắn Phấn thông vàng (về cách
viết, cách xây dựng nhân vật) "Người viết đã không tuân thủ những phép tắc, những luật lệ
thông thường Trước hết, nó hầu như không cổ cốt truyện Nhân vật trong đó hầu hết là cái tôi
tr ữ tình Chất liệu hiện thực cuộc đời không phải là không có, nhưng nó nhuộm màu sắc tâm
tr ạng Vì thế có thể gọi nó là một thứ truyện ý tưởng, một thứ chủ nghĩa hiện thực trữ tình, một cách t ự biểu hiện của nhà thơ"(12,tr.23) Đặc biệt, nhà nghiên cứu phân tích khá kỹ cái tôi trữ
tình trong truyện ngắn của Xuân Diệu, đó là cái tôi giao cảm với đời, cái tôi bơ vơ lạc lõng
Năm 1999, Lưu Khánh Thơ viết bài Xuân Diệu- một tài năng đa dạng (111, tr.11), đã
nhắc đến những vấn đề mà các nhà nghiên cứu trước đó đã đề cập về truyện ngắn Phấn thông
vàng “gi ống như một tập tùy bút tâm tình; Tác giả lại hướng ngòi bút của mình vào một cảnh
ng ộ, những số phận”(111, tr.l4 -15) Nhưng tác giả bài viết đã nhận ra thái độ của Xuân Diệu,
khi ông đứng trước những số phận, cuộc đời “Thể hiện sự hòa cảm xót xa với những người
s ống vất vả, tối tăm, bị hắt hủi nên nhà văn dễ dàng đồng cảm với những kiếp người nhỏ bé khi bước vào đời”(111, tr.l5)
Riêng Đỗ Lai Thúy có hướng nghiên cứu khác về yếu tố thời gian trong sáng tác của Xuân Diệu, qua bài viết Xuân Diệu-Nỗi ám ảnh thời gian (126, tr.l86) Nhà nghiên cứu viết
"Ch ỉ với Xuân Diệu, thời gian mới trở thành một nỗi ám ảnh Xuân Diệu nhìn đời bằng con-
m ắt- thời- gian" (126, tr.l86) Vì vậy mà "chỉ có Xuân Diệu là cứ ở trong đời, bám riết lấy trần
th ể, níu cuộc sống mà chống lại thời gian " Nhưng mọi vật đều không chống lại được với thời
gian, và chỉ có "Tình yêu có khả năng chiến thắng thời gian, bởi vì tình yêu là sự sống, sự sống
b ất tử, sự sống chẳng bao giờ chán nản" Vì vậy, Đỗ Lai Thúy nhận thấy trong Phấn thông
vàng có m ột thứ tình yêu đẹp "Tình yêu của loài cây xa xôi, viễn vọng như thế, không toan tính
g ần gũi như loài người''(126,,tr 197)
Trong bài viết Cái nhìn nghệ thuật mới về thế giới và con người của Lê Tiến Dũng (126,
tr.l41), nhà nghiên cứu xuất phát từ quan niệm về "Mĩ học của chủ nghĩa lãng mạn nói chung
là ph ủ nhận thực tại Phủ nhận hiện tại để hoặc là quay về quá khứ, hoặc hướng đến tương lai, đem lý tưởng để đối lập với thực tại", nên "Cả Xuân Diệu trong văn xuôi cũng là một Xuân
Di ệu da diết với ngày xưa" Truyện Cái giường tả một hoài vọng về quá khứ Cái giường
Trang 13mong l ửa hồng thiêu mình để thành khói mà bay về rừng xưa ”(126, tr.147) Tuy đề cập đến
vấn đề không mới trong văn chương lãng mạn trước 1945, nhưng nhà nghiên cứu cũng tìm thấy nét đẹp trong sáng tác của Xuân Diệu, ông không nuối tiếc để mà nuối tiếc, mà mong được trở
lại cuộc sống ban đầu như nó đã có Quan niệm này của Lê Tiến Dũng giống với quan niệm
củaVũ Ngọc Phan "Cái giường của Xuân Diệu là cái giường đang ôm tương tư, đang nhớ
nhung cây b ạn và đang khao khát được biến ra khói biếc đề bay về xứ sở, bay về chốn rừng xanh"(96, tr.27)
Trên đây là một số công trình nghiên cứu, phê bình trước và sau 1945 đề cập đến truyện
ngắn của Xuân Diệu số lượng các công trình vừa được điểm qua chưa thật đầy đủ, nhưng qua
đó, có thể thấy rõ những vấn đề mà các nhà nghiên cứu quan tâm trong truyện ngắn Phấn
thông vàng Có thể tóm gọn lại ở những điểm sau: về cảm hứng sáng tác; khuynh hướng sáng tác; về nhân vật; về cái tôi cá nhân; về kiểu truyện và cách viết truyện ngắn
3.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KÝ CỦA XUÂN DIỆU
Ngày 14/7/1985, trên báo Nhân dân đăng bài viết Sự đa dạng của Xuân Diệu của Mã
Giang lân(126, tr.225) Trong bài nghiên cứu này, Mã Giang Lân bên cạnh những nhận xét về
văn xuôi, có nhận thấy :"Các tập bút ký Trường ca (1945), Việt Nam ngàn dặm (1946), Ký sự
thăm nước Hung (1946), Triều lên (1958) cùng với nhiều bài ký khác đã khẳng định ở anh
m ột "sự mẫn cảm dồi dào"(126,tr.229) Và nhà nghiên cứu cũng chưa đi sâu tìm hiểu một khía
cạnh nào về nội dung, cũng như về nghệ thuật trong các sáng tác ký của Xuân Diệu
Vào tháng 12/1986, Nam Chi- một Việt kiều ở Pháp cũng viết bài nghiên cứu với tựa đề
Trường hợp Xuân Diệu (126, tr.207) Trong bài viết này Nam Chi cho rằng "Trường hợp
Xuân Di ệu là trường hợp điển hình cho sự chuyển mình lớn lao của lịch sử” Cách mạng Tháng
Tám thành công đã làm chuyển đổi bao vấn đề của xã hội Việt Nam, trong đó có sự chuyển đổi
về tư tưởng con người, và Xuân Diệu là một điển hình Nên dù ở đâu, làm việc gì, Xuân Diệu
đều sống rất thật với mình, với người "Với Việt kiều ở Pháp, Xuân Diệu có chút tình riêng
Năm 1946, vài tư cách nhà báo, anh tham dự phái đoàn Phạm Văn Đồng sang Pháp về nước anh vi ết ngay Việt Nam nghìn dặm để nói về cuộc tranh đấu của Việt kiều-đặc biệt là các bác lính th ợ, lính chiến- cho nước nhà độc lập?"(126,tr.217)
Trang 14Vào cuối mùa thu 1986, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh có bài viết Vài cảm nghĩ về
văn xuôi Xuân Diệu (126,tr.98) Xuất phát từ những nhận xét chung về văn xuôi nghệ thuật
của Xuân Diệu, nhà nghiên cứu có đề cập đến những tác phẩm ký "Thơ Xuân Diệu hay văn
Xuân Di ệu cũng có hàng loạt bài nói về vẻ đẹp hùng mạnh, tràn đầy sức sống của thanh niên, cái tu ổi "tay chân bằng mầm, mắt bằng hồ, lòng bằng lửa, miệng bằng hoa"(126,tr.99) Như
vậy theo Nguyễn Đăng Mạnh, trước 1945, với Trường ca, thể ký của Xuân Diệu đã tạo được nhiều hình ảnh đẹp Những hình ảnh ấy lại chính là đối tượng nghệ thuật mà nhà văn quan tâm
như: một Chú lái khờ "người ta gọi chú là khờ nhưng chú chính thực là thi sĩ"(126, tr.100);
chỉ một Đóa hồng nhung mà Xuân Diệu tưởng "những bông hồng nhung thành những cặp môi
hôn và g ọi là những "đóa hôn"(126, tr.l01)
Ngoài ra trong bài viết này, nhà nghiên cứu đã lý giải để tìm nguyên nhân vì sao sau
1945, Xuân Diệu lại hướng ngòi bút của mình về thể loại mới -bút ký, ký sự, tuy bút Vì sau
1945, "Cánh c ửa nhìn đời của Xuân Diệu bỗng được mở toang về phía cuộc sống rộng lớn của nhân dân Trước mắt Xuân Diệu, cuộc đời lớn cứ mở ra thêm mãi Đâu đâu cũng toàn cảnh tượng lớn, những sự kiện lớn lối tuy bút trữ tình trước kia không làm nổi công việc ấy, văn xuôi Xuân Di ệu chuyển sang thể bút ký, ký sự Một dòng bút ký chảy xiết, liên tục từ sau Cách
m ạng Tháng Tám trở đi, tạo thành một cuốn phim thời sự- chính trị phong phú ghi lại một
ph ần bộ mặt cửa lịch sử cách mạng Việt Nam trong ngót 40 năm"(126, tr.l05) Ý kiến trên đây
của Nguyễn Đăng Mạnh đã thâu tóm khá kỹ những vấn đề về nội dung cũng như về cảm hứng sáng tác trong các tác phẩm ký của Xuân Diệu
Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu nhận ra sự chuyển hướng về Cái tôi trong sáng tác của Xuân
Diệu "cái tôi ấy trở lại trong bút ký Xuân Diệu với một bản chất khác ngày xưa chỉ biết
"qu ấn quít cả mình xuân"(Thanh niên) nay luôn quấn quít bên "mình" cửa Tổ quốc, cửa nhân dân, c ủa cách mạng"(126, tr.l08) Đó là "Cái tôi công dân, cái tôi chiến sĩ cách mạng trên mặt
tr ận văn hóa tư tưởng Cái tôi công dân ây cũng là cái tôi rất vui vẻ, rất trẻ Ngày xưa, cái tôi
ây đã muốn gắn bó với cuộc sống, với mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu Nhưng rút cục vẫn thấy mình cô độc giữa cuộc đời lạnh giá Vì thế cái tôi Xuân Diệu trong bút ký của ông sau Cách
m ạng Tháng Tám còn là cái tôi chính luận "(126, tr.l06-107)
Trang 15Đặc biệt, Nguyễn Đăng Mạnh nói nhiều về nghệ thuật viết ký của Xuân Diệu "Nhiều kỹ
thu ật thơ được vận dụng" chẳng hạn như kỹ thuật cấu tứ, kỹ thuật điệp khúc, kỹ thuật đưa đẩy
văn chương kim cổ, kỹ thuật chuyển đổi giọng điệu những biện pháp nghệ thuật ấy đã giúp cho những bài ký thực sự là những bài thơ văn xuôi Mặc dù vậy, nhà nghiên cứu vẫn chưa
thỏa mãn với suy nghĩ của mình, ông lại thấy sở dĩ Xuân Diệu sáng tác được những tác phẩm
ký hay, xuất sắc thì ngoài những kinh nghiệm viết của riêng mình, còn phụ thuộc vào "những
k ỷ niệm riêng, từng trải riêng của người cầm bút có quan hệ nhiều ít thế nào với đất nước, với quê hương, với những sự kiện lớn của lịch sử và những con người tiêu biểu cho thời đại"(126,
tr.112)
Cũng trong thời gian này, Lê Bảo có viết bài Thời đại, con người và nghiệp văn Xuân
Di ệu (12, tr.5) Với bài viết này, nhà nghiên cứu cũng nói về cái tôi trữ tình trong các tác phẩm
ký sau 1945 của Xuân Diệu "Cái tôi trữ tình của Xuân Diệu đã hồi sinh trong biển lớn của
nhân dân"(12, tr.26) Ý kiến này của Lê Bảo đồng một quan điểm với Nguyễn Đăng Mạnh Điều đó cũng khẳng định trong ký của Xuân Diệu có một cái tôi mới- cái tôi chiến sĩ
Để mở đầu cho tác phẩm Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm, Lưu Khánh Thơ viết bài
Xuân Di ệu - một tài năng đa dạng (111, tr.11) Nhà nghiên cứu nhận xét về tập Trường ca của
Xuân Diệu "Có thể coi tập Trường ca là một kiểu thơ văn xuôi" (111 tr 13) Đối với những
tác phẩm ký của Xuân Diệu, Lưu Khánh Thơ nhận thấy "Xuân Diệu vừa là người nghệ sĩ, vừa
là m ột thư ký trung thành cửa thời đại Bút ký cửa Xuân Diệu đã ghi lại hàng loạt những sự
ki ện lớn của đất nước "(111, tr.l6) Để minh chứng cho ý kiến của mình, nhà nghiên cứu
khẳng định "bí quyết lớn nhất dẫn đến thành công của Xuân Diệu là ở trái tim có sức yêu mãnh
li ệt và một tâm hồn luôn rộng mở, gắn bó với cuộc đời, với đất nước Và Xuân Diệu đã viết
tháng công bút ký v ề lại quê Nam, Cùng xương thịt với nhân dân "(111, tr.18)
Tóm lại, trong các bài nghiên cứu, phê bình về ký của Xuân Diệu, chúng tôi thấy: mặc dù
số lượng các bài viết chưa nhiều, không đa dạng như các bài viết về truyện ngắn của Xuân
Diệu, nhưng cũng phần nào giúp chúng tôi thấy được đặc điểm thể ký của Xuân Diệu Đặc điểm ấy thể hiện qua nghệ thuật viết ký của Xuân Diệu; vẻ đẹp trong ký của Xuân Diệu; cái tôi
trữ tình của nhà văn
Trang 163.4 Nhận định chung về những công trình nghiên cứu, phê bình
Như chúng tôi đã trình bày, trong các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình hiện đại Việt Nam ở
thế kỷ XX, Xuân Diệu nổi lên như một "Tài năng đa dạng" (Lưu Khánh Thơ) ; Xuân Diệu như
một "Trường hợp" khá đặc biệt (Nam Chi) ; "Mọi thi sĩ rất giàu lòng yêu dấu" (Vũ Ngọc
Phan) Đặc biệt trong lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã phần nào thấy được
những đóng góp của Xuân Diệu cho văn xuôi nghệ thuật Việt nam Đó là thứ văn xuôi rất gần
với thơ và tạo nên "tính trữ tình lãng mạn" như một đặc điểm nổi bật của văn xuôi nghệ thuật
Bởi văn xuôi Xuân Diệu in đậm mầu sắc chủ quan của một cái tôi trữ tình "Đời đã thu gọn lại
g ần như tiêu tán, để nhường chỗ cho tâm hồn tự do xâm chiếm tràn lan không biết đâu là bờ
b ến" (Xuân Diệu) Vì vậy mà Nguyễn Đăng Mạnh đã có lý khi định danh cho bút pháp văn
xuôi của Xuân Diệu là "Chủ nghĩa hiện thực trữ tình" Ý kiến này của Nguyễn Đãng Mạnh
trùng với ý kiến của Lưu Khánh Thơ "Xu hướng văn chương lãng mạn nhưng không tách rời
hi ện thực, đã tạo cho văn xuôi của ông một bộ mặt đầy đủ và hoàn chỉnh hơn”
Với những sáng tác ký của Xuân Diệu, "Xuân Diệu vừa là người nghệ sĩ, vừa là một
người thư ký trung thành của thời đại" và tập Trường ca là "mọi kiểu thơ văn xuôi" (Lưu
Khánh Thơ)
Với truyện ngắn Phấn thông vàng, Xuân Diệu gọi là tập "Truyện ý tưởng" Còn Nguyễn
Đăng Mạnh gọi là tập "Tuỳ bút tâm tình" Riêng Vũ Ngọc Phan lại thấy "rặt thơ là thơ"
Về đặc điểm nghệ thuật văn xuôi Xuân Diệu, Nguyễn Đăng mạnh thấy Xuân Diệu vận
dụng nhiều “kỹ thuật làm thơ” vào sáng tác ký; nhân vật trong văn xuôi có hai kiểu nhân vật
"nhỏ bé, cô đơn, mờ ảo" (trong truyện ngắn)và là những "tập thể quần chúng nhân dân” (trong
ký) Lời văn của Xuân Diệu: trau chuốt, chứa đầy thơ "với một giọng điệu trữ tình đầy nhạc
tính"
Từ các công tành nghiên cứu, phê bình về văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu nêu trên, chúng tôi nhận thấy: ngoại trừ các bài nghiên cứu của Nguyễn Đăng Mạnh, Lưu Khánh Thơ, thì hầu hết các công trình nghiên cứu khác phần lớn còn mang tính chất khái quát, giới thiệu dưới dạng phác thảo một chân dung văn học Và chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu Cho nên theo sự nhìn nhận
Trang 17riêng của chúng tôi, các ý kiến đã được nêu ra chỉ mới soi sáng một phần trong sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu Điều này có nghĩa là: nếu coi những sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu là một bộ phận trong văn chương của nhà thi sĩ này, thì phải đặt nó trong
một chỉnh thể và một hệ thống Chỉ như vậy, mới có thể nắm bắt được những đặc điểm trong văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu (truyện ngắn và ký)
4 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi lấy phương pháp luận mác-xít làm cơ sở cho việc nghiên cứu Trong quá trinh triển khai đề tài, hai phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp khảo sát văn bản và phương pháp phân tích- tổng hợp Bởi vì để tìm ra phong cách sáng tác riêng của Xuân Diệu về văn xuôi, không thể khống đi sâu vào việc khảo sát các văn bản văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu Và chỉ xuất phát từ văn bản, chúng tôi mới có thể nít ra những
nhận xét, những điểm khác biệt trong cách viết văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu Trên cơ sở
đó, chúng tôi phân tích- tổng hợp và hệ thống hóa các kết quả phân tích ở từng thể loại (truyện
ngắn, ký); ở từng vấn đề mà các thể loại văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu đặt ra
Trong quá trình khảo sát văn bản cũng như phân tích- tổng hợp, chúng tôi đặc biệt chú ý đến những hiện tượng , những yếu tố lặp đi lặp lại trong từng văn bản, của từng thể loại văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu, đồng thời không bỏ qua những yếu tố đơn lẻ, cá biệt Ngoài ra chúng tôi còn đặt đối tượng nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật ương mối quan hệ giữa thơ và văn xuôi; giữa các sáng tác văn xuôi với quá trình chuyển biến tư tưởng của nhà văn; giữa các sáng tác văn xuôi với người đọc đương thời, để qua đó thấy được ý nghĩa, giá trị mà văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu mang lại cho con người, cuộc đời
Song song với hai phương pháp trên, trong một chừng mực nhất định, chúng tôi cũng sử
dụng phương pháp so sánh và phương pháp thống kê Đây cũng là hai phương pháp được xem như là hai phương pháp hỗ trợ Phương pháp so sánh được sử dụng kết hợp ngay trong quá trình, phân tích, giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra Đồng thời phương pháp này còn được sử dụng khi liên hệ đến một số những nhà văn lãng mạn cùng thời như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Phương pháp thống kê giúp chứng tôi thông kê lại một cách có hệ
thống những sáng tác ký nằm rải rác ương hệ thống văn chương của Xuân Diệu Ngoài ra
Trang 18phương pháp này còn thống kê các hình thức nghệ thuật biểu đạt nội dung tư tưởng tác phẩm như từ ngữ, các biện pháp tu từ để phát hiện ra qui luật, những vấn đề về thi pháp tác giả Các phương pháp trên được sử dụng phối hợp với nhau trong quá trinh nghiên cứu
5- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn tập trung nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu nhằm:
- Tìm ra phong cách của Xuân Diệu trên cơ sở tìm hiểu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật nói chung và hai thể loại (truyện và ký) nói riêng của Xuân Diệu
- Khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa tư tưởng, cảm hứng với bút pháp nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu
Làm được những điều trên, chúng tôi hi vọng đề tài sẽ mang lại những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu Điều này cũng có nghĩa là luận văn góp thêm một tiếng nói khẳng định tài năng và công lao của Xuân Diệu đối với văn xuôi
Việt Nam hiện đại ở thế kỷ XX
Việc nghiên cứu vãn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu hy vọng sẽ góp một tiếng nói khiêm
tốn vào việc nghiên cứu và giảng dạy văn xuôi của Xuân Diệu trong trường học
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có thể liên hệ đến những sáng tác thơ của Xuân
Diệu nhằm mục đích soi sáng thêm cho nghiên cứu Chúng tôi đã tiếp thu có chọn lọc những
nhận định, đánh giá có liên quan từ các bài viết, cấc công trình nghiên cứu về văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu mà chúng tôi đã sưu tầm được
6- CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục và mục lục, luận văn chia làm
3 chương với các tiêu đề sau:
Chương I : Văn xuôi của một nhà thơ
Chương II: Truyện ngắn của Xuân Diệu
Chương III: Ký của Xuân Diệu
Trang 20
CHƯƠNG 1: VĂN XUÔI CỦA MỘT NHÀ THƠ
1.1.X UÂN DIỆU - NHÀ THƠ VIẾT VĂN XUÔI
Trong những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự biến đổi của xã hội, trên văn đàn Việt Nam, ngoài những cây bút cũ -những nhà Nho, lại xuất hiện một thế hệ những người cầm bút
mới- những thanh niên trí thức Tây học Những nhà văn, nhà thơ này là những người đi tiên phong, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hoa văn học nước nhà- Xuân Diệu là một trong
những người ấy
Ngay từ thuở còn đi học, Xuân Diệu là một người "yêu thơ vô hạn, rất mê thích văn học
tôi nhìn mi ệng ông giáo Quốc văn đọc, say mê uống từng lời du dương êm ái”(25, T3, tr 176) Xuân Diệu làm thơ và gởi in báo bài thơ đầu tiên Với bàn tay ấy Để rồi gần một năm
175-sau, Xuân Diệu được Thế Lữ giới thiệu là "một nhà thi sĩ mới" trên báo Ngày nay
Kể từ ngày ấy, Xuân Diệu hiện diện với đời, in đậm trong tâm tó mọi người trong ngôi vị
của một nhà thơ- một thi sĩ mới, nhà thơ của tình yêu và lòng khát khao giao cảm với đời Chất thơ có sẩn trong huyết quản Xuân Diệu, đã trở thành dòng chảy tưởng chừng như duy nhất Nhưng Xuân Diệu không chỉ làm thơ mà còn viết văn- thứ văn xuôi ngọt ngào giàu chất thơ,
mà ở một đôi tác phẩm ta tưởng như là một kiểu thơ không có xuống dòng
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy thời điểm sáng tác bài thơ đầu tiên của Xuân Diệu và cũng tìm hiểu khá kỹ về đặc điểm thơ Xuân Diệu Thế nhưng họ lại chưa tìm thây thời điểm sáng tác truyện ngắn đầu tiên của Xuân Diệu, cũng như chưa thấy hết được đặc điểm truyện
ngắn của Xuân Diệu Đó là vấn đề chúng tôi sẽ trình bày ở phần dưới đây
1.1.1 Xuân Diệu viết văn xuôi khi nào ?
Theo Nguyễn Đăng Mạnh, trong Nhà văn tư tưởng và phong cách(78,tr.20), thì Xuân
Diệu "đã tập viết văn làm thơ từ năm 15 tuổi (1934) , làm rất nhiều, làm đủ loại: thất ngôn lục
bát, t ừ khúc, bút ký, truyện ngắn năm 1935 có thơ đăng báo và bắt đầu nổi tiếng"(78, tr.25)
Với tập truyện ngắn Phấn thông vàng được xuất bản năm 1939 trên báo Ngày nay, căn cứ vào
hai mốc thời gian:
Trang 21- Cái giây 23-9-1937
- Người lệ ngọc 1939
Ta có thể phỏng đoán Xuân Diệu bắt đầu viết truyện ngắn vào khoảng những năm 1936-
1937 khi học tú tài phần II tại Trung học Khải Định- Huế (lúc ông còn rất trẻ, cỡ mười tám, đôi mươi mà thôi) Cũng có nghĩa là cùng với thời gian Xuân Diệu làm thơ (1937), viết truyện gởi
in báo Ngày nay Chỉ có điều văn xuôi không phải là tác phẩm đầu tiên trong hành trình đến
với văn chương của Xuân Diệu Như Nguyễn Bao có viết: "Phấn thông vàng và Trường ca ra
đời song song với hai tập thơ xuất sắc Thơ thơ và Gửi hương cho gió Đó là những bài văn
xuôi, th ấm đượm chất trữ tình"(25, T2, tr.34) và là sự tiếp nối mạch thơ nhưng được diễn tả cụ
thể hơn
Trong sáng tác nghệ thuật, người nghệ sĩ trong những hoàn cảnh cụ thể đều tìm cho mình
một hình thức sáng tạo riêng, miễn sao xuất phát từ một trái tim để đến với nhiều trái tim Chính Xuân Diệu đã tâm sự "cả yêu lẫn thương đều là tiếng nói của con tim hình như trong
thơ yêu nhiều hơn và trong văn cảm thương lại rỗ hơn"(24, tr.7)
Đọc thơ và văn xuôi của Xuân Diệu, người đọc đều ghi nhận được những giây phút cảm xúc mãnh liệt của ông Nếu như trong thơ, cảm xúc ấy là những rung động chợt loé sáng, xuất
thần tuy không nhiều lời, nhưng cũng đủ sức gợi cảm nơi người đọc:
"Cái bay không đợi cái trôi
T ừ tôi phút trước sang tôi phút này."
Như vậy, dù sáng tác thơ hay văn xuôi, tác phẩm của Xuân Diệu đều là những trang văn
học bộc bạch tâm hồn thi sĩ Khi mà thơ không đủ chỗ để giãi bày, thì văn xuôi xuất hiện Vì
Trang 22vậy mà trong thơ và văn xuôi của Xuân Diệu, có nhiều ý tưởng trùng nhau, đứng cạnh bên nhau và bổ sung cho nhau, chẳng hạn như:
Bài thơ đầu tiên trong tập Thơ thơ, Xuân Diệu viết:
"Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây"
(C ảm xúc)
Bài thơ ấy đã thể hiện hình ảnh người nghệ sĩ- thi sĩ đi tìm cái đẹp trong cuộc đời với một phong thái rất nghệ sĩ -rất Xuân Diệu Hình ảnh ấy một lần nữa được xuất hiện trong truyện
Ph ấn thông vàng "Họa sĩ mê mẩn lắm sao! Rừng thông to lớn, thân cây vững trồng, tiếp nhau
không h ết Buổi chiều vàng họa sĩ nghe trong lòng thơ thơi Linh hồn chàng nở dãn Chàng
b ắt đầu hoạ"(25, T2, tr.l2)
Xuân Diệu viết văn xuôi khi còn rất trẻ Sự xuất hiện của văn xuôi không chỉ biểu hiện tài năng nghệ thuật, sự tiếp nối mạch cảm xúc dâng trào trong thơ, mà còn đánh dấu quá trình chuyển hướng tìm tòi một phương pháp thể hiện mới, một hướng đi, một con đường cho riêng mình Xuân Diệu đã không đi theo những hướng đã có (tất nhiên mỗi nhà văn đều có phong cách sáng tác riêng khi đối diện với hiện thực) Bởi lẽ, theo ông tất cả chỉ là "cái cớ để cởi mở
t ấm lòng" Những trang văn xuôi đầu tay của Xuân Diệu là kiểu "Truyện ý tưởng Truyện ư?
M ột ít truyện ở ngoài cũng đủ gợi trăm chuyện trong cõi sống bên trong Tâm hồn người có
bi ết bao là chuyện "(25, T2, tr.8)
Nếu thơ Xuân Diệu mang lại ngay cho độc giả những ấn tượng đặc biệt chiếm vị trí hàng đầu thì ngược lại văn xuôi không được như vậy Vì sao vậy? Liệu có phải do số lượng tác phẩm quá ít chưa đủ để thẩm định hay còn vấn đề khác tế nhị hơn? Hãy nghe Hoài Thanh- Hoài Chân
nhận xét về vãn xuôi Xuân Diệu"Lời văn có vẻ chơi vơi viết văn tựa như trẻ con học
nói câu văn bỡ ngỡ Nhưng cái dáng thơ bỡ ngỡ ây chính là chỗ Xuân Diệu hơn người"
(104, tr.l08)
Theo chúng tôi, phải viết là "khác người" mới đúng Khác từ hành văn đến ý tưởng "Ở
dây ch ỉ có ít đời và rất nhiều tâm hổn, hợp lại thành bao nhiêu nghĩ ngợi, bâng khuâng, không
c ốt để giải trí người ta, mà trái lại, để xui trí người thêm bận vẩn vơ, lưởng vưởng"(25,T2,tr.7)
Trang 23Đặt những sáng tác văn xuôi của Xuân Diệu vào hoàn cảnh văn học đang trên đường hiện đại hoá, ta thấy lối văn chương của Xuân Diệu không phải dễ hiểu đối với quảng đại quần chúng-
nó rắc rối và có phần "Tây quá" Chẳng hạn như nói về số phận một con người- bà cụ già nông
dân nghèo khổ trong xã hội ta lúc ấy thì giữa Xuân Diệu và Nam Cao đã khác lắm rồi— khác nhau về sự thể hiện, diễn đạt, mặc dù cùng đứng ở một góc nhìn đời của các tác giả đối với nhân vật
Ở Thương vay của Xuân Diệu "mọi bà già: lưng không, chân chậm, mắt bà lão chắc chỉ
m ở lỉm dim tay xách một cái rổ có lẽ chỉ là rổ không Còm- Dáng đi run Bà già hay hiện hình c ủa sự đau khổ Cứ tha đôi chân vào mất trong tối Chắc họ buồn lẩm Một người bằng
th ịt, bằng xương với một lịch sử chắc chắn khổ sở hết chín phần mười"(25, T2, tr.25)
Trong M ột bữa no của Nam Cao "hơn ba tháng bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc Mới đầu,
còn được ngày ba tấm, sau cùng thì một tấm cũng không có nữa Tiền hết cả Mỗi sáng bà ra
ch ợ xin người này một miếng, người kia một miếng Mây hôm nay bà nhịn đói Bởi thế lại đem con ra h ờ, bà hờ thê thảm lắm "(14,tr.38)
Hai nhân vật cùng chung một số phận, một hoàn cảnh: nghèo Nhưng thật là khác hẳn nhau Nhân vật của Nam Cao là nhân vật- con người cụ thể; cụ thể đến từng chi tiết của cái nghèo, cái khổ không có một tấc cắm dùi; không có một tài sản đáng giá; không một công việc
để sống tồn tại, phải xin ăn Thật thương thay cho một kiếp người
Còn nhân vật của Xuân Diệu lại khác hẳn Nhà thi sĩ ấy không dựng lại một cái gì đó có
sẩn trong cuộc sống chỉ cần đọc lướt qua là thấy ngay, hiểu liền Chưa hẳn bà lão trong
Thương vay cũng rơi vào hoàn cảnh cùng quẫn đói khổ như bà cái Tý trong Một bữa no và
ngược lại! Mà ở đây, cái mảng hiện thực ấy được "thăng hoa "qua cảm xúc, qua chiều sâu suy
tưởng Chỉ nhìn cái bóng của bà cụ thôi mà đã thấy "khổ hết chín phần mười", thấy cả quá khứ
và hiện tại, thấy cả tổ tiên, dòng tộc Những câu văn giàu ý tưởng của Xuân Diệu buộc người
ta bận lòng là vì lẽ đó Đúng là phải có cái tình sâu lắng mới tả được những câu văn thần thái
ấy Chính tâm hồn nhà văn là cầu nối để có thể đi sâu vào trong tâm hồn người khác Bởi lẽ lời nói, việc làm thì có thể giúp ta nhìn thấy, nghe được, còn những ý nghĩ thầm kín (vui, buồn, yêu, ghét) trong lòng người thì chỉ có cách đoán hiểu được thôi Mặc dù lúc này Xuân Diệu còn
trẻ về tuổi đời, nhưng chiều sâu tư duy thì không còn trẻ nữa Điều này trong Những bước
Trang 24đường tư tưởng của tôi, Xuân Diệu đã tâm sự: "Những khi tối đen bế tắc, cô đơn đến ghê lạnh,
tôi v ẫn thấy một điều mà tôi không thể từ chối được, là chung quanh tôi, vẫn còn có những con người tôi chán nghĩ chuyện trời, tôi nghĩ chuyện người, và tự nhiên lòng tôi thây thấm thìa yêu m ến"(25, T3, tr.187) và ngay cả trong thơ, nhà nghệ sĩ đã từng ước nguyện:
"Cho tôi đau mà bớt khổ loài người, Tôi nguy ện chết trên cây thánh giá"
Tất nhiên mỗi nhà văn đều có lập trưởng tư tưởng, có vốn sống, tư chất tâm lý khác nhau, nên cách nhìn, cách nghĩ cũng khác nhau Ở đây, chúng tôi không có ý khen, chê mà chỉ muốn trình bày cách cảm, cách thể hiện của nhà văn trước những vấn đề hiện thực đặt ra
1.1.2 Nguyên nhân nào khiến Xuân Diệu viết văn xuôi ?
Một trong nguyên nhân khiến Xuân Diệu viết văn xuôi như phần trên đã trình bày là để giãi bày tình cảm, khi mà thơ không đủ sức để chứa đựng những cảm xúc Vậy còn nguyên nhân nào nữa? Vì vấn đề kinh tế? Do ảnh hưởng bởi văn chương lãng mạn Pháp? Hay hiện
thực cuộc sống thôi thúc trái tim nhạy cảm của nhà nghệ sĩ ? Đi tìm nguyên nhân vì sao Xuân
Diệu viết văn xuôi, tức là đi tìm cảm hứng sáng tác, nhằm phát hiện ra khuynh hướng thẩm mỹ trong những sáng tác văn xuôi của Xuân Diệu
1.1.2.1 Sáng tác để kiếm sống ?
Xuân Diệu cũng đã từng phải thốt lên"Cơm áo không đùa với khách thơ" Nên để được
coi là nghệ sĩ thì phải có tài năng, nhưng để sống được bằng chính nghề mình yêu thích thì phải
có cách Những người cùng thời với Xuân Diệu đã từng bao phen chật vật với cuộc sống, với
miếng cơm, manh áo, nhà thi sĩ Xuân Diệu cũng vậy Từ khi được mệnh danh là "thi sĩ"(126,
tr.264), Xuân Diệu cũng đã thử vận mình qua hàng loạt các bài thơ đăng báo, nhưng không ra sao cả; Ông quay sang sáng tác văn xuôi, nhưng cũng chẳng giải quyết được mấy, đành chuyển sang nghề khác-làm "tham tán" nhà Đoan ở Mỹ Tho Xuân Diệu đã từng tâm sự trong Xuân
Di ệu tự bạch "khi cái túng thiếu nó thúc bách thì văn viết chưa chín vẫn cứ phải bán Và anh
Lưu Trọng Lư viết truyện được, chứ tôi không viết truyện được Tôi sợ cho cái nghề viết văn !
Ph ải kiếm nghề khác."(126, tr.265)
Trang 25Vì sao Xuân Diệu không làm như một vài người bạn của ông như Thế Lữ viết hàng loạt
những truyện kinh dị, giật gân, ma qủi, giết người, báo thủ Một truyện báo thù ghê gớm,
Ti ếng nói thầm của người chết Hoặc viết truyện tâm lý xã hội kiểu như của Nhất Linh, Khái
Hưng ? Không, Xuân Diệu không làm được, bởi "Tất cả đều đã nói rơi "(25, T3, tr.l77) cũng
có nghĩa là không còn chỗ len chân cho Xuân Diệu nữa
Như vậy, việc Xuân Diệu sáng tác văn xuôi để kiếm sống chỉ làm một khía cạnh nhỏ trong những nguyên nhân vì sao ông sáng tác văn xuôi, vì "làm thơ là một đằng, còn làm ăn đi
m ột nhẽ khác Làm ăn ! Kiếm ăn"(126, tr.264)
1.1.2.2 Sáng tác do chịu ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp - văn hoá thời Phục Hưng:
Hoài Thanh đã viết trong Thi nhân Việt Nam "Tinh thần lãng mạn của văn học Pháp đã
gia nh ập vào văn học Việt Nam từ trước năm 1932", hầu hết các nhà thơ, nhà văn đều không ít
thì nhiều đều bị văn chương lãng mạn Pháp lôi cuốn, trong đó có Xuân Diệu Trong bài viết
Tinh th ần Phục Hưng trong lý tưởng thẩm mỹ của Xuân Diệu thời trước 1945, Lê Quang
Hưng đã cho thấy "thơ ông (Xuân Diệu) thắm đượm tinh thần Phục Hưng"(51, tr.11) Tinh thần
Phục Hưng ấy thể hiện ở lý tưởng thẩm mỹ của Xuân Diệu trước cái đẹp, trong cuộc đời trong tình yêu nên bất kỳ cái gì được Xuân Diệu nói tới, đều tồn tại một cách đầy đủ, theo đúng với tinh thần của cuộc sống
Cụ thể là Xuân Diệu chịu ảnh hưởng bởi văn chương của Baudelaire, André Gide, Hugô,
Lamartine Và trong bài thơ Tình trai, Xuân Diệu đã bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với
các thi sĩ lãng mạn ấy:
"Tôi nh ớ Rimbaud với Verlaire, Hai chàng th ỉ sĩ choáng hơi men, Say thơ xa lạ, mê tình bạn, Khinh r ẻ khuôn mòn, bỏ lối quen "
Xuân Diệu học theo cách nói, cách thể hiện, cách dùng từ của họ, nên ngay từ khi mới
đặt chân vào làng văn, ông được xếp vào hàng những thi sĩ "Tây quá", "lãng mạn quá" Chúng
Trang 26ta có thể tìm thấy nhiều dấu ấn trong những sáng tác văn xuôi thời kỳ trước 1945 của Xuân
Diệu qua hai tập văn xuôi Phấn thông vàng và Trường ca
Xuân Diệu chịu ảnh hưởng bởi triết lý "hành động để hành động" của Andre Gide: Qua
truyện ngắn Toả nhị Kiều khi tận mất thấy cuộc sống tẻ nhạt, vô vị, quá bình lặng của hai chị
em cô Quỳnh và Giao, Xuân Diệu phải thốt lên "Tôi thương hai cô như hai con vật ngẩn ngơ
trong r ừng nhất là hai cô không sầu tư, không có một nỗi chán ghê gớm" Và để rồi tác giả
lại thất vọng “Tôi muốn họ hung tợn, họ lại thêm hiền lành, cái hiền hậu nó đã làm tôi khó chịu
quá" và "Tô i ước muốn gặp họ chửi mắng người ở, đánh đập con sen, tôi mong họ ngoa mồm lên Tôi mu ốn mặt họ bự phấn, tôi cầu cho họ làm bộ làm tịch, lố lăng bao nhiêu cũng được"(25, T2, tr.111) Chính ước muốn này cũng đã được Xuân Diệu thể hiện trong thơ:
"Thà m ột phút huy hoàng rồi chợt tối Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm"
Triết lý "Hành động để hành động" của André Gide đã bắt gặp tư tưởng ham sống yêu
đời, say đắm hết mình của Xuân Diệu Xuân Diệu đã sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn và sắc
nhọn mọi giác quan để nắm bắt thực tại, để yêu và thương Vì vậy mà trong suy nghĩ của Xuân
Diệu sự sống phải có nghĩa kể cả khi nó không còn là nó, khi nó sang thế giới bên kia Truyện
ngắn Chuyện cái giường cũng phần nào bộc lộ triết lý ấy "Tôi là một cái giường hư bỏ trong
nhà ch ứa đồ cữ Tôi buồn lắm Trời ơi, chịu sao nổi cảnh hiu quạnh dường này: Dầu gãy, dầu
hư, tôi vẫn mong được loài người đụng chạm Tôi, xưa kia đã từng nâng da, đỡ thịt, tôi đã
nh ận sự sống của loài người lây qua mình tôi Mà bây giờ không còn sự gần gụi của người
Th ực là cô đơn, vắng vẻ Lửa đâu? Lửa đâu? Sao không tới thiêu đốt mình ta, cho ta được thành ra khói, ra hơi, để bay lên trời thẳm, để chuyển lưu trong kiếp luân hồi:” (25, T2, tr.l25) Trong văn xuôi Việt Nam trước 1945, còn có hiện tượng phóng tác văn học Hiện tượng này khá phổ biến trong một số nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Hồ Biểu Chánh và đến Xuân
Diệu cho dù nhà văn muốn đi tìm một phương pháp sáng tác khác người, cũng ít nhiều chịu
ảnh hưởng của hiện tượng này Có thể nói ở "giai đoạn đầu phát triển cửa tiểu thuyết Việt Nam
hi ện đại, hiện tượng phóng tác văn học đã có một vai trò nhất định Nó xuất hiện như một sự
Trang 27ti ếp thu kỉnh nghiệm nước ngoài ở những nhà văn tập dượt một thể loại văn học mới." (21,
tr.77)
Truyện ngắn Người lệ ngọc là một trong những truyện được Xuân Diệu phóng tác theo
truyện Người có óc vàng của Alphonse Daudet (nhà văn Pháp, 1840-1897) Cả hai nhân vật
trong hai truyện này đều có những cái rất qui, đó là "óc bằng vàng" và nước mắt là những giọt
"l ệ ngọc" Họ đều phải dùng cái của qui ấy để sống độ nhật qua ngày Cuối cùng đều chết một
cách thảm hại Tuy là mượn cốt truyện, nhưng cách thể hiện lại khác nhau Truyện Người có óc
vàng đọc xong thấy ghê rợn hơn, gớm quá (móc hết óc vàng, chỉ còn máu ở mười đầu ngón tay Ngược lại truyện Người lệ ngọc lại có phần thi vị hơn, lãng mạn hơn "Chàng đã thử nhiều
ngh ề: đàn rong, viết mướn, dạy thuê Chàng thuận làm tất cả các nghề trừ cái nghề: bán
ng ọc một ngày túng quá chàng bán ngọc đây Chàng bán mình đây ! Chàng sẽ tệ hơn người con gái bán thân, chàng s ẽ bán chính cái hồn chàng" để cuối cùng "người lệ ngọc khóc ra máu Thành ng ọc đỏ lăn ra cả bàn Gục đầu chết" (26, T2, tr.119)
Cũng giống như kinh tế, văn hoá thời Phục Hưng là nền văn hoá được làm sống lại sau bao thế kỷ bị lãng quên bởi những nhà thần học thời Trung cổ Những nhà văn hoa thời Phục Hưng đã làm sống lại những gì nó vốn có (Đó là những công trình nghệ thuật điêu khắc,
những lễ hội văn hoá và những tác phẩm văn hoá khác, đòi giải phóng khỏi những ràng buộc,
trả về với tự nhiên) Theo quan điểm Mác xít thì mọi sự biến đổi, thay đổi về văn hoa không bao giờ tự nó, mà có nguyên nhân, nguồn gốc từ trong những thay đổi về kinh tế - xã hội
Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đang có những yếu tố chuyển biến làm thay đổi bộ mặt đời sống văn hoá tinh thần Những khuôn vàng thước ngọc xưa kia, nay không còn phù hợp nữa đối với sự phát triển tâm lý con người Đó cũng là những lý do cắt nghĩa vì sao văn học Việt Nam phải hiện đại hoá Vậy có hay không dấu ấn của văn hoá Phục Hưng trong tác phẩm văn xuôi của Xuân Diệu? Theo Lê Quang Hưng, thì ngay chính lý tưởng thẩm mỹ của Xuân Diệu biểu hiện tinh thần Phục Hưng ấy "Quan niệm về cái đẹp, về hạnh phúc ở đời của
Xuân Di ệu không chỉ là chuyện tinh thần, chuyện tri thức Nó gắn liền cùng sự giao cảm bằng các giác quan hưởng thụ xứng đáng những vật chất."(111, tr.331) Nếu xưa kia, thơ văn cổ né
Trang 28tránh cái không nên nói ra (ngoại trừ một số thi sĩ cùng thời với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương), thì nay Xuân Diệu lại nhắc tới nó, coi nó như phần ẩn sâu, cao quí của con người
Đọc Trường ca của Xuân Diệu, chúng tôi cảm thấy bài ký nào cũng lai láng một vẻ đẹp
mang dáng dấp văn hoá thời Phục Hưng, từ bài đầu cho đến bài cuối, đặc biệt là những bài Đẹp
trai, Giã t ừ tuổi thơ, Đoá hồng nhung Chẳng hạn như trong Đẹp trai, Xuân Diệu dường như
quên ngay cả chính mình, có nói quá chăng? Chỉ biết rằng cái hiện thực kia như được nhân dáng vẻ, phẩm chất lên nhiều lần "Không gì đẹp cho bằng đẹp trai ! Người con gái đẹp như
hoa, người con trai đẹp như lá Người con gái đẹp như bướm lượn, có uyển chuyển mà không
có reo ca; người con trai đẹp như chim kêu, có mặt trời súc tích ở trong cửa cổ" (25, T2, tr.l46) Không dừng lại ở ca ngợi dáng vẻ bên ngoài, mà Xuân Diệu còn đi sâu khám phá phần
hồn của vạn vật Đó là khát vọng vươn tới tự do, và là hành vi cơ bản của con người (bên trong
và bên ngoài) Nên dù cái giường có tủi phận bao nhiêu, não nùng cho số phận bị ruồng bỏ, vẫn
cứ vênh vang, vì "chỉ cái giường là biết được bao nhiêu thầm kín của con người cái giường
m ục kích sự yếu đuối của kiếp người, bao nhiêu tình thẹn, ngần nào tình e " ; vì "tôi đã nghe tôi được trở lại với đời rừng; tôi là bằng cây chứ không phải là bằng gỗ Trong những mạch đã khô, đã cứng, tôi tưởng nghe máu cầy chạy lại, tôi bàng hoàng tưởng nhớ, thấy mình lại có da tươi, thịt nát, máu nâu." (25, T2, tr 131)
Văn chương lãng mạn Pháp, văn hoá thời Phục Hưng đối với những sáng tác văn xuôi của Xuân Diệu cũng góp một phần không nhỏ hình thành nên những tác phẩm của ông, nhưng chủ
yếu là đối với những sáng tác trước 1945 Cũng cần chú ý thêm là: dù bị ảnh hưởng bởi yếu tố
văn chương nước ngoài, thì "Hồn thơ Pháp hễ chuyển vào được thơ Việt là đã Việt hoa1 hoàn
toàn"(104,tr.33), văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu cũng nằm trong dòng chảy ấy
Sau 1945, Xuân Diệu sáng tác do sự hối thúc của yếu tố khác, đó là hiện thực cuộc sống
và trái tim yêu đời của người nghệ sĩ
Xuân Diệu không chỉ là nghệ sĩ có tài, có tâm mà còn là một người có cái nhìn khá sắc
sảo về mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống, xã hội Cả thơ và văn xuôi trước Cách mạng Tháng Tám của Xuân Diệu không chỉ mang nỗi buồn mênh mang kiểu thi nhân trước thời cuộc "Tôi
Trang 29bu ồn không hiểu vì sao tôi buồn", mà còn cảm nhận thấy nó trong mọi biểu hiện của cuộc sống
Bởi suy cho cùng thì chân lý cuối cùng và cao nhất của nghệ thuật là cuộc sống Nghệ thuật không thể nào là một thế giới riêng ở ngoài đời Chẳng hạn như Xuân Diệu viết về:
Nỗi khổ đau của con người trong Thương vay, Người học trò tốt, Cái hỏa lò, Đứa ăn
mày
Nỗi niềm ẩn sâu của vật như trong truyện Chó hoang, Mèo hoang, Chuyện cái giường
Qua những tác phẩm này, chúng tôi thấy: chính hiện thực đời sống xã hội ấy đã thôi thúc Xuân Diệu cầm bút Cho dù có thể Xuân Diệu chưa trải đời nhiều, nhưng cũng đủ năng lực
nhận biết mọi biến cố xảy ra quanh mình, "Tuy nhiên, tôi cũng đủ thương đau để mà đứng lên
t ố khổ không tiếc lời cái xã hội cũ." (25, T3, tr.l72)
Sau 1945, Xuân Diệu cùng bao người khác hăm hở đến với cách mạng với tâm trạng của
một người đi trong bóng tối, bỗng thấy ánh sáng ở phía trước cứ tiến lên, dù có đôi chút bận tâm về việc "mặc áo mới" "Cách mạng Tháng Tám đến, lôi bật tôi ra khỏi cái vũng lầy quằn
qu ại đã cứu tôi và cứu tư tưởng cửa tôi nếu không tôi đi vào trụy lạc, bán văn buôn chữ, sa đoạ thành bồi bút chính trị; hai nữa là tôi hóa điên”(25, T3, tr.l86) Và Xuân Diệu đã tìm thấy
con đường đi cho mình, tất nhiên không phải là kiểu "hành động đề mà hành động" của André
Gide, mà là hoạt động cách mạng, hoạt động có mục đích, cùng với quần chúng nhân dân lao
động "Đảng trao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho ngòi bút tôi Tôi rộng mở bước vào kháng
như thấy Xuân Diệu giống như một "người thư ký trung thành" của thời đại Cái hay của những
trang ký giàu chất sử thi không dừng lại ở chỗ ghi chép sự kiện mà còn ở những cảm xúc chân
Trang 30thành thiết tha sâu lắng của người nghệ sĩ đối với hiện thực khách quan sinh động đó Chẳng
hạn như:
Xuân Diệu nói đến những biến cố lịch sử lớn của dân tộc Ngày độc lập 2-9-1945 "Ngày
độc lập mồng 2 tháng 9 năm ngoái (1945) đánh một dấu mạnh vào lịch sử Việt Nam Nếu ngày
T ổng khởi nghĩa Thủ đô (19-8-45) là ngày cướp chính quyền, thì Ngày Độc lập tổ chức tại Thủ
đô tượng trưng cho sự chính quyền an định " (25, T2, tr.372)
Sở dĩ sau 1945, Xuân Diệu viết văn xuôi nhiều là vì nhà thi sĩ của chúng ta giờ đây như cá
gặp nước, tha hồ vùng vẫy trong lòng nước mẹ Bởi Tổ quốc, dân tộc, nhân dân là nguồn cảm
hứng lớn của Xuân Diệu Vì vậy mà bằng năng lực quan sát, cảm nhận và vốn sống của mình, Xuân Diệu đã phát hiện ra trong những hình ảnh, trong những cái bình thường của hiện thực khách quan có những điều người khác không nhận thấy hoặc có thấy nhưng bỏ qua và nâng nó lên thành cái mới, cái tiêu biểu, thậm chí đã tiếp thêm sức sống cho nó bằng năng lượng cảm xúc dạt dào của mình
Sáng tác văn chương, ngoài sở thích, tâm hồn, tình cảm(cảm hứng nghệ thuật) thì cần
phải có một cách thức thể hiện Xuân Điệu đã hội tụ đủ các yếu tố ấy Nếu bảo cái nào đóng vai trò quyết định khiến Xuân Diệu viết văn xuôi thì khó có thể giải đáp thoa đáng Chỉ biết rằng,
nó là tất cả, là sự tổng hợp các yếu tố, nguyên nhân làm nên những áng văn xuôi giàu chất văn chương, chất nhân văn của Xuân Diệu
Đi tìm "chất văn" trong văn học cũng chính là đi tìm cái đẹp của nghệ thuật Theo quan
niệm này thì văn chương phải là những áng văn đẹp Một vẻ đẹp như vốn phải có, một vẻ đẹp không theo một khuôn mẫu có sẩn, một vẻ đẹp hướng đến con người, lấy con người làm trung tâm
Trong một tác phẩm văn học, "chất văn" được thể hiện qua ý, qua lời- tức là qua hệ thống
nội dung tư tưởng và các hình thức nghệ thuật Nhà văn V Hugô đã có một câu nói rất hay "thơ
là t ừ trong những ý tưởng và ý tưởng lại đến từ trong tâm hồn" Như vậy cũng có nghĩa là
"chất thơ", "chất văn" xuất phát từ tâm hồn người nghệ sĩ - là sự biểu hiện năng lực nhận thức
cuộc sống, tài năng sáng tạo văn học của họ Mác đã nói "tất cả những gì thuộc về con người
đều không xa lạ đối với tôi" Vì vậy mà dù sáng tác văn chương theo kiểu tư duy nghệ thuật
Trang 31nào (hiện thực hay lãng mạn), dù tiếp cận hiện thực khách quan theo lối (chủ quan hay khách quan), mỗi nghệ sĩ phải có một năng lực, một tài năng riêng để tác phẩm của mình giàu chất văn chương, sống mãi với thời gian, tồn tại trong các thế hệ loài người
Trong các tác phẩm của Xuân Diệu, "chất văn" tràn ngập tác phẩm Mỗi bài thơ bài văn, truyện ngắn đều là những bức tranh đẹp Vì Xuân Diệu đã nắm bắt được cái "hồn" của hiện
thực cuộc sống, xã hội Xuân Diệu quan niệm "Trong thơ ngoài cái hồn của sự vật còn phải có
cái thân th ể cửa sự vật" Chính "cái hồn và cái thân thể của sự vật" mà người nghệ sĩ cảm nhận
là cái làm nên chất văn trong các sáng tác của Xuân Diệu nói chung, trong văn xuôi nghệ thuật nói riêng
Đọc văn xuôi của Xuân Diệu, yếu tố hiện thực cuộc sống, xã hội không nhiều, không
ngổn ngang, nhưng lại đầy ắp những góc cạnh, sắc màu sống động và có hồn Trong phần mở
đầu của Phấn thông vàng, Xuân Diệu đã nói "Xin đừng tìm trong Phấn thông vàng những
truy ện có đầu đuôi Ở đây chỉ có một ít đời và rất nhiều tâm hồn, hợp lại thành bao nhiêu nghĩ
ng ợi bâng khuâng"(25, T2, tr.7) Tất nhiên hiện thực cuộc sống xã hội là mảnh đất sống, nếu thoát ly nó, tác phẩm sẽ chết
Ph ấn thông vàng là một câu chuyện về một chàng họa sĩ giữa rừng thông chín, trong một
buổi chiều mà thiên nhiên dù có đẹp đến bao nhiêu cũng không lấp đầy chỗ trống trải trong lòng "Nhưng chàng không thể không cô đơn, khi thây rừng đẹp"(25, T2, tr.l2) Chàng họa sĩ
cuối cùng nhận ra một điều rất đỗi bình thường mà lâu nay làm chàng khổ đau "Tình yêu của
loài cây xa xôi, vi ễn vọng như thể, không tính toán gần gũi như của loài người Chàng đã mở lòng nh ận lấy bài học ngụ trong bài thơ của Phấn thông vàng để rồi đi tìm lại cuộc đời, lăn vào s ự sống mà yêu, yêu và cho, cho tất cả lòng tươi thắm của chàng" (25, T2, tr.l7-18)
Nếu trong Phấn thông vàng, chất văn dễ nhận thấy, thì trong Chiếc áo trấn thủ chất văn
ấy ở đâu? Có gì đẹp trong chiếc áo bình thường ấy? "Những cái áo căng ngực bằng bông mà
hình như có cái gì bằng sắt Áo ngự hàn của quân đội nước nào mua bằng gì chúng tôi chẳng
bi ết; chứ cái áo trấn thủ của người lính Việt Nam thì làm tất cả bằng tấm lòng dân chúng Việt Nam Súng đạn là sức mạnh, nhưng chăn áo là cảm với tình cho nên tôi đã ứa nước mắt khi
th ấy những áo trấn thủ đầu mùa trong đêm 19 tháng chạp 1946" (25, T2, tr.380)
Trang 32Có thể thấy, dù đứng ở vị trí nào, đối diện với hiện thực như thế nào, Xuân Diệu đều phát
hiện ra vẻ đẹp- chất văn trong đời thường Nến qua những trang viết của ông, tất cả đều có hồn,
có sức sống mãnh liệt Xuân Diệu như con tằm nhả tơ làm đẹp cho đời Những áng văn xuôi ấy không ch! mang hơi thở, nhịp đập của trái tim Xuân Diệu, mà còn có cả những dấu tích, hình ảnh của lịch sử, của sự tồn tại tự nhiên vốn có
Như vậy, cái làm nên chất văn trong văn xuôi của Xuân Diệu chính là ở ngay bản thân
của nhà thơ- ở cái tâm nhân ái, cái tình bao la và ở năng lực nhận thức hiện thực cuộc sống đầy tài năng sáng tạo của ông Xuân Diệu đã biết đẩy hiện thực (thông qua suy nghĩ của mình) đến
sự phát triển cuối cùng của nó là trở về với cuộc sống, hoá thành sự sống bất tử Và rõ ràng
chất văn trong văn xuôi của Xuân Diệu là chất văn hướng đến con người, vì cuộc sống con người mà tuôn chảy, kết nối với nhau trong tất cả các sáng tác thơ, văn của người nghệ sĩ
1.2 VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA XUÂN DIỆU MANG TÂM HỒN LÃNG MẠN CỦA NHÀ THƠ:
Xuân Diệu - nhà thơ viết văn xuôi và văn xuôi của Xuân Diệu là văn xuôi của một nhà thơ Đây chính là điểm mấu chốt khiến văn xuôi của Xuân Diệu khác với những nhà vãn khác Xuân Diệu chọn và viết văn xuôi một cách có chú ý, nhưng ông lại không bám sát các yêu cầu
của thể loại, ông đi ra ngoài các qui định ấy, miễn sao diễn tả cho được dụng tâm của mình
"Câu chuy ện cũng như một cái giá để mắc áo, một cái giàn cho hoa leo cốt nhất không phải ở nơi cái giá hay cái giàn, mà ở nơi gấm vóc lụa là, ở nơi chùm thiên lý và mấy con ong kể gì cái chuy ện Miễn là có những ý tưởng chảy thành tràng giang"(25, T2, tr.8) Ý định của Xuân
Diệu về tạo dựng riêng cho mình một cách viết là một biểu hiện của sự thức tĩnh ý thức cá nhân không chỉ trong suy nghĩ mà còn trong sáng tạo nghệ thuật Như vậy niềm hứng thú trong sáng tác văn xuôi nghệ thuật- truyện ngắn của Xuân Diệu là nội tâm, là nỗi lòng của chính nhà nghệ
sĩ, chứ không phải là ở thể loại Nhờ vậy mà văn xuôi của Xuân Diệu là những trang văn gần
với thơ Việc lựa chọn một hướng sáng tạo, một lối đi riêng cho mình đã thể hiện khuynh hướng sáng tác của nhà nghệ sĩ này Bởi đó là phương tiện để người viết thể hiện mình một cách rõ nhất, đầy đủ nhất, để nhằm giao tiếp, đối thoại với người đọc về những vấn đề của cuộc
sống và con người đương thời
Trang 33Ngay từ những bài thơ đầu tiên, Xuân Diệu đã mang đến cho thi ca Việt Nam một hồn thơ
"thi ết tha, rạo rực, băn khoăn” và "còn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non l ặng lẽ này" (104, tr.l06) Cũng từ ngày ấy, Xuân Diệu trở thành thi sĩ mới- một thi sĩ
mang tâm hồn lãng mạn, "một thi sĩ theo khuynh hướng sáng tác lãng mạn" (101, tr.l22)
"Khuynh hướng sáng tác lãng mạn" xuất hiện cùng thời với những khuynh hướng sáng
tác khác như "hiện thực phê phán", trong những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong giai đoạn
1930 - 1945
Theo Hê ghen thì nghệ thuật lãng mạn là loại nghệ thuật không chấp nhận thực tại khách quan, là.một nghệ thuật không muốn "mô tả hiện thực có thực" mà chỉ chú trọng đào xới cảm
xúc chủ quan của "cái tôi nội cảm" và vấn đề lớn nhất đối với họ là vấn đề "tự do tuyệt đối"
Ngay cả Lép Tônxtồi cũng cho rằng : "Chủ nghĩa lãng mạn là do sợ nhìn thẳng sự thật mà ra"
Chính vì vậy mà những nhà văn, nhà thơ theo trường phái nghệ thuật này "thường đòi hỏi cái
hoàn mĩ, cái tuyệt đích; tự nuôi mình bằng ảo tưởng, ảo vọng" (101, tr.l22) Nên khi đối diện
với thực tế, họ thất vọng, bất lực, bơ vơ và luôn mang tâm trạng chán nản, hoài nghi, mặc cảm,
cô đơn Xuân Diệu cũng vậy Chỉ có khác là Xuân Diệu không đến nỗi bi quan quá để thành tiêu cực Bởi vì: Xuân Diệu đã có phần dám nhìn thẳng vào sự thật để thấy được vẻ đẹp đáng yêu của cuộc sông, của con người; để mà từ đó ca ngợi, trân trọng và tin yêu Mặc dù có lúc Xuân Diệu phải vội vàng, gắp gắp, tham lam và không kém phần liều lĩnh:
"Mau v ới chứ vội vàng lên với chứ
Em, em ơi ! Tình non sắp già rồi"
(Gi ục giã)
Vì sao vậy? vì một lẽ rất hiển nhiên "Xuân Diệu rất yêu đời, rất tha thiết với cuộc sống"
(101, tr.l21); Trong văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu, yếu tố hiện thực không mất đi, trái lại, dưới cái nhìn lãng mạn của nhà nghệ sĩ, hiện thực ấy mang một vẻ đẹp lãng mạn hơn Theo Nguyễn Lương Ngọc, trong Nhổ bạn thì Xuân Diệu là "một nhà văn hiện thực một trăm phần
trăm Nhiều truyện trong thơ, trong văn của anh cũng tương tự như thể Truyện Phấn thông
Trang 34vàng là m ột truyện thực, là một cảm hứng thực anh đã chụp được một phô tuyệt diệu, một phô
r ất thực như cuộc sống bình lặng trối qua ở giữa thị thành náo nhiệt;"(126, tr.513)
Biểu hiện vẻ lãng mạn giữa thơ và văn xuôi của Xuân Diệu cơ bản là giống nhau Nhưng
biểu hiện lãng mạn giữa văn xuôi của Xuân Diệu trước 1945 khác với văn xuôi sau 1945
Những biểu hiện lãng mạn ấy được thể hiện ở những mặt sau:
1.2.1 Cách nhìn cuộc sống:
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, trong thơ và văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu,
cuộc sống có hai mặt cùng song song tồn tại bên nhau
Đầu tiên là vẻ đẹp - vẻ đẹp của thiên nhiên đầy sự níu kéo Xuân Diệu là nhà nghệ sĩ có
tấm lòng thiết tha gắn bó với sự sống, với cuộc đời, mong được sống mãi giữa cuộc đời Trong con mắt của kẻ si tình, có lẽ không đâu đẹp bằng ở đây Cái đẹp của thiên nhiên, của đất ười như hoa với cái đẹp trong lòng người trong cuộc sống Và sẽ chẳng tìm đâu được những lời lẽ lãng mạn như thế này ỏ trong thơ, với "Khí trời làm bằng tơ bằng thơ”(Nhị Hồ),
Hay ở Phấn thông vàng cũng vậy: "Ấy là một buổi chiều hè, khi nắng chín muỗi nhưng
còn lâu chưa rụng, ngày như đứng sững để cho sắc vàng đừng trôi chảy hay đổ xiêu; Một sắc vàng không r ực rỡ nhưng nguy nga, tưởng đã yếu nhưng thực mạnh thầm, lâu đài ngâm nga ở trong không khí" (25, T2, tr 11)
Không dừng lại ở đây, Xuân Diệu còn đẩy cái đẹp lên một mức cao hơn, thật hơn, tựa như Xuân Diệu đã "đốt cảnh Bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”(104, tr.30) "Suốt một đêm trường,
đất không sao ngủ được Cả mình sóng chuyển; cái ngực của đất phồng lên Không muốn ngủ,
mà ng ủ làm chi ! Đất cựa mình vì xốn xang trong da thịt Lệnh đã truyền" (25, T2, tr.l37) Sau nữa là cái không đẹp, cái làm nghẹt tim, làm vỡ mộng cuộc sống Xuân Diệu cũng
giống như bao người khác cùng thời, khi không thoa mãn được ước vọng của mình thì thường
vỡ mộng, nếu không tự đánh lừa mình bằng ảo vọng thì cũng rơi vào đường cùng của sự hoài nghi, mặc cảm Trong con mắt và tâm tưởng của nhà thi sĩ lúc bấy giờ cái gì cũng mang một
vẻ buồn man mác, buồn thê lương; đâu đâu cũng tràn ngập bóng tối của sự cùng đường Một không gian hiu hắt và tràn ngập bóng tối Cái nhìn về cuộc sống như thế này, không phải chỉ có
Trang 35ở Xuân Diệu, mà còn có ở những nhà văn khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Bởi
với những nhà văn này, tất cả những khung cảnh hiện thực của cuộc sống thường có sức gợi
cảm đặc biệt Đó là những nỗi buồn đến nao lòng trước vẻ đìu hiu, phẳng lặng đến đơn điệu,
mỏi mòn của nó Khung cảnh ấy không phải là những mảng sống bề bộn, xô bồ, dữ dội gay cấn
của đời sống hiện thực như trong sáng tác của các nhà văn hiện thực Nếu như có lúc Xuân
Diệu muốn "Tắt nắng, buộc gió" thì nay sự đứng lại ấy không có nghĩa lý gì cả Trái lại càng
làm tổn thương tâm hồn thi sĩ Nếu trong văn xuôi nghệ thuật của Thạch Lam biểu hiện sự nghèo nàn, giá lạnh của cuộc sống, của biết bao số phận nghèo khó, thì ngược lại, trong văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu, cuộc sống chỉ là sự kéo dài lay lắt sự sống một cách vô vọng, mòn mỏi "Cơn đường Nam Giao thẳng mà không bằng ; tôi khởi sự đi trong ánh sáng, và tôi
t ới lần trong bóng tối tôi không biết đời bên trong và không hay đời bên ngoài Hoàng hôn Ễnh ương kêu Tiếng ảo não, hơi phồng, như trong ấy có sự gắng sức, tiếng rậm, và nhiều, và thê lương như sự chết, làm sôi bống hoàng hôn" (25, T2, tr.20) Cách nhìn cuộc sống của Xuân
Diệu biểu hiện rõ trong cảm nhận về không gian và thời gian Không gian thường gặp trong
văn xuôi Xuân Diệu là không gian hiu hắt, không gian về chiều mà ngay cả trong Phấn thông
vàng, không gian ấy cũng đượm vẻ u buồn Đến Tỏa nhị kiều, Cái giường, không gian ấy như
đặc quánh lại, tà trệ một cách đáng sợ sống trong bầu không khí ấy, thời gian như ngừng trôi,
nói như Lưu Khánh Thơ trong Xuân Diệu-nỗi ám ảnh thời gian, thì thời gian trong văn xuôi
nghệ thuật trước 1945 của Xuân Diệu mang yếu tố lưỡng tri
Theo chúng tôi, để những trang văn xuôi ấy của Xuân Diệu còn hiện diện với đời chính là
ở chỗ nhà văn đã nhìn thẳng vào cuộc đời, vào hiện thực xã hội Việt Nam thời bấy giờ - cuộc sông của người dân nô lệ, mất nước Chỉ khác một điều là Xuân Diệu không hướng ngòi bút
của mình về phía cảm quan hiện thực, mà hướng về cảm quan lãng mạn Như vậy không có nghĩa là Xuân Diệu thoát ly hiện thực Yếu tố hiện thực ấy được Xuân Diệu phản ánh qua tâm
trạng, cảm xúc chủ quan, qua tâm hồn nhạy cảm của Xuân Diệu Vì đó là hiện thực đã được nhà văn chiêm nghiệm, nên nó có giá trị biểu cảm, đủ sức lay động lòng người
Sau Cách mạng Tháng Tám, cách nhìn đời, cuộc sống của Xuân Diệu khác hẳn với trước đây Bởi lẽ, Xuân Diệu đã tìm được "cha mẹ của mình", đã tìm được chỗ đứng của người nghệ
sĩ trong cuộc sống cách mạng lớn lao của dân tộc Mặc dù cách mạng đến không phải là sự trải
Trang 36thảm đỏ một cách sẩn có; cách mạng còn muôn vàn khó khăn, con người phải đối mặt với thực
tại cũng không kém phần khắc nghiệt Thế mà Xuân Diệu lại thấy:
"Nhưng cũng lạ , giữa mưa nguồn thác lũ
B ốn bề cây sao chẳng thấy bơ vơ."
(L ệ)
Trong ký Nh ững thành phố nứa, Xuân Diệu đã không dấu nổi niềm vui của người kháng
chiến "đi, và đi, tên những thành phố Nứa tích dần trong tình cảm Con người kháng chiến
thu ộc đất nước từng phân tây một, thuộc kỹ càng từng ngách ngõ một vùng ” (25, T2, tr.427)
Nếu nói rằng "Hữu xạ tự nhiên hương" theo chúng tôi chỉ có một nửa, còn một nửa nữa là
do chính nhà thi sĩ làm nên- do tâm hồn lãng mạn của nhà thơ mà thành Ở đây ngòi bút lãng
mạn của Xuân Diệu như là một sự đồng cảm với ngòi bút sáng tác của Nguyễn Tuân khi nói về
vẻ đẹp của Sông Đà, con sông mà tác giả thuộc cả những dấu ''chấm câu, và những đoạn xuống
dòng" của nó Cái nhìn lãng mạn của Xuân Diệu qua những trang văn xuôi viết về cuộc sống như có hồn hơn và đậm chất nhân văn, bởi vì Xuân Diệu yêu tha thiết cuộc sống
Việc Xuân Diệu chọn cho mình một cách nhìn cuộc sống trước và sau 1945 đã thể hiện cách tiếp cận cuộc đời của nhà nghệ sĩ: Xuân Diệu lãng mạn nhưng không xa lánh cuộc đời
Cuộc sống thì muôn màu, muôn vẻ, con người phải sống gắn bó với cuộc đời ấy Dù trong hoàn
cảnh nào cũng phải nhận thấy cuộc sống này đáng yêu, đáng sống
1 2.2.Cách nhìn con người:
M.Gorki đã từng nói "Văn học là nhân học", văn học nghiên cứu về con người không
giống với các khoa học khác Văn học nhìn con người như một sản phẩm tuyệt vời của tạo hoá,
như là "tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Văn học luôn đặt con người ương các mối quan hệ
với thiên nhiên, với xã hội để tìm hiểu và khám phá Và cũng chỉ khi được đặt trong mối quan
hệ gần gũi và rộng lớn ấy, con người mới hiện lên rõ nét, trọn vẹn như nó vốn có trong cuộc đời Điều này đã khơi nguồn cho cảm hứng lãng mạn trong văn học
Xuân Diệu là một thi sĩ đi theo khuynh hướng lãng mạn, chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa nhân văn thời Phục Hưng- là chủ nghĩa đại diện cho tiếng gọi của con người tự do, không
Trang 37chịu khuất phục trước sức mạnh vật chất nào- Với tâm hồn yêu đời, yêu người của mình, Xuân
Diệu đã hướng ngòi bút của mình về phía con người Mặc dù Xuân Diệu đang bày tỏ cái tôi cá nhân của mình, nhưng văn thơ Xuân Diệu vẫn nói hộ tình cảm, những nỗi niềm của con người,
vì "Đã có những thiếu niên, những thiếu nữ hoan nghênh tôi" (104, tr.l09)
Cách nhìn con người của Xuân Diệu ở hai giai đoạn cũng khác nhau:
Trước Cách mạng Tháng Tám, cách nhìn con người của Xuân Diệu chịu ảnh hưởng nhiều
của nghệ thuật lãng mạn "nhân vật ước lệ chỉ có tâm trạng là rõ nét, còn khuôn mặt thì mở
nh ạt" Cũng đúng thôi, trên nền của bức tranh hiện thực cuộc sống (như đã trình bày ở mục
2.1), là những số phận con người nghèo khổ, bất hạnh Vì vậy mà con người trong tác phẩm
của Xuân Diệu nói chung, văn xuôi nghệ thuật nói riêng còn là những con người: cổ đơn, nhỏ
bé, tội nghiệp có tên hoặc không tên; có một gia đình hoặc không gia đình; là những kiếp người hèn mọn bị cuộc đời xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le Trong không gian giàu sức gội cảm ấy,
họ trở nên nhỏ bé, thấp hèn, sống âm thầm chịu đựng Dù sướng hay khổ, theo quan niệm của
họ thì mỗi nhân vật là một số phận trong cuộc đời này Chính vì lẽ đó mà Xuân Diệu đã có chủ
đích khi xây dựng hệ thống nhân vật - con người trong sáng tác của mình "kể gì cái truyện !
Chàng này, nàng kia, hay ông n ọ có hệ trọng đâu Trong phần nhiều "truyện" của tôi, vai chính không ph ải là một người, mà là một nỗi lòng, một tình ý, hay một con vật, một đồ dùng"
(25, T2, tr 9) Đây chính là biểu hiện lãng mạn qua cách nhìn con người của Xuân Diệu
Nhưng đến truyện ngắn Tỏa nhị Kiều thì đã là một cách nhìn sâu sắc hơn Từ dáng vẻ tựa
cửa "nghĩ ngợi gì" của các thiếu nữ trong thơ, đến cuộc sống "mờ nhạt", "ngẩn ngơ" của hai cô
gái Quỳnh và Giao trong văn xuôi đã là một trường liên tưởng thẩm mĩ giàu chất nhân văn Xuân Diệu đã đưa người đọc quay về quá khứ, để cảm nhận được thế nào là buồn chán, tẻ nhạt
của cuộc đời; để từ đó như hàm chứa một sức mạnh chống lại, thoát khỏi cuộc sống đó- sống
mà như thế thì sống để làm gì ? và Xuân Diệu phải thốt lên"Tôi thương hai cô như thương hai
con v ật ngẩn ngơ trong rừng lạc Buổi chiều của hai cô mờ nhạt, kéo dài, hai cô lẫn trong sương mà"(25, T2, tr.111) Nhà văn không chỉ nhìn thấy quá khứ, cội nguồn của sự nghèo đói,
của bà lão trong Thương vay, mà mà còn nhìn thấy cả tương lai của hai nàng kiều này Đối với
họ, cuộc đời, duyên phận chìm dần, lỡ làng và vô vọng Sự trầm lặng đơn điệu của cuộc đời cứ như bao phủ lên cả một xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám
Trang 38Nếu như Xuân Diệu nói được thẳng ra như Nam Cao trong tác phẩm Đời thừa qua nhân
vật Hộ "Anh Anh chỉ là một thằng khốn nạn" thì sẽ nhẹ bớt được chút gì đó Nhưng
không, nhân vật của Xuân Diệu hầu như vô ngôn (thông qua nhân vật tôi của chính nhà văn);
hầu như là nội tâm: Từ chàng họa sĩ trong Phấn thông vàng "Chàng tự nói và đi tìm danh sơn
th ắng cảnh, nhưng thực chỉ đem nỗi thất vọng đi giữa thế giới của cảnh và người Chàng thấy
h ết rồi, lòng mệt mỏi và trống không như một toa lầu bị cướp đi"(25, T2, tr.l4); Từ một hình bóng của bà lão trong Thương vay "Họ đi như đứng, lẩn ngẩn như nhờ gió thổi đi tợ hồ chỉ
thu ộc về sự sông một chút thôi lặng thỉnh, lặng thinh, không có một tiếng Như ngủ lặng thinh."(25, T2, tr 25); Đến Cái hoả lò, khi má và chị Bốn dành nhau cái hỏa lò, bị bà đánh,
chửi, thì Xuân Diệu cũng chỉ miêu tả lại cảnh đối đáp: "Tiếng má và chị Bốn đáp lại cùng một
l ần, nói cả giây, cả lũ Chị vừa kể vừa khóc tầm tã Bà thét, má nói, chị khóc Siêu vùng chạy
m ột mạch, khóc ré lên" (25, T2, tr.70) Thậm chí cả đến con chó, con mèo dấn thân vào đời với
một kiếp "đi hoang"; hay những đồ vật vô tri dù có được một thời yêu kiều, nâng niu như Cái
giường cũng phải bộc lộ tâm trạng Thông qua nhân vật, Xuân Diệu đã giãi bày tâm tưởng của
mình, nhưng hình như ông không muốn bàn đến những vấn đề, những mâu thuẫn của thời đại
Phải chăng những thi sĩ lãng mạn như Xuân Diệu đã từ chối "đơn đặt hàng của xã hội", chỉ
nhận có "đơn đặt hàng" của "trái tim" ?
Không ! Không hoàn toàn như vậy ! Những thế hệ như Xuân Diệu biết làm gì trước cuộc
đời này Nên dù phải chấp nhận những điều nghiệt ngã ở đời "Sơn muốn dứt mạnh cái giây tình
c ờ đến buộc lấy chân Sơn Sơn đi nhanh, để con chó hoang không theo kịp ”, vẫn còn chút
tình le lói trong cuộc đời - chút le lói lãng mạn của người nghệ sĩ lãng tử "Sơn não nùng bước
đi, như người ta đau đớn ngoảnh mặt tránh một cách thê thảm tuy chàng nhất định khống ngo ảnh lại, sợ gặp đôi mắt thảm thiết của cái lỉnh hồn đầu đường xó chợ kia Sơn rùng mình,
vì chàng thây mình đương dẫm lên tình cửa một con chó rách, dẫm lên trái tim tội nghiệp của
m ột con vật tồi tàn"(25, T2, tr.l00)
Có thể thấy với bút pháp trữ tình lãng mạn, những trang văn xuôi của Xuân Diệu cho ta
thấy một thi sĩ Xuân Diệu tuổi đời còn rất trẻ, nhưng là người có trái tim nhân ái Những nhân
vật trong văn xuôi trước 1945 của Xuân Diệu dù có cô đơn, nhỏ bé, tội nghiệp như thế nào đi
nữa, thì vẫn là những con người có vẻ đẹp toả sáng trong cuộc đời tối tăm Tình cảm của Xuân
Trang 39Diệu, cách nhìn người, đánh giá con người của ông thật đáng trân trọng Người ta không chỉ
biết một "ông hoàng" của thơ tình, mà còn đến một nhà văn lấy tư tưởng lãng mạn của mình, để vượt lên mọi khốn khó trong cuộc đời, tạo dựng một niềm tin yêu về con người Việt Nam trước
1945
Sau Cách mạng Tháng Tám, cách nhìn con người của Xuân Diệu khác hẳn trước Đó không còn là những con người đơn lẻ, sống trong buồn lo, mà là những tập thể quần chúng nhân dân lao động- những người kháng chiến, người cách mạng- những con người làm nên lịch
sử Có một điều rất lạ là ở những con người này không có những âu lo cá nhân riêng lẻ; họ có chung một nỗi đau và niềm vui-đó là được sống trong một tập thể yêu thương; được làm việc lao động, chiến đấu vì một mục đích đuổi quân thù ra khỏi đất nước
Nói như vậy rất có thể có người cho rằng cách mạng chỉ có súng với đạn, thì làm sao còn lãng mạn được? vẻ lãng mạn, chất lãng mạn của người thi sĩ nằm ở đâu? Thưa rằng : nó nằm ngay trong tiếng súng tiếng đạn ấy "những câu hát của đồng quê không vì giặc mà tắt hết
Nh ững cơn khủng bố đầu tiên, người ta than khóc Nhưng sau, người ta lấy gan sắt đá mà
ch ống cảnh nghịch Đánh giặc còn lâu, thì tội gì mà không hát, cười Mọi người làm lụng
M ọi người cắt, buộc, gánh gồng Câu chuyện cửa người Việt Nam tung lên với tiếng cười
Ch ứng ta là một dân tộc của ngày mai" (25, T2, tr.261)
Ngòi bút lãng mạn, tâm hồn lãng mạn của nhà thơ đã như chắp cánh cho những trang văn xuôi sau 1945 của ông Những trang văn phục vụ sát sao cuộc sống lao động, sản xuất của dân
tộc Cái nhìn lãng mạn làm cho cái đời thường đẹp hơn, lung linh, nhiều vẻ hơn
1.2.3 Cách sống:
Dù là trước hay sau Cách mạng Tháng Tám, Xuân Diệu vẫn mãi là một thi sĩ Xuân Diệu
sống gắn bó với đời, hết mình với đời Và cũng từ quan niệm sống ấy, Xuân Diệu đã đề ra cho mình một cách sống: sống không phải để hưởng thụ, mà sống để cống hiến, để viết Cách sống
ấy biểu hiện ở các mặt sau:
Sống phải giao hoa với thiên nhiên, với con người, với cuộc đời Từ sự giao hoa ấy mà Xuân Diệu đã tìm thấy phần hồn của đối tượng khách quan
"Không gian như có giây tơ,
Trang 40Bước đi sẽ dứt, động hờ sẽ tiêu
Êm đềm chiều ngẩn ngơ chiều, Lòng không sao c ả, hiu hiu khẽ buồn."
(Chi ều)
Trong văn xuôi thì "Thu không phải là mùa thu sầu Ấy chính là mùa yêu, mùa yêu nhau
b ằng linh hồn, mùa những lỉnh hồn yêu mến nhau" (25, T2, tr.l65)
Có thể thấy rằng: sự giao hoà giữa thiên nhiên và con người (nhà thơ) đã tạo nên một trường không gian nghệ thuật đầy sắc màu liên tưởng Nên bất cứ sự vật, hiện tượng gì của thiên nhiên xuất hiện trong thơ, văn của Xuân Diệu, thì lập tức có sự liên tưởng đến không ngờ
Sự liên tưởng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Nếu sự vật hiện tượng vô tư, thì nhà thi sĩ làm cho nó sống lại, tiếp thêm phần hồn cho nó để trở thành bất tử "Tôi là một cái giường hư bỏ
trong nhà ch ứa đồ cũ Tôi buồn lắm tôi có chuyện cửa tôi chứ tôi biết nhiều lắm Nhưng mà tôi chưa nói đâu Tốỉ mới thây rõ: đời chỉ có ý nghĩa với tôi mỗi khi đêm về Trong những
m ạch đã khô, đã cứng, tôi tưởng nghe máu cây chạy lại, tôi bàng hoàng nhớ tưởng, thấy mình
l ại có da tươi, thịt mát, máu nâu" (25, T2, tr.l25)
Và ngược lại nếu nó là mầm sống thì phải cho nó sống khỏe hơn, ý nghĩa hơn "Tất cả
đều làm việc Tất cả giao hoà, giúp sức lẫn nhau Tất cả cũng đều một niềm yêu thương quảng đại.; Tất cả cùng đồng một ý trau chuốt điểm trang."(25, T2, tr.l40)
Một điểm mà chúng tôi nhận thấy là: Xuân Diệu không như những nhà văn khác khi tái
hiện không gian nghệ thuật, không gian ấy không theo một trình tự nào cả Bởi chính Xuân
Diệu chủ trương viết truyện không có đầu có đuôi, không có công việc, không "có sáng hôm
trước và chiều hôm sau"(25, T2, tr.7) Điều đó có nghĩa là sự giao hoà của tác giả đối với thiên nhiên là vô tận Ở đâu có cảnh, ở đó có tình, và chỉ có khác là cái tình ấy không chỉ vô biên, mà còn nông sâu khác nhau Khi thì "cơn gió xinh thì thào trong sóng biếc", lúc lại "Phải xem dáng điệu nàng thu gọn, mới biết nàng khéo giấu sức phá hoại của mình Chỉ còn là một làn gió nh ẹ phớt qua Áo nàng tha thướt phiêu phiêu Hồn nàng xuất trần Nàng lên tinh tú Gió bay, gió lượn, gió phất phơ như hơi thở ân tình Gió đưa duyên bướm, gió làm mối lái cho hoa Gió múa điệu lẳng lơ, nói lời cợt ghẹo Vạn vật nghe gió mà rợn tình" (25, T2, tr.l39)