1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật nguyên ngọc sau 1975

126 765 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và trong cuộc sống ngày hôm nay, họ là những người anh hùng đã hy sinh tuổi xuân của mình cho ngày vui chiến thắng, nhà văn viết về họ như một sự chia sẻ, cảm thông cho những mất mát củ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Cẩm Tú

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Cẩm Tú

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT

NGUYÊN NGỌC SAU 1975

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Bạch Văn Hợp

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Bạch Văn Hợp đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Ngữ Văn

đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại Học, gia đình và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều, nhưng sẽ không tránh khỏi

có sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành của Quý Thầy

Cô trong Hội đồng chấm luận văn để luận văn hoàn thiện hơn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 29/3/2013

Tác giả

Nguyễn Thị Cẩm Tú

Trang 4

M ỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1.Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

3.1 Đối tượng nghiên cứu 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 12

4.1 Phương pháp lịch sử 12

4.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu 12

4.3 Phương pháp thi pháp học 13

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp 13

5 Đóng góp của luận văn 13

6 Cấu trúc của luận văn 13

Chương 1 15

NGUYÊN NGỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG 15

TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NHỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG 15

1.1 Khái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam 15

1.1.1 Về khái niệm cảm hứng 15

1.1.2 Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 20

Trang 5

1.2 Cảm hứng anh hùng trong hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc 24

1.2.1 Giai đoạn trước 1975 24

1.2.2 Giai đoạn sau 1975 31

1.3 Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc 34

1.3.1 Tâm lý xã hội, ý thức nghệ thuật thời chiến 34

1.3.2 Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống 40

1.3.3 Cá tính nhà văn 43

Chương 2: 49

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU 1975 - MỘT SỰ TIẾP NỐI LIỀN MẠCH, NHẤT QUÁN 49

2.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 49

2.2 Đề tài, chủ đề nhất quán, tính cách anh hùng đa diện 51

2.2.1 Đề tài 51

2.2.2 Chủ đề 56

2.2.3 Tính cách anh hùng đa diện 58

2.3 Thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng 69

Chương 3 76

BÚT PHÁP THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975 76

3.1 Cách tiếp cận gián cách mang đầy hoài niệm 76

3.1.1 Không gian thời gian tâm tưởng 76

3.1.2 Nghệ thuật trần thuật 79

ệ thuật miêu tả ấn tượng 89

Trang 6

3.1.1 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 89

3.1.2 Miêu tả không gian – thời gian 92

3.1.3 Ngôn ngữ 99

3.3 Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện 104

3.3.1 Về khái niệm kết cấu – kết cấu lồng ghép đan xen 104

3.3.2 Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 105

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 116

Trang 7

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Sau năm 1975, đất nước đã bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, trong

đó có văn học Trong cuộc sống thời bình, con người trở về với cuộc sống đời thường, với những cái bình thường mà muôn thuở, tất cả những mối quan hệ

phức tạp của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh con người từng giờ Đời sống xã hội đã thay đổi rõ rệt Do đó, văn học cũng phải thay đổi theo cho phù hợp với tình hình mới, với cái nhìn toàn diện

và đa diện hơn

Nguyên Ngọc là nhà văn nổi tiếng trước năm 1975 với những tác phẩm

viết về người anh hùng như: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng

(tập 1), Rẻo cao Sau năm 1975, cảm hứng về người anh hùng được tác giả tô đậm với Trở lại Mèo Vạc, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con

đường mòn trên biển Đông, Tháng Ninh Nông Ở những tác phẩm này,

Nguyên Ngọc vẫn viết về những người anh hùng Một mặt, họ vẫn là những người anh hùng kiên cường sắt thép, mặt khác còn là những con người của tình yêu, đẹp và anh hùng trong tình yêu Trong chiến tranh, họ sống và chiến đấu vì đất nước, hòa bình họ lại tiếp tục những hành động đẹp của mình để

dựng xây xã hội Những người anh hùng ấy tuy đời sống hiện tại còn nhiều khó khăn nhưng bản lĩnh của người cách mạng đã rèn luyện cho họ, vững

vàng hơn, kiên cường hơn đối mặt với mặt trận không tiếng súng, vì thế càng làm đẹp hơn những hình ảnh của họ trong sự phồn tạp của xã hội hôm nay

Họ là những tấm gương sáng về sự hy sinh cho ta học tập và noi theo Vì vậy, tác phẩm của ông không những có tác dụng giáo dục sâu sắc thế hệ trẻ hôm nay mà nó còn giúp chúng ta có cái nhìn trung thực hơn về người anh hùng

Có thể khẳng định rằng Nguyên Ngọc là một cây bút văn xuôi hiện đại

Trang 8

có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học cách mạng Việt Nam Ông là

một trong những nhà văn – chiến sĩ đi tiên phong cùng các phong trào của cách mạng Việt Nam từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đặc biệt ngòi bút của ông càng sâu sắc, chiêm nghiệm hơn, nhiều suy tư trăn trở hơn trong

thời kì đổi mới ngày hôm nay

Tìm hiểu Cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật

Nguyên Ngọc sau 1975 là một việc làm cần thiết Ngoài việc giúp hiểu thêm

về phong cách sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc và sự thay đổi cách nhìn về người anh hùng của ông, thì việc nghiên cứu đề tài cũng góp thêm vào cái nhìn toàn diện về sự chuyển biến của văn học Việt Nam sau năm 1975 – nhất

là mảng sáng tác về đề tài chiến tranh, về người chiến sĩ cách mạng

thời đại, của đất nước anh hùng, những người thật việc thật Và trong cuộc

sống ngày hôm nay, họ là những người anh hùng đã hy sinh tuổi xuân của mình cho ngày vui chiến thắng, nhà văn viết về họ như một sự chia sẻ, cảm thông cho những mất mát của họ, đồng thời trăn trở với chính cuộc sống hiện

tại còn nhiều thiếu thốn của họ Điều này đã được nhiều nhà văn, nhà nghiên

cứu, nhà phê bình văn học giới thiệu, phân tích và chọn làm đề tài khoa học

2.1 Những ý kiến đánh giá chung về Nguyên Ngọc

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Nguyên Ngọc – Con người lãng mạn đã

có một đánh giá tổng quát về con người và phong cách của nhà văn Nguyên

Ngọc, một cảm nhận trực cảm về nhà văn Nguyên Ngọc như sau: “…chuyện

Trang 9

của Nguyên Ngọc thường là những trải nghiệm khác thường, dữ dội, gây ấn tượng mạnh…tâm hồn Nguyên Ngọc bắt rất nhạy những gì dữ dằn, quyết liệt

và có một vẻ hoang dã như sự sống thời nguyên thuỷ” [55;329] Và ông kết

luận: “…Vì anh viết bằng lý tưởng, vì anh nhìn đời bằng lý tưởng” [55;339]

“Trong s ử thi cổ đại, lấy nguồn ở thần thoại và truyền thuyết lịch sử, là những tác ph ẩm lớn, đưa ra một bức tranh toàn cục về đời sống nhân dân thông qua câu chuyện về người anh hùng qua khứ” [3;83] Vì thế người anh hùng trong

sử thi là những con người vĩ đại, phi thường, con người chiến đấu vì cộng đồng, bộ tộc Theo ông, cái tạo nên phong cách riêng của nhà văn Nguyên

Ngọc là “người thực nhìn qua con mắt đầy lãng mạn của Nguyên Ngọc Nguyên Ng ọc không phải chỉ viết sử thi, viết văn lãng mạn Anh thật sự sống trong không khí sử thi và mang hẳn trong máu mình chất lãng mạn” [55;337]

Phan Tứ người bạn cùng học, người chiến sĩ, là nhà văn cùng thời với Nguyên Ngọc trong bài Nguyễn Trung Thành cuộc sống và tác phẩm đã

nhận định như sau: “Trong cuộc sống miền Nam muôn màu muôn vẻ, anh chọn và xoáy sâu vào cái vấn đề sinh tử ấy Tất cả suy nghĩ và cảm xúc của anh xói vào hướng ấy như những mũi chông thép song song, có thể nói rằng toàn b ộ những gì anh đã viết – ký tên Nguyễn Trung Thành hoặc vài ba tên khác, tùy lúc…anh tr ả lời bằng hình tượng văn học Anh viết về những con người gan góc và thông minh đã đánh thắng Mỹ, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam”[90;120] Như vậy, ở bài viết này, tác giả đã khẳng định

rằng, Nguyên Ngọc luôn viết về người anh hùng bằng chính lý tưởng của mình, ngòi bút của ông tập trung vào những vấn đề sinh tử của đất nước, vào

những phẩm chất anh hùng để ngợi ca về những chiến công của họ, người anh hùng luôn là những con người phi thường như những mũi chông mũi thép,

sẵn sàng xông pha lửa đạn chiến tranh

Lê Trí Viễn trong bài Theo anh Núp trích trong “Đất nước đứng lên”

Trang 10

của Nguyên Ngọc, ông khẳng định: “Bài văn nhỏ nhưng ý nghĩa thật không

nh ỏ Nó là một câu chuyện anh hùng Câu chuyện anh hùng ấy lại là của

nh ững người bình thường” [95;302] Từ đó ông đi đến kết luận: “Cho đến nay, nó v ẫn còn là bài học đích đáng và thấm thía về sự trung thành với đất nước, với Tổ quốc, với độc lập tự do với dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong gia i đoạn cách mạng hiện tại” [95;302]

Trần Đăng Khoa trong bài Nguyên Ngọc – chân dung văn đã nhấn

mạnh một đặc điểm riêng biệt của nhà văn Nguyên Ngọc trong sáng tác là

viết về người tốt, việc tốt: với những trang văn của Nguyên Ngọc người đọc

cứ như đi dự một Đại hội Chiến sĩ Thi đua “từng con người, từng nhân vật là

có thật, ông viết bằng tất cả hồn mình và cái hồn ấy thuộc về cách mạng Bắt

đầu từ Đất nước đứng lên, tiếp nối mạch cảm xúc lãng mạn anh hùng,

Ng uyên Ngọc lại đưa người đọc đến với vùng rừng núi Ở đây, người đọc lại

có dịp gặp được Tnú trong Rừng xà nu” [65;92]

Trung Trung Đỉnh trong bài Nhà văn Nguyên Ngọc, con đẻ của cách

mạng, cho rằng tất cả các sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc đều là những

sáng tác về người thật, việc thật Tây Nguyên qua ngòi bút của Nguyên Ngọc

“ không còn là Tây Nguyên ch ỉ có trong huyền thoại, không còn là Tây Nguyên ch ỉ có trong truyền thuyết huyền bí mà là Tây Nguyên của một đất nước có những con người cụ thể Hình tượng Núp và bà con làng Kông Hoa của dân tộc Bah Nar từ đây gần gũi hơn, máu thịt hơn” [61;487] Về mặt

nghệ thuật, tác giả cũng khẳng định rằng: “Đất nước đứng lên đã nhanh

chóng tách đàn vượt lên, ào vào đời sống một cách hồn nhiên nhờ sức mạnh

c ủa cảm hứng sáng tạo giàu chất thơ với một bút pháp trữ tình, lãng mạn, hào hùng ” [61;488]

Phong Lê trong bài Con đường sáng tác của Nguyên Ngọc đã khẳng

định rằng: “ trong Đất nước đứng lên chan chứa một chất thơ say người Ở

Trang 11

đây bút pháp hữu tình và anh hùng ca luôn luôn cất lên những cung bậc anh hùng cao, phù h ợp với khung cảnh cuộc sống và con người miền núi gần gũi

v ới thiên nhiên bao la, rộng rãi, tươi thắm các sắc màu; phù hợp với tính cách con người chuộng cuộc sống phóng khoáng, tự do” [39;149]

Trong luận văn Thạc sĩ Cảm hứng lãng mạn – anh hùng trong văn

xuôi Nguyên Ngọc 1945 – 1975 [83], tác giả đã khẳng định được phong cách

nghệ thuật của nhà văn Nguyên Ngọc là cảm hứng lãng mạn anh hùng trong văn xuôi giai đoạn trước 1975 Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên

Ngọc ở giai đoạn trước 1975 là thủ lĩnh, người anh hùng mang màu sắc bi tráng, oai hùng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, với những hành động gan dạ, dũng cảm, căm thù giặc ngùn ngụt, sẵn sàng hy sinh, xả thân vì

tổ quốc Chiến đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc

Về mặt nghệ thuật: luận văn cũng khẳng định trong các sáng tác trước 1975

của Nguyên Ngọc là giọng văn hào hùng, ngợi ca, đậm sắc thái anh hùng Kết

hợp một cách nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ miền núi và ngôn ngữ địa phương trong sáng tác Với luận văn này, đã góp thêm hướng nghiên cứu mới, là tiền

đề, là điều kiện cho các nghiên cứu về văn xuôi Nguyên Ngọc ở giai đọan sau

1975

2.2 Nh ững ý kiến bàn riêng về Cảm hứng anh hùng trong văn xuôi ngh ệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975

Sau 1975, nhiều cây bút lại thể hiện mình trên nhiều thể loại khác nhau,

có người không thể viết tiếp được nữa cũng có người thay đổi cách viết cho phù hợp với cuộc sống mới, duy chỉ có Nguyên Ngọc, dòng chảy ấy vẫn tiếp tục và còn mạnh mẽ hơn trước Ông vẫn viết theo lối cũ Trần Đăng Khoa

trong bài Nguyên Ng ọc – chân dung văn có nhận xét rất xác đáng, như sau:

“Truy ện của Nguyên Ngọc hầu hết là thế Ông ca tụng chủ nghĩa anh hùng cách m ạng Bút pháp ông nhất quán trước sau như một, không thay đổi,

Trang 12

không quay qu ắt Trong khi đó có rất nhiều cây bút chuyển hướng hoặc thay đổi theo cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc Trước viết người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu Nguyên Ngọc không thể,

suốt đời dường như ông chỉ viết truyện người tốt việc tốt Ngay cả khi dựng nhân vật tiểu thuyết, ông cũng dựa trên những con người có thật, những sự kiện có thật ở ngoài đời” [65;96] Cảm hứng về người anh hùng là cảm hứng chủ đạo mà Nguyên Ngọc theo đuổi bởi “Văn Nguyên Ngọc là một dạng văn có

ma lực Giản dị, chắt lọc và trong veo Đó cũng là dòng văn chủ đạo rất cần có trong đời sống chúng ta hiện nay” [65;100]

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Nguyên Ngọc – nhà văn lãng mạn đã

khẳng định như sau: “Nguyên Ngọc vẫn tiếp tục hướng về đối tượng cũ, vẫn viết về người anh hùng, với giọng văn càng sôi nổi hơn, với những hình ảnh càng chói l ọi hơn, lãng mạn hơn Giờ đây cũng vẫn những người anh hùng kiên cường sắt thép ấy, nhưng họ còn là những con người của tình yêu, đẹp

và anh hùng trong tình yêu”[55;335]

Huỳnh Như Phương trong bài Nguyên Ngọc – Người ở tuyến đầu đã có

những nhận định rất tinh tế về mặt nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên

Ngọc: “Một trong những đặc điểm của văn chương Nguyên Ngọc chính là sự

k ết hợp kỳ lạ giữa hiện thực và lãng mạn, giữa thực tế và lý tưởng, giữa văn phi hư cấu và văn hư cấu Ai cũng biết hầu hết tác phẩm của Nguyên Ngọc đều bắt nguồn từ sự thật lịch sử, từ những con người và sự kiện có thực….Là

hi ện thực mà cũng là huyền thoại…” Cùng bài viết ấy, tác giả khẳng định

“Nh ững tác phẩm văn xuôi phi hư cấu gần đây của Nguyên Ngọc thể hiện sự quan tâm ngày càng l ớn đến tính chất xác thực của tư liệu, ngày càng thường xuyên hướng đến những sự kiện không thêu dệt, từ đó mở ra dòng cảm xúc

c ủa mạch văn Đồng thời, chính trong các văn bản phi hư cấu đó, yếu tố ngày càng tr ở nên quan trọng không chỉ là những chứng từ được bảo chứng về mặt

Trang 13

tư liệu mà còn là sự chính xác của ấn tượng, sự trải nghiệm qua các sự kiện,

s ự suy tưởng và trầm tư thế sự ghi dấu sự hiện hữu của cá tính nhà văn”[71;106,107]

Thúy Nga trong Nỗi lòng của nhớ và quên đã thừa nhận rằng: “Nguyên

Ngọc đã tìm thấy cái lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và

kể về điều đó bằng một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là

“mảnh đất” của riêng Nguyên Ngọc Điện Bàn viết năm 1971, Cát cháy viết

năm 1998, và bây giờ 2005, mà câu chuyện dữ dội về người và đất Điện Bàn những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh kỳ lạ như huyền thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) ba lần được

tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc Nhất là với bút ký Có

một con đường mòn trên biển Đông, với khúc ca bi tráng của những người

quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của miền Nam ruột thịt”

[57;518]

Nhìn chung, các bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước 1975

và những bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn sau 1975 của Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Tứ, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh, Phong Lê, Thúy Nga, Ngô Thảo, Huỳnh Như Phương chỉ mới dừng lại ở

một số bài báo hay những nhận định, đánh giá, khái quát về phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc Riêng luận văn của tác giả Vũ Thị Thu phần nào đã khái quát rõ phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc là viết văn với cảm

hứng anh hùng ở giai đoạn trước 1975, còn giai đoạn sau 1975 thì tác giả vẫn

để ngỏ Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những người đi trước, chúng tôi xác lập hướng nghiên cứu có hệ thống hơn Xuyên suốt hành trình nghệ thuật của mình Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng nhưng người anh hùng trong sáng tác sau 1975 là người anh hùng được phục dựng lại, vẫn là

cảm hứng ngợi ca nhưng cách nhìn người anh hùng đa diện hơn, với thái độ

Trang 14

chia sẻ, cảm thông cho những mất mát, đau thương của họ Đồng thời, qua tác

phẩm tác giả cũng thể hiện những ray rứt, trăn trở và xót xa cho cuộc sống còn nhiều thiếu thốn và bất hạnh của người người anh hùng trong hiện tại

Viết về họ, tác giả không chỉ ca ngợi những hành đồng anh dũng trong chiến tranh mà còn chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống đời thường với sự giản

dị, trong sáng trong tính cách và hành động của họ Đồng thời, khẳng định

những đóng góp to lớn của nhà văn Nguyên Ngọc cho sự phát triển của văn học

Việt Nam đương đại trong giai đoạn đổi mới của văn học chặng đường sau 1975 đến nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của luận văn là Cảm hứng về người anh hùng trong

văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 Tuy nhiên để thực hiện mục

tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ phải khảo sát một số sáng tác tiêu biểu của Nguyên Ngọc thời kì trước 1975 để thấy được sự nhất quán, liền mạch trong

cảm hứng của nhà văn khi viết về người anh hùng

- Tháng Ninh Nông (truyện ngắn) (1999)

- Người hát rong giữa rừng (truyện ngắn) (1996)

- Cát cháy (bút ký) (1998)

Trang 15

- Có m ột con đường mòn trên biển Đông (bút ký) (1998)

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Luận văn nhằm khẳng định những đóng góp của nhà văn Nguyên Ngọc

ở lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật sau 1975 với sự tiếp nối cảm hứng về người anh hùng trong một hoàn cảnh mới Từ đó, khẳng định sự nhất quán, liền mạch trong phong cách của nhà văn Với cảm hứng ngợi ca, trân trọng cùng

những chia sẻ với cuộc sống của người anh hùng trong hiện tại, nhà văn Nguyên Ngọc đã có cái nhìn mới về họ Luận văn góp tiếng nói khẳng định vị trí xứng đáng của nhà văn trong nền văn học đương đại Việt Nam sau 1975

Để thấy rõ sự nhất quán trong phong cách của Nguyên Ngọc, người viết sẽ

tiến hành so sánh các tác phẩm trước và sau 1975 để thấy được cảm hứng trong sáng tác của ông là cảm hứng anh hùng

4 P hương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, xuất phát từ mục đích

của đề tài, trên cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu văn học, người viết

sử dụng các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp lịch sử

Khi nghiên cứu các sáng tác của Nguyên Ngọc phải gắn liền với hoàn

cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam những năm trước và sau 1975 để thấy được

sự tác động của hoàn cảnh đối với hoạt động sáng tác của nhà văn từ việc hình thành cảm hứng, lựa chọn đề tài, xác định chủ đề đến tổ chức kết cấu tác

phẩm, xây dựng hình tượng, sử dụng ngôn từ, chọn điểm nhìn trần thuật và

lựa chọn giọng điệu

4.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Để thấy rõ sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc

với những nhà văn cùng thời cũng như cảm hứng về người anh hùng ở hai giai

Trang 16

đoạn sáng tác trước và sau 1975, người viết tiến hành so sánh những sáng tác của Nguyên Ngọc với các sáng tác của các tác giả cùng thời, đồng thời so sánh với các tác phẩm của chính nhà văn Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước và sau 1975.

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phân tích, tổng hợp là một trong những thao tác không thể thiếu đối với

mọi công trình nghiên cứu Trên cơ sở những tư liệu đã được thống kê, phân

loại, luận văn sẽ tập trung vào những điểm cần thiết, tìm ra những điểm đặc

sắc và độc đáo trong cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật

của Nguyên Ngọc sau 1975

5 Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài này, luận văn sẽ khẳng định lại lần nữa những đóng góp

to lớn của nhà văn cả về nghệ thuật lẫn nội dung trong giai đoạn sáng tác sau

1975 khi viết về người anh hùng Nghiên cứu cảm hứng về người anh hùng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 một lần nữa khẳng định được phong cách nhất quán của nhà văn – một cây bút sử thi tràn đầy cảm hứng lãng mạn – anh hùng Qua đó, người đọc có cái nhìn toàn cảnh về sáng tác của ông cũng như đóng góp của Nguyên Ngọc đối với nền văn học Việt Nam đương đại

6 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3

Trang 17

chương được trình bày như sau:

Chương 1 - được trình bày từ trang 15 đến trang 48 Ở chương này,

người viết tập trung làm rõ nội hàm khái niệm cảm hứng, cảm hứng anh hùng

trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn trước 1975 Từ đó thấy được

cảm hứng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 cũng vẫn là cảm hứng

anh hùng với những trăn trở, chiêm nghiệm về cuộc đời, đặc biệt là về cuộc

đời người anh hùng trong hiện tại Đồng thời ở chương này, người viết cũng

trình bày khái quát hành trình nghệ thuật qua hai giai đoạn sáng tác trước và

sau 1975 của Nguyên Ngọc để thấy được sự nhất quán trong cảm hứng của

nhà văn Từ đó, lí giải cội nguồn của cảm hứng anh hùng trong sáng tác của

Nguyên Ngọc

Chương 2 – được trình bày từ trang 49 đến trang 76 Ở chương này,

người viết sẽ trình bày sự tiếp nối và bổ sung cảm hứng về người anh hùng

trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc giai đoạn sau 1975 tìm hiểu về bối

cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 Từ cách chọn đề tài, chủ đề thể hiện đến cách

xây dựng tính cách anh hùng đa diện Tất cả những yếu tố đó đã cho thấy

được sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật của nhà văn Từ đó, tìm hiểu

về thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng

Chương 3 – được trình bày từ trang 77 đến trang 108 Ở chương này,

người viết tập trung làm rõ bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc thể hiện

trong các sáng tác sau 1975 Từ cách tiếp cận nhân vật anh hùng gián cách

mang đầy hoài niệm với những cảm thông sâu sắc và chia sẻ những mất mát

của chính họ Thể hiện kết cấu lồng ghép đan xen quá khứ, hiện tại là cách tác

giả đưa người đọc trở về với quá khứ để có cái nhìn nhiều chiều về người anh

hùng của hôm qua và cuộc sống hiện tại của họ hôm nay Đồng thời thấy

được sự thay đổi điểm nhìn trần thuật cũng như cách miêu tả giàu ấn tượng để

làm bộc lộ tính cách chân thật, giản dị, đời thường của nhân vật

Trang 18

Chương 1 NGUYÊN NG ỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NH ỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG 1.1 K hái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách

m ạng Việt Nam

Cảm hứng là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm và tư tưởng trong một tác

phẩm nghệ thuật, đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo văn học của nhà văn Chính cảm hứng là động lực thôi thúc nhà văn sáng tác để bày tỏ tư tưởng và tình cảm của mình về thế giới mà mình phản ánh trong tác phẩm Tìm hiểu cảm hứng sáng tác của một tác giả, đồng nghĩa với việc tìm hiểu tư tưởng sáng tạo của tác giả đó Đây là một việc làm cần thiết, vì nắm bắt được

tư tưởng sáng tạo của tác giả, ta sẽ hiểu và lý giải được cách lựa chọn đề tài, xây dựng nhân vật, sắp xếp các chi tiết…trong tác phẩm

1.1.1 V ề khái niệm cảm hứng

Sáng tạo văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần và theo phương thức chiếm lĩnh riêng của từng nghệ sĩ Văn học nghệ thuật phản ánh đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật, do đó đời sống xã hội chính là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn thỏa sức sáng tạo Có thể khẳng định

rằng sự dồi dào về cảm xúc của tác phẩm nghệ thuật là một đặc điểm cơ bản

của việc tái tạo hiện thực bằng hình tượng, là một đặc điểm của sự thể hiện

những tư tưởng sáng tạo, sự phát triển của các tính cách Cảm hứng chỉ hình

thành và xuất hiện ở nhà văn khi trong anh ta có vốn sống đầy ắp và được nuôi dưỡng bằng sự sống, bằng tinh thần, được nghiền ngẫm kĩ và khi bắt gặp

những sự kiện, những cảnh đời, thì cảm hứng ấy được bộc lộ ra và thôi thúc

sự sáng tạo của nhà văn, nó kêu gọi nhà văn, kêu gọi anh ta lao động để tạo

dựng hình thức cho nó Không những vậy, nhà văn phải luôn mang một tấm

Trang 19

lòng rộng mở, biết ngạc nhiên dù là với một vẻ đẹp bình dị của cuộc sống, rất

nhạy cảm với những thay đổi chung quanh “nhà văn hiện thực, hoàn toàn không ph ải là chiếc máy hát cần mẫn tái hiện lại những khúc nhạc được ghi trên đĩa hát”[37;88] mà là người phải biết thể hiện những vẻ đẹp của cuộc

sống bằng chính trái tim của mình, tức là thể hiện cuộc sống khách quan qua lăng kính chủ quan của mình

Khái niệm cảm hứng được đề cập đến từ lâu trong lý luận nghệ thuật ở châu Âu Có lẽ Hegel là nhà mỹ học đầu tiên đưa ra một lý luận tương đối hoàn chỉnh về cảm hứng và đưa nó vào một trong các phạm trù mỹ học Hegel cho rằng cảm hứng là trung tâm của vương quốc nghệ thuật “Tình cảm tạo nên trung tâm th ực sự trên vương quốc chân chính của nghệ thuật; thể hiện tình cảm là cái chủ yếu trong tác phẩm nghệ thuật, cũng như trong cảm thụ

c ủa công chúng” [28;244] Hegel xem cảm hứng là “sức mạnh của tâm hồn

t ự thể hiện trong chính nó, là nội dung chủ yếu của lý tính và ý chí tự do”

[28;299] Hegel cho rằng cảm hứng thực sự có được khi có một nội dung đã được quy định Đồng tình với quan điểm của Hegel, nhà phê bình Nga Bêlinski cũng đề cao vai trò của cảm hứng Ông xác định vai trò và nguồn

gốc tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính

tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm

h ứng chủ đạo của chúng Cảm hứng chủ đạo là gì? Đó là sự thâm nhập say

mê và s ự ham thích một tư tưởng nào đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết

qu ả chủ đạo phải thấm đượm Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả năng khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [7;111]

Cảm hứng cũng không phải tự nhiên mà đến, cảm hứng là một trạng thái

Trang 20

hưng phấn tột độ và khi bắt gặp hiện thực khách quan thì chính nó – cảm

hứng được nhà văn chuyển thành cái chủ quan của mình, cảm hứng ấy được

kết tinh từ sự lao tâm khổ tứ của nhà văn, từ sự thai nghén đứa con tinh thần, suy tư, cấu tứ, tưởng tượng trước đó và nói cho đúng hơn là nhà văn đã cảm

thấy đau ở đâu trên chính cơ thể của mình nên buộc nhà văn cầm bút, cảm

hứng được nuôi dưỡng bằng lao động miệt mài, sự khổ công của nhà văn và

chỉ khi người nghệ sĩ làm việc và sáng tạo thì lúc đó cảm hứng mới đến Nói như Traicốpki: Cảm hứng là một khách hàng không ưa đến thăm những kẻ

lười […] Khi đã có một khách thể thẩm mỹ và cảm hứng chính là cái trạng

thái hoạt động tích cực ở trong thế giới bên trong của nhà nghệ sĩ Theo Hegel thì yêu cầu quan trọng nhất đối với người nghệ sĩ là khi người nghệ sĩ ấy quan tâm nghiêm túc tới một đối tượng mà đối tượng ấy trở thành một cái gì sinh

động trong tâm hồn người nghệ sĩ và lúc đó cảm hứng sẽ tự đến và “một nghệ

sĩ dồi dào thực sự nhờ cái sức sống này sẽ tìm thấy hàng ngàn điều kích thích

ho ạt động và cảm hứng, những kích thích mà người khác sẽ bỏ qua và chẳng

hề chú ý tới” [27;229]

Trong tác phẩm nghệ thuật nếu như tình cảm bao giờ cũng phải chứa

đựng tư tưởng thì tư tưởng bao giờ cũng thấm đượm tình cảm “Tư tưởng của tác ph ẩm không thể là tư tưởng khô khan thuần tuý mà phải biến thành khát

v ọng, thành cảm hứng” [87;15] Nói khác đi, thì tư tưởng nghệ thuật phải

vượt lên trên mọi trở ngại, nó chính là sự nung nấu là tình yêu, là sự dằn vặt trong chính tâm hồn của tác giả, là tình cảm chân thành nhất mà tác giả dành cho đứa con tinh thần của mình Tình cảm là một trong những động lực thúc đẩy cảm hứng sáng tạo Tư tưởng sẽ không thể chuyển hóa được vào hình tượng một cách nhuần nhuyễn nếu thiếu đi nguồn cảm hứng Chính cảm hứng

đã tạo nên linh hồn của hình tượng, làm cho hình tượng trở thành một chỉnh

thể nghệ thuật sinh động Chính nhà văn là người thâm nhâp vào đối tượng

Trang 21

với một trạng thái tràn đầy cảm hứng để chuyển hóa cái khách quan ấy thành cái chủ quan Vì vậy, tác phẩm văn học không chỉ là khách thể được phản ánh

mà còn là chủ thể được biểu hiện Người đọc đến với tác phẩm là đến với

cuộc sống đã được tái tạo đồng thời còn khai phá tâm hồn của nhà văn, đến

với tư tưởng, thái độ của nhà văn đối với hiện thực cuộc sống Công việc của

một nhà văn cả đời thực ra chỉ có thể làm một việc: đem máu thịt và cả tâm

hồn mình vào trong tác phẩm Và người đọc chính là người chia sẻ cảm xúc

với chính tác giả, người đọc đồng sáng tạo với tác giả

Riêng với Pospelov, ông chủ yếu quan tâm đến những yêu cầu đối với

cảm hứng Đối với ông, cảm hứng phải là “sự đánh giá sâu sắc và chân thực – l ịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn

và c ủa tác phẩm của nhà văn” [74;152] Ở đây, Pospelov đã quan tâm đến

tính chân lí lịch sử của tác phẩm văn học Cảm hứng ấy chính là trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc

sống mà nhà văn miêu tả Tức là nhà văn phải yêu những cái đáng yêu, ghét

những cái đáng ghét, ca ngợi những cái đáng ca ngợi Nếu nhà văn ca ngợi hành động chiến đấu dũng cảm của một tên giặc ngoại xâm hay đề cao vai trò

của một giai cấp thống trị mục ruỗng thì sự ca ngợi ấy, đề cao ấy không trở thành cảm hứng hoặc đó chỉ là thứ cảm hứng giả tạo vì nó mất tính khách quan lịch sử Ông viết tiếp: “Ở những tác phẩm không có chiều sâu của hệ

v ấn đề, sự lí giải và đánh giá các tính cách sẽ không được nâng lên thành

c ảm hứng Ở những tác phẩm mang tư tưởng giả tạo, cảm hứng chỉ được tạo nên do ý chí ch ủ quan của nhà văn và vì vậy cảm hứng sẽ mang tính chất gượng gạo, cố tình” [74;153]

K Paustovsky lại có cách nhận định riêng của mình ông cho rằng cảm

hứng không phải là cái gì khó hình dung mà đó là “sự cao hứng của tâm hồn,

Trang 22

s ự thoải mái, sự tiếp nhận hiện thực một cách sinh động, khi trong người tràn đầy ý nghĩ và tri thức về sức mạnh sáng tạo của mình” [74;45] Chính trong

quá trình sáng tạo của mình, nhà văn thấy lóe lên một tia chớp sáng tạo, thấy mình bỗng nhiên bị cuốn hút vào một cảm giác, một hình ảnh, một âm điệu hay một ý nghĩ nào đó và muốn bắt tay vào sáng tác là nhà văn đang có cảm

hứng Và như thế “cảm hứng là một trạng thái phấn chấn về tinh thần giúp cho người ta thấy rõ, thấy nhanh nhiều vấn đề theo một hướng tập trung, phát

hi ện được nhiều điều mới, thực hiện được công việc một cách thích thú và đạt

k ết quả cao” [26;116]

Tác phẩm văn học nghệ thuật khác với các ngành lao động nghệ thuật khác vì nó chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo, cho nên cảm

hứng sáng tạo của văn nghệ sĩ vốn phải dạt dào, phải mãnh liệt Cảm hứng là

một trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường Sự căng thẳng

của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh

sẽ bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng Cảm hứng chính là những mạch cảm xúc đạt đến đỉnh cao và bắt buộc nhà văn phải cầm bút để viết ra những điều nhà văn cảm thấy để từ đó nhận được sự chia sẻ đồng cảm

từ độc giả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo lại thực tại

Như vậy, từ những quan niệm của các nhà mỹ học, các nhà nghiên cứu

và phê bình văn học, chúng tôi đi đến kết luận cảm hứng là nhiệt tâm, là say

mê một tình cảm mạnh mẽ mang tư tưởng của nhà văn hướng về đối tượng

Cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thứ tình cảm giả tạo hay hời hợt mà phải là một thứ tình cảm sâu sắc mãnh liệt Đó phải là một nỗi đau xé lòng, một tình yêu tha thiết…Cảm hứng trong tác phẩm phải là thứ tình cảm nghiêng về lẽ phải, gắn liền với những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ,

Trang 23

cao đẹp Nói đúng hơn, “đó là niềm say mê khẳng định chân lý, lí tưởng, phủ định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình v ới những nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hi ện tượng tầm thường ” [26;268]

1.1.2 Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai

đoạn 1945 – 1975

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kì phát triển mới

của đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục…Đi cùng với sự phát triển đó, văn học nghệ thuật chuyển sang một bước ngoặt

mới và thu được nhiều thắng lợi Năm 1951, trong thư gửi các anh chị em nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Văn hóa nghệ thuật cũng là một

mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy Vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã

hội là phương châm lớn của văn nghệ trong suốt thời kì dài lịch sử Đường lối văn nghệ đó đã xác định cho người viết lập trường nhân dân, phát huy truyền

thống dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại Nhân dân là cội nguồn khơi gợi mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật và nhân dân cũng là đối tượng thưởng thức, tiếp nhận Nhà văn phải đứng trên lập trường nhân dân,

lấy quan điểm của nhân dân để nhận thức và giải quyết mọi vấn đề Đồng

thời, nền văn học mới phải biết phát huy và khai thác những giá trị truyền

thống tốt đẹp của dân tộc Tính nhân đạo và tính dân tộc luôn là phương châm

và chuẩn mực cho các tác phẩm văn chương

Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm nền văn học kháng chiến, nền

văn học phục vụ cách mạng Sử thi trong văn học 1945 – 1975 không phải là khái niệm thể loại như sử thi cổ đại, mà là một khái niệm để chỉ đặc điểm của văn học được sáng tạo trên nền tảng của ý thức cộng đồng toàn dân, xuất hiện vào thời kì có đấu tranh chống giặc ngoại xâm, có phong trào xã hội bảo vệ các lợi ích toàn dân Trong đó, xung đột có tính sử thi là xung đột của dân tộc

Trang 24

ta với kẻ thù xâm lược, của cộng đồng toàn dân ta với giặc ngoại xâm Chủ đề

có tính sử thi là dân tộc, nhân dân, Tổ quốc Nhân vật là những người anh hùng đại diện cho phẩm chất, ý chí và sức mạnh của dân tộc Đặc biệt, là hình tượng người lãnh tụ, người chiến binh, hình tượng người mẹ được thể hiện

bằng giọng điệu ngợi ca, khẳng định, cổ vũ nhân dân Chất sử thi không đối

lập với hiện thực mà có khả năng hòa hợp, gắn bó với chất hiện thực, từ đó

nảy sinh chất trữ tình trong sáng tác

Vì thế, chất trữ tình thể hiện khá đậm nét trong nhiều truyện ngắn Các nhà văn thường nhạy cảm với cái đẹp của thiên nhiên, đất nước, nhất là vẻ đẹp của tâm hồn con người, thiên về khai thác các mối quan hệ tình cảm,

những rung động tâm hồn, nhưng không vượt ra ngoài mạch sử thi – anh hùng Đồng thời, mỗi tác giả lại có cách thể hiện riêng, có sự kết hợp riêng tùy theo cá tính của mỗi nhà văn Tiêu biểu cho văn xuôi giàu chất trữ tình,

đậm chất lãng mạn là Hòn đất của Anh Đức, nhân vật trong tác phẩm của

Anh Đức là những con người hoàn hảo, mang lí tưởng với tình cảm trong sáng, đậm nét truyền thống và thời đại Phong cảnh thiên nhiên đẹp, phóng khoáng mang nét đặc trưng của Nam Bộ Một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu cũng thể hiện nổi bật chất trữ tình và cảm hứng lãng mạn của thời đại Đến với Tô Hoài, ta bắt gặp chất thơ của thiên nhiên và tâm hồn của người miền núi Tất cả được tác giả cảm nhận bằng sự thâm nhập, quan sát phong cảnh, và gắn với những phong tục sinh hoạt, được thể hiện trên trang

viết bằng một phong cách riêng

Văn xuôi giai đọan 1945 – 1975 có nhiều biến đổi khá rõ về hình thức

thể loại, về phương thức trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ, tạo nên những đặc điểm về thi pháp của thể loại tự sự trong giai đoạn này Trong các truyện

ngắn, quan điểm trần thuật của người trần thuật xích gần và tiến tới hòa nhập

với quan điểm của nhân vật quần chúng Không gian đặc trưng nhất trong văn

Trang 25

học thời kỳ kháng chiến là con đường, mặt trận và chiến khu Văn xuôi giai đoạn này đã phát huy được ưu thế của thể loại, bám sát các sự kiện và diễn

biến cuộc kháng chiến, dựng lại bức tranh nhiều vẻ về cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện ở mọi miền đất nước Nguyễn Tuân thâm nhập vào đời sống kháng chiến trên mọi nẻo đường Hăm hở, nhiệt tình từ khu Năm trở ra khu

Bốn, xuống khu Ba vào sâu vùng địch hậu và lọt cả vào vùng địch tạm chiếm,

rồi theo bộ đội lên sông Thao, lại vượt sông Thao vào Tây Bắc theo chân các đoàn quân giải phóng Đọc truyện và ký kháng chiến, chúng ta có thể hình dung một khung cảnh rộng lớn từ tiền tuyến, hậu phương, trong vùng chiến khu và cả trong vùng địch tạm chiếm, từ Việt Bắc đến chiến trường Nam

Bộ để phản ánh kịp thời các sự kiện của cuộc kháng chiến, thể ký có điều

kiện phát triển mạnh mẽ Một trong những cây bút viết ký chiến tranh xuất

sắc nhất là Trần Đăng Những ký sự tuy ngắn nhưng vẫn nổi bật tài năng

dựng cảnh, phác họa chân dung và do đó, tạo được không khí sôi động và giữ được tính khách quan của tác phẩm

Thời kì đầu kháng chiến, văn học hướng tới một đối tượng mới là quần chúng cách mạng, truyện ngắn đã thu được một số thành tựu đáng kể Một lớp nhà văn đã chuyển hướng sáng tác, họ mạnh dạn đặt ra lập trường mới Nhiều truyện ngắn ghi lại được những hình ảnh về cuộc sống, về nét đẹp tâm hồn trong tâm trạng của người kháng chiến ở nhiều vùng trên cả nước

Vợ nhặt của Kim Lân đã lên ác tội ác của bọn thống trị Nhật – Pháp

cùng bè lũ tay sai Chúng đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp năm

1945 đến nỗi cái giá của con người như cái rơm, cái rác có thể dễ dàng nhặt được Tác phẩm cũng phản ánh được khí thế sôi sục của cách mạng trong

những ngày dân tộc ta cùng đứng lên chống giặc

Với tập Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã đóng góp vào sự phát triển của

truyện ngắn kháng chiến Truyện Tây Bắc tập trung thể hiện cuộc sống tủi

Trang 26

nhục, đau khổ của đồng bào dân tộc miền núi dưới ách thống trị của thực dân phong kiến với khát vọng giải phóng và quá trình thức tỉnh đến với cách

mạng, nâng sự giác ngộ chính trị cho họ

Truyện ngắn của Nam Cao được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của một

lớp nhà văn đi theo kháng chiến, đứng về phía đại chúng, thực sự thay đổi

quan điểm, lập trường Đôi mắt là bản tuyên ngôn về tư tưởng, lập trường

cách mạng, khẳng định cái nhìn tích cực của những văn nghệ sĩ kháng chiến đối với quần chúng nhân dân Chỉ có thể đứng trên lập trường yêu nước và cách mạng, xuất phát từ tư tưởng cách mạng, văn nghệ sĩ mới có thể hiểu được bản chất của nhân dân lao động Điều đó có quan hệ mật thiết tới việc xác định đối tượng chính của nền văn học mới là nhân dân, những con người bình thường mà vĩ đại

Truyện ngắn 1945 – 1975 đã xây dựng được nhiều hình tượng tiêu biểu cho các tầng lớp, giai cấp, cho số phận và con đường đi của quần chúng nhân dân trong thời đại cách mạng và kháng chiến Đóng góp đáng kể là truyện ký

về những người anh hùng và tập thể anh hùng như: Người mẹ cầm súng

(Nguyễn Thi), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Sống như anh (Trần

Đình Vân) Dù dung lượng hạn chế, nhưng truyện ngắn vẫn thể hiện đậm nét khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đề cập đến những vấn đề hệ

trọng của dân tộc và thời đại, vận mệnh của đất nước và nhân dân Nhiều tác

phẩm trực tiếp thể hiện hình ảnh nhân dân trong quá trình thức tỉnh cách

mạng và cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng: Rừng xà nu (Nguyễn

Trung Thành), Quán rượu người câm (Nguyễn Quang Sáng), Một chuyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức Ái)

Nhân vật trung tâm của truyện ngắn thời kỳ này là người chiến sĩ Đó là con người sử thi tiêu biểu cho khát vọng và ý chí chiến đấu quyết thắng của dân tộc, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cho sức mạnh và phẩm

Trang 27

chất của con người kết tinh truyền thống từ mấy ngàn năm lịch sử và sức

mạnh của cách mạng Các nhân vật anh hùng cũng thường được xây dựng như những con người toàn diện trong các mối quan hệ chung và riêng Cuộc

đời riêng của họ hòa vào cuộc đời chung của dân tộc, những suy nghĩ riêng tư

của họ cũng hướng về cái chung, vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng Các nhân vật cũng thường được đặt trong những hoàn cảnh thử thách gay go,

những tình huống căng thẳng, nghiệt ngã trong chiến tranh để làm bộc lộ vẻ đẹp và những phẩm chất cao quý của họ Họ đều là những con người giàu lòng yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng Khuynh hướng sử thi đã tạo nên một

giọng điệu trang trọng, ngợi ca

Đời sống hiện thực bộc lộ nhiều vẻ đẹp, gợi lên những niềm vui và mơ ước dễ làm nảy sinh ảm hứng lãng mạn Đây là những năm tháng con người tuy đứng trong gian khổ tột cùng nhưng tâm hồn lại sống trong niềm vui ấm

áp của tình đồng chí, đồng bào và trong ánh sáng rực rỡ của lí tưởng, của tương lai Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn anh hùng ca là khuynh hướng sáng tác chung của nền văn học lúc bấy giờ Nó không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến tùy bút đều

Trang 28

của con người Việt Nam Phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh thần cách mạng thời đại Điều đó, được thể hiện rõ nét trong tác phẩm

của Nguyên Ngọc và cả một thế hệ nhà văn cùng lứa với ông “đi theo cách mạng là để làm cách mạng chứ không phải viết văn” [61;489] Nhưng những

hoàn cảnh thực tế của chiến tranh buộc họ phải cầm bút để sáng tác Trước hết là để cho mình, để động viên đồng chí, và cho đất nước Tất cả họ là con của cách mạng, nhà văn Nguyên Ngọc là con đẻ của cách mạng

Văn học là sự phản ánh trung thực hình ảnh của đời sống xã hội Trong các trang viết của mình, Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng

Do đó, những vấn đề được đề cập đến trong tác phẩm là những vấn đề trọng đại của dân tộc Những người anh hùng trong sáng tác của ông luôn đậm tính chiến đấu, phản ánh kịp thời với những sự kiện lớn của dân tộc, của đất nước

Với Nguyên Ngọc, ông luôn ý thức rõ, vai trò, sứ mệnh của nhà văn – chiến sĩ Nguyên Ngọc đã dùng văn chương của mình làm vũ khí chiến đấu

“Không ph ải vì văn chương mà Nguyên Ngọc tìm đến người anh hùng, mà vì người anh hùng mà anh thấy cần tìm đến văn chương” [55;334] Do đó, ngay

từ khi bắt đầu cầm bút, ông đã bám sát các vấn đề lớn của cách mạng, của dân

tộc, của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước “…những ai theo dõi bước đường sáng tác của Nguyên Ngọc đều nhận thấy một đặc điểm là nhà văn mà mỗi sáng tác đều được viết với một ý định chính trị rất cụ thể, mỗi sáng tác đều muốn làm một vũ khí chiến đấu này lại rất chú trọng đến hình th ức” [61;510] Trong sáng tác của Nguyên Ngọc, chất trữ tình gắn liền

với cái hùng tráng của sử thi Những nhân vật trong tác phẩm của Nguyên

Ngọc “đại diện đầy đủ và tập trung cao độ những khát vọng, ý chí, sức mạnh

và phẩm chất của cả cộng đồng” [84;29] Đồng thời, họ còn là những con

người có tình cảm thật trong sáng, hết mực thủy chung với quê hương, đất nước, với dân tộc Tác phẩm của ông ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng,

Trang 29

tiêu biểu là Đất nước đứng lên Tác phẩm ra đời là một bước tiến quan trọng

trong văn xuôi Việt Nam hiện đại theo đường lối văn nghệ của Đảng vạch ra

Đất nước đứng lên là bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của

con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp Bên cạnh đó, tác phẩm còn thể hiện tinh thần quật cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng, với lòng yêu chuộng tự do, độc lập của nhân dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng, của cách mạng họ đã đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược

Người anh hùng trong văn học giai đoạn 1945 – 1975, là những con người mới, xuất hiện từ cuộc sống đời thường Họ có cuộc đời, số phận, tính cách riêng Đó là những con người nghèo khổ xuất thân từ tầng lớp lao động trong xã hội Thế nhưng, những con người ấy cũng có thể trở thành người anh hùng bởi họ vượt lên hoàn cảnh, số phận bằng những hành động, những việc làm phi thường Nguyên Ngọc rất quan tâm đến cuộc sống người anh hùng

bằng cả tấm lòng của người cầm bút Vì thế, ông đã xây dựng nhân vật người anh hùng chân thực và sinh động, vừa có giá trị nhận thức lại vừa có tác dụng giáo dục sâu sắc Cái tạo nên phong cách riêng độc đáo của nhà văn Nguyên

Ngọc chính là ở chỗ xây dựng điển hình người anh hùng trên cơ sở: người

th ực, việc thực Núp trong Đất nước đứng lên là một điển hình nghệ thuật:

người thực, việc thực, là người anh hùng miền núi Tây Nguyên

Anh hùng Núp (Đất nước đứng lên) trưởng thành từ trong tập thể nhân

dân, yêu thương lũ làng, yêu thương gia đình và yêu tự do Điều đó được thể

hiện ở những chi tiết Núp không chịu đi xâu cho Pháp mà tìm cách đánh Pháp, đoàn kết dân làng Kông Hoa đấu tranh chống Pháp Anh hùng Núp kết tinh từ phẩm chất ưu tú của người dân Ba Na Người anh hùng trưởng thành

từ trong nhân dân và lãnh đạo nhân dân phát huy sức mạnh tập thể, kiên trì vượt qua gian khổ Vì thế, mối quan hệ giữa người anh hùng với quần chúng luôn luôn khăng khít, bền chặt Núp đích thực là người anh hùng của quần

Trang 30

chúng, sống trong lòng quần chúng, anh hùng của thời đại cách mạng Núp là anh hùng được sinh ra từ trong quần chúng, có những tình cảm lớn, những hành động sáng suốt, kiên quyết thúc đẩy và dẫn dắt quần chúng ngày càng

tiến bộ

Nguyên Ngọc rất thành công trong việc xây dựng một tập thể anh hùng,

mọi người Ba Na, đặc biệt là người Kông Hoa đều dũng cảm vượt qua gian nan để đứng lên chống Pháp Núp xứng đáng là anh hùng của thời đại, anh hùng Núp đã thức tỉnh và lãnh đạo được cả một tập thể từ trong gian khổ Và đời sống của anh hùng Núp cũng như bao nhiêu người dân Tây Nguyên là say

mê ca hát, hòa nhịp theo tiếng đàn tơ rưng để đàn lên khúc ca, ngợi ca cuộc

sống, núi rừng và Tổ quốc

Câu chuyện về cuộc đời và con đường của anh Núp (Đất nước đứng

lên), c ủa Tnú (Rừng xà nu) mang ý nghĩa tiêu biểu của người anh hùng đại

diện cho số phận và con đường của dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu tranh giải phóng Những con người ấy được thể hiện trong văn học không

phải chỉ với tư cách cá nhân mà họ còn đại diện cho cộng đồng Tính cách nhân vật được khai thác chủ yếu ở khía cạnh tích cực Số phận nhân vật thường trải qua những biến cố bất lợi ban đầu nhưng kết thúc cuối cùng đều

thắng lợi hoặc tạo ra một niềm tin lạc quan về sự chiến thắng Đó là cảm hứng lãng mạn tích cực, cảm hứng anh hùng Nó giúp con người ta vượt lên trên

cuộc sống gian khổ và ác liệt mà hướng về tương lai chiến thắng, về cuộc

sống hạnh phúc và xây dựng xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh

Có thể nói mỗi nhà văn đều sống và sáng tác trong những điều kiện và

giới hạn của một thời đại Nhà văn chính là người đại biểu tinh thần chịu

những ràng buộc và giới hạn của một giai cấp Hoàn cảnh lịch sử kêu gọi, đất nước yêu cầu Các văn nghệ sĩ lần lượt thâm nhập vào đời sống, chiến đấu của

quần chúng nhân dân với trái tim nóng bỏng căm hờn và sôi sục ý chí chống

Trang 31

giặc Họ nhiệt tình đón nhận hồ hởi những thay đổi của đời sống và biểu lộ

niềm vui trước những thành công và thắng lợi của cách mạng là nét chung, quán xuyến trên các sáng tác ra đời năm đầu tiên sau khi cách mạng thành công “Đã qua cái thời nhà văn chỉ cần khơi sâu vào huyệt lòng mình, soi gương mà ngắm nghía mình… Đã qua những câu chuyện phù phiếm, dông dài c ủa những chàng, nàng trong hàng pho tiểu thuyết lãng mạn” [40;334]

Cuộc chiến đấu chống Mỹ ác liệt đã đặt mỗi người Việt bình thường nhất vào tình huống không thể không trở thành anh hùng và mỗi cá nhân đều hết

sức gắn bó với cộng đồng và vì cộng đồng mà suy nghĩ và hành động Cũng

với mạch cảm hứng về người anh hùng, nhưng cách nhìn người anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ đã có bước chuyển biện chứng hơn so với giai đoạn trước đó Nguyên Ngọc đã nhận thức về cuộc chiến một cách tường tận hơn, rõ ràng hơn Những vốn sống, trải nghiệm đầy ăm ắp cùng với hào khí

thời đại đã cho Nguyên Ngọc tiếp tục góp nhặt cho văn xuôi cảm hứng lãng

mạn về người anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ Với bút danh Nguyễn Trung Thành, Nguyên Ngọc bám sát chiến trường Tây Nguyên và cho ra đời truyện ngắn Rừng xà nu Tác phẩm là đỉnh cao cho cái lãng mạn – anh hùng

trong phong cách sáng tác của ông Đây là thời kì ra ngõ gặp anh hùng Do

đó, hình tượng người anh hùng không mang màu sắc cái thế, bi tráng mà người anh hùng được tôi luyện bởi bản lĩnh cách mạng, được rèn luyện qua

lửa đạn của chiến tranh Tnú trong Rừng xà nu là người anh hùng của tập thể,

ở đây tính chất cộng đồng đã chi phối rất rõ nét, người anh hùng Tnú vừa mang màu sắc cá thể vừa là một cá nhân trong một tập thể rộng lớn giữa

những người anh hùng khác của bản làng Xô – man, nhưng người anh hùng

của Tnú vẫn có nét riêng dũng mãnh khác thường, “những con người thép, thẳng băng, nhọn hoắt, như mũi chông, như ngọn dáo, như mầm xà nu đâm thẳng lên trời…Nhưng lại có một cái gì rất hoang dại Trái tim chất chứa

Trang 32

căm thù ngùn ngụt, nhưng tâm hồn trong suốt và hết sức hồn nhiên như

nh ững con người ở thời thơ ấu xa xăm của nhân loại” [55;331] Người anh

hùng Tnú đã có sự thay đổi trong nhận thức và hành động Chín chắn hơn, quyết liệt hơn và cũng có tổ chức hơn Anh hùng Tnú được cộng hưởng giữa

một tập thể những người anh hùng khác như cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng

Trong R ừng xà nu, Nguyên Ngọc đã đưa người đọc đến với cả một tập thể

anh hùng Đó chính là dân làng Xô – man Mỗi anh hùng trong Rừng xà nu

đa dạng về lứa tuổi, giới tính, vừa có những nét chung cụ thể, vừa có một số

phận riêng trong cuộc đời của họ Nhưng, ở họ đều giống nhau về những

phẩm chất: gan dạ, dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh và một lòng đi theo cách mạng và làm cách mạng

Điểm giống nhau giữa cảm hứng lãng mạn về hai người anh hùng là anh

hùng Núp ( Đất nước đứng lên) và anh hùng Tnú (Rừng xà nu) có chăng chỉ

là cái cảm hứng mạnh mẽ và thiên hướng anh hùng táo bạo, qua từng bước đi

của sự nhận thức ngày càng trưởng thành hơn trong chính sự sáng tạo của tác

giả bởi lẽ, sự sáng tạo bao giờ cũng phải có nguồn gốc từ thực tế và được khái quát từ nhiều kinh nghiệm sống Đó chính là thực tế của chiến trường khu V

ác liệt, là sự chiến đấu dũng cảm của những con người yêu chuộng độc lập tự

do Do đó, cái lãng mạn ở người anh hùng là chất men say, là sự kết tinh giữa

chất anh hùng của thời đại và cảm hứng hứng riêng của nhà văn Cái lãng

mạn của người anh hùng được tập trung vào những hành động anh hùng mà không nói đến cái đời thường Cái đời thường ẩn đằng sau cái cao cả cho cuộc đấu tranh để chiến thắng kẻ thù của cả dân tộc anh hùng Chính chất anh hùng

ấy hòa quyện chặt chẽ với cái hào sảng của rừng núi Tây Nguyên bạt ngàn để làm nên cảm hứng này

Mạch cảm hứng về người anh hùng càng ở giai đoạn sau lại càng thấm sâu vào từng nhân vật, từng nội dung của mỗi câu chuyện, bởi lẽ chính tác giả

Trang 33

là người được trải nghiệm và chứng kiến rõ nhất về những hình ảnh ấy Có thể nói từng mẩu chuyện của Nguyên Ngọc được nhà văn gọt giũa với một sự

kiên trì và cần mẫn của người thợ kim hoàn Thành công với cảm hứng lãng

mạn về người anh hùng dường như là nguồn tiếp thêm sức mạnh cho Nguyên

Ngọc và cảm hứng anh hùng được bổ sung trong Đất Quảng (tập I) với hình

ảnh ông già Sông Trúc một đời lặng lẽ bám đất, bám làng Cảm hứng về người anh hùng còn chan hòa trong nhiệt huyết đánh Pháp của mẹ con chị Thắm với tình yêu nước, yêu đồng đội Chị Thắm là một phụ nữ nông dân, chị vừa giỏi việc nước, đảm việc nhà Chị là người tiêu biểu cho vẻ đẹp toàn vẹn của người phụ nữ Việt Nam Chồng chị - anh Quế, mà cũng chính là người đồng đội của chị, người đã tập cho chị những bước đi đầu tiên đến với cách mạng, động viên chị thay anh để gây lại cơ sở cho vùng đất bị cày trắng này

Từ mối thù kẻ đã giết chồng chị, con chị, chị đã quyết tâm đi theo con đường cách mạng và hy sinh cả cuộc đời cho cách mạng

Người anh hùng trong tác phẩm của Nguyên Ngọc là những con người nhiệt thành yêu nước, căm thù giặc sâu sắc và sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu chung Họ vừa đánh giặc, vừa tự trưởng thành trong kháng chiến Nguyên Ngọc rất thành công khi viết về những người anh hùng trong chiến đấu Bởi những anh hùng, những chiến công ấy đều là những sự kiện mà ông được chứng kiến, ông được sống, gắn bó, phát hiện, ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp trong suốt của họ Điều đó đã tạo nên một phong cách riêng của nhà văn là viết văn với cảm hứng lãng mạn anh hùng

Có thể nói, chính trong những giai đoạn tích lũy vốn sống, sống trong lòng nhân dân, tìm hiểu cuộc sống và những suy nghĩ của người dân Tây Nguyên cùng với cá tính của chính mình đã tạo nên ở Nguyên Ngọc một sự sáng tạo mà không phải nhà văn nào cũng có thể đạt được Đó là xây dựng

hình ảnh người anh hùng dựa trên cơ sở người thực việc thực Tuy có hư cấu,

Trang 34

nhưng không nhiều Cảm hứng anh hùng là sự nhất quán, liền mạch trong quan điểm nghệ thuật của nhà văn Bởi lẽ trong từng sáng tác của mình, trong

lý tưởng và cả trong đường đời của mình, người đọc chỉ bắt gặp mỗi cảm hứng anh hùng ở nhà văn mà thôi

1.2.2 Giai đoạn sau 1975

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyên Ngọc luôn nhất quán với phong cách nghệ thuật là viết văn với cảm hứng anh hùng Do đó,

cảm hứng chủ đạo xuyên suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông là cảm

Sự kiên trì ấy được thể hiện trong chính chủ đề mà ông khai thác, tìm

chọn Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 không phải

là những thủ lĩnh mà là người anh hùng của đời thường với những lo toan cho

cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn của họ“ Nguyên Ngọc đã tìm thấy cái lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và kể về điều đó bằng một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là “mảnh đất” của riêng Nguyên Ngọc” [57;518]

Với Nguyên Ngọc, ông luôn dị ứng với căn bệnh nhạt của văn xuôi, bởi

Trang 35

chính căn bệnh ấy nó làm thui chột mọi sự sáng tạo của người nghệ sĩ Nếu

trước 1975, chính tác giả là người được sống, được chiêm nghiệm chính ngay trong không khí của một thời đại anh hùng nên không mất công lắm về sự đẽo

gọt, tỉa tót hay trau chuốt thêm về hình tượng người anh hùng Sau 1975, ông

vẫn sáng tác với cảm hứng anh hùng nhưng có khác trước ở chỗ người anh hùng được nhìn ở nhiều chiều, đa diện hơn Để tiếp tục với đề tài về người anh hùng, nhà văn Nguyên Ngọc đã tìm về với quá khứ, tìm về chiến trường xưa bằng cách phục dựng lại gần như một cách trọn vẹn về họ Người anh hùng trong các sáng tác sau 1975 đa diện hơn, phong phú hơn vì bây giờ họ là

những con người cụ thể, có lí lịch riêng, tiểu sử riêng Chân dung của người anh hùng như là tiểu sử của từng người anh hùng Chính tiểu sử ấy cho thấy được hành trình hình thành phẩm chất người anh hùng là một quá trình đầy gian khổ và hy sinh

Nguyên Ngọc được biết đến là một cây bút sống trong lòng thực tế, mỗi nhân vật của ông đều có từ nguyên mẫu thực tế cuộc sống, những con người

giản dị, trong sáng, tinh khiết đến lạ lùng, say đắm đến lạ lùng

Sau 1975, ông quay trở lại chiến trường xưa, nơi mà ông đã từng sống và chiến đấu, cũng có thể là những nơi ông được nghe kể lại về một huyền thoại anh hùng Tìm lại những người anh hùng trong những trận chiến năm xưa là cách để ông bày tỏ sự biết ơn và tri ân họ Đồng thời, tìm hiểu về cuộc sống

hiện tại còn nhiều khó khăn để sẻ chia và đồng cảm cho những mất mát và bất

hạnh của họ Vì họ mà lên tiếng cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những con người đã hy sinh tuổi xuân, hạnh phúc của mình cho cuộc sống ngày hôm nay

Trong Tr ở lại Mèo Vạc, là hình ảnh người anh hùng Thào Mỹ và Sùng

Chóa Vàng Họ là những người anh hùng H’mông trong cuộc diệt phỉ năm xưa Chiến đấu dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng hy sinh và cũng anh hùng trong tình yêu Nhưng cuộc sống hiện tại của họ rất túng thiếu và rất nghèo Viết về

Trang 36

họ là cách để tác giả thức tỉnh chính mình đồng thời kêu gọi những cơ quan

có thẩm quyền quan tâm hơn đến chế độ chính sách dành cho họ

Trong Tháng Ninh Nông, là hình ảnh người sơn nữ không ngại hiểm nguy sẵn sàng che chở cho người chiến sĩ cách mạng, cô gái đã quên đi những e

thẹn của người phụ nữ mà cứu lấy người chiến sĩ cách mạng thoát khỏi hiểm nguy

Với Người hát rong giữa rừng, là sự trân trọng cho tài năng và nhân

cách cao đẹp của người nghệ sĩ Tây Nguyên - Y Yơn Cả cuộc đời, ông dùng nghệ thuật của mình – tiếng hát – để đưa những người lạc lối quay trở về với đất nước, với tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc Nhưng cuộc sống hiện tại

của Y Yơn còn rất túng thiếu, chật vật

Trong Cát cháy, người đọc bắt gặp một câu chuyện dữ dội về đất và người Điện Bàn những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh

kỳ lạ như huyền thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) ba lần được tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc Trong bút ký này, Nguyên Ngọc đã tái hiện lại cuộc sống và chiến đấu của nhân dân Quảng Nam trong những ngày đối đầu với giặc Mỹ xâm lược Đồng

thời, tác giả cũng miêu tả cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

và bất hạnh của những người anh hùng nơi đây

Với bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là khúc ca bi tráng

của những người anh hùng quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của miền Nam ruột thịt Vì nhiệm vụ thiêng liêng với Tổ quốc, họ sẵn sàng hy sinh hạnh phúc của mình Nhưng giờ đây, cuộc sống hiện tại của họ còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Họ vẫn kiên cường sống, kiên cường vượt qua gian khổ, không hề than oán, kêu ca mà lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến cho đời Chấp nhận đau thương cho riêng mình Viết về họ như một cách để nhà văn thể hiện sự trăn trở xót xa của mình với người anh hùng Đồng thời, lên

tiếng cảnh tỉnh xã hội và những người làm công tác đền ơn đáp nghĩa, đừng

Trang 37

quay lưng với những nỗi đau và bất hạnh của họ - những người đã hy sinh

tuổi xuân và hạnh phúc của mình cho chúng ta có ngày hôm nay

1.3 Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc

1.3.1 Tâm lý xã h ội, ý thức nghệ thuật thời chiến

Hoàn cảnh đất nước trước 1975 là một hoàn cảnh đặc biệt Cả nước đối

mặt với hai cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và chống Mĩ, vấn đề được quan tâm hàng đầu là sự sống còn của cả dân tộc Yêu cầu đặt ra cho tất cả

mọi người lúc này là phải lấy trách nhiệm công dân, nghĩa vụ đối với đất nước làm phương châm hành động, là thước đo cao nhất để đánh giá mọi giá

trị Văn học giai đoạn này dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy việc phục vụ chính

trị, phục vụ công nông binh, phục vụ cách mạng làm nhiệm vụ hàng đầu Ý

thức công dân cùng với nhiệt tình của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng đã thúc giục các nhà văn hòa mình vào cuộc sống lao động và chiến

đấu của nhân dân, “trong thời chiến, thói tài tử là một cái gì rất lạc lõng Trong th ời chiến chỉ có những kẻ vô liêm sỉ mới có thể dửng dưng đóng vai trò một anh tài tử” [24;381]

Văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản, có ý nghĩa sống còn

của đất nước, của lịch sử Văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm

hứng lãng mạn Chủ đề bao trùm văn học giai đoạn này là ngợi ca Tổ quốc,

quần chúng cách mạng và những tấm gương vì nước hy sinh, kêu gọi tinh

thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ đấu tranh Nhân vật chính tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện

và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng Con người chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lẽ sống lớn, tình

cảm lớn

Hiện thực cách mạng với những sự kiện vang dội sôi động đã khơi

Trang 38

nguồn sáng tạo của người nghệ sĩ và là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhiều tác phẩm văn chương Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn những sự việc và con người tiêu biểu Cùng

với chủ trương đó của Đảng, trong bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề

văn hóa của Việt Nam, Trường Chinh cũng nêu rõ: “Về xã hội lấy giai cấp

công nhân làm g ốc Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội làm gốc Về sáng tác văn nghệ, lấy chủ nghĩa hiện thực xã

h ội chủ nghĩa làm gốc” [54;13] Đó chính là yêu cầu tác phẩm phản ánh được

chiều sâu của cuộc sống mới và miêu tả cho chân thật, sinh động con người

mới Hiện thực ấy vô cùng phong phú, bộc lộ nhiều vẻ đẹp, gợi lên niềm vui

và mơ ước dễ làm nảy sinh những cảm hứng lãng mạn Chất trữ tình cách

mạng là một thành tố quan trọng của văn học thời đại lịch sử này

Đảng và nhân dân đã có được một đội ngũ nhà văn với nhiều phẩm chất

tốt đẹp: giàu lí tưởng, gắn bó với thực tế, với nhân dân để làm tròn vai trò sáng tạo của mình Họ giàu nhiệt tình cách mạng, giàu sức sáng tạo, có lập trường sáng tác vững vàng Họ luôn có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động, sẵng sàng dấn thân vào cuộc chiến đấu ác liệt Vượt bao khó khăn gian khổ, thậm chí hy sinh cả tính mạng để có được những trang viết giá trị Họ được xem là

những nhà văn – chiến sĩ, nhà văn của nhân dân

Xuất phát từ những tiền đề trên, văn học cách mạng 1945 – 1975 đã đạt nhiều thành tựu, nhất là về văn xuôi Ở thể loại văn học này, nội dung trực

tiếp hướng về hiện thực cách mạng và đời sống quần chúng nhân dân Từ đề tài sinh hoạt, đời tư, các nhà văn chuyển sang đề tài lịch sử dân tộc, hướng vào khai thác hiện thực đời sống cách mạng với cảm hứng sử thi Văn học giai đoạn này nảy sinh và phát triển trên nền tảng của ý thức cộng đồng

Văn học là vũ khí chiến đấu không gì có thể thay thế được của nhà văn, văn nghệ phải phục vụ nhân dân, phục vụ “công, nông, binh” Hồ Chí Minh

Trang 39

trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (1951), chỉ rõ: “Cũng như các chi ến sĩ khác, chiến sĩ Nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định là phụng sự kháng chi ến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là phục vụ công nông, binh”, bên cạnh đó văn học còn phản ánh hiện thực đời sống, nó ghi nhận những thay đổi của cuộc sống, theo dõi sát sao quá trình đấu tranh

và phát triển của đất nước, do đó, mức độ phản ánh cuộc sống của nhân dân

có chân thật hay không là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá

mức độ tiến bộ hay không tiến bộ của nhà văn đó Nhà văn được xã hội tín nhiệm giao cho nhiệm vụ là người thư kí của thời đại Kháng chiến toàn quốc

bùng nổ, đòi hỏi người viết những nhiệm vụ khó khăn hơn là từ quan niệm

viết như một đòi hỏi tự nhiên phải thay đổi để viết phục vụ kháng chiến Văn

học lúc này phải phản ánh chân thực cuộc sống lao động và chiến đấu của quân dân ta Văn nghệ phục vụ chính trị mà xét đến cùng là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng với cảm hứng ngợi ca Vì thế, cảm hứng anh hùng xuất hiện như một điều tất yếu

Có thể thấy rằng, đề tài chính trong các sáng tác của các nhà văn lúc này

là viết về người thật việc thật với cảm hứng anh hùng Các nhà văn thâm nhập

vào đời sống, chiến đấu của nhân dân Nguyễn Thi lên đường vào Nam, ở

đây, nhà văn đã phát hiện ra vẻ đẹp trong sáng của những điển hình người

th ật việc thật, những người anh hùng miền Nam chân chất, giản dị, giàu lòng

yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Có thể kể như: Người mẹ cầm súng, Đại đội anh

hùng, Dòng kênh quê hương, Ở xã Trung Nghĩa…

Nhà văn là người hơn ai hết luôn nhận thức rõ vị trí của dân tộc trong bước phát triển chung của thời đại Chính tầm thời đại của sự nghiệp cách

mạng dân tộc đã chắp cánh và tạo cảm hứng trong văn chương Giờ đây, vượt lên tất cả và bao trùm đó là chuyện con đường vô Nam, lên chiến khu, hoặc

xuống đường với hình ảnh “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (thơ Phạm Tiến

Trang 40

Duật) Những chuyến đi từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam của anh em văn nghệ Khu Năm và Nam Bộ Những chuyến đi thực tế ấy đã cho văn nghệ sĩ nguồn cảm hứng dạt dào, có những tác phẩm họ viết ngay trên đường hành quân nhưng cũng có những tác phẩm được lưu giữ lại và tích lũy trong tâm trí, sau này mới thành văn Trường hợp Đất nước đứng lên là một điển hình

Những ngày sống, chiến đấu cùng đồng bào của dân làng Kông Hoa đã giúp Nguyên Ngọc thành công rực rỡ với Đất nước đứng lên, tác phẩm mở đường

cho cảm hứng anh hùng ca Có thể nói Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc

là hình ảnh những con người Việt Nam yêu nước, cùng đoàn kết chống lại gông cùm, xiềng xích của thực dân Pháp, luôn xả thân vì sự nghiệp chung của dân tộc Là chân dung người anh hùng mang màu sắc bi tráng, anh hùng Núp chiến đấu vì lý tưởng chung để đánh đuổi giặc ngoại xâm Hay nói rõ hơn, khi

mà ý thức của cá nhân thống nhất với ý thức của cộng đồng thì lúc đó con người tự mình nhận thức được trách nhiệm của mình với đất nước, với dân

tộc và anh hùng Núp là một trường hợp như thế

Bên cạnh văn xuôi, thơ ca kháng chiến cũng góp tiếng nói của mình vào

cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, “thơ ca đã được huy động vào cuộc chi ến đấu của dân tộc, trở thành một vũ khí lợi hại và một nhu cầu không thể thi ếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam kháng chiến.”[53;84]

Cách mạng và kháng chiến đã khơi nguồn và làm bừng dậy những cảm hứng thơ ca mới mẻ, sôi nổi, mãnh liệt, làm thay đổi hẳn sắc điệu và giọng điệu của

nền thơ Cảm hứng nổi bật và bao trùm trong thơ ca lúc này là niềm vui

sướng, tự hào đến mức say mê, nồng nhiệt trước cuộc tái sinh mầu nhiệm của

đất nước và con người Việt Nam Cảm hứng lãng mạn trong thơ ca cách mạng được tiếp nối bằng cảm hứng lãng mạn anh hùng của những con người đi vào

cuộc chiến đấu với tinh thần chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Đây là thời

điểm thơ kháng chiến ghi được khá nhiều thành công và có những tác phẩm

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. L ại Nguyên Ân (2004), 150 thu ật ngữ Văn học , Nxb Đại học Quốc gia Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ Văn học
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. L ại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình , Nxb Tác ph ẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. L ại Nguyên Ân (1980), Vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại, T ạp chí văn học, (s ố 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn học
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Năm: 1980
4. L ại Nguyên Ân (1987), “Sống với văn học cùng thời”, T ạp chí văn học , (s ố 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1987
5. Lê Huy B ắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, T ạp chí Văn học , (s ố 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy B ắc
Năm: 1998
6. Nguy ễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguy ễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2012
7. V. G. Bêlinxki (1955), Toàn t ập tác phẩm , t ập VI, VII (bản dịch), Nxb Viện Hàn Lâm khoa h ọc Liên Xô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn t ập tác phẩm , t ập VI, VII (bản dịch)
Tác giả: V. G. Bêlinxki
Nhà XB: Nxb Viện Hàn Lâm khoa h ọc Liên Xô
Năm: 1955
8. M. Bakhtin (1991), Lý lu ận và thi pháp tiểu thuyết , Ph ạm Vĩnh Cư dịch và giới thi ệu, Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1991
9. M. Bakhtin (1993), Nh ững vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki , Nxb Giáo D ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1993
10. Các nhà văn nói về văn (1986), Nxb Tác ph ẩm mới – Hội nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn nói về văn
Tác giả: Các nhà văn nói về văn
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới – Hội nhà văn Việt Nam
Năm: 1986
11. Nguy ễn Minh Châu (2001), Toàn t ập (tập 3) (2001), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (tập 3)
Tác giả: Nguy ễn Minh Châu (2001), Toàn t ập (tập 3)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
12. Nguy ễn Minh Châu (1999), Tuy ển tập truyện ngắn , Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguy ễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
13. Đỗ Chu (1995), Một nền văn học gắn lền với vận mệnh dân tộc, Báo Văn nghệ (s ố 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Văn nghệ
Tác giả: Đỗ Chu
Năm: 1995
14. Nguy ễn Đình Chú, Lê Trí Viễn (1978), L ịch sử văn học , Nxb Giáo d ục, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú, Lê Trí Viễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1978
15. Tr ần Đăng (2004), Lan man với nhà văn Nguyên Ngọc, Báo Bình Định ra ngày 25/10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Bình Định
Tác giả: Tr ần Đăng
Năm: 2004
16. Phan C ự Đệ (1978), Ti ểu thuyết Việt Nam hiện đại (Tập 1 và 2) , Nxb Đại học và trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Tập 1 và 2)
Tác giả: Phan C ự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
17. Phan C ự Đệ, Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam (tập 1) , Nxb Đại học và trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam (tập 1)
Tác giả: Phan C ự Đệ, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và trung h ọc chuyên nghiệp
Năm: 1979
18. Ph ạm Văn Đồng (2006), V ề văn hóa và văn học nghệ thuật , Nxb Văn học, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa và văn học nghệ thuật
Tác giả: Ph ạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
19. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
20. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm , Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w