Từ ca dao dân ca Nam Bộ đến văn học viết Nam Bộ đầuthế kỉ XX cho đến nay, có thể kể từ Hồ Biểu Chánh cho đến những nhà văntrẻ ngày hôm nay như Nguyễn Ngọc Tư, dù xuất hiện đậm nhạt nhưng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2012
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng nghiên cứu 14
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận văn 14
7 Cấu trúc của luận văn 15
Chương 1 NGƯỜI NÔNG DÂN KHẨN HOANG - MỘT HÌNH TƯỢNG LỚN CỦA VĂN XUÔI NAM BỘ THẾ KÝ XX 16
1.1 Khái niệm người nông dân khẩn hoang 16
1.1.1 Nam Bộ - vùng đất mới 16
1.1.2 Khẩn hoang - một công việc đặc thù và ý nghĩa to lớn của nó 17
1.1.3 Người nông dân khẩn hoang Nam Bộ 19
1.2 Nhìn chung về hình tượng người nông dân khẩn hoang trong văn xuôi Nam Bộ thế kỷ XX 20
1.2.1 Hình tượng người nông dân khẩn hoang trong văn xuôi Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX - 1945 20
1.2.2 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ 1945 đến 1975 25
1.2.3 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ 1975 đến nay 29
1.3 Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam - Những nhà văn thành công nhất trong việc xây dựng người nông dân khẩn hoang 30
1.3.1 Tiểu sử, sự nghiệp văn học của ba nhà văn 30
1.3.2 Nhìn chung về điểm gặp gỡ và khác biệt giữa ba nhà văn trong việc thể hiện hình tượng người nông dân khẩn hoang 36
Trang 3TỰ SỰ PHI VÂN, BÌNH NGUYÊN LỘC, SƠN NAM 42
2.1 Nhận thức thẩm mỹ về hoàn cảnh sống của người nông dân khẩn hoang 42
2.1.1 Không - thời gian hoang sơ, thách thức 42
2.1.2 Không - thời gian quy thuận con người 50
2.1.3 Những tai ương đến từ tổ chức xã hội 53
2.2 Nhận thức thẩm mỹ về những nét đẹp của người nông dân khẩn hoang 57
2.2.1 Yêu đất đai, nguồn cội 57
2.2.2 Cần cù và sáng tạo 72
2.2.3 Can đảm và nghĩa khí 76
2.3 Những điểm chất khác nhau giữa ba nhà văn khi thể hiện hình tượng người nông dân khẩn hoang 92
2.3.1 Với Phi Vân 92
2.3.2 Với Bình Nguyên Lộc 94
2.3.3 Với Sơn Nam 96
Chương 3 CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN KHẨN HOANG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA PHI VÂN, BÌNH NGUYÊN LỘC, SƠN NAM 100
3.1 Hư cấu trên cơ sở khảo cứu công phu 100
3.1.1 Sự kết hợp giữa vốn sống phong phú với tinh thần phân tích khoa học trong trần thuật, miêu tả 100
3.1.2 Tính xác thực tương đối của những con người, địa danh 106
3.1.3 Ghi chép và tưởng tượng 107
3.2 Vận dụng phương ngữ 115
3.2.1 Cách vận dụng phương ngữ của người kể chuyện 115
Trang 4hóa ngôn ngữ nhân vật 1233.3 Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa “chuyện lạ” và chuyện thường ngày
1293.3.1 Liều lượng những" câu chuyện lạ" được đem tới 1293.3.2 Vấn đề bình thường hóa những chuyện phi thường 1323.3.3 Những cách phẩm bình trực tiếp về nhân vật của người kể chuyện
137
KẾT LUẬN 145 TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Chúng ta biết đến văn học Nam Bộ thế kỷ XX với những sáng táccủa Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, TrangThế Hy, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Mạnh Tuấn,
Lê Văn Thảo, Hồ Tĩnh Tâm, Nguyễn Ngọc Tư,… Những thế hệ nhà văn nàytrưởng thành trong những thời kì khác nhau nhưng họ đã góp phần làm nên sự
bề thế, phong phú cho văn học Nam Bộ Và hơn thế nữa, những người nghệ sĩ
đó đã để lại dấu ấn rõ nét tạo nên dòng chảy khác biệt, chứng tỏ sức sống củamột bộ phận văn học phát triển từ mảnh đất đặc thù Vì vậy, có thể xem vănhọc Nam Bộ là một vùng văn học độc đáo và thực sự cần nghiên cứu chuyêntâm, lâu dài Thực hiện đề tài này là một cách để chúng tôi dần tiếp cận, khámphá mảnh đất văn học mà từ lâu vẫn đang còn vẻ “hoang sơ”, bí ẩn như chínhcuộc sống con người Nam Bộ
1.2 Nam Bộ là vùng đất mới, nó được tạo lập trong quá trình ngườidân miền Trung, Bắc di dân vào khai hoang, mở rộng bờ cõi, gây dựng sựsống Nam Bộ được sinh ra từ những hi sinh, từ xương máu của những bậc
tiền nhân đi khai hoang Chính vì vậy, cảm hứng về những con người mang
gươm đi mở cõi trời Nam trở thành cảm hứng lớn trong sáng tác của nhiều thế
hệ nhà văn Nam Bộ Từ ca dao dân ca Nam Bộ đến văn học viết Nam Bộ đầuthế kỉ XX cho đến nay, có thể kể từ Hồ Biểu Chánh cho đến những nhà văntrẻ ngày hôm nay như Nguyễn Ngọc Tư, dù xuất hiện đậm nhạt nhưng lúc nàongười đọc cũng nhận ra hình tượng người nông dân khẩn hoang với tâm thếcao đẹp của những con người “mở đường” sống cho mảnh đất Nam Bộ
Sự gặp gỡ nghệ thuật lớn lao chứng tỏ rằng, đối với mỗi người nghệ sĩNam Bộ chân chính, sáng tạo nghệ thuật phải hướng tới nguồn cội thiêngliêng, hướng tới những giá trị đổi bằng xương máu của tiền nhân, những
Trang 6người đầu tiên đặt chân lên mảnh đất Nam Bộ kiếm tìm sự sống Với chúng
ta, tiếp cận với hình tượng nghệ thuật này là một cơ hội quý giá để hiểu hơn
về vẻ đẹp của con người khẩn hoang nơi mảnh đất xa xôi tận cùng của Tổquốc, và để cảm nhận về một hương sắc riêng của văn học nước nhà Đó cũngchính là lí do tiếp theo thúc đẩy chúng tôi lấy hình tượng này làm đối tượngnghiên cứu chính của đề tài
1.3 Trong bộ phận văn học Nam Bộ, như chúng tôi đã nói, hình tượngngười nông dân khẩn hoang xuất hiện trong các tác phẩm, đậm, nhạt còn tùyvào hướng tiếp cận hiện thực của từng nhà văn Chúng tôi muốn nói tới PhiVân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, vì chính họ là những nghệ sĩ hướng tớixây dựng hình tượng này như những ám ảnh nghệ thuật, đem lại niềm xúc
động cho người đọc… Tìm đến với phóng sự Đồng quê, Dưới đồng sâu của Phi Vân, nghiền ngẫm những trang văn như Rừng mắm, Thèm mùi đất,
Cuống rún chưa lìa, Đò dọc… của Bình Nguyên Lộc, và thưởng thức Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, hơn bao giờ hết, ta cảm nhận được rõ
nét hình ảnh tiền nhân khai hoang mở đất như một kết tinh thẩm mĩ cao đẹptrong mỗi tác phẩm
Nhà văn Sơn Nam đã nguyện cả đời sẽ viết về cuộc khẩn hoang miềnNam, bởi vì đó là một cuộc “khẩn hoang đặc biệt” (chữ dùng của Sơn Nam)
và cũng vì ông muốn trả món nợ ân nghĩa với mảnh đất quê hương ông Cùngvới Bình Nguyên Lộc, Phi Vân, nhà văn Sơn Nam xứng đáng trở thành ngườitiếp sinh lực cho đề tài lớn này trong văn học Nam Bộ Và cũng chính họ đãtiếp thêm sức sống mãnh liệt cho hình tượng thẩm mĩ về người nông dân khẩnhoang Nam Bộ vốn có từ cội nguồn từ truyền thống
1.4 Truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh hạ của Sơn Nam được đưa vào
giảng dạy trong nhà trường cũng đã xây dựng hình tượng thẩm mĩ trung tâm
là người nông dân Nam Bộ trong cuộc khẩn hoang đầy những gian lao, nhọc
Trang 7nhằn Cho nên, nghiên cứu về hình tượng này nói chung và tác giả Sơn Namnói riêng, chúng tôi hi vọng cung cấp được một cái nhìn toàn diện, góp phầnhữu ích vào việc tiếp cận tác phẩm văn học này trong nhà trường Chúng tôicũng có chút hi vọng đưa Sơn Nam cùng với Phi Vân, Bình Nguyên Lộc đếnvới đông đảo bạn đọc, để họ nhận được sự định giá xứng đáng hơn vì nhữngđóng góp của mình.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Văn học Nam Bộ là vùng văn học chữ quốc ngữ bắt đầu hình thành
và phát triển từ cuối thế kỉ XIX Đây là bộ phận văn học có một đời sống sôinổi với hàng trăm cây bút và một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ Người tathường biết đến văn học Nam Bộ với những tên tuổi như Trương Vĩnh Ký,
Hồ Biểu Chánh, Huỳnh Tịnh Của, Phi Vân (trước 1945) và Bình Nguyên Lộc,Trang Thế Hy, Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn QuangSáng,…Tuy nhiên, văn học Nam Bộ không chỉ có thế Các tác giả sáng táctrên nhiều thể loại xuất hiện khá rầm rộ như Nguyễn Khánh Nhương, TrươngDuy Toản, Michel Tinh, Biến Ngũ Nhy, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn ChánhSắt… nhưng vì dấu ấn để lại ít cho nên họ trở nên lạ lẫm với bạn đọc Nhưngđiều đó cho thấy, văn học Nam Bộ từ cuối thế kỉ XIX đến trước và sau 1945
có thể gọi là một bộ phận văn học khá sôi động
Trong không khí sôi động đó, bộ phận văn học này đã để lại những têntuổi có thể gọi là đỉnh cao chứng tỏ tiềm năng và sinh lực của mình Chínhnhững tác giả đó đã làm nên cái mà người ta thường vẫn gọi đó là văn họcNam Bộ Những Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam,Đoàn Giỏi, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Ngọc Tư… là những người làmcho tên gọi văn học Nam Bộ mang tính đặc thù Một số trong những gươngmặt nổi bật trên cũng chính là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi khi tìmhiểu về văn học Nam Bộ
Trang 8Rõ ràng, văn học Nam Bộ không phải là một thuật ngữ văn học, nhưng
người ta gọi tên nó như một cụm từ khá ổn định (không ai gọi văn học Bắc Bộhay Trung Bộ) Điều đó không phải ngẫu nhiên Bản thân tên gọi đã mangdấu hiệu về những nét đặc thù của bộ phận văn học này Nó bao gồm nhữngsáng tác của những tác giả Nam Bộ hoặc mang màu sắc Nam Bộ (có nhữngtác giả người Bắc nhưng vẫn xếp những sáng tác của họ vào bộ phận văn họcNam Bộ vì màu sắc Nam Bộ xuất hiện trong tác phẩm của họ) Màu sắc Nam
Bộ là một cách nói còn mơ hồ nhưng chúng ta có thể thấy biểu hiện cụ thểqua các phương diện như: hình tượng không gian, thời gian, con người, ngônngữ lẫn giọng điệu… Hình tượng người nông dân khẩn hoang cũng chính làmột trong những biểu hiện của màu sắc Nam Bộ, thể hiện nét đặc thù của hiệnthực mà các nhà văn Nam Bộ tập trung phản ánh
2.2 Những nghiên cứu về hình tượng người nông dân khẩn hoangtrong văn học Nam Bộ nói chung và trong sáng tác của Phi Vân, BìnhNguyên Lộc, Sơn Nam nói riêng còn khá ít ỏi Điều đáng nói là những nghiêncứu đó thực sự chưa xứng với bản thân tầm vóc của một hình tượng văn họclớn và hết sức độc đáo này
Trong bài Sưu tầm và giới thiệu ca dao dân ca Nam Bộ, tác giả Trần
Văn Nam đã phân nhóm chủ đề những bài ca dao thể hiện hình ảnh người đikhẩn hoang Tác giả không chỉ giới thiệu mà còn cảm nhận được khá rõ nétcuộc sống của con người khẩn hoang qua những sáng tác dân gian Đó lànhững bài ca dao gợi nhớ đến bậc tiền nhân mở cõi, “những người đã đổ mồhôi xương máu đẩy lùi dần cảnh hoang sơ vào quá khứ”, là những bài ca daokhích lệ tinh thần những người khẩn hoang, cả những bài ca dao buồn nhớ vì
xa xứ, vì chết chóc nơi rừng thiêng nước độc Bài viết mặc dù chỉ dừng lạigiới thiệu ca dao dân ca Nam Bộ - vùng đất mới nhưng đã tập trung đi thẳngvào hình ảnh những con người khẩn hoang Điều này cho thấy, từ trong ca
Trang 9dao, dân ca, cuộc sống của người dân Nam Bộ, khẩn hoang là một hành trìnhđầy ý nghĩa.
Tuy vậy, nhìn sang những nghiên cứu về văn học viết đề tài người nôngdân khẩn hoang Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy hầu hết các bài nghiên cứu đềutập trung khám phá hình tượng nói chung, chưa gọi tên hay đúng hơn là chưađặt ra vấn đề khẩn hoang để lí giải hình tượng
Hồ Biểu Chánh là tác giả khá nổi bật trong văn học Nam Bộ, ông đượccoi là “nhà văn của người nông dân Nam Bộ” (Trần Hữu Tá) Nghiên cứunhiều nhất về tác giả này, chúng ta phải kể đến tác giả Huỳnh Thị Lan
Phương với các bài viết khá công phu: Tính cách người nông dân Nam Bộ
trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về người nông dân Nam Bộ, Sự kế thừa và đổi mới quan niệm về con người trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh Tuy nhiên, hầu hết các bài viết này đều chỉ dừng lại nghiên
cứu hình tượng người nông dân Nam Bộ trên các phương diện như tính cách,nỗi khổ từ áp bức giai cấp… từ đó khái quát quan niệm của tác giả về conngười cũng như thái độ với người nông dân Nam Bộ Như vậy, hình tượngcon người khẩn hoang có xuất hiện trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh nhưngthực sự chưa được phát hiện khi tiếp nhận Điều này cũng có thể thấy ở các
bài nghiên cứu được post lên hobieuchanh.com…
Hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ còn được xuất hiệntrong các sáng tác của những nhà văn giải phóng như Đoàn Giỏi, Nguyễn Thi,Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng… Nhưng đậm nét nhất có lẽ phải kể đếnnhững sáng tác của Đoàn Giỏi, nhà văn của “đất rừng phương Nam” Tuynhiên, nghiên cứu về các sáng tác của ông, các bài viết cũng chỉ ở mức độbình tán, hoặc chú trọng khai thác chất Tây Nam Bộ đặc sệt qua bối cảnhthiên nhiên hoang dã, trú phú, con người trung hậu trí dũng, qua tập tục vănhóa, ngôn ngữ, giọng điệu… Bài viết của tác giả Huỳnh Mẫn Chi khẳng định
Trang 10“Sự tài tình của Đoàn Giỏi là như tái tạo lại bối cảnh sông nước, con ngườinhư thửa ông cha ta còn mang gươm mở cõi” [6] Như vậy, trên một phươngdiện nào đó, bài viết đã nhìn nhận hình ảnh người nông dân khẩn hoang Nam
Bộ nhưng chỉ dừng lại mức độ “động chạm” khi tác giả nghiên cứu về Đất
rừng phương Nam và Núi cả cây ngàn - hai tác phẩm của Đoàn Giỏi Những
bài viết khác của Nguyễn Bá, Đoàn Minh Tuấn đều chỉ dừng lại nhấn mạnhtình yêu với mảnh đất Nam Bộ của tác giả qua sáng tác của mình
Những nghiên cứu về sáng tác của các nhà văn giải phóng khác viết vềNam Bộ như Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng chủ yếu hướngtới khám phá vẻ đẹp của những con người Nam Bộ trong chiến đấu, họ hiệnlên là những chiến sĩ anh hùng quả cảm như Chị Chiến, Việt, chị Sứ, chị ÚtTịch, anh Sáu… Những nhân vật đó cũng là những chủ nhân của miền đấtmới, họ chiến đấu bảo vệ miền đất mới, thực chất đó cũng chính là tinh thầnkhẩn hoang, có điều, những nghiên cứu không gọi tên ra hiện tượng này
Đến với những sáng tác của những nhà văn “nằm vùng”, sáng tác hợppháp trong lòng đô thị miền Nam, hình tượng người nông dân khẩn hoangNam Bộ thể hiện khá nổi bật Trong các tác phẩm của Bình Nguyên Lộc vànhất là Sơn Nam, con người Nam Bộ khẩn hoang trở thành hình tượng nghệthuật đẹp mà người đọc không khỏi ngạc nhiên khi khám phá
Nghiên cứu về hình tượng người nông dân khẩn hoang trong sáng táccủa cả ba tác giả Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam thực sự chưa có Hầuhết các bài nghiên cứu đều hướng vào những tác giả cụ thể
Về tác giả Phi Vân, có thể nói những nghiên cứu đang ở mức hiếm hoi.Theo tài liệu chúng tôi tìm được, có thể kể đến một số bài viết về tác giả này như:
1 Hồ Trường An, Phi Vân, nhà văn mở rộng dải đất bồi qua tập truyện
phong tục Đồng quê.
Trang 112 Trần Hữu Dũng, Phi Vân - nhà văn đồng quê rặt ròng Nam Bộ.
3 Nguyễn Văn Sâm, Giới thiệu ngắn gọn một nhà văn Phi Vân.
Trong số ít ỏi những nghiên cứu đó, bài viết của Nguyễn Văn Sâm,đúng như tiêu đề, chỉ là những lời giới thiệu có tính chất tóm gọn trong ít lờinhững ấn tượng về nhà văn Phi Vân Bài viết của tác giả Hồ Trường An cũngchỉ ở dạng liệt kê, giới thiệu tác phẩm và tóm tắt nội dung ý nghĩa của một số
tác phẩm trong phóng sự ngắn Đồng quê chứ chưa khái quát lên vấn đề gì.
Đáng chú ý hơn cả, trong bài viết của tác giả Trần Hữu Dũng khi nghiên cứu
về những sáng tác của Phi Vân dù còn khá ngắn gọn nhưng phần nào đã kháiquát được hình ảnh người nông dân Nam Bộ và không gian khẩn hoang của
họ Đó là những con người “chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạchậu, cuộc sông tối tăm miệt Hậu Giang…”, trong bối cảnh miền Tây Nam Bộvới “những cái tên mang dấu ấn một thời của tổ tiên đi khai hoang, mở rộngđất đai về phương Nam…” Có thể xem đây là bài nghiên cứu có tính địnhhướng hơn cả
Như vậy, có thể thấy nghiên cứu về những sáng tác của Phi Vân cònquá ít ỏi, và vì vậy, hình tượng người nông dân khẩn hoang trong sáng tác củaông cũng đang chỉ mới được nhắc đến, chưa có khảo sát công phu qua thực tếcác tác phẩm
Khác với Phi Vân, Bình Nguyên Lộc được nghiên cứu khá nhiều,chúng tôi nhận thấy trên các trang báo điện tử nhiều bài viết về tác giả này.Điểm chung của những bài viết này là mặc dù chỉ là những bài viết nhỏnhưng đã phát hiện ra những đặc điểm nổi bật của hình tượng người nông dânkhẩn hoang trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc đó là tình thần “nắm níu quêhương”, “hoài niệm chốn thôn quê”, yêu thiết tha đất đai nguồn cội trongcuộc “sinh tồn khốc liệt” để khẩn hoang miền đất mới Có thể thấy điều nàytrong bài viết của các tác giả như:
1 Vinh Lan, Những nắm níu của quê hương trong Cuống rún chưa lìa.
Trang 122 Trần Phỏng Diều, Con Tám cù lần của Bình Nguyên Lộc: người ở
thành thị hoài niệm về chốn thôn quê.
3 Nguyễn Vy Khanh, Bình Nguyên Lộc và tình đất.
4 Thụy Khê, Bình Nguyên Lộc, đất nước và con người.
5 Lê Phương Chi, Nhà văn Bình nguyên Lộc.
6 Nguyễn Thị Thu Trang, Con người và văn hóa Nam Bộ trong truyện
Vy Khanh Việc nghiên cứu trên nhiều môn loại đã tạo cơ sở để các tác giảkhẳng định sáng tác của Bình Nguyên Lộc dù trên môn loại nào cũng “luônhướng về nguồn cội, luôn truy nguyên tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên từ đất Bắc
di dân vào Nam” Cho nên, suốt bài viết, các tác giả đã cố gắng làm rõ hìnhảnh những con người khẩn hoang Nam Bộ Đây cũng có thể xem là một bàinghiên cứu khá tập trung về vấn đề người nông dân khẩn hoang Nam Bộ Đócũng là những tưu liệu để chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về sáng tác củaBình Nguyên Lộc nói chung
Xu hướng thứ hai, hầu hết các bài viết tập trung nghiên cứu Bình NguyênLộc trên những sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết Dù sáng tác của BìnhNguyên Lộc hướng tới nhiều chủ đề nhưng nhiều bài viết đã tập trung pháthiện chủ đề khẩn hoang Nam Bộ qua hình tượng những con người khẩn hoang
Trang 13Có những bài viết nhìn nhận, phát hiện hình tượng người nông dânkhẩn hoang Nam Bộ qua một số sáng tác cụ thể như bài viết của Vinh Lan,
Trần Phỏng Diều… Đặc biệt, bài viết của tác giả Thụy Khuê với tựa đề Bình
Nguyên Lộc, đất nước và con người bên cạnh việc nhìn nhận một cách khái
quát nhưng khá đầy đủ về văn nghiệp của Bình Nguyên Lộc, bài viết đã có sựkhảo sát các sáng tác của nhà văn này, tập trung chủ yếu vào truyện ngắn, tiểuthuyết, từ đó đưa ra một số luận điểm lớn khi nghiên cứu sáng tác của nhà vănmiền Đông Nam Bộ này Tác giả Thụy Khuê qua bài viết đã có những pháthiện quan trọng xung quanh hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ,tìm thấy nét độc đáo của việc thể hiện hình tượng thông qua so sánh với hainhà văn Nam Bộ khác là Đông Hồ, Hồ Biểu Chánh “Cái gốc Bắc, tổ tiênnguồn cội ngoài Bắc được Bình trân trọng tìm kiếm, không riêng gì khía cạnh
lịch sử Nam tiến, mà còn cả về nguồn cội ngôn ngữ” Và Đò dọc là “tác phẩm
bao dung và nhân hậu, mở vòng tay chào đón đồng bào di cư, trong giai đoạnlịch sử khó khăn, bằng con đường kết hợp dân tộc, bằng cách nhắc lại lịch sử
di dân, khai phá đất hoang, mở rộng bờ cõi và giao hòa ngôn ngữ” Khôngdừng lại đó, bài viết còn nhấn mạnh được tình đất, tình quê (nỗi nhớ quê quabước lang thang trên phố Sài Gòn), lịch sử di dân và cuộc đấu tranh sinh tồnkhốc liệt của những con người khẩn hoang Nam Bộ qua các sáng tác cụ thểcủa Bình Nguyên Lộc Người viết chú ý đến nghệ thuật viết truyện của BìnhNguyên Lộc qua cách kể chuyện, cách xử lí hiện thực, sử dụng ngôn ngữ…Bài viết đã cung cấp cái nhìn khá toàn diện, những phát hiện quan trọng, hợp
lí, sát thực qua khảo sát tác phẩm để chúng tôi có thể có những định hướng vàphát triển cho đề tài này
Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang tập trung làm rõ quan điểm
“hướng về quê hương, hướng về cội nguồn” qua các sáng tác của Bình NguyênLộc khá hệ thống, rõ ràng bằng những khảo sát tác phẩm truyện ngắn cụ thể
Trang 14Bài viết đã hướng đến phân tích và lí giải một trong những phẩm chất nổi bậtcủa hình tượng người nông dân khẩn hoang miền Đông Nam Bộ “luôn gắn bóvới đất mẹ yêu thương”, “sống hòa đồng với tự nhiên”, trọng nghĩa tình làngxóm… Bên cạnh đó, người viết còn khái quát nghệ thuật xây dựng hình tượngqua không gian đô thị Sài Gòn sầm uất nhưng “con người vẫn chưa bứt hết mốiliên hệ với ruộng đồng, thôn xóm cũ”, không gian văn hóa với những tập quán,sinh hoạt, không gian gặp gỡ chung sống của nhiều tộc người… Có thể xem đó
là những nghiên cứu dù chưa toàn diện nhưng có tính định hướng trong việckhai thác hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ
Mặc dù, những bài viết về Bình Nguyên Lộc còn chưa nhiều, hầu hếtthiếu hệ thống và khảo sát cụ thể nhưng đó là những gợi ý nhất định chochúng tôi tiếp cận và khai thác đề tài
So với Phi Vân, Bình Nguyên Lộc thì Sơn Nam là tác giả được nhiềungười nghiên cứu quan tâm hơn về vấn đề hình tượng người nông dân khẩnhoang Nam Bộ Bởi vì, so với hai tác giả trên, Sơn Nam trong khối lượng tácphẩm khá đồ sộ trên nhiều môn loại của mình, luôn lấy cuộc khẩn hoang miềnNam làm đề tài chính, suốt đời theo đuổi đề tài này, người nông dân khẩnhoang, do vậy trở thành ám ảnh nghệ thuật, là “niềm day dứt khôn nguôitrong tâm hồn nhà văn” [22, 26]
Tuy vậy, nghiên cứu về Sơn Nam và những sáng tác của ông xuất hiệnkhá nhiều cách tiếp cận Có nhiều bài viết hướng tới khai thác cuộc đời,phong cách tác giả, khám phá vốn văn hóa Nam Bộ trong sự am hiểu, tronggiọng điệu, ngôn ngữ, không gian, thời gian, con người trong đó dù ít nhiềunhưng bài viết nào cũng “đụng” tới hình tượng người nông dân khẩn hoangNam Bộ - một hình tượng không thể không nhắc tới trong sáng tác của ngườinghệ sĩ miền Tây Nam Bộ này
Đó là những bài nghiên cứu nhỏ được đăng tải trên các trang báo điện
tử Các bài viết tiêu biểu như:
Trang 151 Tạ Tỵ, Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt.
2 Trần Phỏng Diều, Hình tượng sông rạch trong truyện ngắn Sơn Nam.
3 Phan Hoàng, Mãi mãi sừng sững một ngọn núi văn học Phương Nam.
4 Huỳnh Công Tín, Nhà văn Sơn Nam, nhà Nam Bộ học.
5 Bùi Mới, Lang thang cùng ông già Nam Bộ.
6 Chu Văn Sơn, Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam.
7 Đinh Từ Bích Thúy, Sơn Nam xuyên bờ: Tình nghĩa giáo khoa thư ở
đầu thế kỷ 21.
8 Hoài Hương, Nhà văn Sơn Nam theo cuộc dạo chơi tuổi già.
9 Nguyễn Mạnh Trinh, Sơn Nam, "ông già Ba Tri" của đồng bằng Nam
đó sự độc đáo của hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ trong các
sáng tác nghệ thuật của Sơn Nam, tập trung ở bộ sách Hương rừng Cà Mau.
Bài viết của Tạ Tỵ có thể xem là những nghiên cứu vào loại đầu tiên vềsáng tác của Sơn Nam Trong bài, tác giả có nhấn mạnh đến hình tượngnhững con người của quá khứ, của dĩ vãng mà chúng ta “viết tên họ trongcuộc đấu tranh của dân tộc” mà Sơn Nam đã đưa họ “sống lại trong vănchương” Thực chất, họ là những bậc tiền nhân trong cuộc đấu tranh giữ đất,
mở đất, tạo dựng nên miền Nam ngày hôm nay Bài viết tiếp cận những conngười khẩn hoang trong tác phẩm của Sơn Nam từ những phẩm chất, tínhcách nổi bật của họ, đó là tình thương đồng loại “trong cảnh sống cơ cực củabước đầu khai phá, những con người thương mến nhau qua hoạn nạn, cùngcảm thông với nỗi cơ cực bần hàn”, là tấm lòng tha thiết với cố hương của
Trang 16những người xa xứ, “Sơn Nam đã dùng văn chương để gửi gắm nỗi khắckhoải, nỗi nhớ quê cha đất mẹ”, là những con người căm thù giặc Pháp, sốngsòng phẳng ơn trả nghĩa đền,… Đây là nghiên cứu vào loại đầu tiên về SơnNam, nhưng dưới cách này hay cách khác, hình tượng con người trong tácphẩm Sơn Nam được Tạ Tỵ tiếp cận đúng mạch chủ lưu đó là hình tượngnhững con người khẩn hoang Nam Bộ Tuy nhiên hạn chế của bài viết là đangcảm nhận chung, thiếu sự lí giải và phân tích theo hệ thống cần thiết, bài viết
vì thế vẫn chưa làm nổi rõ hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộtrong sáng tác nghệ thuật của nhà văn Hương rừng Cà Mau này
Huỳnh Công Tín tiếp cận Sơn Nam qua bài viết “Nhà văn Sơn Nam,nhà Nam Bộ học” đã đưa ra luận điểm về hình tượng con người được khắchoạ trong tác phẩm Sơn Nam Đó là những con người mộc mạc, bộc trực chânthành hào hiệp, những con người khẩn hoang hiên ngang đẹp đẽ Người viết
đã đi vào ngôn ngữ của nhân vật để khám phá tính cách Nam Bộ “ngôn ngữnhân vật trong truyện Sơn Nam là ngôn ngữ thường nhật của người Nam Bộ,
nó thể hiện tính cách và tâm lí ứng xử của người Nam Bộ”, đây cũng là mộtkhám phá hợp lí, nhất là đối với nhân vật của Sơn Nam
Có thể thấy rằng, dưới cách này hay cách khác, hai bài viết trên đã đềcập đến hình tượng những nhân vật khẩn hoang Nam Bộ, dòng chủ lưu trong
sáng tác của Sơn Nam đặc biệt trong bộ sách Hương rừng Cà Mau “Sơn
Nam dẫn dắt chúng ta qua tác phẩm để tìm lại sức sống, một sức sống tiềmtàng, phong phú của những con người coi nhẹ gian lao, cực khổ, khinh cáichết, trọng tiết tháo và giàu lòng nhân từ trong buổi đầu đi tìm đất mới” [94]
Khác với những bài viết đang còn mang tính ấn tượng, bình tán, TrầnPhỏng Diều tiếp cận tác phẩm của Sơn Nam ở một vấn đề cụ thể đó là khônggian nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn Nam - không gian sông rạch Khônggian sông rạch trở thành bối cảnh để con người khẩn hoang thể hiện sự ứng
xử của mình với tự nhiên Đây là một cách nhìn có cơ sở Theo tác giả, trong
Trang 17không gian đó, con người hoà mình với thiên nhiên, để am hiểu thiên nhiên,
để tồn tại, sinh nhai trong buổi đầu khai hoang đầy gian khó Bên cạnh khônggian sống, sông nước còn là không gian văn hoá, những điệu hò, những đêmhát bội, từ đó giúp ta hiểu thêm tâm hồn của cha ông trong những ngày đầutìm đường sống Mặc dù người viết chưa đi đến khái quát bối cảnh khẩnhoang nhưng điều đáng quý là bài viết đã nhìn thấy không gian sinh tồn,
không gian văn hoá, vốn rất đặc trưng trong “Hương Rừng Cà Mau” Đây là
một gợi ý cho chúng tôi khi đi vào khai thác nghệ thuật xây dựng hình tượngtrong truyện ngắn Sơn Nam
Gần đây nhất, bài viết của tác giả Phan Huy Dũng trích trong Tác phẩm
văn học trong nhà trường, một góc nhìn, một cách đọc với tựa đề: Bắt sấu rừng U Minh hạ - câu chuyện về những con người khẩn hoang giàu nghĩa khí
đã tập trung đi sâu vào hình tượng trung tâm là những người nông dân khẩnhoang Nam Bộ Bài viết tuy chỉ dừng lại ở một truyện ngắn cụ thể nhưng vớiviệc tiếp cận trên văn bản tác phẩm và việc khai thác từ hình tượng thẩm mĩtrung tâm, bài viết đã kết dính được chỉnh thể các yếu tố xung quanh tácphẩm, tạo nên một cái nhìn thuyết phục Bài viết đã gợi ra những ý tưởng vàhướng đi cho chúng tôi khi khảo sát tiếp cận hình tượng trên toàn bộ tập
Hương rừng Cà Mau.
Nhìn chung, các bài viết, dưới hình thức này hay hình thức khác đều có
đề cập đến hình tượng những người dân khẩn hoang, một hình tượng trungtâm không thể không nói đến trong sáng tác của Sơn Nam Mặc dù hạn chếcủa những bài viết là đang ở dạng tản mạn, hoặc thiếu tính hệ thống, hoặcthiếu khảo sát toàn diện song đó là những tư liệu cần thiết để chúng tôi khámphá hình tượng
Điểm qua những nghiên cứu về hình tượng người nông dân khẩn hoangtrong sáng tác của Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, chúng tôi nhận thấyhầu hết các bài viết đã phân tích vào một số điểm nhấn nổi bật của hình
Trang 18tượng, một số đi vào nghệ thuật xây dựng hình tượng, ý nghĩa, nguồn gốc củahình tượng… Tuy nhiên, các bài viết chỉ nghiên cứu riêng biệt từng tác giảhoặc nghiên cứu thiếu hệ thống, toàn diện do thiếu khảo sát cụ thể tác phẩm.Trên cơ sở tham khảo những nghiên cứu đó, công trình của chúng tôi đi
nghiên cứu tập trung vào vấn đề: Hình tượng người nông dân khẩn hoang
trong văn xuôi tự sự của Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam nhằm cố gắng
xác lập một cái nhìn hệ thống, chỉn chu và toàn diện hơn về hình tượng nghệthuật lớn này
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hình tượng người nông dân khẩnhoang trong văn xuôi tự sự của Phi Vân, Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đưa lại cái nhìn tổng quan về hình tượng người nông dân khẩnhoang trong văn xuôi Nam Bộ thế kỷ XX
4.2 Phân tích nhận thức thẩm mỹ về những phẩm chất của người nông
dân khẩn hoang trong văn xuôi tự sự Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam.
4.3 Làm sáng tỏ những thành công của các nhà văn Phi Vân, BìnhNguyên Lộc, Sơn Nam khi vận dụng các phương thức nghệ thuật nhằm thểhiện hình tượng người nông dân khẩn hoang
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phươngpháp như: phương pháp phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp, phươngpháp so sánh, phương pháp hệ thống…
6 Đóng góp của luận văn
Trang 19- Xác lập một cách nhìn toàn diện và có hệ thống về hình tượng ngườinông dân khẩn hoang trong văn học Nam Bộ thế kỷ XX.
- Phát hiện những đặc sắc về cách nhìn của những nhà văn Nam Bộ vềhình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1 Người nông dân khẩn hoang - một hình tượng lớn của văn
xuôi Nam Bộ thế kỷ XX.
Chương 2 Nhận thức thẩm mỹ về những phẩm chất người nông dân
khẩn hoang trong văn xuôi nghệ thuật của Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam.
Chương 3 Các phương thức thể hiện hình tượng người nông dân
khẩn hoang trong văn xuôi nghệ thuật của Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam.
Trang 20Chương 1 NGƯỜI NÔNG DÂN KHẨN HOANG - MỘT HÌNH TƯỢNG LỚN
CỦA VĂN XUÔI NAM BỘ THẾ KỶ XX
1.1 Khái niệm người nông dân khẩn hoang
1.1.1 Nam Bộ - vùng đất mới
So với miền Bắc Bộ, Trung Bộ thì vùng đất Nam Bộ trong lãnh thổ đấtnước ta có một ý nghĩa khá đặc biệt, nó là một vùng đất hình thành trên cơ sởquá trình di dân khẩn hoang Cho nên, về mặt thời gian, đây là một vùng đấtmới, ngày nay người ta vẫn gọi thành phố Hồ Chí Minh ba trăm năm tuổi bên
Hà Nội nghìn năm là vì vậy
Tên gọi Nam Bộ chính thức xuất hiện năm 1945 nhưng lịch sử hìnhthành vùng đất mới này bắt đầu từ thế kỷ XVII, trước đó nó là lãnh thổ củanước Phù Nam và Chân Lạp Có thể xem khởi điểm của vùng đất này từ sựkiện 1623 vua Chân Lạp cho chúa Nguyễn di dân Việt đến định cư ở vùngPrey Kor tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay “Vùng đất Nam Bộ bấy giờchỉ là một vùng hoang dại với hệ thống đất đai trũng, úng, sình lầy và sôngrạch chằng chịt Bắt đầu từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, CửaĐại trở vào Cuối thế kỷ 17, chúa Nguyễn tiếp nhận một đoàn người Hoa đếnquy thuận và cho họ đến khai phá và định cư ở Biên Hoà - Đồng Nai Tiếp đó
mộ dân từ Quảng Bình vào và chia đặt doanh, huyện, lập hộ tịch” [104] Nhưvậy, lịch sử hình thành Nam Bộ là quá trình triều đình phong kiến Nguyễn vànhân dân di dân từ miền Trung, tiếp nhận dân từ các vùng lân cận (Hoa, Khơme ) để khai hoang mở rộng lãnh thổ và địa bàn sinh sống Họ là nhữngngười vượt qua những gian nan trên mảnh đất đầy muỗi mòng, thú dữ,chướng khí để sinh con đẻ cái, gây dựng cuộc sống cho Nam Bộ ngày nay
Theo đó, một nền văn hóa mới cũng hình thành Phải gần một thế kỷsau Nam Bộ mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa Một nền văn
Trang 21hoá vùng miền hình thành qua thời gian một thế kỷ không phải là dài Nhưnghành trang của những người Việt đến vùng đất mới mang theo là vốn văn hóa
đúc kết hàng ngàn năm của dân tộc Việt đã góp phần tạo nên nền tảng của hệgiá trị văn hóa Nam Bộ Những giá trị đó cùng với những tương tác giữa cácdân tộc người, địa bàn sinh sống đặc trưng đã dần tạo nên những giá trị củanền văn hoá Nam Bộ độc đáo như hiện nay
1.1.2 Khẩn hoang - một công việc đặc thù và có ý nghĩa to lớn
Đối với vùng đất Nam Bộ, khẩn hoang là một công việc đặc thù và có ýnghĩa to lớn Nó là một công việc đặc thù bởi vì lịch sử hình thành Nam Bộ làlịch sử di dân khẩn đất, khai hoang
Khái niệm “khẩn hoang” được chính Sơn Nam dùng trong một công
trình biên khảo nổi tiếng của ông, đó là cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam.
Trong cuốn biên khảo đó, ông có giải thích rằng, “khẩn hoang ở đồng bằngsông Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về quân sự, kinh tế, văn hoá.”[47] Khẩn hoang là quá trình con người kiếm tìm sự sống trên những vùngđất mới đầy khó khăn, hiểm nguy đối với họ trên cả vật chất lẫn tinh thần
“Những lưu dân người Việt đầu tiên tìm đến mưu sinh nơi đất Sài Gòn thuở
xa xưa là những người từ miền Bắc, miền Trung vào vì nhiều lý do Phần lớn
họ là những nông dân nghèo đói, cơ cực bởi cuộc chiến tranh giữa các tậpđoàn phong kiến, một số khác là những quan lại, binh lính được nhà nướcphong kiến phái đi đồn trú phía Nam, một số là những kẻ tội đồ trốn tránh
Họ đã vượt biển trên những chiếc thuyền và ngược sông Sài Gòn từ cửa CầnGiờ đến vùng đất Sài Gòn ngày nay Những nhóm lưu dân đầu tiên đã chiếm
cứ các giồng đất cao nằm dọc sông Sài Gòn để định cư Ở đây có nguồn nướcngọt cho sinh hoạt và canh tác, khí hậu lại thoáng đãng Dần dần từ các giồngcao, lưu dân mở rộng việc khai phá rừng rậm và bưng sình, đất thấp thànhruộng vườn và làng xóm.” [98]
Trang 22Cũng trong cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam, tác giả cho biết, khẩn
hoang miền Nam tập trung chủ yếu vào hai tầng lớp: vua chúa phong kiến vàdân chúng, hai tầng lớp này có hai mục đích khác nhau Nếu từ phía giai cấpthống trị, việc khẩn hoang miền Nam nhằm mở rộng địa bàn thống trị thì phíadân chúng, khẩn hoang mang một ý nghĩa tích cực Đó là cuộc khẩn hoang
“hiền lành nhất so với ba cuộc khẩn hoang khác của thế giới, không tranhđoạt, không bắn giết” [45] Và hành trình khẩn hoang cao đẹp, tích cực này đãtạo ra những thành quả vật chất, tinh thần trên những vùng đất mới đầy gianlao, nguy hiểm
Ý nghĩa to lớn mà cuộc khẩn hoang Nam Bộ mang lại không chỉ trênphương diện chính trị, tức nhằm mở rộng lãnh thổ và địa bàn sinh sống củangười Việt Hơn thế nữa, cuộc khẩn hoang này còn tạo ra những giá trị tinhthần to lớn, đó là một nền văn hóa rất đặc trưng, độc đáo mà vẫn đậm đà bảnsắc cội rễ của dân tộc Như chúng tôi đã nói ở trên, văn hóa Nam Bộ là sự kếttinh của văn hóa Việt và nhiều nền văn hóa của các dân tộc lân cận, được nuôidưỡng trong một không gian Nam Bộ đặc thù tạo nên văn hóa vùng miền Vàchính cuộc khẩn hoang miền Nam trường kì của cha ông đã khẳng định mộtlần nữa sức sống, khí phách của người Việt trong cuộc hành trình đầy gianlao, thử thách
Như vậy, khẩn hoang miền Nam từ một sự kiện mang ý nghĩa chính trị,khi đi vào thế giới nghệ thuật của các nhà văn Nam Bộ nó trở thành một đốitượng thẩm mĩ đầy tiềm năng để người nghệ sĩ khám phá Nó là hiện thựcsống động và cũng đầy chiều sâu để xây dựng nên hình tượng người nông dânkhẩn hoang Nam Bộ dưới cái nhìn toàn diện, đa chiều hơn Đó cũng là thiênchức đặc thù của nghệ thuật, không chỉ phản ánh hiện thực mà còn mở rộnghiện thực bằng chính cái nhìn nhạy cảm của người nghệ sĩ Có lẽ vì vậy, cáctác phẩm văn học của những nhà văn như Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn
Trang 23Nam, đã cấp thêm cho khái niệm “khẩn hoang” nhiều ý nghĩa mới, rộng hơn,sâu hơn bản thân ý nghĩa chính trị vốn có của nó.
1.1.3 Người nông dân khẩn hoang Nam Bộ
Trong cuộc khẩn hoang trường kì đó, những chủ nhân khẩn hoang tíchcực chính là những người nông dân Họ di dân dưới sự chỉ huy của triều đìnhphong kiến Nguyễn, hầu hết họ là dân Việt từ Quảng Bình vào, một số thuộcdân tộc Hoa theo tinh thần tiếp nhận dân của chúa Nguyễn Nhưng khác với ý
đồ của giai cấp thống trị, những người nông dân “chất phác, ít chữ” [47] di cưvào Nam Bộ khẩn hoang với một tinh thần tích cực, mong muốn thoát cáinghèo khổ, gây dựng sự sống trên mảnh đất mới này Họ có thể làm cây mắm
“ngã rạp chốn rừng thiêng nước độc để lót đường cho con cháu họ” [78, 661]sống sót, sinh sôi
Người nông dân khẩn hoang không chỉ là chủ nhân đầy nghĩa khí trongquá trình khai hoang lập ấp, mà chính họ còn là những người sáng tạo ra vănhóa Nam Bộ, một nền văn hóa đặc trưng của vùng miền Nhà văn Sơn Nam
đã khẳng định “tôi vẫn cho rằng nông dân là người sáng tạo ra văn hoá, mộtnền văn hoá truyền thống phong phú đa dạng” [25] Đó chính là nguồn vănhóa giàu sức sống nhất, bền bỉ âm thầm nhưng mãnh liệt Davin Hunt, mộtnhà sử học Nam Bộ, tâm niệm “cuộc sống hằng ngày của những người nôngdân chính là văn hoá Không có cuộc chiến tranh nào huỷ diệt được văn hoá
Và văn hoá tồn tại trong chính mỗi con người bình dị nhất” Đó là lí do mà dùphải trải qua những thử thách trong cuộc sinh tồn khốc liệt ở mảnh đất này,văn hóa Nam Bộ vẫn nảy mầm và sống mãnh liệt
Có thể thấy rằng, những người nông dân Nam Bộ trong cuộc khẩnhoang chính là hình ảnh đẹp nhất, xúc động nhất Họ mang tâm thế của ngườiViệt đầy nghĩa khí, dũng cảm, sáng tạo, cần cù để vượt qua mọi khó khănbuổi đầu để gây dựng và tạo lập cuộc sống Họ là hiện thân của cha ông, của
Trang 24tiền nhân “mang gươm đi mở cõi” mà “ngàn năm thương nhớ đất ThăngLong” Hình ảnh cao đẹp đó đã đi vào nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứngbất tận cho những người nghệ sĩ Nam Bộ Họ tắm mình trong hiện thực, vàtiếp mạch chảy lai láng từ ca dao, dân ca Nam Bộ, từ người nông dân là nghĩa
sĩ trong áng văn của cụ Đồ Chiểu để làm nên hình tượng văn học đầy sứcsống mà ngày hôm nay người đọc vẫn không khỏi bùi ngùi, xúc động, tưởngnhư hành trình khẩn hoang vẫn đang còn gần lắm
Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam có thể coi là những nghệ sĩ Nam
Bộ nhất bởi vì chính họ đã sống cùng hành trình khẩn hoang Nam Bộ quanhững sáng tác nghệ thuật của mình Và sức sống của hình tượng người nôngdân khẩn hoang trong các tác phẩm bén rễ sâu bền không chỉ từ mảnh đất hiệnthực chân thực, từ vẻ đẹp văn hoá trong đời sống tâm hồn của những conngười bình dị trong bối cảnh cuộc khẩn hoang miền Nam đầy thử thách, màcòn từ cái nhìn nghệ thuật độc đáo mà mỗi nhà văn mang lại
1.2 Nhìn chung về hình tượng người nông dân khẩn hoang trong văn xuôi Nam Bộ thế kỷ XX
Người nông dân khẩn hoang đã đi vào văn học trở thành những hìnhtượng nghệ thuật sinh động từ văn học dân gian Nam Bộ Tuy nhiên tronggiới hạn khảo sát văn xuôi hiện đại, chúng tôi chỉ xin điểm qua một số đặcđiểm nổi bật về hình tượng người nông dân khẩn hoang trong văn xuôi (vănhọc viết) từ đầu thế kỷ XX
1.2.1 Hình tượng người nông dân khẩn hoang trong văn xuôi Nam
Bộ từ đầu thế kỷ XX - 1945
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX -1945 là một giai đoạn văn họcđặc biệt gắn với những thành tựu của hiện đại hoá văn học, kế thừa nhữngthành tựu của văn học trung đại, và chuyển giao sang một thời kì văn học mớigắn với thi pháp mới, là thi pháp hiện đại Đó là bước đi tất yếu đáp ứng nhu
Trang 25cầu xã hội và thực tế văn học Văn học giai đoạn này đạt được nhiều thànhtựu, hiện đại hoá trên nhiều phương diện trong đó phải kể đến sự hiện đại hoáthể loại, một phương diện quan trọng có ý nghĩa quy định cách thức tổ chứctác phẩm văn học Các thể loại văn xuôi được xem là đột phá, khác với sựcách điệu trong thơ, văn xuôi trở về gần hơn với hiện thực đời sống, sốngđộng chân thực “Trên văn đàn truyện ngắn và tiểu thuyết đã gây ra mộtkhông khí nhộn nhịp” [18, 219] Đó là hai thể loại văn xuôi đóng vai trò lànhân vật chính trên văn đàn văn học hiện đại.
Tiếp nhận một hiện thực mới sớm hơn, sự ảnh hưởng mạnh mẽ và ồ ạthơn, văn xuôi Nam Bộ mở đầu cho sự đổi mới, hiện đại hoá thể loại Nhữngtác phẩm văn xuôi quốc ngữ mở đầu, đánh dấu sự ra đời của văn xuôi hiện đại
đó là: Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (Trương Vĩnh Kí), Thầy Lazaro Phiền
(Nguyễn Trọng Quản) Đó là những bước chập chững đáng trân trọng của vănxuôi Nam Bộ thời kỳ đầu Vượt qua sự khởi đầu non nớt đó, Hồ Biểu Chánh
đã khoả lấp khoảng chân không của văn xuôi Nam Bộ bằng một loạt thànhtựu trên các thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết… Và đến những năm 40,cùng sự xuất hiện của tác giả Phi Vân với thể loại phóng sự, văn xuôi Nam
Bộ đã có những sự phong phú nhất định về mặt thể loại…
Thời kỳ này dưới ảnh hưởng mạnh mẽ cùa hiện thực cuộc sống thànhthị, các nhà văn Nam Bộ, ít nhiều, thường tập trung những khám phá về mảnghiện thực này Nhưng, hiện thực bên cạnh cái náo nhiệt, hiện đại, sầm uất của
đô thị Sài Gòn, là người nông dân Nam Bộ với một cuộc sống hoang sơ, heohút nơi các miệt vườn Dù là hai mảng hiện thực đối lập nhưng cả Sài Gònnáo nhiệt cho đến cả miệt vườn Cà Mau đều là mảnh đất mà những ngườinông dân khẩn hoang đã phải đổ mồ hôi, xương máu khai khẩn nên Cho nên,hình ảnh người nông dân khẩn hoang Nam Bộ trong văn học giai đoạn này, cóthể không xuất hiện khẩn thiết, ám ảnh như trong các tác phẩm văn học miềnBắc (của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,…) vẫn xuất hiện
Trang 26với một sức sống riêng Những nhà văn tri ân với tiền nhân khai hoang vùngđất Nam Bộ đã chân thành hướng tới số phận những người nông dân khẩnhoan và để lại những sáng tác nghệ thuật cảm động.
Hồ Biểu Chánh là một trong những nhà văn như vậy Dù viết rất nhiều
đề tài nhưng ông được coi là “nhà văn của nông dân Nam Bộ” (Trần Hữu Tá),không chỉ vì ông viết nhiều về người nông dân Nam Bộ mà hơn thế, ông làngười đã làm sống dậy hình ảnh người nông dân khẩn hoang như một sự tri
ân với cuộc sống của những người đã làm nên Nam Bộ
Đi vào tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, người đọc thường bắt gặp cuộcsống của những người nông dân Nam Bộ nghèo khổ dưới sự bóc lột của thựcdân phong kiến mà cụ thể là bọn tá điền nhà giàu ở nông thôn (Sự chà đạp hãmhiếp của Hai Nghĩa với cô gái tội nghiệp con nhà nghèo - “Con nhà nghèo”) Tuy nhiên, từ trong cuộc sống nghèo khổ tủi nhục của người nông dân Nam
Bộ, Hồ Biểu Chánh đã nhìn thấy vẻ đẹp tính cách tâm hồn của họ, của nhữngcon người trong cuộc sống đó luôn bằng mọi cách dành lấy sự sống
Tính cách nổi bật của người nông dân Nam Bộ trong tác phẩm của
Hồ Biểu Chánh đó là những con người trọng nghĩa khinh tài Ông đã xâydựng thế giới những con người Nam Bộ ngày nay phảng phất tâm thế sốngcủa những Lục Vân Tiên “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” Tính cách củangười nông dân Nam Bộ hiện lên qua những nhân vật như Lê Văn Đó
(Ngọn cỏ gió đùa), Ba Thời (Cay đắng mùi đời), hương sư Cu (Con nhà
nghèo).… Họ vì nghĩa mà không màng lợi lộc không đòi hỏi đền đáp, thậm
chí chấp nhận những thiệt thòi sống hết mình vì nghĩa “qua rửa nhục cho
em mà qua ở tù thì qua vui lòng lắm” (Con nhà nghèo) Cái nghĩa của
người nông dân Nam Bộ trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh không chỉ thểhiện đúng bản chất của con người miền Nam mà còn thể hiện rõ quan niệm
của ông “nếu sống vì nghĩa vì tình con người có thể làm được tất cả” ( Vì
nghĩa vì tình) Tinh thần đạo nghĩa trong tác phẩm của ông thoát khỏi khái
Trang 27niệm trừu tượng của Nho giáo, đi vào đời sống của con người chân thực vàcảm động Cái nghĩa ở đây không chỉ dừng lại trong mỗi con người mà ởtrong sáng tác Hồ Biểu Chánh bắt đầu hé lộ một phương diện mới, nghĩavới tất cả những gì gắn bó trong cuộc sống của họ.
Tính cách trọng nghĩa khinh tài của nhân vật trong tác phẩm Hồ BiểuChánh được thể hiện bộc trực thẳng thắn Từ những người phụ nữ hèn yếu
dám vạch mặt cái ác, bất công như Thị Tố (Con nhà nghèo), đến Ba Cam, thằng Tý (Cha con nghĩa nặng) , đều là sự thể hiện sinh động cho tính cách
này Đó là cách bằng mọi giá giành lấy sự sống, công bằng hạnh phúc củangười nông dân Nam Bộ
Người nông dân khẩn hoang Nam Bộ trong sáng tác của Hồ BiểuChánh còn được khắc hoạ thông qua lối sống còn đầy hoang dã chất phác trênsông nước kênh rạch với một tâm thế hoà hợp với thiên nhiên Cách sinh hoạtnói năng… đều đơn giản tựa như thủa con người mới bắt đầu bước ra cuộcsống Người ta sống bằng tình cảm thật tự nhiên ít toan tính, cần cù nhẫn nạimưu toan sự sống, dường như, nhà văn đã “lọc họ ra khỏi những ảnh hưởng
xô bồ của cuộc sống mà văn hoá phương Tây đang ồ ạt tràn vào khiến conngười bị choáng ngợp trước cái mới” Qua giọng văn “trơn tuột như lời nóithường” [2, 107], Hồ Biểu Chánh đã thể hiện được cái giản dị, chân thật, tựnhiên trong đời sống của người nông dân Nam Bộ
Viết về người nông dân Nam Bộ, nhà văn Hồ Biểu Chánh thể hiện mộtcái nhìn thông cảm, yêu thương đối với cuộc sống nghèo khổ nhiều sự áp bức,
và trân trọng những phẩm chất cao đẹp đáng quý của họ Bằng lối văn chươngđạo lý, nhà văn luôn tìm ra cho nhân vật yêu thương của mình một lối thoát
“ở hiền gặp lành” Điều này đã giúp tác phẩm của ông gần với con người, gầnvới người nông dân “hiền lành ít chữ”, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho ngườiđọc Hình tượng người nông dân Nam Bộ và văn xuôi Hồ Biểu Chánh xứngđáng là thành tựu lớn nhất của văn xuôi Nam Bộ nói riêng và văn học Việt
Trang 28Nam đầu thế kỷ XX Với hình tượng nghệ thuật đó, Hồ Biểu Chánh được coi
là “nhà văn của người nông dân Nam Bộ, của lòng mong muốn xác lập mặtbằng nhân ái cho cuộc sống hàng ngày” [66] Hồ Biểu Chánh đứng ở vị trítiếp sức cho truyền thống văn xuôi Nam Bộ, “tránh bước vào thế chânkhông”, đặc biệt, tạo bước chuyển tiếp đáng ghi nhận cho văn xuôi Nam Bộ ởthể loại tiểu thuyết
Có thể nói, sự xuất hiện của người nông dân Nam Bộ trong sáng táccủa Hồ Biểu Chánh là một thành tựu đáng quý Mãi đến những năm 40,người nông dân Nam Bộ mới thực sự một lần nữa bước vào văn học vớicác sáng tác của nhà văn Phi Vân Với thể loại phóng sự, tiểu thuyết ngắn
và chất Tây Nam Bộ đặc sệt, Phi Vân đã góp vào văn học Nam Bộ giaiđoạn này một cái nhìn đa chiều hơn về hình tượng người nông dân khẩnhoang Nam Bộ
Mỗi nhà văn một cách nhìn và một thế giới nghệ thuật riêng, songnhìn chung, người nông dân khẩn hoang Nam bộ trong văn xuôi trước 1945hiện lên trong cuộc sống lam lũ, trong sự vật lộn sinh tồn, vẫn luôn toát lên
vẻ đẹp rất riêng, rất Nam Bộ Những người nghệ sĩ đó đã có công đưa vàovăn học hình tượng những con người nhỏ bé, thủa hoang sơ đi kiếm tìm sựsống và tìm thấy vẻ đẹp, sức hấp dẫn riêng của nó Thời gian này, trong vănxuôi miền Bắc ta nghe tiếng kêu thương đau đớn của Chí Phèo, không khíngột ngạt căng thẳng của xã hội Việt Nam trước 1945 trong tác phẩm củaNam Cao, Ngô Tất Tố… Có thể thấy người nông dân trở thành một hìnhtượng độc đáo và thành công của nhiều nhà văn miền Bắc, thành tựu lên đếnkiệt tác Cũng có thể nói như thế với văn xuôi miền Nam Cũng trong bốicảnh chung của xã hội Việt Nam, tuy nhiên, theo một dòng chảy khác, HồBiểu Chánh đặt và giải quyết số phận của người nông dân trong đạo lý dângian “ở hiền gặp lành”, và Phi Vân hướng nhiều hơn về phong tục Đó cũng
là một đặc thù của văn học miền Nam
Trang 291.2.2 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ 1945 đến 1975
Văn học Việt Nam 1945 - 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước bịcắt chia Trong tiến trình văn học đặc biệt này, văn học Nam Bộ phát triển
đa dạng và phức tạp hơn Văn học miền Nam chia thành hai bộ phận: bộphận văn học giải phóng (chúng tôi xin tạm gọi như vậy để chỉ các sáng táccủa những nhà văn hướng đến đề tài chiến tranh - cách mạng), các nhà vănđồng thời là những chiến sĩ cách mạng chẳng hạn: Nguyễn Văn Bổng,Nguyễn Thi, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,…, thứ hai là bộphận văn học trong lòng đô thị miền Nam với những tác giả nổi bật như:Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Sơn Nam,…
Ở các sáng tác văn xuôi hướng đến đề tài chiến tranh - cách mạng, phảnánh cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ oanh liệt, người nông dân được nhìnnhận là những anh hùng, vô danh, nhưng sục sôi tinh thần yêu nước và ý chí
cách mạng Trần Hiếu Minh trong tập bút ký nổi tiếng Cửu Long cuộn sóng
đã mô tả hình ảnh những người nông dân quật khởi, từ những đứa trẻ đếnnhững người phụ nữ Các nhà văn còn phản ánh mảng hiện thực rộng lớn,phức tạp của cuộc sống của họ dưới ách kìm kẹp của địch Trong thực tiễn ácliệt đó, những Chín Kiên, ông Sáu Già, má Tám, , những con người rất đỗibình thường chân chất ấy, họ sống bằng một lòng yêu nước mãnh liệt Điềunày được Nguyễn Văn Bổng khắc chạm trong hình tượng nghệ thuật về người
nông dân Nam Bộ qua tiểu thuyết Rừng U Minh Cũng hướng đến hình tượng
nghệ thuật này, nhà văn Anh Đức đã đi sâu vào số phận của họ trong mốiquan hệ với số phận đất nước những năm tháng cách mạng ác liệt Họ hiệnlên với những mất mát, đau khổ, nhưng điều toát lên ở họ lại là một tinh thầnyêu nước, tận tuỵ với cách mạng Từ những người đầu tiên “đi khai phá rừngtràm đầy chim chóc này để sinh sống” [3, 317] như ông Tư - ông lão vườnchim, đến các thế hệ con trai, con dâu…, tất cả những người trong gia đình
Trang 30ông, đều đi theo cách mạng Nhà văn đã xây dựng nên một hình tượng nghệthuật cảm động về người nông dân khẩn hoang Nam Bộ qua hình tượng ônglão vườn chim Trong không gian vườn chim đặc trưng đó, có một ông lãochở che cho cách mạng, một người cha chứng kiến sự hi sinh của những đứacon ông, và một tấm lòng trong giấc mơ bình dị và thanh thản Trong giấc mơcủa người nông dân già này, hạnh phúc gia đình và đất nước hoà quyện mộtcách cao đẹp, “người ta thấy hiện rõ những nét mặt thanh thản đang cười” [3,
317] Không chỉ trong Giấc mơ của ông lão vườn chim, nhiều tác phẩm khác
của Anh Đức đã thể hiện sinh động người nông dân Nam Bộ, đó là anh thợ lò
Năm Căn, “hoà máu trên dòng kênh bình thường của sự sống” (Bức thư Cà
Mau), là người phụ nữ dũng cảm như chị Sứ, má Sáu, út Quyên… yêu nước
theo lối bộc trực thẳng thắn của người Nam Bộ
Nhà văn Đoàn Giỏi trong những tác phẩm của mình dành cho đề tàichiến tranh một niềm ưu ái lớn nhưng qua bối cảnh đó, người đọc không chỉnhận ra bối cảnh của miền Tây Nam Bộ với rừng rậm bạt ngàn trù phú, dòngsông mênh mông, thú rừng hoang dã… mà còn xúc động hơn bởi hình ảnhnhững người nông dân Nam Bộ trong chiến đấu Trong tác phẩm nổi tiếng
Đất rừng phương Nam, người đọc không khỏi xúc động khi dõi theo hành
trình lưu lạc của một cậu bé để rồi từ đó, những con người trung hậu, trí dũng,một lòng một dạ theo kháng chiến lay thức trái tim người đọc Đoàn Giỏi là
“nhà văn của những kỉ niệm” [60], tác phẩm Đất rừng phương Nam ra đời
trong nỗi nhớ của tác giả những ngày ở Hà Nội về miền Tây Nam Bộ nhưngvẫn những con người Nam Bộ, cuộc sống Nam Bộ hiện lên và đi vào lòngngười thật chân thực sâu sắc Những ngày cuối đời, ông dành cho người nông
dân khẩn hoang Nam Bộ những trang viết đầy tâm huyết trong Núi cả cây
ngàn Trong tác phẩm, tác giả dẫn chúng ta phiêu lưu đến những vùng đất
mới của đồng bằng sông Cửu Long để nhận ra những chủ nhân của cuộc khaihoang mở cõi đầy nghĩa khí hào hiệp, không chỉ với thiên nhiên, mà còn bấtkhuất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thời kì đầu
Trang 31Với nhà văn Nguyễn Thi, người nông dân trong kháng chiến đẹp như
“cổ tích giữa đời thường” [3, 488] Người đọc cảm nhận được tinh thần “còn
một cái lai quần cũng đánh” (Người mẹ cầm súng) với hình ảnh chị Út miệng
bỏm bẻm nhai trầu, mang bầu vẫn đánh giặc giỏi, cảm nhận được truyềnthống của gia đình chị em Việt, Chiến qua cuốn sổ ghi thành tích đánh giặcnhư một hành động tiếp lửa, truyền lửa cao đẹp của người nông dân Nam Bộ
(Những đứa con trong gia đình)
Trong văn học kháng chiến, hoà trong nét chung của văn học dân tộc,văn xuôi Nam Bộ thể hiện hình ảnh con người mang sức sống riêng, gần gũivới đời sống, chân chất, bộc trực và giản dị Họ là những con người giữa đờithường đánh giặc Cũng hướng đến thể hiện người nông dân Nam Bộ trongcuộc kháng chiến oanh liệt, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, theo một cáchriêng, phát hiện ở những người nông dân yêu nước, mưu trí, thật thà đó, là
một nội tâm sôi nổi, đầy chất nhân văn Các nhân vật: anh Ba Hoành (Quán
rượu người câm), anh Sáu, Thu (Chiếc lược ngà)… là sự thể hiện đáng quý
về con người nông dân chiến sĩ và chất đời thường, về những mối quan hệtrong đời thường
Có thể nhận thấy rằng, văn xuôi 1945 - 1975 với đóng góp của các nhàvăn chiến sĩ, người nông dân Nam Bộ được nhìn nhận trong mạch cảm hứngchung của văn học giai đoạn này
Trong giai đoạn văn học này, văn học Nam Bộ còn có mảng văn xuôisáng tác trong lòng đô thị miền Nam Các nhà văn không hướng vào đề tàichiến tranh cách mạng, họ quay về với cội nguồn, phong tục, với cuộc sốngsinh hoạt của người nông dân Nam Bộ trong sự hoà hợp với thiên nhiên…,
từ đó kín đáo thể hiện lòng yêu nước Đó là “một dòng riêng biệt vào nhữngvùng đề tài chưa được khai phá trong văn học Việt Nam thời hậu thuộc địa:tìm kiếm và tái tạo cội nguồn văn hoá, căn cước dân tộc và đặc sắc ngônngữ” [35]
Trang 32Người nông dân khẩn hoang có thể xem là một hình tượng nghệ thuật
ám ảnh nhất trong các sáng tác của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam Với hai tácgiả này, hình tượng nghệ thuật đó đã xuất hiện với những những sáng tạoriêng, độc đáo
Khi nói về hình tượng này trong sáng tác của các nhà văn ở đô thị miềnNam, không ít người đã so sánh sáng tác của Sơn Nam với Trang Thế Hy ỞTrang Thế Hy con người người Nam Bộ hiện lên qua cái sâu lắng, trầm buồn,khắc khoải của người nghệ sĩ mang “một vẻ đẹp lặng lẽ” [60] Có thể gọi cáinhẩn nha, cà tửng bộc trực của Sơn Nam và cái chỉn chu sâu lắng của TrangThế Hy là hai con người, hai phong cách trong hai thế giới nghệ thuật của họ
Người nông dân Nam Bộ trong sáng tác của Trang Thế Hy được đặttrong không gian rặt Nam Bộ với “những rặng tràm thưa, những cội vôngđồng soi bóng”, họ hiện lên “đen đúa, lôi thôi, thô cộc nhưng trung thực,thẳng ngay, nghĩa khí” [71] Đặt nhân vật của mình trong cuộc sống “quaycuồng, rỉ máu” do tội ác của ngoại xâm, nhà văn đã tái hiện đầy xót xa trướcnhững thân phận bi đát của con người trước dục vọng và bom đạn kẻ thù
(Nắng đẹp miền quê ngoại, Áo lụa giồng,…) Khi viết về những người nông
dân bình thường, những số phận nhỏ bé, Trang Thế Hy gửi gắm những tiếnglòng sâu sắc mà thấm thía, kêu gọi lương thiện như một đạo lý sống ở đời.Ông quan niệm đạo lý sống của con người Nam Bộ chính là “điểm tựa đángtin cậy” đối với người nghệ sĩ, “là nỗi đau khổ lớn nhất của một số đông thầm
lặng” (Tiếng khóc và tiếng hát) Bởi vậy, Trang Thế Hy được gọi là nhà văn
“nâng đỡ số phận con người” [60], và người nông dân Nam Bộ đôn hậunghèo khó với cuộc đời đầy những ngã rẽ, ngược lại cũng nâng đỡ cho nghệthuật của ông Có lẽ vì thế khác với Sơn Nam, Trang Thế Hy đi sâu vào tâm
lý, những bí ẩn trong tâm hồn con người hơn là khắc họa tính cách Tác phẩmcủa ông vì thế, mang lại sức hấp dẫn riêng, không mãnh liệt nhưng thấm sâu,bền chắc
Trang 33Văn xuôi Nam Bộ 1945 - 1975 vận động trong bối cảnh hiện thực đặcbiệt, sáng tác nghệ thuật của các nhà văn mang đậm tính chính trị, nặng vềtính tuyên truyền, cổ động Sáng tác của một số tác giả "nằm vùng" đã thoátkhỏi sự khô cứng này Các nghệ sĩ này đã đi vào thể hiện lòng yêu nước theomột dòng riêng, qua đó, họ thể hiện được hình tượng con người với nhữngthân phận cảm động Có thể nói, họ đã góp cho văn xuôi Nam Bộ một mảnghiện thực mới trong cái ngổn ngang tàn khốc của chiến tranh Và hình tượngngười nông dân Nam Bộ chính là một sự tiếp tục kế thừa mạch chảy khôngcùng của văn học Nam Bộ từ Nguyễn Đình Chiểu đến nay.
1.2.3 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ 1975 đến nay
Sau 1975, cùng với sự thay đổi của bối cảnh hiện thực: đất nước hoàbình thống nhất, văn học trở về đúng với thiên chức nghệ thuật của nó, hướngđến tiếp cận mọi ngóc ngách của đời sống Văn xuôi Nam Bộ vận động trongmạch chung đó Nhiều nhà văn mới xuất hiện với nhiều tác phẩm xuất sắc,đổi mới, kéo gần đời sống, khám phá hiện thực nhiều góc tối sáng
Người nông dân Nam Bộ trong cuộc đời mới, đi vào văn học vẫn vớinhững nét riêng khó lẫn Người ta biết đến Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Văn Thảo,Phạm Trung Khâu, Hồ Tĩnh Tâm,…và gần đây nhất người được đánh giá làmột cây bút triển vọng của văn học thế kỉ XXI đó là Nguyễn Ngọc Tư Điềuđáng chú ý là người nông dân Nam Bộ trở thành một nguồn cảm hứng “khắckhoải”, “bất tận” trong sáng tác của chị
Hình tượng này hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, với cáinghèo khổ, chân chất với những ước mơ cuộc sống hết sức bình dị, đôi khi tộinghiệp, nghiệt ngã Khai thác cuộc sống người nông dân trong xã hội hiện đại,chị đã nhìn thấy ở miền nông thôn Nam Bộ, cụ thể là mảnh đất U Minh cuốitrời với bao nhiêu mảnh đời, số phận bi đát, hoang dại dường như xa lạ vớicuộc sống của không gian đô thị Sài Gòn Con người trong thế giới truyện
Trang 34ngắn của chị đi qua những địa danh thân thương, đặc trưng của Nam Bộ: VàmMắm, Xóm Kinh Cụt, gò Cây Quao…, với những cái tên chân chất: Hai, Ba,
Tư, Chín, Tư Nhớ, Năm Nhỏ… Cuộc sống của họ phụ thuộc vào thiên nhiên,nhiều khi quên cả tiếng người, quên cả cuộc sống loài người Những ngườinông dân trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư gợi lại những nỗi đau âm ỉ
dữ dội về thân phận của những kiếp sống nay đây mai đó Trên Cánh đồng
bất tận, người đọc chạnh lòng xót xa cho những khát vọng đầy nhân bản của
những người nông dân như thằng Điền, Nương, và trong cuộc sống xa loàingười đó, những ước mơ tàn lụi, bản năng con người không thể trở về Dướicái nhìn của Nguyễn Ngọc Tư, cuộc sống của người nông dân Nam Bộ vớinỗi buồn khắc khoải mênh mang, như một dấu hỏi ráo riết về thân phận conngười Qua trang văn của chị, cuộc sống của những người nông dân nơi đâyhiện lên với đầy đủ mọi góc nhìn, vì thế sức ám ảnh lớn
Nhìn trong văn xuôi Nam Bộ ngày nay, Nguyễn Ngọc Tư trở thànhhiện tượng nổi bật Bằng tài năng của mình, chị đã mang lại cho văn xuôiNam Bộ một sức sống, một sinh lực mới để tiếp tục dòng chảy của vùng vănhọc này Nhất là, nữ nhà văn này đã kế tục độc đáo trong việc xây dựng hìnhtượng người nông dân Nam Bộ, một hình tượng nghệ thuật lớn
1.3 Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam - những nhà văn thành công nhất trong việc xây dựng hình tượng người nông dân khẩn hoang.
1.3.1 Tiểu sử, sự nghiệp văn học của ba nhà văn
Phi Vân (1917- 1977) là nhà văn, nhà báo chuyên nghiệp Ông sinh ra ởBạc Liêu, một miền quê Tây Nam Bộ và sống gắn bó với sông nước Cà Mauquê hương ông
Phi Vân chủ yếu viết phóng sự, truyện ngắn cho các tạp chí ở miềnNam Ông đến với văn chương bắt đầu với “thời kì lãng mạn” (chữ dùng của
Phi Vân) và cho ra đời hai truyện dài loại phiêu lưu tình cảm: Trên bãi cát
Trang 35vàng, Chim trời bạt gió Nhưng đó là những tác phẩm không làm nên tên tuổi
Phi Vân Ông chuyển qua viết phóng sự Có lẽ, thời gian làm báo đã giúp tác
giả có một vốn sống thực tiễn làm nên sự thành công cho phóng sự Đồng quê
(1942), tác phẩm đạt giải Nhất cuộc thi văn chương của Hội Khuyến học CầnThơ Đây được xem là sáng tác thành công nhất của Phi Vân, “là tác phẩmvăn chương đúng nghĩa” [1], để lại dấu ấn sâu đậm về cách viết rặt ròng Nam
Bộ với “chất tươi tắn, roi rói đời sống của miền đất mới hiện ra lồ lộ trên từngtrang viết” [12] Trong bài diễn văn trao giải, Nguyễn Văn Kiết khẳng định
“quyển phóng sự của ông như một tấn tuồng gay gắt đặt trong cảnh trí xanhtươi” [99] Nói dễ hiểu hơn, qua phóng sự, người đọc cảm nhận được bứctranh “xanh tươi” của những hàng dừa nước, cái êm đềm, bình dị trong hìnhảnh “thiếu phụ ẵm con đứng đợi chồng về, lâu lâu đuổi bầy gà đang bới trêngiồng rau cải” [99], bên trong đó là xung đột bọn chủ, tá điền, là cuộc sốngnghèo nàn, lạc hậu, là cuộc sống đau khổ của người nông dân vì bị bóc lột.Phóng sự đã đưa người đọc đến với cuộc sống của người nông dân Nam Bộmiệt Hậu Giang, rừng U Minh để không khỏi chạnh lòng, thương xót
Sau Đồng quê, Phi Vân sáng tác các truyện như Dân quê, Tình quê, Cô
gái quê… Các sáng tác của Phi Vân bên cạnh bức tranh mâu thuẫn giai cấp,
cuộc vật lộn dũng cảm giữa con người với thiên nhiên hoang dã, còn hướng
nhiều đến phong tục Qua các sáng tác của ông, nhất là phóng sự Đồng quê,
người đọc có thêm hiểu biết về các tập tục, nghi lễ,… của những miền thônquê Tây Nam Bộ Nhiều người đã đặt sáng tác của Phi Vân bên Tô Hoài là vìvậy
“Phi Vân sử dụng lối viết linh hoạt, gọn gàng, pha nhiều chất hóm hỉnh,tinh quái khiến cho người đọc đôi lúc… rưng rưng, khóc cười theo từng cảnhđời của từng nhân vật” [12] Bằng lối viết đó, đọc Phi Vân, người đọc bị kéo
và những say mê, “đọc được một bài, phải đọc một bài nữa và sẽ đọc luôn chođến hết” [99]
Trang 36Trong các sáng tác của ông, hình tượng người nông dân khẩn hoangNam Bộ hiện lên khá rõ nét, chúng tôi tập trung làm rõ qua khảo sát tập
phóng sự Đồng quê của ông.
Là nhà văn sống cùng thời với Phi Vân, tuy vậy, Bình Nguyên Lộc(1914 - 1987) được người đọc biết đến với những sáng tác ở một giai đoạnkhác Ông chủ yếu sáng tác ở giai đoạn văn học miền Nam 1954 - 1975
Bình Nguyên Lộc là nhà văn sinh ra ở Tân Uyên, một làng bên consông Đồng Nai miền Đông Nam Bộ Đó là nơi mà dòng họ của ông đã hơnmười đời sinh sống, kể từ khi tổ tiên ông di dân vào Nam lập nghiệp Phảichăng vì vậy, quê hương Đồng Nai, làng Tân Uyên và cuộc khẩn hoang củangười Nam Bộ in dấu và trở thành mối bận tâm lớn trong sáng tác của ngườinghệ sĩ này
Không chỉ là một nhà văn, nhà thơ, Bình Nguyên Lộc còn là một nhàbáo, nhà khảo cứu, ông đặc biệt nghiên cứu nhiều về ngôn ngữ, văn hóa ViệtNam Ông được xem “là một số ít những nhà văn thuần chất Nam Bộ, lại cóvốn kiến thức sâu rộng, thử tài trên nhiều lĩnh vực” [96] Những am hiểu vềngôn ngữ, văn hóa in dấu và góp phần làm nên sức sống cho các sáng tácnghệ thuật của người nghệ sĩ này
Mặc dù cuộc đời luôn phải đối mặt với bệnh tật, nhưng người nghệ sĩNam Bộ này có một sức sáng tạo dồi dào, sung sức, một sự lao động bền bỉ,cần mẫn (gần một nghìn truyện ngắn, hơn năm mươi tiểu thuyết)
Các tiểu thuyết nổi bật như: Đò dọc, Gieo gió gặt bão, Xô ngã bức
tường rêu, Khi từ thức về Trần, Nhện chờ mối ai, Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương… Tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc hướng tới chủ đề lớn là tình yêu,
tình yêu vượt qua những “bức tường” phong kiến rêu phong, vượt qua khônggian vắng vẻ, heo hút nơi con người khẩn hoang tạo lập cuộc sống mới.Những câu chuyện tình được tác giả đặt trong những khung cảnh có thật,những địa danh cụ thể của miền Đông Nam Bộ Nhưng tình yêu trong tiểu
Trang 37thuyết của ông chỉ là câu chuyện để tác giả gửi gắm tình cảm với quê hương,nguồn cội, niềm tin vào sức sống của những con người khẩn hoang Nam Bộ,
là lời nhắc nhở về “lịch sử di dân, khai phá đất hoang, mở rộng cõi bờ và giaohòa ngôn ngữ” [32] của dân tộc Ông đã từng tâm sự “văn tôi bắt nguồn từnhững cảnh đẹp của quê hương và xuất phát từ lòng nhớ nhung tha thiết củatôi đối với nó chứ không phải vì ái tình hoặc yêu đương tác động” [7] Đọctiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, ta không tìm thấy những xung đột, những mâuthuẫn gay gắt, truyện của ông nhẹ nhàng, người đọc dễ dàng nhận ra “ýtruyện” (chữ dùng của Bình Nguyên Lộc) nhờ những lối giảng giải khá “cầnmẫn” của tác giả, nhưng cũng theo đó để thấm dần cái dư vị cuộc sống mà tácphẩm mang lại
Có lẽ, truyện ngắn vẫn là thể loại thành công hơn cả trong sự nghiệpsáng tác của tác giả miền phù sa Đồng Nai này Với khoảng 50 truyện ngắnsống được với công chúng, truyện ngắn Bình Nguyên Lộc đã định hình đượcmột phong cách khá rõ nét, độc đáo Những tác phẩm này thường được sáng
tác theo chùm chủ đề Nhốt gió là chùm truyện ngắn hướng đến tư tưởng tự
do, làm lạc hướng những người đọc truyền thống vì những câu chuyện đốichọi giữa ý thức “nhốt” với tất cả những gì không thể “nhốt” được, từ đó cáctác phẩm gợi lên ý thức vươn lên tất cả những lối mòn cổ hủ, hướng đến cuộcsống cầu tiến, cởi mở Tập truyện giản dị như “ca dao”, đem lại “chút hương
vị quen thân” [54] cho mỗi người đọc Một chủ đề lớn khác trong truyện ngắnBình Nguyên Lộc là tinh thần “nắm níu quê hương”, “thèm mùi đất”, tha thiết
với cội nguồn như “những đứa con thương của đất mẹ” (Tập truyện Cuống
rún chưa lìa) Có thể xem, tình đất như một nguồn cảm hứng chủ đạo trong
sáng tác của nhà văn đất Nam Bộ này Kèm theo nguồn cảm hứng bất tận vềmảnh đất, cuống rún, Bình Nguyên Lộc còn tìm về cội nguồn của mảnh đấtNam Bộ, đó là cuộc hành trình khẩn hoang miền Nam của những người nôngdân Nam Bộ Họ là những tiền nhân mở đất, tạo lập cuộc sống, họ phải đấu
Trang 38tranh để sinh tồn, “một cuộc sinh tồn khốc liệt” [32], phải đánh đổi bằng
những mất mát “thầm lặng”, nhiều khi họ phải tiêu diệt đồng loại, họ phải
sống xa loài người, sống “thèm đất”, “thèm người”, làm cây mắm, để sinh ra
cây tràm, rồi hi vọng sinh ra dừa, xoài, quýt (Tập truyện Ký thác) Ở chủ đề
này, nhà văn đã dựng nên một hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ, xúc động: Hìnhtượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ
Bên cạnh đó, truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc còn hướng đến nỗicảm hoài khi “những bước chân lang thang trên hè phố” Sài Gòn tìm chúthương làng của Sài Gòn trong kí ức, để gợi nhớ, gợi thương tình quê cũ (Tập
truyện Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc).
Truyện ngắn Bình Nguyên Lộc hướng đến những gì bình dị đờithường nhất để anh bồi, chị bếp, bác thợ thuyền ít học cũng thưởng thứcđược (ý của Bình Nguyên Lộc) Vì vậy, có người cho rằng “ông kể chuyệndềnh dàng như những người ít học” [32] nhưng tác phẩm của ông lại tạo sựsay mê nơi người đọc vì ông biết cách “đối xử với những thực thể tầmthường một cách bất thường” [32] để từ đó bộc lộ tư tưởng Cho nên, cáihình ảnh cuộc sống trong trang văn Bình Nguyên Lộc tưởng như không có
gì ấy lại thấm dần vào lòng người như ca dao dân ca bằng văn xuôi (ý củaSơn Nam) Và nếu đọc Phi Vân, ta hiểu thêm về ngữ âm địa phương miềnTây Nam Bộ thì với văn Bình Nguyên Lộc, ta nghe được lời nói hàng ngàycủa con người miền Đông Nam Bộ
Điểm qua văn nghiệp của Bình Nguyên Lộc có lẽ, ai cũng sẽ đồng ýrằng, thật đáng tiếc khi các tác phẩm của ông chưa đến gần hơn với đông đảobạn đọc
Sơn Nam (1926 - 2008), nhà văn sinh ra và lớn lên ở rừng U Minh(Tỉnh Kiên Giang) từ bé đến lớn, ông đã tự giới thiệu về mình như vậy Tuynhiên, phải nói là mảnh đất Nam Bộ có “duyên nợ” với ông để rồi không phải
tự nhiên mà ông được xem là “biểu tượng”, “pho tượng sống” của Nam Bộ
Trang 39Sơn Nam từng tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam, sau hiệpđịnh Giơ - ne - vơ, ông không tham gia tập kết ra Bắc mà tình nguyện ở lạimiền đất Nam Bộ quê hương ông Và ông đã chọn cuộc đời của một nhà vănnhẫn nại, chịu khó, bền bỉ “đi bộ” vào mạch sống Cà Mau để sáng tạo cho đờinhững tác phẩm nghệ thuật độc đáo mà “từ nay về sau khó lòng tìm thấy nữa”[45] Người con đất Nam Bộ ấy đã lặng lẽ dùng văn chương làm công việc
“thấm thía ngàn năm” [70], đó là đưa Nam Bộ vào nghệ thuật
Ông được tôn danh là “pho từ điển sống về Nam Bộ” vì những sáng tácnghệ thuật và những công trình biên khảo nổi tiếng thể hiện sự am hiểu, lịchlãm về mảnh đất này Đó là vị trí khó ai có thể thay thế Người ta nói rằng,ông ra đi mang theo cả những “bí mật”, “những huyền thoại” [28] về vùngsông nước này
Là một nghệ sĩ, Sơn Nam đã bộ hành trên mảnh đất Nam Bộ nhặtnhững “bụi vàng” của cuộc đời làm nên những tác phẩm mà hôm nay chúng
ta không khỏi ngạc nhiên khi khám phá chúng Ngoài các tiểu thuyết xuất sắc
như: Bà chúa Hòn, xóm Bàu Láng…, các truyện vừa như: Hình bóng cũ,
Chuyện tình một người thường dân, Ngôi nhà mặt tiền…, Sơn Nam đặc biệt
thành công ở thể loại truyện ngắn Các tập truyện ngắn như Hương rừng Cà
Mau, Biển cỏ miền Tây… đã ghi dấu phong cách nghệ thuật của ông Đọc các
tác phẩm của người nghệ sĩ Nam Bộ này, chúng ta cảm nhận được “mỗi trangviết như một nhánh rễ gân guốc bền bỉ ăn sâu vào miền châu thổ Cửu Long”[68], là “hiện thân sâu thẳm cho hồn cốt của đất và người Nam Bộ” [45] Khitrở về với đất, điều mà người nghệ sĩ ấy còn đang bỏ dở vẫn chính là nhữngsáng tác về Nam Bộ mà ông chưa kịp hoàn thành
Sáng tác của Sơn Nam hướng đến nhiều đề tài: đề tài lịch sử, đất đai,văn hoá, con người Nam Bộ… Nhưng đề tài chủ lưu trong sáng tác của ngườinghệ sĩ Nam Bộ này chính là viết về cuộc khẩn hoang của người nông dânNam Bộ Như ông từng tâm niệm “tôi định hướng ngay từ đầu đến với nghề,
Trang 40viết về cuộc khẩn hoang miền Nam” [47] và nhân vật chính trong cuộc khẩnhoang “hiền lành” đó là “những người nông dân chất phác, ít chữ” [47].
Hương rừng Cà Mau là tập truyện ngắn xuất sắc nhất của Sơn Nam, là
sáng tạo tâm đắc nhất của ông như chính ông đã từng chia sẻ Tập truyệnđược viết trong khoảng thời gian từ năm 1954- 1959, khi nhà văn từ chiếnkhu trở về Sài Gòn, và được in vào năm 1962 do Nxb Phù Sa ấn hành Tậptruyện được viết ra từ “kí ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt” [94]trong tâm thức Sơn Nam Tập truyện ra đời trong lòng đô thị dưới chế độ SàiGòn đang kiểm duyệt rất gắt gao, vì thế Sơn Nam đã dùng đề tài lịch sử “gợilên trong lòng người hào khí của thời khai hoang, mở đất, chống Pháp” [25],
để gửi gắm tư tưởng Lúc đầu, tập truyện Hương rừng Cà Mau gồm 18 truyện ngắn, hiện nay, Nxb Trẻ TP HCM đã xuất bản bộ sách mang tên Hương rừng
Cà Mau” với 3 tập, tập hợp những sáng tác truyện ngắn xuất sắc của Sơn
Nam ra đời trong thời kì này (gồm cả 18 truyện ngắn trong tập Hương rừng
Cà Mau trước đó) Những truyện ngắn này hầu hết lấy đề tài về cuộc khẩn
hoang Nam Bộ những năm 1939 - 1940, là sự thể hiện cô đọng lịch sử mộtmiền đất bằng nghệ thuật Đây là phạm vi khảo sát của chúng tôi trong côngtrình này
1.3.2 Nhìn chung về điểm gặp gỡ và khác biệt giữa ba nhà văn trong việc thể hiện hình tượng người nông dân khẩn hoang
Như chúng tôi đã giới thiệu, trong sáng tác của cả ba nhà văn Phi Vân,Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ
là một hình tượng nghệ thuật khá nổi bật
Trong việc thể hiện hình tượng, nhìn chung cả ba nhà văn đều đặt hìnhtượng trong những bối cảnh khẩn hoang Nam Bộ khá đặc trưng Đó là bốicảnh không gian, thời gian đầy hoang sơ, thách thức của thiên nhiên, nó làkhông gian sinh tồn của những con người khẩn hoang nhưng cũng là khônggian văn hóa Không gian, thời gian đó không chỉ thể hiện hoàn cảnh sống