1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trong gia đình

68 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 615,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình là điều cần thiết, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất l-ợng GDGĐ đối với sự phát

Trang 1

Tr-ờng đại học Vinh

Khoa giáo dục tiểu học - ngành giáo dục mầm non

-*** -

Thực trạng Giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong gia đình

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Giáo viên h-ớng dẫn: TS Nguyễn Thị Mỹ

Trinh

Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Ph-ơng Lê

Lớp : 45A - Mầm non

Trang 2

Vinh, 2008

Lời cảm ơn!

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, tôi đã nhận đ-ợc nhiều ý kiến đóng góp và sự quan tâm giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục tiểu học, Ban giám hiệu, các cô giáo và các bậc phụ huynh tr-ờng Mầm non Bán công Hoa Hồng Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và những đóng góp quý báu

để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô

giáo-Tiến sỹ Nguyễn Thị Mỹ Trinh - ng-ời đã h-ớng dẫn tận tình tôi trong

suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Vì b-ớc đầu làm công tác khoa học, tôi đã gặp không ít khó khăn, bỡ ngỡ nên khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong tiếp tục nhận đ-ợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè để đề tài đ-ợc hoàn thiện hơn

Vinh, tháng 5 năm 2007

Sinh viên :Hoàng Thị Ph-ơng Lê

Trang 3

Mục lục

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối t-ợng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Ph-ơng pháp nghiên cứu 2

7 Những đóng góp mới của đề tài 3

Ch-ơng I: Cơ sở lý luận của đề tài 1.1 Sơ l-ợc về lịch sử vấn đề cần nghiên cứu 4

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 5

1.2.1 Giáo dục 5

1.2.2 Giáo dục gia đình 7

1.2.3 Trí tuệ và sự phát triển trí tuệ ở trẻ 5-6 tuổi 8

1.2.4 Giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình 24

1.3 Kết luận ch-ơng 29

Ch-ơng II : Thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ từ 5-6 tuổi trong gia đình 2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình 30

Trang 4

2.1.1 Nội dung khảo sát 30

2.1.2 Đối t-ợng khảo sát 30

2.1.3 Ph-ơng pháp nghiên cứu 30

2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình 31

2.2.1 Mức độ phát triển trí tuệ của trẻ 31

2.2.2 Tình hình chung về gia đình trẻ 34

2.2.3 Thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình 42

2.3 Kết luận chung về thực trạng 48

2.4 Đề xuất một số biện pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình 49

2.5 Kết luận ch-ơng 52

Kết luận và kiến nghị s- phạm 53

Tài liệu tham khảo 55

Phụ lục 56

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài :

Trang 5

Giáo dục trẻ là tổ chức h-ớng dẫn trẻ lĩnh hội nền văn hoá xã hội, từ đó trở thành ng-ời Giáo dục trẻ cần phải đ-ợc bắt đầu từ gia đình Gia đình với ph-ơng thức giáo dục đặc biệt sẽ là môi tr-ờng thuận lợi nhất cho sự phát triển

của trẻ thơ

Giáo dục gia đình (GDGĐ) có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ lứa tuổi mầm non Trong môi tr-ờng giáo dục gia đình, trẻ có thể yên tâm tìm tòi, khám phá, thể hiện mọi năng lực và cảm xúc của mình, từ đó phát triển tâm lý và nhân cách Đặc biệt giáo dục gia đình

tác động rất lớn đến sự phát triển trí tuệ của trẻ mầm non

Môi tr-ờng giáo dục gia đình luôn kích thích trẻ tích cực t- duy, tích cực phát triển ngôn ngữ, kích thích sự phát triển trí t-ởng t-ợng Nh-ng thực tiễn cho thấy gia đình ch-a quan tâm thoả đáng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ

em Nhiều bậc phụ huynh còn quan niệm rằng trách nhiệm đó là của Nhà

tr-ờng nên đã không tạo điều kiện cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ

Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình là điều cần thiết, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất l-ợng GDGĐ đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Thực trạng

giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình” cho luận văn cuối khoá của mình

2 Mục đích nghiên cứu :

Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất l-ợng giáo dục gia đình đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi

3 Đối t-ợng và khách thể nghiên cứu :

- Đối t-ợng nghiên cứu : Thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình

- Khách thể nghiên cứu : GDGĐ đối với trẻ 5-6 tuổi

4 Giả thuyết :

Hiện nay các gia đình ch-a quan tâm thoả đáng đến sự phát triển trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi Nguyên nhân của thực trạng trên đó là các bậc phụ huynh

Trang 6

ch-a có nhận thức phù hợp và các biện pháp đúng đắn để giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình

5 Nhiệm vụ nghiên cứu :

- Xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình

- Đề xuất các biện pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình

6 Ph-ơng pháp nghiên cứu :

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, chúng tôi sử dụng kết hợp các nhóm ph-ơng pháp sau đây :

6.1 Nhóm ph-ơng pháp nghiên cứu lý thuyết:

Chúng tôi sử dụng các ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, ph-ơng pháp khái quát hoá, hệ thống hoá lý thuyết, cũng nh- ph-ơng pháp cụ thể hoá lý thuyết

6.2 Nhóm ph-ơng pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Nghiên cứu hồ sơ cá nhân trẻ, sản phẩm hoạt động của trẻ (tranh vẽ, các

đồ chơi tự tạo ) nhằm xác định ảnh h-ởng của điều kiện GDGĐ, hoàn cảnh cá nhân đến sự phát triển trí tuệ của trẻ, từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ phù hợp với đặc điểm cá nhân

- Nhóm các ph-ơng pháp toán học:

Chúng tôi sử dụng các ph-ơng pháp toán học để xử lý số liệu, trên cơ sở

đó đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

7 Những đóng góp mới của đề tài :

- Góp phần làm sáng tỏ lý luận về vấn đề giáo dục trí tuệ trong gia đình

cho trẻ 5-6 tuổi

Trang 7

- Làm rõ thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi của các bậc phụ huynh

- Đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình

Trang 8

CHƯƠNG I

Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Sơ l-ợc về lịch sử vấn đề cần nghiên cứu:

Trí tuệ là một năng lực rất quan trọng của con ng-ời Xét về quá trình phát triển của một đứa trẻ thì ngay từ khi ra đời, trẻ đã sống trong thế giới văn hoá của loài ng-ời Khi dần lớn lên, trẻ tiếp nhận đ-ợc thế giới văn hoá đó qua trí tuệ của mình, từ đó phát triển nhân cách cá nhân

“Nên ng-ời” là quá trình đứa trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội bằng hoạt động của đứa trẻ, d-ới sự h-ớng dẫn của ng-ời lớn - nhà giáo dục Từ lúc mới sinh ra tất cả trẻ em đều đ-ợc cha mẹ nuôi d-ỡng trong tổ ấm,

đến một độ tuổi nào đó mới ra đời, mới hoà nhập đ-ợc vào cuộc sống xã hội Bởi vậy vai trò của ng-ời lớn trong gia đình là rất quan trọng, quyết định đến

sự phát triển nói chung và sự phát triển trí tuệ nói riêng của trẻ

Từ tr-ớc Công nguyên cho đến ngày nay, các nhà giáo dục học tiêu biểu ở Hi Lạp cổ đại đã có những nhận định về vai trò của GDGĐ trong sự phát triển của trẻ

Arixtôt (384-322 TCN) đánh giá rất cao vai trò của GDGĐ trong việc giáo dục trẻ em, nhất là ở giai đoạn đầu đời, ông đã nêu lên những chỉ dẫn quan trọng cho công tác giáo dục trẻ em trong gia đình

N.I.Nôvicov- một nhà chính trị nổi tiếng của thế kỉ XVIII cũng khẳng

định rằng “ Sự phát triển trí tuệ, trí nhớ và những tình cảm đạo đức của trẻ

đ-ợc xây dựng trên sự làm quen của trẻ với những đồ vật xung quanh và sự bắt ch-ớc ng-ời lớn” , trong đó, ng-ời lớn trong gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển ấy

Cuối thế kỉ XIX- đầu XX, những công trình khoa học của nhà tâm lý học ng-ời Thuỵ Sĩ Jean Piaget (1896-1981) chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn

đề trí tuệ và ngôn ngữ của trẻ Với các tác phẩm “ Ngôn ngữ và t- duy ở trẻ” (1924) và “ Sự nảy sinh của trí tuệ trẻ em“ (1936) ông đề cao vai trò quan trọng của GDGĐ đối với sự phát triển trí tuệ trẻ em

Trang 9

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài:

1.2.1 Giáo dục :

1.2.1.1 Khái niệm :

- Giáo dục (theo nghĩa rộng, với t- cách là một hiện t-ợng xã hội) là một quá trình toàn vẹn, đ-ợc tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa ng-ời giáo dục và ng-ời đ-ợc giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài ng-ời, từ đó hình thành nhân cách cho ng-ời đ-ợc giáo dục

- Giáo dục (theo nghĩa hẹp - là một quá trình giáo dục) là bộ phận của quá trình s- phạm, là quá trình hình thành niềm tin, lý t-ởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen c- xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực t- t-ởng, chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mỹ, vệ sinh v.v ở ng-ời đ-ợc giáo dục

1.2.1.2 Chức năng của giáo dục:

Giáo dục đồng thời thực hiện 3 chức năng : chức năng kinh tế-sản xuất, chức năng chính trị - xã hội, chức năng t- t-ởng- văn hóa Giáo dục chính là tái sản xuất sức lao động xã hội, cải biến cấu trúc xã hội, hình thành ý thức hệ t- t-ởng mới trên nền văn hoá mới Với 3 chức năng này, giáo dục đã trực tiếp tham gia vào việc đáp ứng những đòi hỏi mới của một hình thái kinh tế-xã hội mới về lực l-ợng sản xuất, về quan hệ sản xuất và ý thức xã hội

1.2.1.3 Tính chất của giáo dục:

- Giáo dục là một hiện t-ợng xã hội, chỉ nảy sinh trong xã hội loài ng-ời Giáo dục là một ph-ơng thức để duy trì và phát triển xã hội loài ng-ời

- Giáo dục là một phạm trù phổ biến và vĩnh hằng vì có con ng-ời là có giáo dục và vì cùng là hiện t-ợng xã hội nh-ng khác với nhiều hiện t-ợng xã hội khác có thể nảy sinh rồi kết thúc, giáo dục với t- cách là một hiện t-ợng xã hội, đã xuất hiện cùng với con ng-ời và tồn tại mãi mãi với con ng-ời nh- một đại l-ợng vĩnh cửu

- Giáo dục mang tính lịch sử : nó phản ánh mối quan hệ xã hội một cách cụ thể trong thời gian và không gian nhất định

Trang 10

Với những chức năng, tính chất ấy của giáo dục, trong Báo cáo tại hội nghị lần thứ 4 của BCHTW Đảng khoá VII (1/1993) đã khẳng định “ Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”

Tóm lại, có thể nói rằng, giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh

nghiệm lịch sử-xã hội cho các thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho họ b-ớc vào cuộc sống và lao động để bảo đảm sự phát triển hơn nữa của xã hội và của cá nhân

1.2.1.4 Vai trò của giáo dục:

- Đứa trẻ đ-ợc phát triển là nhờ có quá trình lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử-xã hội thông qua con đ-ờng giáo dục Nh- vậy giáo dục không theo đuôi

sự phát triển, giáo dục có tính đến trình độ phát triển và không dừng lại ở đó

mà đ-a sự phát triển b-ớc tiếp Lập tr-ờng của những nhà tâm lý học Xô Viết tr-ớc đây đã chứng minh rằng, giáo dục kéo theo sự phát triển, định h-ớng cho sự phát triển

- Giáo dục tác động qua lại mật thiết với tất cả những ảnh h-ởng xuất phát từ môi tr-ờng, nó nắm vai trò chủ đạo trong việc sử dụng các điều kiện xã hội thuận lợi, cũng nh- trong việc loại trừ hoặc làm suy yếu những ảnh h-ởng và tác động bất lợi bắt nguồn trong một số tr-ờng hợp môi tr-ờng mà trẻ sống Giáo dục có thể tạo ra những điều kiện tốt giúp trẻ phát triển thuận lợi

- Giáo dục có thể thay đổi điều kiện bẩm sinh của trẻ, thay đổi yếu tố di truyền không có lợi cho sự phát triển nh- các dị tật, bằng ph-ơng pháp luyện tập đặc biệt và phát triển những mầm mống năng khiếu đặc biệt của trẻ Điều này rất có ý nghĩa trong việc giáo dục trẻ tật nguyền và phát triển năng khiếu

Trang 11

của trẻ để có những biện pháp giáo dục thích hợp, biến đứa trẻ từ sinh mạng

bé nhỏ trở thành một nhân cách

1.2.1.5 Mối quan hệ giữa giáo dục và sự phát triển:

Triết học Mác-Lênin coi sự phát triển là quá trình vận động, biến đổi không ngừng theo h-ớng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Đó

là quá trình tích luỹ dần về số l-ợng, tạo nên b-ớc nhảy vọt (chứ không phải tăng lên đơn thuần về số l-ợng, kích th-ớc) dẫn đến sự thay đổi về chất l-ợng,

là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, phủ định cái cũ Động lực phát triển là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, nằm ngay trong chính bản thân sự vật hiện t-ợng

Giữa giáo dục và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng giáo dục đi song song với sự phát triển, một số khác cho rằng giáo dục đi sau sự phát triển Theo quan điểm của X.L.V-gôtxki -

đại diện cho các nhà tâm lý học Xô viết: “Giáo dục đi tr-ớc sự phát triển một b-ớc, kéo theo sự phát triển”: có nghĩa là giáo dục luôn tác động vào “vùng phát triển gần nhất” của đứa trẻ, kéo đứa trẻ đi từ “vùng phát triển hiện tại” lên

“vùng phát triển gần nhất”, cứ nh- thế giáo dục là yếu tố định h-ớng cho sự phát triển của đứa trẻ

1.2.2 Giáo dục gia đình

Gia đình là môi tr-ờng giáo dục đầu tiên của mỗi ng-ời Giáo dục gia

đình là quá trình các thành viên trong gia đình trên cơ sở tình yêu th-ơng ruột thịt mà nuôi d-ỡng dạy dỗ trẻ, truyền lại cho trẻ những kinh nghiệm lịch sử-xã hội, nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ

GDGĐ là môi tr-ờng giáo dục bằng tình th-ơng yêu ruột thịt Bởi vậy

đó là sự giáo dục đặc biệt mà những ảnh h-ởng của nó in lại sâu đậm trong tâm hồn đứa trẻ, khiến đôi khi ta t-ởng nh- nó là bản năng thứ hai của con ng-ời Chỉ có trong gia đình đứa trẻ mới h-ởng đ-ợc đầy đủ tình yêu th-ơng, mới có những phút giây đ-ợc vỗ về âu yếm khi ăn, khi ngủ GDGĐ đối với trẻ mang tính chất thoải mái tự nhiên, không gò bó, rập khuôn Sống trong môi tr-ờng tràn ngập tình yêu th-ơng ấy, đứa trẻ sẽ đ-ợc thoả mãn đầy đủ mọi nhu

Trang 12

cầu để phát triển Trong gia đình nổi bật lên vai trò của ng-ời Mẹ - ng-ời nâng niu trẻ từ b-ớc đi đầu tiên, h-ớng dẫn trẻ lớn lên, trở thành một nhân cách Tác động của gia đình diễn ra th-ờng xuyên, lâu dài và liên tục đến đứa trẻ Sự giáo dục của gia đình diễn ra mọi lúc, mọi nơi Ng-ời lớn có thể vừa làm việc nhà, vừa theo dõi dạy dỗ con cái, tập d-ợt cho con khôn lớn Ng-ời lớn dạy trẻ trong các tình huống của cuộc sống thực xung quanh Con hỏi mẹ

đáp, mẹ gọi con th-a, mẹ kể con nghe, mẹ ru con th-ởng thức, con nói sai mẹ sửa, con làm sai mẹ ngăn ngừa Có thể nói đứa trẻ đã lớn lên bên cạnh mẹ, bên cạnh những ng-ời thân yêu ruột thịt, qua đó trẻ học ăn, học nói, học gói, học mở học làm ng-ời một cách tự nhiên và nhẹ nhàng

GDGĐ là một môi tr-ờng giáo dục phong phú vì có rất nhiều thành viên tham gia Mỗi ng-ời ít nhiều đều có tác động vào việc dạy dỗ trẻ, dù có ý thức hay không ý thức đều tác động mạnh mẽ đến đứa trẻ Bởi vậy hiệu quả của GDGĐ hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ văn hoá của mỗi thành viên trong gia

đình, đặc biệt là trình độ văn hoá ng-ời Mẹ Cha, Mẹ là ng-ời hiểu rõ nhất những giai đoạn phát triển của con cái, những nhu cầu, -ớc muốn, nguyện vọng, khả năng của con mình, từ đó dễ dàng lựa chọn những hình thức tác

động giáo dục phù hợp đối với chúng

Nh- vậy, GDGĐ có một vai trò hết sức quan trọng đối với trẻ Sau này khi khôn lớn, mỗi ng-ời có thể chịu ảnh h-ởng nhiều phía của giáo dục nhà tr-ờng và xã hội, nh-ng những gì mà gia đình đã hun đúc nên vẫn đ-ợc mang theo trong mỗi ng-ời đến suốt cuộc đời

1.2.3 Trí tuệ và sự phát triển trí tuệ ở trẻ 5-6 tuổi

1.2.3.1 Trí tuệ

a, Khái niệm

Trí tuệ là sản phẩm hoạt động của bộ não, ở con ng-ời nó là một đặc tr-ng tâm lý cao cấp Nó là khả năng nhận biết thế giới khách quan và vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tế Nó đ-ợc biểu hiện tập trung

ở mức độ phản ánh các sự vật khách quan sâu sắc, chính xác, toàn diện, ở tốc

độ và hiệu quả vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề thực tế

Trang 13

Có quan điểm cho rằng, trí tuệ là một thể tổng hợp do một số các nhân

tố cơ bản nhất và một số nhân tố liên quan cùng cấu thành nên Các nhân tố cơ bản nhất chủ yếu có năm loại là: khả năng chú ý, quan sát, ghi nhớ, t- duy và t-ởng t-ợng Năm yếu tố cơ bản nhất của trí tuệ không phải độc lập và giản

đơn, cũng không phải máy móc, góp nhặt để cấu thành nên trí tuệ mà là kết hợp thành một chỉnh thể thống nhất hữu cơ Các nhân tố này ảnh h-ởng qua lại, quy định lẫn nhau, nh-ng mỗi nhân tố lại phát huy tác dụng độc lập riêng của mình

Trong tiếng Việt các loại khái niệm “ trí tuệ” , “ trí thông minh” , “ trí lực” dùng để chỉ khả năng suy nghĩ và vốn hiểu biết, trình độ nhận thức của con ng-ời Có rất nhiều quan niểm khác nhau về trí tuệ, song có thể khái quát thành 3 loại quan niệm cơ bản sau đây:

- Quan niệm coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân:

Đại diện cho quan niệm này là N.Đ.Lêritốp, V.V.Bogôxlôpxki Họ cho rằng: cần tìm hiểu trí tuệ trong mối quan hệ với hoạt động học tập của học sinh Vì trí tuệ là một phẩm chất tâm lý quan trọng bảo đảm cho việc học tập

đạt kết quả

N.Đ.Lêritốp cho rằng: “ năng lực trí tuệ tr-ớc hết là các phẩm chất trí tuệ, biểu thị năng lực nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn của con ng-ời” V.V.Bogôxlôpxki lại quan niệm rằng: “ năng lực trí tuệ là năng lực chung bao gồm một hệ thống thuộc tính trí tuệ của cá nhân giúp cho việc lĩnh hội tri thức dễ dàng và có hiệu quả ”

Một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên xô tr-ớc đây (V.M.Blâykhe, A.A.Bôđaliôv ) đã chỉ rõ có một mối liên hệ giữa trí tuệ và năng lực học tập, năng lực nhận thức, nh-ng chúng không đồng nhất với nhau Kết quả học tập của học sinh không chỉ phụ thuộc vào trình độ trí tuệ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, trong đó có động cơ, giới tính

- Quan niệm coi trí tuệ, trí thông minh, trí khôn là năng lực t- duy trừu t-ợng Đại diện cho quan niệm này là L.Terman, X.L.Rubienstein,

Trang 14

M.N.Mentrinxcaia Họ cho rằng: chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả các khái niệm và t-ợng tr-ng

X.L.Rubienstein coi hạt nhân của trí tuệ là sử dụng các thao tác t- duy Quan niệm này đã thu hẹp cả khái niệm lẫn phạm vi thể hiện của trí tuệ Trên thực tế, trong phẩm chất của trí tuệ chứa đựng năng lực t- duy và các thao tác t- duy nh-ng trí tuệ và năng lực t- duy trừu t-ợng rõ ràng không đồng nhất với nhau

- Quan niệm coi trí tuệ là năng lực thích nghi, thích ứng của cá nhân (quan niệm này phổ biến hơn cả) Đại diện là V.Stern, D.Wechsler, J.Piaget

Họ đều cho rằng trí tuệ là năng lực tâm lý chung của cá nhân giúp con ng-ời thích ứng với điều kiện và nhiệm vụ mới của đời sống Hiểu trí tuệ nh- thế này thì năng lực học tập, năng lực nhận thức, năng lực t- duy trừu t-ợng xét đến cùng cũng chính nhằm mục đích tạo ra sự thích ứng tích cực, sáng tạo,

có hiệu quả của cá nhân với môi tr-ờng xung quanh

V.Stern coi thông minh là năng lực tâm lý chung giúp con ng-ời thích ứng với những điều kiện và nhiệm vụ mới của đời sống

D.Wechsler xem trí tuệ, trí thông minh là năng lực chung của cá nhân,

đ-ợc thể hiện trong hoạt động có mục đích, trong sự phán đoán và thông hiểu một cách đúng đắn, trong sự làm cho môi tr-ờng thích nghi với những khả năng của mình

J.Piaget thì cho rằng: trí tuệ là một hệ thống thao tác sống động và hoạt

động Nó là sự thích nghi tinh thần tiên tiến nhất, tức là dụng cụ cần thiết của những trao đổi giữa chủ thể và vũ trụ, khi mà vòng quay của chúng v-ợt ra khỏi những tiếp xúc tức thì và nhất thời để đạt tới những quan hệ rộng rãi và

ổn định hơn

Các nhà TLH Macxit (X.L.Rubienstein) cũng đồng ý với quan niệm này Họ nhấn mạnh sự tác động qua lại giữa cơ thể với môi tr-ờng đó phải

đ-ợc xem xét nh- là một sự thích ứng tích cực, có hiệu lực chứ không phải là

sự thích ứng đơn giản X.L.Rubienstein đã từng nói: “ Những khái niệm thuộc loại nh- trí tuệ, trí thông minh chỉ đ-ợc vạch ra trên bình diện của những mối quan hệ qua lại có hiệu lực cụ thể của cá nhân với hiện thực xung quanh ”

Trang 15

b, Những thuộc tính cơ bản của trí tuệ

-Tính mục đích: Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động trí tuệ nào tr-ớc tiên cá nhân phải xác lập đ-ợc một mục tiêu rõ ràng, đ-a ra một mục đích

đúng đắn, chính xác mới có thể h-ớng đúng vào mấu chốt vấn đề, và tìm ra biện pháp giải quyết vấn đề đó

-Tính linh hoạt: Tính linh hoạt trong hoạt động trí tuệ cho phép xem xét mọi góc độ và mọi ph-ơng diện khác nhau, nhanh chóng đ-a ra các ph-ơng

án giải quyết tốt nhất cho các vấn đề, sau khi tình hình đã có sự thay đổi, hoạt

động trí tuệ có thể thích ứng với tình thế mới, và lập tức có sự biến đổi phù hợp

-Tính sâu sắc: Tính sâu sắc của trí tuệ để chỉ tính lôgic của hoạt động trí tuệ, đó chính là độ sâu và độ khó của hoạt động trí tuệ

-Tính nhạy bén: Tính nhạy bén của trí tuệ để chỉ tốc độ và tần số hoạt

động của trí não Nó phản ánh tính nhạy bén của khả năng trí tuệ, và biểu hiện

ở mức độ giải quyết vấn đề nhanh chóng và chính xác

-Tính sáng tạo: Tính sáng tạo là khả năng suy nghĩ độc lập và giải quyết vấn đề một các độc đáo

-Tính thống nhất: Tính thống nhất chỉ mối quan hệ qua lại bổ sung cho nhau, nhịp nhàng giữa các nhân tố của trí tuệ Hoạt động nhịp nhàng là điều kiện cơ bản của hoạt động có hiệu quả của trí tuệ

-Tính hệ thống: Tính hệ thống để chỉ hoạt động trí tuệ phải tuân theo trình tự logic nhất định, đ-ợc tiến hành từng b-ớc và có hệ thống

-Tính chặt chẽ, tỉ mỉ: Tính chặt chẽ, tỉ mỉ để chỉ hoạt động của trí tuệ

đ-ợc tiến hành rất chặt chẽ, tỉ mỉ dựa vào thực tế khách quan, từ đó đ-a ra các kết luận khoa học phù hợp với quy luật

-Tính sai khác của mỗi ng-ời: Sự phát triển trí tuệ của mỗi ng-ời đều tồn tại những khác biệt Trí tuệ là một l-ợng biến đổi, l-ợng phân phối trong mỗi con ng-ời khác nhau là tuỳ ý hoặc ngẫu nhiên

Trang 16

c, Những yếu tố ảnh h-ởng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ em c.1, Yếu tố bẩm sinh, di truyền:

+ Bẩm sinh là những yếu tố sinh học có sẵn trong mỗi con ng-ời, mang dấu ấn của loài khi mới sinh ra Ví dụ: màu da, màu mắt, thể loại thần kinh, trẻ bị tạt nguyền, trẻ có năng khiếu

+ Di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định của cha mẹ, của loài, là sự truyền lại từ cha mẹ cho con cháu những phẩm chất và những đặc điểm sinh học nhất định đã đ-ợc ghi lại trong ch-ơng trình các gen

Ví dụ: vóc dáng, màu tóc, thể loại thần kinh, sự thông minh, năng khiếu riêng của bố mẹ

Có nhiều quan điểm khác nhau thậm chí đối lập nhau về việc đánh giá vai trò của yếu tố bẩm sinh, di truyền trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ nói riêng và việc hình thành, phát triển nhân cách cho trẻ nói chung

Học thuyết duy vật biện chứng của Mác-Ăngghen đã giúp ta nhìn nhận khoa học về yếu tố này Theo quan điểm duy vật biện chứng thì bẩm sinh, di truyền giữ vai trò quan trọng chứ không phải quyết định trong sự phát triển trí tuệ của trẻ

Trẻ đ-ợc sinh ra mang trong mình những yếu tố có sẵn, di truyền từ cha

mẹ nh- thể loại thần kinh, sự thông minh đều là tiền đề rất tốt cho sự phát triển trí tuệ của chúng sau này Cha mẹ là ng-ời trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ cần sớm phát hiện ra năng khiếu hoặc ng-ợc lại là mặt hạn chế-thiệt thòi ở mỗi trẻ để có cách tác động có hiệu quả, nhằm giúp trẻ phát triển đúng h-ớng với những tiềm năng sẵn có hoặc khắc phục những mặt hạn hẹp mang tính bẩm sinh của mình trong chính cuộc sống hàng ngày của trẻ

c.2, Yếu tố môi tr-ờng:

Môi tr-ờng là tất cả những gì bao quanh trẻ, ảnh h-ởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của trẻ Theo quan điểm duy vật biện chứng thì con ng-ời khác con vật ở chỗ con ng-ời có ý thức, là sự phản ánh thế giới khách quan

Và một trong những điều kiện để hình thành ý thức là yếu tố môi tr-ờng Có thể nói rằng, môi tr-ờng góp phần tạo ra động cơ, mục đích, cung cấp ph-ơng tiện cho điều kiện hoạt động giao l-u của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh

Trang 17

đ-ợc kinh nghiệm lịch sử-xã hội của loài ng-ời Về vấn đề này cổ nhân đã từng có câu “ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”

+ Môi tr-ờng gia đình đối với sự phát triển trí tuệ:

Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, ảnh h-ởng của gia đình còn mạnh mẽ hơn rất nhiều các môi tr-ờng khác Các nghiên cứu cho thấy, nếu trong gia đình bố

mẹ quan tâm dạy dỗ và có sự h-ớng dẫn cần thiết thì trí tuệ của trẻ phát triển nhanh chóng Ng-ợc lại, nếu gia đình không quan tâm đến trẻ, để trẻ phát triển tự nhiên thì mức độ phát triển trí tuệ của chúng có phần nào sẽ kém hơn

so với những đứa trẻ cùng lứa tuổi

Môi tr-ờng gia đình là một môi tr-ờng đặc biệt Tr-ớc hết vì đó là môi tr-ờng an toàn, trong đó đứa trẻ lớn lên bên cạnh những ng-ời ruột thịt, luôn

đ-ợc yêu th-ơng ấp ủ; môi tr-ờng đó tạo nên ở trẻ cảm giác an toàn về cả tinh thần và thể chất Nhờ có cảm giác an toàn đó, đứa trẻ mới cảm thấy yên tâm, mới vui t-ơi hồn nhiên, mới mạnh dạn thăm dò, thử nghiệm, tìm cách tác

động lên sự vật xung quanh để phát triển trí tuệ

Đối với trẻ mầm non, phần lớn thời gian trẻ sống và sinh hoạt cùng các thành viên trong gia đình Vì thế Cha, Mẹ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ nói chung và việc phát triển trí tuệ cho trẻ nói riêng Ng-ời lớn trong gia đình dạy trẻ bằng giao tiếp trực tiếp và hoạt động th-ờng xuyên với nó, dạy ở mọi lúc, mọi nơi bằng tấm g-ơng của chính mình nên trẻ tiếp nhận sự giáo dục đó một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, sự phát triển trí tuệ của trẻ cũng hiệu quả hơn

Cha mẹ là ng-ời hiểu rõ nhất những diễn biến tâm lý của con cái, những nhu cầu, -ớc muốn, nguyện vọng, khả năng của con mình, từ đó dễ dàng lựa chọn những hình thức tác động giáo dục phù hợp với chúng, thúc đẩy trí tuệ của trẻ ngày càng phát triển Cha mẹ cũng chính là ng-ời biết rõ năng lực, hạn chế của con mình, tốc độ phát triển trí tuệ và khả năng về trí tuệ của trẻ nên có thể định h-ớng một cách đúng đắn cho sự phát triển đó Tác động đến trẻ để phát huy hết năng lực trí tuệ và hạn chế những ảnh h-ởng bất lợi chính là vai trò to lớn của gia đình đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ

Trang 18

+ Môi tr-ờng nhà tr-ờng đối với sự phát triển trí tuệ:

Tr-ờng học chính là ngôi nhà thứ hai của trẻ lứa tuổi mầm non Giáo dục nhà tr-ờng có ý nghĩa rất to lớn cho sự phát triển nhân cách trẻ nói chung

và cho sự phát triển trí tuệ nói riêng của trẻ Chính vì vậy, nhà n-ớc Việt Nam

đặt trọng trách chăm sóc- giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi, hình thành ở chúng những cơ sở đầu tiên của nhân cách con ng-ời mới XHCN tr-ớc hết vào các cơ quan giáo dục mầm non, mà nòng cốt là nhà trẻ và tr-ờng lớp mẫu giáo Thông qua các hoạt động đa dạng (vui chơi, học tập, lao động) trong cuộc sống ở tr-ờng mầm non có thể tiến hành phát triển toàn diện cho trẻ 5-6 tuổi, trong đó có trí tuệ Bởi bất kì một năng lực nào cũng đ-ợc hình thành, rèn luyện và thể hiện qua hoạt động của trẻ

c.3, Yếu tố giáo dục :

Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển nhân cách của trẻ

em Đứng trên quan điểm của duy vật biện chứng thì giáo dục đúng đắn sẽ

định h-ớng cho sự phát triển của trẻ, giáo dục luôn đi tr-ớc sự phát triển, kéo theo sự phát triển Và trong đó GDGĐ có tác dụng vô cùng to lớn khó có gì sánh đ-ợc trong sự tr-ởng thành của đứa trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non

c.4, Tích cực hoạt động và giao tiếp của cá nhân:

Cá nhân giữ vai trò quyết định sự phát triển nhân cách của mình Nếu

có thế giới khách quan và có não bộ hoàn chỉnh nh-ng cá nhân không chịu tích cực hoạt động thì ý thức của con ng-ời vẫn nông cạn và sự phát triển đó

sẽ là trì trệ Điều này đã đ-ợc C.Mác đánh giá rất cao Ng-ời nói: “ Cá nhân phải tích cực vận động trong quá trình con ng-ời cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội thì mới cải tạo đ-ợc chính bản thân mình” Trẻ có tích cực khám phá, tích cực tìm tòi học hỏi, tìm kiếm những cái mới thì lúc đó trí tuệ của trẻ mới ngày càng phát triển Và ng-ợc lại, trẻ thụ động, nhút nhát, ít giao l-u bạn bè, ít khám phá cuộc sống thì không những trí tuệ của trẻ chậm phát triển mà còn

ảnh h-ởng đến các mặt khác nh- tình cảm xã hội, thể chất vận động của đứa trẻ

Mỗi cá nhân phải là chủ thể của quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mình Cá nhân phải hoạt động tích cực trong môi tr-ờng d-ới sự

Trang 19

h-ớng dẫn khoa học của giáo dục có thế trí tuệ mới phát triển, nhân cách mới đ-ợc hình thành và hoàn thiện

1.2.3.2 Sự phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi

Trẻ 5-6 tuổi là độ tuổi nhận thức còn sơ khai, d-ờng nh- tất cả đều chỉ mới bắt đầu Nh-ng cũng chính ở lứa tuổi này chúng ta bắt gặp một trí tuệ giàu hình ảnh, luôn luôn tìm tòi, khám phá để có những sản phẩm phong phú, sáng tạo Sự tr-ởng thành về trí tuệ của trẻ đôi khi cũng khiến chúng ta phải giật mình vì nó không đơn giản Trẻ có t- duy, có khối óc, và không ngừng cảm nhận thế giới bằng những cách thức riêng của mình Sự phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi đ-ợc biểu hiện qua các loại sau:

a, Trí tuệ ngôn ngữ:

Nói đến trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi đầu tiên phải nói đến đó là trí tuệ ngôn ngữ O.Jesperson, nhà ngôn ngữ học ng-ời Mỹ đã nói “ ngôn ngữ chính là hoạt

động của con ng-ời“

Cả giai đoạn ấu thơ (0-6 tuổi) chính là giai đoạn mà ngôn ngữ trí tuệ của trẻ phát triển nhanh chóng, 5-6 tuổi là thời kỳ trí tuệ ngôn ngữ của trẻ phát triển rõ rệt nhất Thời kỳ này cha mẹ sẽ vui mừng và kinh ngạc khi phát hiện

ra rằng: trẻ bắt đầu thay đổi, nhanh mồm nhanh miệng, nếu đã nói là tuôn hàng tràng, năng lục biểu đạt của trẻ cũng khá tốt Chú ý nghe trẻ biểu đạt sẽ thấy cách dùng từ, đặt câu của trẻ đã rất quy phạm, chuẩn mực, lỗi ngữ pháp ngày càng ít đi

Sự phát triển trí tuệ ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi có những biểu hiện cụ thể sau:

* Trẻ 5 tuổi:

- Cơ quan ngôn ngữ đã phát triển đầy đủ, đã có thể ý thức đ-ợc vấn đề trong ngữ âm giữa mình và ng-ời khác, chúng đã có đủ điều kiện phát âm chính xác, cũng có nguyện vọng nói chuyện rõ ràng, chuẩn xác

- L-ợng từ vựng cũng tăng đáng kể, chất l-ợng từ cũng đ-ợc nâng lên Không những nắm vững danh từ, động từ, tính từ, số từ, mà còn bắt đầu nắm bắt một số phó từ và liên từ

Trang 20

- Có thể tích cực vận dụng từ ngữ, năng lực biểu đạt khẩu ngữ cũng tăng lên

- Năng lực nghe và nói đã cõ thể ứng phó đ-ợc với những nhu cầu cơ bản của cuộc sống hàng ngày

* Trẻ 6 tuổi:

- Tính nối liền và tính rõ ràng của ngôn ngữ tăng mạnh, có thể biểu đạt

rõ ràng t- t-ởng tình cảm của mình

- Đã nắm đ-ợc nhiều loại hình khẩu ngữ

- Thích truy hỏi “ sự việc nh- thế nào” và “ tại sao lại nh- vậy”

- Thích chơi một số trò chơi ngôn ngữ, nh- đọc vè, hát đồng giao

- Đã nắm bắt đ-ợc một số quy tắc ngữ pháp cơ bản

- Năng lực đọc truyện tranh và phân tích hình hoạ tăng rõ rệt

- Thích cùng các bạn nhỏ hoặc cha mẹ đọc hiểu, đọc những văn tự trong sách vừa đố lại vừa lừa, đọc hiểu trở thành niềm vui của chúng

- Tính tích cực của việc học chữ rất cao, th-ờng xuyên đòi ng-ời lớn dạy chúng những từ mới

Trẻ không phải học ngôn ngữ trong môi tr-ờng nào xa xôi mà học ngay trong khi giao tiếp với ng-ời lớn Bởi vậy, ng-ời lớn nhất là cha mẹ phải là những ng-ời có ngôn ngữ chuẩn để trẻ học tập

* Trẻ 5-5,5 tuổi :

- Thành thục các động tác cơ bản nh- : chạy, nhảy, trèo khả năng né tránh, đuổi theo nhịp nhàng, thăng bằng đều đ-ợc nâng lên rất nhiều

Trang 21

- Trong quá trình chơi, thay đổi quy tắc trò chơi, tạo ra những cách mới,

có thể phát triển những kĩ năng vận động nh- : đập bóng kiểu mới

- Có thể dùng hai tay đón bóng t-ơng đối chính xác

- Trẻ có thể nhảy qua độ cao 80cm, thích những trò mang tính v-ợt giới hạn

- Thích bắt chuớc ng-ời lớn, làm những việc đơn giản nh-: quét nhà, lau bàn, nh-ng không có đủ tính kiên nhẫn làm việc, chỉ dựa vào niềm đam

mê nhất thời

- Tích trò chơi tập thể, đặc biệt là trò chơi mang tính cạnh tranh nh-: chạy, đá bóng, đập bóng

- Động tác của tay càng thêm linh hoạt, có thể dùng bút vẽ những hình

đơn giản, có thể vẽ một cách thuần thục

- Có thể sử dụng những công cụ nh- kéo để làm ra những tác phẩm thủ công tinh xảo, thích các hoạt động nh- thủ công, cắt xé, dán giấy, cắt giấy

- Có thể học tập toàn diện các loại hình vận động với bóng

- Biểu hiện động tác nhanh nhạy hơn Khả năng thăng bằng đ-ợc tăng lên Thích chơi các trò chơi nhảy dây, nhảy cao và thi đấu mang tính vận

động mạnh

- Sự linh hoạt của tay cũng ngày càng đ-ợc hoàn thiện hơn Tác phẩm thủ công cũng đẹp hơn (có những tác phẩm của trẻ còn mang phong cách của nghệ nhân)

- Có thể tham gia một số hoạt động thể dục Có khả năng thăng bằng t-ơng đối tốt nh-: tr-ợt ván, trèo cây

c, Trí tuệ toán học:

Tuổi 5-6 là thời gian quan trọng để trẻ bắt đầu làm quen, nắm bắt các khái niệm toán học Sự phát triển năng lực toán học thời kì này là một cơ sở

Trang 22

tốt, đặt nền móng cho sự phát triển của trẻ sau này Vì thế, các bậc cha mẹ cần chú ý khai thác tiềm năng toán học cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ, tích cực bồi d-ỡng khả năng toán học để trẻ cảm nhận đ-ợc mối liên quan về số l-ợng của các sự vật trong cuộc sống, trong chính các trò chơi mà trẻ th-ờng tham gia, thấy đ-ợc vai trò quan trọng của toán học và có hứng thú với nó Đồng thời, chúng ta cũng nên khuyến khích trẻ biết cách dùng các kiến thức toán học để giải quyết các vấn đề, các câu hỏi trong cuộc sống th-ờng nhật

D-ới đây là một ví dụ về biểu hiện phát triển khả năng toán học của trẻ

từ 5-6 tuổi:

- Về ph-ơng diện tổ hợp số, biết đ-ợc quan hệ t-ơng hỗ giữa hai con số, nghĩa là nếu một bên cộng thêm 1, bên kia phải trừ đi 1, tổng của chúng không đổi

- Về ph-ơng diện toán có thể làm phép cộng trừ trong phạm vi 10 cho các sự vật

- Mối quan hệ đẳng l-ợng giữa các thành phần trong quan hệ số l-ợng, suy đoán; trong tìm hiểu vật thể, tổng số Có thể lý giải đ-ợc quan hệ qua lại với nhau giữa các số, ví dụ: A > B , B > C cho nên A > C

- Về ph-ơng diện ghi nhớ đặc điểm và đo l-ờng, trẻ tầm 5 tuổi đã hình thành khả năng ghi nhớ các số mục (trong vòng 5 vật thể trở xuống, trẻ có thể nhờ vào tri giác của mình để phán đoán đặc điểm, nh-ng đối với 8 vật thể, trẻ chỉ có thể dựa vào sự lập luận, suy diễn lôgic để trả lời đúng các vấn đề về đặc

điểm này) Trẻ khoảng 6 tuổi đã hình thành ghi nhớ về số l-ợng, ví dụ nh- độ dài, dung tích của vật thể

- Ph-ơng diện phân loại: Trẻ có thể căn cứ vào đặc điểm bên trong của

sự vật để tiến hành phân loại Trẻ có thể căn cứ vào hai loại đặc tr-ng mà phân loại theo nhóm Ví dụ có thể phân loại hình dạng và màu sắc cho các bức tranh

- Về ph-ơng diện sắp xếp theo thứ tự, trẻ đã biết cách sắp xếp l-ợng vật thể theo thứ tự xuôi hoặc ng-ợc, biết làm các phép tính xuôi ng-ợc (cộng, trừ) Bắt đầu biết cách sắp xếp đúng, việc sắp xếp thứ tự không phải chịu sự hạn chế về phạm vi tri giác

Trang 23

- Về mặt so sánh: Trẻ có thể so sánh sự to nhỏ của các con số trong nhóm thông qua các cách tính số

- Về mặt không gian: có thể lấy chính trẻ làm trung tâm để phân biệt về ph-ơng vị phải trái, có khả năng liên hệ vị trí của mình so với các vật khác trong không gian nh-ng lại ch-a biết đ-ợc mối quan hệ phải-trái trong không gian của hai vật thể

- Về góc độ giải quyết vấn đề: có thể giả quyết các vấn đề toán học đơn giản trong cuộc sống hàng ngày

d, Trí tuệ không gian:

Đôi mắt trong suốt của trẻ nhỏ 5-6 tuổi có khả năng nắm bắt những thay đổi dù là nhỏ nhất của màu sắc, đ-ờng nét, hình dạng Ở độ tuổi này tri thức không gian của trẻ có sự phát triển rất lớn Sau 5 tuổi trẻ có thể phát hiện

ra khái niệm không gian một cách chính xác đối với khích th-ớc, hình dáng nh- cao-thấp, tr-ớc-sau, phải-trái, xa-gần của vật thể Ở thời kỳ này sự phát triển trí tuệ không gian của trẻ biểu hiện chủ yếu ở hai ph-ơng diện: hiểu biết không gian và trình bày không gian

* Trẻ 5-6 tuổi:

- Có thể phân biệt đ-ợc tr-ớc-sau, xa-gần, trong-ngoài, trên-d-ới

- Bắt đầu chơi xếp hình có mục đích nh-: xếp một căn phòng, một cây cầu, một ngôi nhà cao tầng

- Bắt đầu nhận biết đ-ợc một số màu sắc lẫn lộn trong hộp màu nh- màu da cam nh-ng lại không biết đ-ợc là màu da cam do hai màu đỏ và màu vàng tạo nên

- Dần dần có thể phân biệt đ-ợc sự khác biệt nhất của sắc điệu, nh- có thể phân biệt so sánh giữa màu đỏ sẫm với màu đỏ nhạt

- Có thể dùng ngón tay để nặn các đồ vật nhỏ nh- một cái đầu hình tròn của động vật hoặc một chiếc bánh

- Vẽ đồ vật ngày càng có chi tiết nhỏ hơn nh- vẽ lông mày của ng-ời hoặc hàm răng

- Hình tròn là hình đ-ợc dùng rất nhiều, trong các bức tranh vẽ nh- là dùng hình tròn để thay thế cho các hình vuông, hình chữ nhật, hình bầu dục,

Trang 24

hình tam giác Để phát triển trí tuệ không gian, cha mẹ nên có ý thức dạy bảo cho trẻ trong cuộc sống hàng ngày để trẻ có thể căn cứ vào các vật cụ thể để nhận thức đ-ợc ph-ơng h-ớng và khoảng cách trong không gian

e, Trí tuệ âm nhạc:

Trí tuệ âm nhạc là chỉ trí tuệ cảm giác nhạy cảm của con ng-ời về âm

điệu, sự vận động hài hoà của thanh âm, tiết tấu và âm sắc Trẻ 5-6 tuổi đã có

đầy đủ cơ sở để hiểu âm nhạc và có một số biểu hiện sau:

* Trẻ 5-5,5 tuổi:

- Đã có khả năng ý thức và biết ý thức đến điệp khúc của bài hát

- Có thể theo kịp nhạc, có cảm giác và đung đ-a thân mình

- Khả năng chú ý khi nghe của trẻ trong khoảng 20 phút

- Đã biết đ-ợc tốc độ khác nhau của đoạn nhịp, có thể biến đổi nhanh, chậm, nhanh dần hoặc chậm dần

- Có thể phân biệt đ-ợc các âm thanh có độ cao khác nhau, âm thanh thay đổi theo sự vận động của thang âm và biết cách giữ trên cùng một âm cao

- Hiểu đ-ợc tiết tấu là do sự tập hợp của các âm thanh nhanh chậm khác nhau tạo thành

- Biết đ-ợc rằng các loại nhạc cụ khác nhau phát ra âm thanh đặc tr-ng khác nhau

- Biết đ-ợc nhạc cụ có thể phát ra các âm thanh mạnh, yếu, cao, thấp khác nhau

- Khả năng chú ý nhiều nhất khi nghe nhạc: khoảng 50 phút

- Có thể mô phỏng các tiết tấu đơn giản một cách chuẩn xác

- Có thể dùng cách gõ tay, vỗ để học tiết tấu

- Khả năng liên t-ởng và t-ởng t-ợng về âm nhạc phát triển rõ rệt Trẻ

Trang 25

có thể liên hệ, thể nghiệm các tình tiết trong âm nhạc với cuộc sống của mình

g, Trí tuệ giao tiếp:

Thông qua hành vi thân thể và cảm giác trẻ nhận biết thế giới qua giao tiếp Trẻ 5-6 tuổi đã có thể nhờ vào ngôn ngữ, hình vẽ, động tác, con số, ký hiệu và những biểu hiện trung gian khác để khám phá thế giới

- Có thể điều hoà đồng thời hoá giải xung đột giữa các bạn với nhau

Đối mặt với xung đột, trẻ có thể vận dụng kỹ năng giao tiếp và cách giải quyết vấn đề nhất định, nghĩ ra biện pháp để giải quyết vấn đề, nhằm thuyết phục

đối ph-ơng làm cho xung đột dịu đi

- Thích giao tiếp với bạn khác Trong quá trình giao tiếp với bạn khác, th-ờng th-ờng có thể biểu lộ năng lực ảnh h-ởng đến bạn khác trong phạm vi nhất định.Ví dụ nh-: có thể chủ động phân vai cho bạn, có thể thuyết minh quy tắc hoạt động

- Có thể phân công, hợp tác với các bạn, thích tham gia hoạt động tập thể và diễn các vai trong trò chơi

Trang 26

- Có thể lắng nghe ng-ời khác nói chuyện, hiểu đ-ợc sự cùng hành

động, có thể tiến hành mối quan hệ qua lại với bạn khác

h, Trí tuệ tự nhiên:

Trí tuệ tự nhiên dùng để chỉ khă năng quan sát, cảm nhận những hình thái, vật thể của thế giới tự nhiên, để tiến hành phán đoán, phân tích, để hiểu biết, hệ thống hoá tự nhiên

Mỗi đứa trẻ đều có những sở thích tự nhiên bẩm sinh Bất cứ lúc nào chúng đều có sự hiếu kỳ vô tận Chúng muốn tự mình thử, xem xét, sờ nắn, nghe ngóng hay thông qua những giác quan khác để tìm hiểu môi tr-ờng xung quanh Chỉ cần có điều kiện thích hợp, có ph-ơng pháp phù hợp thì mỗi đứa trẻ sẽ phát huy hết sức trí tuệ tự nhiên của chúng

Trí thông minh quan sát của trẻ 5-6 tuổi th-ờng có những biểu hiện nh- sau:

- Thích thu thập những thứ của thiên nhiên nh- lá cây, viên sỏi và không thấy phiền hà với việc phải sắp xếp những thứ này sao cho thật gọn gàng

- Thích nghịch n-ớc, nghịch cát, đất mà không thấy ngần ngại khi tay mình bị bẩn

- Chăm sóc cho những con vật nuôi trong nhà, cho chúng ăn, trò chuyện cùng chúng, chơi với chúng

- Thích đi sở thú, khu hải d-ơng để quan sát những động tác và biểu hiện của mọi loài động vật và còn tỏ ra vô cùng thích thú

- Thích đùa chơi ngoài trời không kể ảnh h-ởng của thời tiết hay những yếu tố ngoại cảnh, nhiều khi vui chơi d-ới trời m-a lất phất lại làm chúng thấy phấn khích hơn nhiều

- Thích trồng hoa, cây cỏ hay cây rau trong bồn hay ngoài ban công và

tỏ ra thích thú với sự thay đổi từng ngày của chúng

- Thích giúp đỡ ng-ời khác làm những việc nhỏ trong v-ờn nhà và thấy vui khi quan sát hoạt động của những sinh vật nhỏ bé nh- con kiến

Nói chung, những đứa trẻ từ 5-6 tuổi rất thích tự nhiên, thích quan sát

sự thay đổi của những sự vật trong tự nhiên, điều này sẽ làm cho kiến thức về

Trang 27

tự nhiên học của chúng ngày càng phong phú hơn; khả năng quan sát của chúng sẽ trở nên nhạy bén hơn, não bộ cũng đ-ợc hoạt động nhiều hơn và chơi trò chơi cũng sẽ linh hoạt hơn; đ-ơng nhiên điều quan trọng nhất là chúng sẽ càng vui thích và càng mạnh khoẻ hơn

1.2.3.3 Các ph-ơng pháp đo l-ờng sự phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi

Đối với trẻ em lứa tuổi mầm non thì ph-ơng pháp trắc nghiệm (test) là ph-ơng pháp th-ờng hay đ-ợc sử dụng nhất Ph-ơng pháp này th-ờng đ-ợc dùng nh- công cụ hỗ trợ cho các ph-ơng pháp nghiên cứu khác nh-: thực nghiệm, nghiên cứu sản phẩm hoạt động Trắc nghiệm là một hình thức thực nghiệm đặc biệt gồm những bài tập tiêu chuẩn hoá ngắn, soạn ra để xác định mức độ phát triển của những quá trình tâm lý khác nhau ở trẻ Thông qua việc trẻ trả lời hay thực hiện những bài tập nói trên, nhà nghiên cứu có thể xét đoán trình độ phát triển trí tuệ của đứa trẻ

Một số trắc nghiệm đo l-ờng trí tuệ cho trẻ:

- Test Stranford - Binet: cho trẻ từ 2-14 tuổi

- Test Buyse - Pecroly: cho trẻ từ 3-7 tuổi

- Test Venger: tìm hiểu sự phát triển t- duy trực quan sơ đồ

- Test Raven dành cho trẻ d-ới 6 tuổi

- Đặc biệt là trắc nghiệm “ Trí tuệ đa dạng” do Gille (Pháp) đề xuất Trắc nghiệm gồm 62 trang vẽ với các chủ đề khác nhau với thang điểm tối đa là 204 điểm.Trắc nghiệm dành cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi có đi học hoặc ch-a đến tr-ờng lần nào Trắc nghiệm nhằm đánh giá trình độ trí lực và kiến thức, đồng thời tìm hiểu các thao tác so sánh, phân loại, nhận thức về số l-ợng, trọng l-ợng, kích th-ớc, không gian, thời gian, khả năng tri giác các vật thể, khả năng suy luận lôgic, khả năng khái quát hoá trực quan

Quy trình trắc nghiệm đơn giản, không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, có thể sử dụng cho từng nhóm từ 10 đến 15 em Trắc nghiệm th-ờng

đ-ợc dùng trong tr-ờng học

- Trắc nghiệm vẽ hình lập ph-ơng xếp theo hình bậc thang:

Trang 28

Trắc nghiệm do giáo s- Andre Rey thuộc tr-ờng đại học Geneve (Thuỵ sỹ) xây dựng năm 1947 Trong trắc nghiệm này sự phát triển trí tuệ đ-ợc thể hiện ở khả năng tổng hợp của tri giác và t- duy, khả năng tập trung của thị giác phối hợp với một số kỹ năng hành động nhất định: khả năng phát hiện

đ-ợc sự phụ thuộc của hình dáng vật thể vào vị trí quan sát và thể hiện nó bằng hình vẽ Trắc nghiệm dùng cho trẻ từ 4 đến 12 tuổi Andne Rey xây dụng trắc nghiệm này dựa trên cơ sở: tranh vẽ của trẻ phản ánh kinh nghiệm phong phú của trẻ trong quá trình trẻ tiếp xúc với thế giới xung quanh và nhận biết nó Tranh vẽ của trẻ có tính hiện thực của trí tuệ Chính vì đặc điểm độc

đáo này mà nhìn vào tranh của trẻ ta có thể nhận biết đ-ợc sự phát triển tâm

lý, đặc biệt là sự phát triển trí tuệ của trẻ

* Với đề tài nghiên cứu “ Thực trạng giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình” , chúng tôi chọn trắc nghiệm Gille để làm ph-ơng pháp đo l-ờng mức độ phát triển trí tuệ của trẻ Bởi vì:

+ Test Gille phù hợp với trình độ của trẻ 5-6 tuổi mà chúng tôi tiến hành khảo sát

+ Đây là loại test có quy trình thực nghiệm đơn giản, dễ thực hiện,

không đòi hỏi chuyên môn cao mà cho kết quả chính xác

1.2.4 Giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình

a, Khái niệm về giáo dục trí tuệ

Giáo dục trí tuệ là một quá trình s- phạm đ-ợc tổ chức đặc biệt nhằm hình thành những tri thức và kĩ năng sơ đẳng, những ph-ơng thức hoạt động trí tuệ sơ đẳng phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ ở trẻ em Giáo s- Gardner-Nhà tâm lý học nổi tiếng của tr-ờng ĐH Havard giải thích: “ Trí tuệ của mỗi ng-ời đều là sự kết hợp hữu cơ của trí tuệ ngôn ngữ, t- duy vận động thân thể, t- duy lôgic toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp và trí tuệ tự nhiên Vì vậy sự giáo dục và bồi d-ỡng trí tuệ cho trẻ cũng không thể chỉ giới hạn ở một ph-ơng diện nào đó” Nếu làm nh- vậy, có thể bạn đã đi ng-ợc lại với t- chất bẩm sinh của trẻ Sự giáo dục trí tuệ thích hợp chính là: thông qua môi tr-ờng giáo dục tự nhiên, có sự sáng tạo, phát hiện mức độ và đặc điểm phát triển về các ph-ơng diện trí tuệ của

Trang 29

trẻ, đồng thời lấy sở tr-ờng bù sở đoản, biểu d-ơng khả năng và trí tuệ nổi trội của trẻ Phát huy những điểm mạnh để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trẻ một cách toàn diện

b, Mục đích, nội dung, ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi

- Mục đích của giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi là hình thành những tri thức và kĩ năng sơ đẳng, những ph-ơng thức hoạt động trí tuệ sơ đẳng, phát triển những năng lực và nhu cầu hoạt động trí tuệ ở trẻ 5-6 tuổi Mục đích cơ bản của giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi là nâng cao trình độ phát triển chung, chuẩn bị một trí tuệ tốt nhất cho trẻ b-ớc vào lớp Một

- Nội dung giáo dục trí tuệ là hình thành các khái niệm về cuộc sống xung quanh và về bản thân; phát triển các quá trình tâm lý nhận thức: cảm giác, tri giác, trí nhớ, t-ởng t-ợng, t- duy và phát triển ngôn ngữ; giáo dục và phát triển tính ham hiểu biết và năng lực trí tuệ đ-ợc biểu hiện ở các phẩm chất trí tuệ: sự nhanh trí, tính phê phán, tính tò mò, khả năng sử dụng các ph-ơng pháp khác nhau để giải quyết nhiệm vụ trí tuệ Giáo dục trí tuệ là giáo dục toàn diện về tất cả các mặt: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ vận động, trí tuệ toán học, trí tuệ không gian, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ tự nhiên Thông qua: hoạt động vật thể, hoạt động tạo ra sản phẩm, trò chơi, lao động, học tập, giao tiếp có các ph-ơng pháp giáo dục sau:

- Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi:

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ ngôn ngữ:

Nói chuyện nhiều với trẻ, tạo hoàn cảnh ngôn ngữ tốt đẹp cho trẻ, khích lệ trẻ mạnh dạn biểu đạt, đọc sách cho trẻ nghe, khuyến khích trẻ đọc sách truyện, rèn luyện năng lực viết tự do của trẻ, nói lời hay ý đẹp

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ vận động:

Bồi d-ỡng khả năng vận động cơ bản, tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi vận động Khuyến khích trẻ thử nhiều ph-ơng pháp vận động không giống nhau, tổ chức các cuộc thi qua các trò chơi

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ không gian:

Trang 30

Bồi d-ỡng cho trẻ lòng say mê vẽ tranh, khuyến khích trẻ vẽ tranh theo

ý thích, phát triển cho trẻ nghệ thuật trang trí: trang trí tủ, các góc chơi Rèn luyện trí tuệ qua các trò chơi: trò chơi “ Ng-ời trong g-ơng” , trò chơi ghép hình, xếp mô hình, nặn đất dẻo Th-ờng xuyên cho trẻ đi tham quan, đi chơi công viên

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ toán học:

Có thể bồi d-ỡng trí tuệ toán học cho trẻ hàng ngày bằng cách sử dụng các đồ chơi, đồ dùng sinh hoạt, đồ ăn, các vật dụng trong gia đình mà trẻ th-ờng xuyên tiêp xúc và sử dụng để rèn luyện cho trẻ các khả năng đếm, cộng trừ, đo đạc, nhận biết và miêu tả, so sánh, phân loại, sắp xếp thứ tự, phân biệt các phía Dạy cho trẻ cách nhận biết thời gian và b-ớc đầu cảm nhận

đ-ợc ý nghĩa của nó bằng cách bày cho trẻ xem đồng hồ, xem lịch và th-ờng xuyên hỏi trẻ về giờ giấc

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ âm nhạc:

Phát triển ở trẻ hứng thú âm nhạc, khuyến khích trẻ ca hát và nghe nhạc Giáo dục trẻ biết biểu đạt cảm nhận của mình với âm nhạc và dùng âm nhạc để nói về cảm nhận của mình Khuyến khích trẻ sử dụng nhạc cụ để thể hiện cùng với bài hát, bồi d-ỡng cho trẻ lòng yêu thích nhạc cụ qua các trò chơi nh-: trò chơi âm nhạc Tổ chức các cuộc thi hát hay, biểu diễn văn nghệ

và động viên trẻ mạnh dạn tham gia

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ giao tiếp:

Th-ờng xuyên nói chuyện với trẻ, động viên trẻ cùng chơi với bạn, dùng đồ chơi và những vật khác làm trung gian để động viên trẻ giao tiếp, tổ chức các trò chơi phân vai để trẻ thể hiện vai chơi Giáo dục trẻ các kĩ năng và thói quen giao tiếp nh- biết chào hỏi, biết trả lời câu hỏi, biết hỏi thăm, lễ phép với ng-ời lớn tuổi Ng-ời lớn xung quanh trẻ phải là tấm g-ơng tốt trong giao tiếp cho trẻ noi theo

+ Ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ tự nhiên:

Bồi d-ỡng cho trẻ tình yêu thiên nhiên để trẻ hứng thú khám phá, say

mê tìm tòi Cho trẻ thấy đ-ợc thế giới tự nhiên xung quanh mình bằng quan sát: quan sát sự thay đổi của cây cỏ, của thời tiết, của những đám mây

Trang 31

Khuyến khích trẻ chăm sóc cây cối hay nuôi những động vật nhỏ và theo dõi

sự phát triển của chúng Đ-a trẻ đi tham quan v-ờn thú, công viên Cho trẻ xem tranh ảnh sách báo có liên quan đến thiên nhiên, sử dụng sách phân loại các loài động th-c vật để trẻ tìm hiểu

c, Đặc điểm của giáo dục trí tuệ trong gia đình

Sự phát triển trí tuệ có ý nghĩa đối với toàn bộ hoạt động và sự phát triển sau này của trẻ Bất cứ hạn chế nào của giáo dục trí tuệ trong gia đình cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng sẽ để lại những ảnh h-ởng không tốt cho sự phát triển trí tuệ ở những lứa tuổi lớn hơn Bởi vậy, giáo dục trí tuệ trong gia đình đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ sau này

Giáo dục trí tuệ cho trẻ trong gia đình có những đặc điểm sau:

- Ng-ời lớn trong gia đình dạy trẻ bằng giao tiếp trực tiếp và th-ờng xuyên với nó Bởi vậy giáo dục trí tuệ cho trẻ trong gia đình là một quá trình giáo dục th-ờng xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi, đó là điều kiện rất thuận lợi cho trẻ rèn luyện tốt các khả năng trí tuệ Nh-ng chất l-ợng của việc giáo dục trí tuệ cho trẻ lại phụ thuộc vào việc các bậc cha mẹ có dành nhiều thời gian

để tiếp xúc và hoạt động cùng trẻ hay không Đó sẽ là một hạn chế của vấn đề giáo dục trí tuệ cho trẻ trong gia đình nếu nh- cha mẹ không điều chỉnh phù hợp Phần lớn ở các gia đình hiện nay, thời gian mà cha mẹ dành để hoạt động cùng trẻ là rất hạn chế vì nhu cầu cuộc sống, vì tính chất công việc Khi nhu cầu học hỏi của trẻ ngày càng tăng cao mà cha mẹ không có thời gian để quan tâm, trò chuyện, dạy bảo trẻ thì sự tích cực học hỏi đó sẽ bị mai một hàng ngày, dần dần đến một lúc nào đó nó sẽ làm hạn chế đi ở trẻ nhu cầu giao tiếp với bố mẹ và hạn chế đi hoạt động tích cực của trẻ với mọi ng-ời trong gia

đình

- Giáo dục trí tuệ trong gia đình đ-ợc tiến hành d-ới nhiều hình thức trên cơ sở tình cảm ruột thịt Ng-ời lớn trong gia đình giáo dục trí tuệ cho trẻ bằng tình yêu th-ơng, sự tin cậy, niềm hy vọng lớn lao nên sự tiếp nhận của trẻ diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng và rất có hiệu quả Nh-ng chính tình yêu th-ơng và niềm hy vọng ấy đã tạo nên áp lực kỳ vọng ở các bậc cha mẹ Cha

Trang 32

mẹ có thể áp dụng cách giáo dục ch-a phù hợp với khả năng của trẻ nh- bắt trẻ học chữ, học đọc, học viết và tính toán các con số quá sớm Nếu cha mẹ quá sốt sắng thì không những có hiệu quả rất ít mà còn ảnh h-ởng lớn đến tâm sinh lý, đến trí tuệ của trẻ bởi dù sao ở lứa tuổi 5-6, trẻ ch-a đ-ợc trang bị đầy

đủ các phẩm chất và năng lực trí tuệ để có thể giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ

đòi hỏi nhiều t- duy

- Trong gia đình, ng-ời lớn rèn luyện trí tuệ cho trẻ bằng việc luyện tập giải quyết các vấn đề cụ thể, đa dạng trong cuộc sống Giải quyết các tình huống xảy ra trong gia đình và trong cuộc sống bao quanh trẻ chính là ph-ơng thức giáo dục trí tuệ tốt nhất Để có những phuơng thức giáo dục linh hoạt, phù hợp và hiệu quả thì một yêu cầu cần thiết nữa là các bậc cha mẹ phải có một trình độ s- phạm nhất định Trí tuệ của trẻ sẽ bị hạn chế nếu những nhà giáo dục không chuyên (cha, mẹ ) trong gia đình thiếu trình độ s- phạm

- Hiệu quả giáo dục trí tuệ cho trẻ trong gia đình phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm từng gia đình, trong đó có trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế của gia đình, loại gia đình một hay nhiều thế hệ Bởi vậy, với gia

đình cha mẹ có trình độ học vấn cao, điều kiện kinh tế ổn định thì sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trí tuệ cho trẻ Bên cạnh đó, hiệu quả giáo dục trí tuệ cho trẻ còn bị phụ thuộc vào quan điểm giáo dục của các thành viên Nếu có một quan điểm thống nhất chung, phù hợp và khoa học thì trẻ sẽ đ-ợc dẫn dắt vững chắc, đúng h-ớng Và dĩ nhiên nếu quan điểm giáo dục đó là thiếu khoa học thì hậu quả để lại cho trí tuệ của trẻ là không tránh khỏi

- Trong gia đình, đứa trẻ chính là trung tâm của sự chăm sóc và dạy bảo của tất cả mọi thành viên Giáo dục trí tuệ cho trẻ trong gia đình là sự giáo dục

tự nhiên bởi ng-ời lớn trong gia đình không đ-ợc đào tạo một cách bài bản, chính trình độ nhận thức và khả năng trí tuệ của mỗi ng-ời là yếu tố quyết

định việc sử dụng các biện pháp để giáo dục trí tuệ cho trẻ trong gia đình Cha, Mẹ có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về trí tuệ của con mình, về tầm quan trọng của trí tuệ trong sự phát triển của trẻ, và nhận thức đ-ợc trách nhiệm giáo dục ấy chính là của gia đình thì mới có các biện pháp giáo dục thúc đẩy

Trang 33

trí tuệ của trẻ phát triển tốt Và ng-ợc lại, cha mẹ không có nhận thức đầy đủ

về trí tuệ của trẻ thì sẽ bị thiếu hụt trong ph-ơng pháp giáo dục, hạn chế đến

sự phát triển trí tuệ Bởi vậy để có những ph-ơng pháp giáo dục trí tuệ tốt nhất, mọi ng-ời trong gia đình và nhất là ng-ời mẹ phải trang bị cho mình một

hệ thống tri thức về khoa học giáo dục tiên tiến

Giáo dục gia đình là môi tr-ờng giáo dục rất tốt cho sự phát triển trí tuệ của trẻ nh-ng bên cạnh những thuận lợi, -u điểm thì còn rất nhiều hạn chế Các bậc làm Cha, làm Mẹ phải nhận thức rõ để phát huy đ-ợc mặt -u điểm và hạn chế mặt nh-ợc điểm của từng gia đình, từ đó tạo điều kiện cho trí tuệ của trẻ phát triển đúng h-ớng và có hiệu quả

1.3 Kết luận ch-ơng

Giáo dục trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi trong gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong suốt cả quá trình giáo dục trẻ Bởi vì gia đình chính là cái nôi chăm sóc, dạy dỗ mỗi ng-ời kể từ khi đ-ợc sinh ra cho đến hết cuộc đời Đối với trẻ lứa tuổi mầm non thì sự giáo dục đó càng quan trọng hơn nữa vì lúc này trẻ hầu nh- dựa hoàn toàn vào ng-ời lớn trong gia đình Ng-ời lớn trong gia đình, nhất là ng-ời Cha, ng-ời Mẹ phải đặc biệt quan tâm chú ý đến vấn

đề giáo dục trí tuệ cho trẻ Muốn lựa chọn đ-ợc các biện pháp giáo dục trí tuệ thích hợp trong gia đình, các bậc phụ huynh phải trang bị cho mình một hệ thống kiến thức vững vàng, phải có sự quan tâm thoả đáng đến sự phát triển trí tuệ của trẻ, phải có sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục gia đình và giáo dục nhà tr-ờng Có nh- vậy, giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi trong gia đình nói riêng mới có hiệu quả, góp phần quan trọng trong cả quá trình phát triển nhân cách cho trẻ sau này

Trang 34

2.1.1 Nội dung khảo sát:

- Đánh giá nhận thức của các bậc cha mẹ về vấn đề phát triển trí tuệ cho trẻ 5-6 tuổi

- Đánh giá các biện pháp GD trí tuệ cho trẻ đ-ợc sử dụng trong gia

+ Đối với các bậc cha mẹ:

- Điều tra bảng hỏi

- Quan sát ghi chép những biện pháp GDGĐ đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi của các bậc phụ huynh

+ Đối với trẻ 5-6 tuổi:

- Khảo sát trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi bằng test Gille

- Ghi chép những biểu hiện trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi trong gia đình thông qua sự quan sát của Bố, Mẹ các em

+ Đối với giáo viên Mầm non:

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w