Những nhận định, đánh giá về đặc trưng thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn PhấnVăn Giá trong bài Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người, khẳng định thế giới nghệ thuật trong thơ Ma
Trang 1HOÀNG THỊ THANH NHÀN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Nghệ An - Năm 2014
Trang 2HOÀNG THỊ THANH NHÀN
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lý Luận Văn Học
Mã số : 60.22.01.20
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THỊ HỒ QUANG
Nghệ An - Năm 2014
Trang 4Nxb: Nhà xuất bảntr: Trang
TS: Tiến sĩ
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang
đứng sau Ví dụ: [34; 123] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu
tham khảo là 34, nhận định trích dẫn nằm ở trang 123 của tài liệu này.
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN 1.1 Giới thuyết khái niệm 8
1.1.1 Thế giới nghệ thuật 8
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình 9
1.2 Mai Văn Phấn và các chặng đường thơ 10
1.2.1 Tiểu sử nhà thơ Mai Văn Phấn 10
1.2.2 Các chặng đường thơ Mai Văn Phấn 14
1.3 Cơ sở hình thành thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn 18
1.3.1 Về thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn 18
1.3.2 Những cơ sở hình thành nên thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn 19
Chương 2 HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI VÀ HÌNH TƯỢNG THẾ GIỚI TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN 2.1 Hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn 30
2.1.1 Cái tôi giàu khát vọng và năng lượng cách tân thi ca 31
Trang 62.1.4 Cái tôi khao khát hướng tới một thế giới tinh thần lý tưởng “thuần
Việt”…… 48
2.2 Hình tượng thế giới trong thơ Mai Văn Phấn 54
2.2.1 Một thế giới của sự viên mãn và thuần khiết 54
2.2.2 Một thế giới của sự tương giao, hài hòa 58
2.2.3 Một thế giới của những cảm giác siêu nghiệm 62
Chương 3 PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN 3.1 Thể loại 66
3.1.1 Thơ lục bát 66
3.1.2 Thơ tự do 69
3.1.3 Thơ văn xuôi 71
3.1.4 Thơ cực ngắn 72
3.2 Kết cấu 73
3.2.1 Kết cấu văn bản 74
3.2.2 Kết cấu hình tượng 84
3.3 Cách sử dụng hình ảnh, biểu tượng và biện pháp tạo hình 87
3.3.1 Cách sử dụng hình ảnh, biểu tượng 87
3.3.2 Những tìm tòi trong bút pháp tạo hình 95
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mai Văn Phấn là một cây bút cách tân tiêu biểu của thơ Việt Namđương đại Với ông, sáng tạo nghĩa là phải luôn đổi mới và quá trình sáng tạochính là “những cuộc cách mạng liên tiếp xảy ra trong mỗi nhà thơ” Điều đóđược chứng minh rất rõ qua các chặng đường thơ của ông Nhà thơ quan niệmrất nhất quán: “Đổi mới thi pháp trước hết là từ chối ve vuốt những sở thích củangười đọc, nhằm tạo những sóng từ khác, những mã số khác trong không gianthơ vừa được khám phá Lý tưởng thi ca của sự cách tân là nhằm gọi đúng bảnchất của sự vật trong nhịp điệu đời sống hiện đại” [55; 378] Có lẽ chính vì thếnên khi xuất hiện, những “đứa con tinh thần” của ông luôn tạo ra những hiệuứng thẩm mỹ trái chiều và mạnh mẽ
1.2 Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựngnên trong tác phấm nghệ thuật theo những nguyên tắc tư tưởng – thẩm mĩ nhấtđịnh của người nghệ sĩ Gắn với một thế giới nghệ thuật là một quan niệm riêng,
cá tính sáng tạo riêng của mỗi tác giả Có thể thấy, gắn liền với một quan niệmthẩm mĩ mới mẻ, thơ Mai Văn Phấn là một thế giới nghệ thuật hết sức độc đáo Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nàotrực tiếp bàn đến vấn đề này Do đó, chúng tôi quyết định chọn “Thế giới nghệthuật trong thơ Mai Văn Phấn” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Mai Văn Phấn là cây bút cách tân tiêu biểu trong văn học đương đại Vềvấn đề thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, cũng đã có một số công trình, bàiviết quan tâm tìm hiểu Sau đây chúng tôi sẽ lược thuật những ý kiến tiêu biểu
Trang 82.1 Những nhận định, đánh giá về đặc trưng thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn
Văn Giá trong bài Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người,
khẳng định thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn là thế giới rất khó nắmbắt với sự “Bề bộn về số lượng: 370 bài Bề bộn về ý tưởng Bề bộn về thi ảnh
Bề bộn cả về thể điệu: lục bát, đường luật, tự do, thơ văn xuôi, trường ca Lại điqua ba quãng tính từ những bài thơ đầu tiên cho đến hôm nay Thế nên, để gọi
ra được “khuôn mặt” nhà thơ Mai Văn Phấn với tất cả những nét đặc sắc riêngquả là một thử thách đối với bất cứ ai” [46; 528] Nhà phê bình này cũng nhậnxét rất xác đáng: “Toàn bộ thơ Mai Văn Phấn đã dựng nên một thế giới phồnsinh và hóa sinh bất định…Với người nghệ sĩ này, một xác tín hiệu hiện lên thậtnhất quán: còn sự sống là còn phồn sinh và hóa sinh bất định; và còn phồn sinhhóa sinh bất định là còn khiến con người ta có quyền hy vọng vào những gì đẹp
đẽ và nhân bản nhất Thơ Mai Văn Phấn hát ca niềm hy vọng không bao giờngơi nghỉ ở con người” [46; 529]
Theo Đỗ Minh Tuấn: “Thế giới thơ của Mai Văn Phấn luôn luôn trongtrạng thái sẵn sàng bùng nổ Một biến động dù thi nhân day dứt siêu hình,những suy tưởng miên man tất cả đều có thể là nhỏ nhất như một tia sáng, mộttiếng chim Từ cuộc sống xung quanh vọng tới cũng có thể khởi động lên trong
sứ giả của một trật tự thi ca mới mẽ đang chờ” [46; 148]
Theo Nguyễn Quang Thiều, viết về thơ Mai Văn Phấn là viết về “ hiện
thực của những giấc mơ, của những câm lặng, của tưởng tượng và khát vọng.Hiện thực này trong nghệ thuật được sinh ra để hé lộ cho ta thấy một đời sốngtâm linh, và nó tìm cách cứu vớt sự tuyệt vọng của một hiện thực khác mà conngười đang phải đương đầu” [76; 3]
Trang 9Nguyễn Thanh Tâm trong bài Lập thể của ký ức và tưởng tượng xuyên
qua Bầu trời không mái che đã nhận định:“Thơ Mai Văn Phấn quyến luyến
người đọc không phải bằng sự mượt mà du dương của vần điệu Sức hấp dẫncủa thơ anh nằm ở thế năng trong cấu trúc ngôn từ và hình ảnh Đó chính là
những lập thể của kí ức và tưởng tượng, những chồng chất, đan cài, lồng hiện
của hình ảnh, hình tượng thông qua các thủ pháp nghệ thuật đã được dụng cônggia cường Như một tình nhân khó tính, thơ Mai Văn Phấn khiến người ta mấtnhiều tâm sức để chinh phục và khi đã bén duyên thì không thể nào dứt rađược” [46; 395]
Tác giả Lê Hồ Quang, trong bài Đặc trưng thế giới nghệ thuật trong thơ
Mai Văn Phấn, nhận định: “Thơ Mai Văn Phấn là một sự chuyển động liên tục
với những tìm tòi thi pháp đa dạng Một khi quan niệm sáng tạo là nhằm hướngđến “sự khác hẳn, biệt lập (đôi khi đối lập) với cái đã được định giá”, tác giảkhông ngại tìm kiếm và dung nạp những cách nghĩ, cách viết mới, hiện đại, tạonên sự giãn nở liên tục và khá rộng rãi trong biên độ sáng tạo” [61; 1] Và “ thếgiới thơ ông dù biến đổi hết sức đa dạng song vẫn rất nhất quán ở tinh thần vậnđộng hướng về cái mới, không hoàn tất, khép kín mà ngược lại, sẵn sàng “mờigọi” những diễn dịch đa chiều” [61; 3]
Kim Chuông trong bài Mai Văn Phấn lấp lánh giữa mông lung vô thức
cho rằng: “Vũ trụ đã nằm trong trái tim thi sĩ” và “Nhà thơ luôn văng mình vềmột phía xa khuất để cố nén và ôm trùm nơi hồn mình một ngoại giới mônglung Một vũ trụ thiên nhiên tự nhà thơ đẻ ra các dồi dào trực giác, nhưng trựcgiác lại có quá trình tích lũy nào đó”[46; 275]
Nhã Thuyên trong bài Khí quyển thơ-sinh thái của Mai Văn Phấn: thơ, bầu
trời và những linh hồn cho rằng thơ Mai Văn Phấn mang đến “không gian luôn
Trang 10rộng mở đón đợi người đọc cùng sáng tạo nhưng lại không dễ dàng để gọi têncái “khí” của một người thơ miệt mài, nhẫn nại, trong lành và nhiệt huyết nhưMai Văn Phấn”[46; 451].
Trong luận văn Một số cách tân nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn của
Nguyễn Quang Hà (Đại học Thái Nguyên) cũng đã đề cập tới một phương diệncủa thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, đó là không gian nghệ thuật Tác giảluận văn cho rằng: Trong thơ Mai Văn Phấn tập trung thể hiện không gian đa
diện - biến ảo và “biểu hiện rõ nhất của không gian đa diện - biến ảo là không
gian vụt hiện chập chờn giữa thực và ảo và không gian vô thức siêu thực " [19;59]
2.2 Những nhận định, đánh giá về nghệ thuật xây dựng, thể hiện thế giới thơ Mai Văn Phấn
Nguyễn Hoàng Đức, khi đề cập đến sự thay đổi bút pháp thơ Mai Văn Phấn, đã viết: “ Phải nói, anh đã thể nghiệm rất nhiều bút pháp thơ từ cổ điển
đến các khuynh hướng thơ hiện đại thế kỷ hai mươi và thơ văn xuôi Tất cả đềuđược cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến nhuần nhị Đọc thơ anh, có cảmgiác bình thản như một nhạc công đã tu luyện thành thạo và dễ dàng biểu diễnnhững khúc nhạc khó nhẹ như lông hồng” [46; 35]
Đỗ Quyên, khi đề cập tới ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn, cho rằng:
“Chúng ta đang bàn đến một thi giới gần như không có vốn từ vựng riêng và
lạ Nếu lướt nhẹ trên vài câu vài bài, sẽ tưởng đây là tay viết bình dân Đọc thơMai Văn Phấn không phải tra từ điển Việt – Việt! Không khó hiểu với từng bài
lẻ nếu có được vốn tối thiểu của luật câu cú tiếng Việt ” [46; 187] Cũng theotác giả Đỗ Quyên, “Mai Văn Phấn không là chủ nhân của các câu thơ, đoạn thơhút hồn theo nghĩa đơn tuyến Các bài hay và khá của thi sĩ đều là những mạng
Trang 11đan xen trên một phông văn hóa ổn cố bằng loại ngôn ngữ giản dị, chiêmnghiệm” [46; 164].
Nhà thơ Inrasara thì cho rằng: "Chuyển động mạnh nhất ở Mai Văn Phấntrong những năm hậu đổi mới chính là ngôn ngữ Hết còn thứ ngôn từ sangtrọng và trịnh trọng Ngôn ngữ thơ của Phấn đã thôi còn trau chuốt tỉ mẩn, ngàycàng hướng đến sự tự phát và ngẫu hứng Từ đó, thơ anh cũng thôi đạo mạo vớiđóng thùng" [46; 73]
Đặng Văn Sinh, khi đề cập tới tập thơ Bầu trời không mái che, đã viết:
“Ngôn ngữ siêu thực là một đặc trưng của bút pháp Mai Văn Phấn Nó biểuhiện ở dạng thức thơ không vần, không nhịp điệu, không đăng đối và thườngđảo ngược cấu trúc cú pháp”[46; 109]
Theo học viên Vũ Thị Thảo: “Thơ Mai Văn Phấn có nhiều bài mang hơithở tự do, ít khi sử dụng những dấu chấm câu, không cần tuân thủ trật tự cúpháp, đề cao sự liên tưởng cá nhân Để biểu đạt giấc mơ và đời sống vô thức,lối viết tự động được xem như là phương thức hữu hiệu Đó là một cách đểthoát khỏi mọi định kiến của xã hội và luân lý, để biểu lộ niềm tin vào tính dânchủ của ngôn ngữ, để tự do suy ngẫm về chức năng của nghệ thuật và bản chấtcủa quá trình sáng tạo” [46; 572]
Tuy nhiên bên cạnh những nhận định, đánh giá khẳng định giá trị thơ MaiVăn Phấn thì vẫn còn những nhận định, đánh giá trái chiều Chẳng hạn Đặng
Huy Giang, trong bài viết đánh giá về tập Thơ viết, đã chỉ trích cách dùng từ, kết cấu trong thơ Mai Văn Phấn, cụ thể là trong bài Mười bài tập mùa xuân Theo
tác giả, bài thơ chỉ là tập hợp những câu vọng cổ, rối rắm, vô nghĩa, dài dòng,
mà thôi
Nhìn chung, những nhận định, đánh giá của các tác giả về vấn đề thế giới
Trang 12nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn khá cụ thể, sâu sắc và có giá trị, đưa lại cho chúngtôi những gợi dẫn quan trọng trong việc khám phá thế giới nghệ thuật thơ MaiVăn Phấn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chọn Thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn làm đối tượng
nghiên cứu
3.2 Phạm vi văn bản khảo sát
Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn, luận văn khảo sát
công trình Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn (2013), Nxb Hội Nhà văn Hà Nội Tập thơ Hoa giấu mặt (2012), Nxb Hội Nhà văn Hà Nội Tập thơ Vừa sinh ra ở đó (2013), Nxb Hội Nhà văn Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu sau:
4.1 Tìm hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật trongthơ Mai Văn Phấn
4.2 Tìm hiểu đặc điểm hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới trong thơMai Văn Phấn
4.3 Tìm hiểu phương thức xây dựng thế giới nghệ thuật trong thơ MaiVăn Phấn
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống
Quan niệm thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể, xuất phát từ đặc điểmriêng của thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn, luận văn chú trọng tìm hiểunhững yếu tố tạo nên chỉnh thể này và những quy luật cấu tạo của nó
Trang 135.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp này giúp người viết nhận ra bản sắc riêng, thi pháp riêng củaMai Văn Phấn khi xây dựng hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới (so vớicác nhà thơ khác)
5.3 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp người viết tìm kiếm một cách có hệ thống nhữnghình ảnh, biểu tượng xuất hiện nhiều lần trong thế giới nghệ thuật thơ Mai VănPhấn
5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này giúp người viết làm rõ những nét độc đáo về thế giớinghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn và có cái nhìn khái quát về thơ Mai VănPhấn
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần trong việc xác định, đánh giá những đóng góp củathơ Mai Văn Phấn vào tiến trình thơ hiện đại Việt Nam Đồng thời khẳng địnhmột phong cách thơ độc đáo - Mai Văn Phấn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm 3 chương:
Chương 1 Khái quát về thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn
Chương 2 Hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới trong thơ Mai Văn
Phấn
Chương 3 Phương thức xây dựng thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn
Phấn
Trang 14Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN
1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1.Thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật là khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong đời
sống và trong học thuật Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thế giới nghệ thuật là
“khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật Thế giới nghệ thuật nhấnmạnh rằng: sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo cácnguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý củacon người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có khônggian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng,quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng Như vậy, khái niệm thế giới nghệ
thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ
thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cátính sáng tạo của nghệ sĩ” [18; 303]
Lí luận văn học (tập 2, do Trần Đình Sử chủ biên), khẳng định: “Gọi bằng
thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời,vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sựkhúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có trong tác phẩm vàtrong tưởng tượng nghệ thuật…Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giớithẩm mỹ, thế giới tinh thần của con người” [68; 81] Và “Một thế giới nghệthuật nhất định với tư cách là hệ thống không chỉ đặc trưng cho tác phẩm đó, màcòn đặc trưng cho cả nhà văn nói chung…Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ
Trang 15thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tácgiả về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cáithế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật” [68; 83].
Theo Nguyễn Đăng Mạnh: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúngnghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theonhững nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tốphải có tính quy luật” [37, 78]
Tham khảo những định nghĩa trên, chúng tôi đi đến cách hiểu về khái
niệm thế giới nghệ thuật như sau:
Thế giới nghệ thuật là thế giới hình tượng được sáng tạo, xây dựng nêntrong tác phấm nghệ thuật theo những nguyên tắc tư tưởng – thẩm mĩ nhất địnhcủa người nghệ sĩ Đó là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, cảm tính, đượcxây cất bằng vật liệu ngôn từ và các phương thức, phượng tiện nghệ thuật đặcthù Là đứa con tinh thần của nghệ sỹ, thế giới nghệ thuật luôn hàm chứa và thểhiện quan niệm riêng của người nghệ sỹ về thế giới, con người và bản thân sựsáng tạo Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, phản ánhnhững biến chuyển tinh vi và phức tạp trong tư tưởng của người nghệ sĩ
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình (tiếng Pháp: poesie lyrique),
là thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình Trong đó, nhữngcảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượngđời sống được thể hiện một cách trực tiếp “Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ
và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơtrữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểuhiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những
Trang 16chính kiến, những tư tưởng triết học"[18 ; 317].
Lê Quang Hưng trong Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước
1945 cho rằng: “Thế giới nghệ thuật trong thi ca là thế giới được nghệ sỹ sáng
tạo ra bằng phương tiện ngôn từ Nó chưa từng tồn tại trong thế giới vật chất, vàmãi mãi không bao giờ có thể biến thành thực tại vật chất Nhưng nó lại mang
sự sống và tâm hồn chân thực của một người, một thế hệ, một thời Đó là bảnlĩnh hình tượng của thế giới nghệ thuật - thuộc về tinh thần Là sản phẩm sángtạo nghệ thuật của nhà thơ, thế giới nghệ thuật vừa phản ánh thế giới xungquanh được cảm thấy của chủ thể Nói theo ngôn ngữ của lý luận quen thuộc thì
nó vừa phản ánh “hiện thực”, vừa phản ánh “ý thức chủ quan” của người nghệsỹ” [24; 5]
Thơ trữ tình là sự bộc lộ cái chủ quan, là sự biểu hiện và cảm thụ của chủthể trữ tình trong một không gian, thời gian nhất định Vì thế, thế giới nghệthuật trong thơ trữ tình thể hiện rõ qua hai hình tượng: hình tượng cái tôi vàhình tượng thế giới Cái tôi là hình tượng trung tâm của thơ trữ tình, mang vẻđẹp độc đáo không lặp lại Hình tượng thế giới tồn tại trong thơ trữ tình với vaitrò là khách thể để chủ thể - cái tôi trữ tình thể hiện mình Tất nhiên, hình tượngthế giới (cũng như hình tượng cái tôi nói trên) thực chất đều là hình tượng nghệthuật, chúng được xây dựng, thể hiện theo những nguyên tắc thẩm mĩ riêng củanhà thơ
1.2 Mai Văn Phấn và các chặng đường thơ
1.2.1 Tiểu sử nhà thơ Mai Văn Phấn
Mai Văn Phấn nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến, một trong những gươngmặt xuất sắc của khuynh hướng cách tân thơ Việt đương đại Ông sinh năm
1955, tại Kim Sơn, Ninh Bình, hiện sống và làm việc tại thành phố Hải Phòng
Trang 17Hải Phòng - thành phố cảng, chính là nơi đã sinh ra nhiều tên tuổi tài năng như:Văn Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Bùi Ngọc Tấn, Thi Hoàng, ĐồngĐức Bốn, Đình Kính, Dư Thị Hoàn, Mai Văn Phấn Trong đó, Mai Văn Phấn làmột gương mặt tiêu biểu.
Mai Văn Phấn vốn là một học sinh giỏi văn của trường cấp 3 Kim Sơn, làngười yêu thơ văn và bắt đầu làm thơ từ những năm 16, 17 tuổi Đến năm 17tuổi (1972), ông đoạt giải nhì cuộc thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc Sau khitốt nghiệp phổ thông, Mai Văn Phấn lên đường nhập ngũ Năm 1981, trở về quê
và làm việc tại Công ty Thuỷ lợi II Ninh Bình Sau đó, học Đại học Ngoại ngữ
Hà Nội và được cử đi du học ở Liên Xô (cũ) Những năm tháng đi du học cộngvới tinh thần ham học hỏi, ông đã tiếp thu được tinh hoa nhiều nền văn hóa, vănhọc trên thế giới Đây là những kiến thức hết sức quan trọng làm nền tảng chohành trình sáng tạo của nhà thơ về sau
Để hiểu hơn về tác giả này, ta hãy tìm hiểu thêm về những yếu tố có tácđộng mạnh mẽ đến con người và hồn thơ ông
Thứ nhất, yếu tố gia đình Xuất thân trong gia đình theo đạo Thiên chúa
giáo nên từ nhỏ Mai Văn Phấn đã rất ngoan đạo Trong một lần tâm sự vớiHoàng Hiệp, nhà thơ từng nói: “Tôi sinh ra trong gia đình theo đạo Thiên Chúa
Từ nhỏ tôi rất ngoan đạo, thuộc kinh bổn và thông thạo Kinh Tân Ước và CựuƯớc, các sách thánh, mê hát thánh ca… Lúc ấy cha mẹ tôi rất muốn cho tôi vàonhà dòng để có thể đi tu lâu dài, nhưng khi nhận ra con ngựa hoang trong tâmhồn mình, thấy sự đam mê, run rẩy quá đỗi của mình với vẻ đẹp của thiên nhiên
và con người…Tôi đã từ chối Sau này khi du học ở Liên Xô cũ (1983-1984),tôi đã gặp vợ tôi bây giờ – một người theo Đạo Phật Tôi đã đến với Phật giáobằng tình yêu và cả sự chiều chuộng người tôi yêu nữa Khi nghiên cứu các giáo
Trang 18lý của các tôn giáo lớn trên thế giới, tôi nhận ra rằng: Thượng Đế chỉ có một.
Và, chắc chắn chúng ta được sinh ra và bị chi phối bởi một Đấng –Toàn - Năng.Đấng – Toàn - Năng cho con người biết được gần đúng khuôn mặt và tinh thầncủa Ngài thông qua các hình thức tôn giáo mà thôi” Qua lời tâm sự này, chúng
ta cũng phần nào thấy được ảnh hưởng của các tôn giáo và các nền văn hóa thếgiới trong thơ ông
Thứ hai, yếu tố quê hương Ông được sinh ra và lớn lên ở Ninh Bình, vùng
đất với nhiều truyền thống, nét đẹp văn hóa dân tộc Ninh Bình là vùng đất giaothoa giữa ba khu vực Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Đặcđiểm đó tạo nên một nền văn hóa tương đối năng động, mang đặc trưng khácbiệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng Vào thế kỉ X, Ninh Bình đượcxem là kinh đô, mảnh đất gắn liền với bao thăng trầm của lịch sử Đến thế kỉXVI – XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, hình thành trung tâmThiên Chúa Giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt tại Kim Sơn.Mảnh đất quê hương với chiều sâu truyền thống và đặc thù văn hóa ấy đã inđậm vào tâm khảm thi nhân, tạo nên những trang viết giàu nội lực và ám ảnh.Hiện tại, Mai Văn Phấn đang công tác và sinh sống tại thành phố Hải Phòng,nơi được xem là quê hương thứ hai của nhà thơ Hải Phòng là một trong cácthành phố lớn của Việt Nam, nơi có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh,quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước Là đầu mối giao thông vận tải với hệthống cảng biển, Hải Phòng là thành phố phát triển mạnh về kinh tế, cũng nhưđời sống, văn hóa …
Có thể thấy, yếu tố quê hương, gia đình đã ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽtới nhiều phương diện nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn Thơ ông thể hiện tiếng nóitri ân đối với quê nhà, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó với
Trang 19những gì bình dị của đất đai, làng mạc và khát vọng tìm kiếm, hướng về mộttiếng thơ lý tưởng "thuần Việt".
Thứ ba, yếu tố thời đại Thế kỉ XX, XXI với sự phát triển bùng nổ của
khoa học công nghệ, xã hội phát triển, tư duy của con người cũng đổi khác.Tương ứng với sự biến đổi của đời sống vật chất và đời sống tinh thần của conngười, thơ ca cũng đang có những thay đổi với nhiều hướng tìm tòi mạnh mẽ vàkhác biệt Nhận thức được điều này, nhà thơ tìm đến thơ ca để phản ánh hiệnthực theo cách riêng, nhằm hướng về những nét đẹp truyền thống thông qualăng kính của con người hiện đại
Mai Văn Phấn là con người thông minh, tài hoa – đó là điều không thểkhông nói khi bắt đầu về con người này
Ngay từ những năm đang còn ngồi trên ghế nhà trường, tinh thần ham họchỏi và tình yêu thơ văn đã trỗi dậy trong ông Ý chí, nghị lực và sự kiên trì tronghọc tập, sáng tạo đã giúp ông có một phông văn hóa rộng và giàu kinh nghiệmtrong cuộc sống Sau một thời gian dài tích lũy kiến thức, ông đã cho ra mắt bạnđọc hàng loạt ấn phẩm khẳng định sức sáng tạo dồi dào và tài năng nghệ thuậtcủa bản thân
Trong bài Mai Văn Phấn: hiện thân của sự sáng tạo, nhà văn Cao Năm đã
viết: ‘‘Mai Văn Phấn dường như sinh ra là để năng động và sáng tạo, sáng tạokhông ngừng, con người hiện thân của sự sáng tạo’’[46; 33] Ngoài tài hoa, đam
mê, tri thức, ông còn là người dũng cảm và giàu bản lĩnh trong sáng tạo Nhàvăn Đình Kính đã từng nói : ‘‘Anh làm thơ như nghệ sỹ tự tin đi trên sợi mảnh,bên dưới là vực sâu hiểm trở, nhưng vẫn luôn tự tin rằng mình sẽ đến đượcđích’’[46 ; 10] Mai Văn Phấn – con người luôn mạo hiểm để chinh phục đỉnhcao nghệ thuật Tự đổi mới và tự tái tạo không ngừng chính là phẩm chất nổi
Trang 20bật của ông trong sáng tạo
1.2.2 Các chặng đường thơ Mai Văn Phấn
Với sức sáng tạo dồi dào, Mai Văn Phấn đã xuất bản 11 tập thơ và trường
ca: Giọt nắng (thơ, 1992); Gọi xanh (thơ, 1995); Cầu nguyện ban mai (thơ, 1997); Nghi lễ nhận tên (thơ, 1999); Người cùng thời (trường ca, 1999); Vách
nước (thơ, 2003); Hôm sau (thơ, 2009); Và đột nhiên gió thổi (thơ, 2009); Bầu trời không mái che (thơ, 2010); Hoa giấu mặt (thơ, 2011); Vừa sinh ra ở đó
(thơ, 2013) …Và, ông cũng gặt hái được nhiều giải thưởng : Giải thưởng cuộc
thi thơ tuần báo Người Hà Nội (1994), giải thưởng cuộc thi thơ tuần báo Văn
Nghệ (1995), giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng) các năm
1991, 1993, 1994, 1995 và giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 cho
tập thơ Bầu trời không mái che.
Với sức sáng tạo dồi dào, tư duy sáng tạo không ngừng đổi mới, thơ MaiVăn Phấn không chỉ được bạn bè trong nước quan tâm mà còn được đông đảobạn đọc thế giới đón nhận Ngày 19 tháng 6 năm 2014, ba tập thơ song ngữ củanhà thơ đất cảng Hải Phòng lọt vào top 10 tập thơ Châu Á bán chạy nhất trên
mạng AmaZon Đó là hai tập thơ song ngữ Việt – Anh : Ra vườn chùa xem cắt
cỏ (Grass cutting in a temple garden), Những hạt giống của đêm và ngày (Seeds
of night and day) và tập thơ song Việt – Pháp : Bầu trời không mái che (A ciel
ouvert)
1.2.2.1 Từ trước 1995
Với những sáng tác đầu tay, Mai Văn Phấn đã có ý thức muốn khác vàkhác so với chính ông và với người khác Nhà phê bình văn học Phạm XuânNguyên nhận xét: “Vẫn trong cái vẻ lục bát nhịp nhàng muốn thành cổ điển,
người thơ đặt vào đấy một sự cân xứng trầm tĩnh khá là lạ nếu ta biết khi anh
Trang 21xuất hiện đang ở tuổi trẻ Câu thơ sáu tám trong cái sự chừng mực của khuônhình nhưng chữ dùng và nhịp thơ của người viết đã chất chứa một sự thăm dò
để bung phá” [46; 8]
Giai đoạn này có 2 tập thơ: Giọt nắng (thơ, 1992); Gọi xanh (thơ, 1995).
Với những tác phẩm này, tên tuổi Mai Văn Phấn bước đầu được khẳng định qua
các giải thưởng: Giải nhất văn nghệ thành phố Hải Phòng với bài thơ Thuốc
đắng (1991), Giải nhì (không có giải nhất) của hai tờ báo: năm 1994 của báo Người Hà Nội với bài Nghi Tàm ; năm 1995 của báo Văn nghệ với chùm hai bài Mười nén nhang ở ngã ba Đồng Lộc và Nhật ký đô thị hóa.
Trong giai đoạn này thơ Mai Văn Phấn thường hướng về những chủ đềthiên nhiên, tình yêu lứa đôi, tình cảm quê hương, gia đình …, những chủ đề cótính truyền thống Những tác phẩm tiêu biểu của ông thời kì này có thể kể đến
Thuốc đắng, Mười nén nhang ngã ba Đồng Lộc, Em gái đi lấy chồng, Kinh cầu ban mai, Nhật kí đô thị Ở đó, hiện thực đời sống hiện lên với những đường nét
quen thuộc và giản dị: Đưa dâu qua chiếc cầu tre/ lòng anh chạm lá chua me
chạnh buồn (Em gái đi lấy chồng)
Ngoài thơ lục bát, giai đoạn này Mai Văn Phấn còn sử dụng thể thơ tự do
và thơ văn xuôi Với hình thức tự do, phóng khoáng, thơ văn xuôi của ông đưa
đến những cảm nhận mới về thế giới: Mùa thu mang theo trận mưa giục chiếc
lá chớm vàng rụng vội Em dọn lại căn nhà, còn anh mang chài lưới ra khơi
(Ký sự mùa thu) Và, ở đó nhà thơ thể hiện khát vọng tìm tòi, dâng hiến: Tôi
thổi vào lòng ống sáo tối đen địa ngục, để tìm ra bảy lối tới thiên đường: đồ rê
mi fa son la si” (Viết cho cây sáo).
Nhìn chung, thơ Mai Văn Phấn giai đoạn trước 1995 xét về mặt thi pháp
đã có nỗ lực tìm tòi nhưng vẫn chưa đi xa hơn hệ hình thi pháp truyền thống
Trang 221.2.2.2 Từ 1995 đến 2000
Từ 1995 đến 2000, Mai Văn Phấn cho ra đời ba tập thơ: Cầu nguyện ban
mai (1997), Nghi lễ nhận tên (1999) và trường ca Người cùng thời (1999) Nhà
thơ bước đầu làm một cuộc lột xác về nội dung, tư tưởng cũng như hình thức thểhiện Về cảm hứng cũng như thi pháp thơ giai đoạn này đã có nhiều điểm kháctrước Nếu giai đoạn trước, thi sỹ chủ yếu mới chỉ dừng lại ở cái hiện thực cảmxúc bề mặt, dễ nhận biết của đời sống thì giai đoạn này, nhà thơ chủ trươnghướng về nhận thức chiều sâu nhân sinh Do đó, hiện thực được khắc họa với
những nét gai góc, phức tạp: Lẽ phải vùi chôn trong đơn thư mặc danh/ Đồng
tiền lật ngược trang hồ sơ khởi tố/ Có mặt quỷ sau mặt người lấp ló/ Quỷ thì run
mà người thì buồn Cuộc sống hiện đại đang dần đổi thay: Sủi bọt Rạn nổ Vụn nát/ Hơi nóng bốc cao ngùn ngụt giữa trời/ Nỗi khắc khoải không còn có ý nghĩa/ Sự đổi thay vượt quá sức mình (Từ hạt mưa); Dấu chân không nhận ra nhau vô cảm trơn lỳ/ Cả dòng sông trúng độc từng dìm ta xuống đôi bờ/ cỏ nát
(Khúc dạo đầu) Ở đó, ý thức cá nhân và tinh thần trách nhiệm cộng đồng hòa
nhập làm một: Ta cúi xuống cuống cuồng thổi lửa/ Nhận ra mình là hòn than
cháy dở đêm qua Ở đó, xuất hiện những nỗi đau mới và những niềm hy vọng
mới: Từ tưởng tượng/ và niềm hy vọng/ Tôi rút những mũi tên/ Ra đi tìm đích
cho ngày mai (Mũi tên bóng tối).
Về mặt thi pháp, nhà thơ Lê Xuân Đố khẳng định thơ Mai Văn Phấn giaiđoạn này “bứt phá cách tân thi pháp với nhiều cách nói và mở rộng biên độ thơbiểu hiện nhiều vấn đề của thời cuộc, bản tính con người hiện đại và phát hiệnnhững nét đẹp tiềm ẩn của tình yêu, đời sống” [46; 283] Cùng với ý thức cáchtân thi pháp, Mai Văn Phấn khát khao nhận thức hiện thực ở “bề sâu, bề sau, bềxa” của nó Mang đậm dấu ấn hiện đại chủ nghĩa, thơ ông giờ đây có khi chỉ là
Trang 23những “Dàn ý” hay “Bài tập mùa xuân”, hoặc những ý tưởng bất chợt “đến
trong ý nghĩ” Những câu chữ bề bộn, phá vỡ ranh giới thơ và văn xuôi, không
hề có dấu câu, miên man như “những ý nghĩa không sắp đặt”, “không quán
tính”, “đảo lộn mọi quy ước phổ thông” Điều này được chứng minh qua các bài
thơ tiêu biểu như: Mười bài tập mùa xuân, Mail cho em, Những ý nghĩ không
sắp đặt, Dừng lại, Di chứng, Niệm khúc số 18…
Trong những tổ chức ngôn từ tưởng chừng như phi logic, nhà thơ đangđến gần hơn với tiếng nói của trực giác, vô thức, tâm linh Vì thế, Văn Giá đãkhẳng định: “Chặng thứ 2 là cả một nỗ lực bứt phá: giờ đây không trọng tự tìnhnữa, mà trọng xác lập ý; hình ảnh hóa, cảm xúc hóa ý Ở chặng này cũng đãxuất hiện chất ảo như là sự manh nha, để rồi phát huy rõ rệt ở chặng 3” [45;539]
1.2.2.3 Từ 2000 đến nay
Từ 2000 đến nay, Mai Văn Phấn cho ra đời hàng loạt tập thơ: Vách nước (2003), Hôm sau (2009), Và đột nhiên gió thổi (2009), Bầu trời không mái che (2010), Vừa sinh ra ở đó (2013) ; thể hiện sức sáng tạo dồi dào của nhà thơ.
Đây được đánh giá là giai đoạn nở rộ tài năng của thi sỹ
Thi pháp thơ Mai Văn Phấn tiếp tục cách tân với những hình ảnh, liêntưởng, ngôn từ lạ Thay cho cái nhìn mang tính “nhất phiến” trước đây là mộtcái nhìn “phân mảnh” đầy hoang mang, “sản phẩm” của một thời đại đầy bất an
và biến động Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ, Không thể tin, Quay theo mái
nhà, Anh tôi, Đúng vậy, Chỉ là giấc mơ, Còn cậu hãy đứng đằng kia… phản
chiếu một cái nhìn nghịch dị, hài hước, không kém phần tỉnh táo về một thế giới
bị xô lệch, con người bị biến dạng, trở nên méo mó, không khác gì những sản
phẩm “chế tác từ đồ phế thải”
Trang 24Giai đoạn này, nhà thơ tiếp tục dung nạp những thủ pháp, kĩ thuật viếtmới, phức tạp theo hướng hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại chủ nghĩa Song
bên cạnh đó, tư tưởng và nỗ lực hướng đến một lối viết “tự nhiên/ như đi trên
đất”, giản dị, “thuần Việt”, ngày càng hiển lộ rõ nét trong Những bông hoa mùa thu, Cửa mẫu, Hình đám cỏ…, và gần đây nhất là những tác phẩm trong tập Vừa sinh ra ở đó
1.3 Cơ sở hình thành nên thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn
1.3.1 Về thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn
Mai Văn Phấn trong một tiểu luận đã viết: “Thơ ca đang chuyển độngtrong một thế giới đa chiều, đa cực Trách nhiệm của mỗi nhà thơ phải khámphá cho được không gian nghệ thuật của chính mình, nếu thực sự muốn tồn tạitrong không gian mới của thời đại” [55; 275] Với ý thức sáng tạo mạnh mẽ, độcđáo, Mai Văn Phấn đã sớm nỗ lực xây dựng một thế giới nghệ thuật riêng chomình
Thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn được xây dựng bởi nhiều yếutố: nhân vật, không gian, thời gian, ngôn từ, thể loại, giọng điệu, âm thanh vàmàu sắc…Nhưng do phạm vi đề tài, chúng tôi tập trung làm rõ hình tượng cáitôi, hình tượng thế giới và những phương thức nghệ thuật xây dựng thế giớihình tượng trên
Hình tượng cái tôi là nhân vật trung tâm của tác phẩm mang vẻ đẹp độcđáo, không lặp lại Hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn được thể hiện ởcác phương diện: Cái tôi giàu khát vọng và năng lượng cách tân thi ca; cái tôithống nhất giữa lý tính tỉnh táo và trực giác nhạy bén; cái tôi nồng nàn, say đắmtrong tình yêu và cái tôi khao khát hướng tới một thế giới tinh thần "thuần Việt".Hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn luôn vận động hướng về phía trước
Trang 25để mang lại cho người đọc những cảm giác mới lạ, không lặp lại Hình tượngthế giới chính là sự khúc xạ hiện thực qua lăng kính chủ quan của nhà thơ Hìnhtượng thế giới trong thơ Mai Văn Phấn được thể hiện qua các phương diện cơbản: Một thế giới của sự viên mãn và thuần khiết; một thế giới của sự tươnggiao, hài hòa và một thế giới của cảm giác siêu nghiệm Để xây dựng hìnhtượng cái tôi và hình tượng thế giới, Mai Văn Phấn đã sử dụng khá đa dạng vàlinh hoạt các phương thức, phương tiện nghệ thuật Tiêu biểu là cách tổ chứcvăn bản, cách sử dụng hình ảnh, biểu tượng và bút pháp tạo hình độc đáo
Có thể thấy, thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn biến đổi đa dạng,phong phú song vẫn nhất quán ở tinh thần vận động về cái mới, mở ra một chântrời tiếp nhận rộng rãi cho độc giả
1.3.2 Những cơ sở hình thành nên thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn
1.3.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam sau 1975
Văn học là tấm gương phản ánh hiện thực qua các giai đoạn, thời kì Cácgiai đoạn phát triển của nền văn học nước nhà thường gắn liền với mốc pháttriển của lịch sử dân tộc Văn học và lịch sử dân tộc có mối quan hệ khăng khítvới nhau Trải qua bao thăng trầm dân tộc, đất nước ta ngày càng đi lên và cùngvới sự phát triển của dân tộc là sự phát triển trong tư duy của con người
Năm 1975, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là mộtbước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiếntranh giải phóng và bảo vệ tổ quốc, chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đếquốc, thực dân hơn một thế kỷ trên đất nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân, thống nhất đất nước và đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức: chiến tranh vẫn
Trang 26tiếp tục (chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam); cơ chế quản lý quan liêubao cấp với nhiều di hại nặng nề, chính sách cấm vận của Mỹ Thời hậu chiếnvới những khó khăn chồng chất buộc thơ ca không thể tiếp tục nhãn quan, cảmhứng và giọng điệu sử thi như trước nữa
Năm 1986, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một trangmới cho lịch sử đất nước nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng Công cuộcđổi mới không chỉ làm thay đổi diện mạo đất nước trên bình diện kinh tế, chínhtrị, xã hội mà còn làm thay đổi một cách sâu sắc và tác động trực tiếp đến đờisống văn hóa xã hội, trong đó văn học nghệ thuật cũng không nằm ngoài guồngquay đó
Sự nghiệp đổi mới đưa nước ta phát triển hòa nhập với xu thế chung củathế giới Công nghiệp hóa, hiên đại hóa đã làm thay đổi tận gốc nền sản xuất,kiến tạo lại hạ tầng cơ sở xã hội Kinh tế thị trường đã tác động nhiều mặt tớiđời sống người dân cũng như tới hoạt động sáng tạo nghệ thuật Cũng với điều
đó, xu hướng toàn cầu hóa kéo theo những thay đổi to lớn trên mọi lĩnh vực đờisống Việt Nam từ một nền văn hóa mang đậm tính cộng đồng, làng quê đangchuyển mình thành một nền văn hóa dân tộc – hiện đại Nền văn hóa đó khôngnhững đề cao những giá trị truyền thống, những giá trị cộng đồng mà còn đánhthức tiềm năng sáng tạo kỳ diệu của con người, thúc đẩy xã hội đi lên trên cơ sởhình thành ý thức cá nhân hiện đại
Như vậy, hoàn cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam sau 1975 thay đổi dẫn đếnnhững chuyển biến về mặt tâm lý, lối sống của con người Sự chuyển biến vềtâm lý, lối sống đã dẫn đến sự thay đổi cách nhìn, quan điểm thẩm mỹ của cácnhà thơ và đây là điều kiện cho sự xuất hiện thế hệ nhà thơ đổi mới với nhữngcách tân thi pháp
Trang 27Trước hết là sự thay đổi trong quan niệm thẩm mĩ về con người và đờisống Nếu văn học Cách mạng trước 1975 thường phản ánh hình tượng conngười lớn lao, kì vĩ, đại diện cho sức mạnh và vẻ đẹp cộng đồng, dân tộc thì thơsau 1975 thường hướng về con người với những lo toan thường nhật trong cuộcsống, ở đó, ý thức cái tôi cá nhân được khẳng định mạnh mẽ Thơ hướng vềhiện thực với những bề bộn, phức tạp như nó vốn có Đồng thời, thơ cũng đi sâuvào thế giới bên trong tâm hồn con người Cùng với xu hướng đưa thơ về gầnvới hơi thở của đời sống là xu hướng đi sâu vào vùng vô thức của con người,gia tăng “chất ảo” trong thơ buộc người đọc phải giải mã các tín hiệu nghệ thuậtqua nhiều chiều liên tưởng khác nhau.
Quan niệm về bản chất thơ ca cũng đã có những thay đổi Nếu trong vănhọc trung đại, thi sỹ dùng thơ ca để tải đạo, giáo huấn thì đến thơ ca hiện đại,nhiệm vụ thơ ca đã có sự thay đổi Ngoài chức năng xã hội, chức năng giáo dục,thơ ca còn đề cao chức năng thẩm mĩ Với quan niệm này, đề tài, chủ đề thơ sau
1975 trở nên phong phú và đa dạng hơn Quan niệm tư tưởng sáng tạo thay đổi,tất yếu kéo theo sự thay đổi về hình thức, ngôn ngữ, bút pháp tạo hình… Nhiềunhà thơ mạnh dạn vận dụng các kỹ thuật viết hiện đại, tiếp thu các khuynhhướng văn học trên thế giới, tạo nên những cách tân mang tính đột phá trong thipháp thơ
1.3.2.2 Sự xuất hiện của thế hệ nhà thơ đổi mới
Lực lượng chủ đạo của nền thơ đương đại Việt Nam là thế hệ nhà thơ đổimới Thực ra, “thế hệ nhà thơ đổi mới” là một thuật ngữ có tính quy ước, nhằmchỉ thế hệ nhà thơ cầm bút sau 1975 và thành danh sau 1986, theo xu hướng đổimới và cách tân thi pháp Với ý nghĩa đó, “thế hệ đổi mới” thực chất bao gồmnhiều thế hệ cầm bút nối tiếp nhau Có thế hệ cầm bút trước 1975, nhưng chỉ
Trang 28thực sự gây ấn tượng và được độc giả rộng rãi biết đến sau 1986 như nhóm tácgiả “dòng chữ”: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Đặng Đình Hưng, DươngTường, Có những tác giả cầm bút và thành danh từ thời chống Mỹ song vẫntiếp tục có những đóng góp quan trọng cho thơ sau 1975 như Thanh Thảo,Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Thi Hoàng, Hoàng Hưng Có thế hệviết sau 1975 và thành danh sau 1986, còn gọi “thế hệ hậu chiến” như NguyễnQuang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Mai Văn Phấn, NguyễnBình Phương, Irasara Nối tiếp thế hệ trên là sự ra đời thế hệ nhà thơ trẻ nhưNguyễn Quyến, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh,Nguyễn Vĩnh Tiến, Ly Hoàng Ly, Trần Nguyễn Anh, Văn Cầm, Nguyễn Thị TừHuy,…
Họ là một thế hệ sáng tạo sung sức và khao khát cách tân, làm mới thơ cadựa trên những nền tảng dân tộc Họ mong muốn được giải phóng khỏi nhữngquan niệm hẹp hòi, khô cứng, để không còn quá băn khoăn tôi hay ta, hiện thựchay không hiện thực Họ mải mê ghi lại những chấn động đột ngột từ tâm hồn,đắm mình trong dòng chảy của cảm xúc, cứ như thế, càng trọn vẹn bao nhiêu,hoàn hảo bao nhiêu càng thơ bấy nhiêu Họ khao khát làm mới thơ từ nội dungđến hình thức thể hiện Họ cất lên tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt, nhiều khi gâysốc
Tóm lại, sự xuất hiện thế hệ các nhà thơ đổi mới với những cách tân thipháp đã đưa thơ ca đương đại Việt Nam bước sang một trang mới Họ dám chấpnhận thử thách, dám chối bỏ sự hoà lẫn đơn điệu vào dòng thơ truyền thống vớinhững bạn đọc quen thuộc và những nhà phê bình quen thuộc để phiêu lưu vàonhững con đường sáng tạo mới nhằm đưa lại diện mạo mới cho thơ Việt đương
Trang 29đại Sau đây là một số gương mặt nổi bật trong thế hệ nhà thơ sau 1975 – “thế hệhậu chiến”
* Nguyễn Lương Ngọc (1858 – 2001): Ông quê ở Ba Vì, Hà Nội Sau khi
tốt nghiệp kĩ sư cơ điện, năm 1981 nhà thơ về công tác tại công trường thủy điệnsông Đà, bắt đầu sáng tác thơ Sau đó, ông theo học trường viết văn Nguyễn Durồi làm báo ở Hà Nội Nhà thơ qua đời ở cái tuổi mà thơ ca còn độ sung sức nhất,
để lại bao dự định ngổn ngang về thơ, về đời Nhà thơ Dương Kiều Minh đãnhận định: “Anh để lại cuộc cách tân thơ ca đầy hứa hẹn với triển vọng của mộtsức bật mãnh liệt và vạm vỡ, đã gây nên sự chấn động trong giới văn chương và
bạn bè” Các tập thơ tiêu biểu của ông gồm: Từ nước 1990, Ngày sinh lại
-1991, Lời trong lời – 1994
* Dương Kiều Minh (1960 – 2012): Nhà thơ Dương Kiều Minh quê huyện
Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc Từ 1980-1991, ông công tác tại Tổng công ty xâydựng Sông Đà - Hòa Bình Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khóa III(1986-1989) Từ năm 1991 đến nay, ông công tác tại Sở Văn hóa thông tin, Hộivăn học nghệ thuật Hà Tây (cũ), Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, phóchủ tịch thường trực Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội, Tổng biên tập tạp chí
Văn nghệ Thủ đô Ông để lại 7 tập thơ (Củi lửa - 1989, Dâng mẹ - 1990, Những
thời đại thanh xuân -1991, Ngày xuống núi - 1995; Tựa cửa - 2001; Tôi ngắm mãi những ngày thu tận - 2008; với một số tập bản thảo sau này in trong Tuyển thơ Dương Kiều Minh (2011), 2 tập tiểu luận và một số tùy đàm văn chương.
* Nguyễn Bình Phương: Sinh năm 1965, quê ở Thái Nguyên Nguyễn
Bình Phương là gương mặt thơ xuất hiện vào nửa đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XXcùng một lúc với nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc Gắn bó với quân ngũ và sớm bén
Trang 30duyên với văn chương, Nguyễn Bình Phương bắt đầu cho ra mắt những tác phẩm
ấn tượng của mình từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước Ở thời điểm đó, ôngbắt nhịp hết sức nhanh chóng với không khí sáng tạo ở Trường Viết văn Nguyễn
Du, với những tên tuổi như Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, GiángVân…nhưng vẫn rất đậm đà tố chất độc đáo của mình Gia tài thơ ca của
Nguyễn Bình Phương gồm: Lam chướng (1994), Xa thân (1997), Từ chết sang
trời biếc (2001) và tập thơ mới nhất, Buổi câu hờ hững (2011)
* Nguyễn Quang Thiều: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều sinh ngày
13/2/1957 tại Làng Chùa, Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội) Bắt đầu viết văn từ
năm 1983, ông đoạt giải thưởng Hội Nhà văn 1993 cho tập thơ Sự mất ngủ của
lửa Cho đến nay, Nguyễn Quang Thiều đã xuất bản 10 tập thơ và tuyển chọn
trong số đó để in thành tuyển thơ lần thứ nhất Châu thổ (NXB Hội nhà văn,
2011) Ông là một trong những gương mặt cách tân nổi bật của thế hệ thơ Đổi
mới Tập thơ Châu thổ được tuyển từ 6 tập thơ đã xuất bản của Nguyễn Quang Thiều: Ngôi nhà 17 tuổi (1990), Sự mất ngủ của lửa (1997), Những người đàn
bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu Châu thổ mới (1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Cây Ánh Sáng (2009).
* Inrasara: Inrasara - nhà thơ dân tộc Chăm, hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, tên thật là Phú Trạm, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1957 tại làng Chakleng,huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Ông là nhà thơ, đồng thời là nhà lí luận -phê bình, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, nhưng ông thành công hơn ở lĩnh vựcthơ ca Inrasara đã được trao giải thưởng ASEAN 2005 (giải thưởng dành chonhững người có đóng góp về văn hoá và văn học của các nhà văn trong khu vực
châu Á) Ông là tác giả của 5 tập thơ nổi tiếng: Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây
Trang 31xương rồng (1997), Hành hương em(1999), Lễ tẩy trần tháng Tư (1996), Chuyện
40 năm mới kể
1.3.2.3 Quan niệm sáng tạo của tác giả
Sáng tạo luôn là nhu cầu của người nghệ sỹ Trần Thiện Khanh, một nhàphê bình trẻ viết: “Về phương diện lý thuyết, có bao nhiêu người sáng tạo thì cóbấy nhiêu quan niệm về thi ca Suy cho cùng, mọi quan niệm đều minh chứngcho các cấp độ tư duy, các trình độ nhận thức rất khác nhau của người cầm bút
về văn học” [46; 507]
Mai Văn Phấn là một trong những nhà thơ có quan niệm sáng tạo rất nhấtquán và mang tinh thần đổi mới mạnh mẽ Quan niệm này được ông thể hiệntheo nhiều cách, hoặc trực tiếp qua các tiểu luận văn học và các bài trả lờiphỏng vấn, hoặc gián tiếp qua các sáng tác thi ca Sau đây là những khái lượcquan niệm về thơ và nhà thơ của Mai Văn Phấn
* Quan niệm của Mai Văn Phấn về thơ
Với Mai Văn Phấn, hành trình sáng tạo nghệ thuật là hành trình gian khổ,đơn độc để đi tìm cái đẹp, và “dù viết theo bất kỳ khuynh hướng nào, thơ caluôn mang vẻ đẹp nguyên khởi, nhằm phục sinh, tái tạo thế giới, mãi đối lập vớicái xấu và gian tà Thơ ca là ánh sáng đẩy lùi bóng tối, là nước mát làm xanhtươi mặt đất, là vị thuốc chữa lành những vết thương tâm hồn, đánh thức thiênlương con người để họ không rơi vào vũng lầy tha hóa, sống nhân hậu thânthiện hơn” [59; 1] Với tác giả này, thơ ca là CÁI ĐẸP, nơi con người hướngđến để thể hiện, để thanh lọc tâm hồn và hoàn thiện nhân cách của mình Thơ cađược ví như là dưỡng chất để nuôi lớn tâm hồn con người, là vị thuốc để chữalành mọi vết thương lòng, là vị thánh cứu rỗi con người và thế giới Thơ ca
Trang 32mang trong mình vẻ đẹp quyền năng lớn lao
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận xét: "Thơ ca, đối với Mai Văn Phấn,
là cách thức huyền diệu nhất để đặt đời sống lên con đường vĩnh cửu của nó,( ) là sự xác lập anh với thiên nhiên, với xã hội, với những giấc mơ huyền diệu
và đỉnh cao của nó là xác lập con người trần tục của nhà thơ và con người sáng
tạo của anh ta” [71; 15] Quả đúng vậy! Với Mai Văn Phấn, “Thơ ca ngoài mục
đích tải đạo, tuyên truyền, mô phỏng, diễn tả nó còn tìm cách đặt tên lại sựvật, định hình lại thế giới” [55; 454] Hết sức đề cao việc đổi mới và cách tân thipháp thơ, ông viết: “Thơ ca càng ảo bao nhiêu càng đem lại sự chân thật bấynhiêu , hiện thực trong thơ được hiện hữu trong một “mặt phẳng cong” Nhàthơ khi viết không nên bận tâm viết cho ai mà chỉ nghe trái tim mình run rẩy vớicảm xúc chân thành theo một quan niệm riêng” [55; 400]
Chúng ta đang sống trong xã hội phát triển, ở đó, sự cách biệt giữa các dântộc, giữa con người với con người ngày càng xa Ý thức đươc điều này, thi sỹkhẳng định: “Thơ ca là cầu nối, là bàn tay chân thành, giọng nói ấm áp để chúng
ta tìm đến nhau, cảm thông, thấu hiểu nhau hơn Nhờ có thơ ca, chúng ta đượcchiêm ngưỡng vẻ đẹp linh diệu, bí ẩn cũng như thấy được sức mạnh tinh thầnhiển linh và tiềm ẩn của dân tộc ấy Chúng ta tựa vào thơ ca để ngày thêm hoànthiện, thay đổi, lớn lên và bình đẳng giữa các dân tộc trên trái đất” [59; 1].Ôngcũng nhấn mạnh: “Quan niệm mỗi nền thơ chỉ có giá trị trong ngôn ngữ mẹ đẻ
là phiến diện và nghèo nàn, không thể tồn tại lâu khi những cuộc giao thương,
di dân, hội nhập trong lịch sử đã mang đến cho thơ những quan niêm mới”[59;1]
* Quan niệm của Mai Văn Phấn về nhà thơ
Trang 33Người làm nghệ thuật luôn mang trong mình khát vọng sáng tạo nhưngmỗi nghệ sỹ lại có những quan niệm sáng tạo riêng Với Mai Văn Phấn, sángtạo là quá trình sản sinh những nhân tố mới, không mô phỏng hay phát triểnnhững giá trị đã định hình mà tạo sự khác hẳn, biệt lập (đôi khi là đối lập) vớicái đã định giá Quá trình sáng tạo nghệ thuật là một cuộc “vong thân”, là quátrình phủ định bản ngã: “Với mỗi người làm thơ, điều quan trọng là biết lạnhlùng với chính bản thân mình, dũng cảm nhìn lại một cách trung thực và chínhxác, biết mình là quầy hàng khô hay anh chữa chìa khóa trong một cái chợ” [55;399] Mỗi nhà thơ phải biết tự phủ định mình, tức là phải coi cái mà mình vừaviết ra là cái đã cũ thì mới mong đạt đến thành công đỉnh cao trong nghệ thuật.Ông cho rằng, bài thơ mà nhà thơ viết ra không còn thuộc về anh ta nữa màthuộc về độc giả Nhà thơ muốn tiếp tục tồn tại phải được tái sinh trong một bàithơ khác đang chờ đợi phía chân trời vì "mỗi bài thơ viết xong hầu như tồn tạiđộc lập với người làm ra nó, sự "lưu luyến" hay không xin dành cho người đọc
và thử thách khắc nghiệp với thời gian Tôi không có thói quen chiêm bái nhữngcon đường cũ của mình, không "quay vái lạy chiếc áo vừa treo lên giá" [55;430] Sáng tạo luôn đồng hành với việc không ngừng nghỉ trong sáng tác, mỗiđứa con tinh thần ra đời tồn tại độc lập với những sản phẩm sau đó, “tôi đượcbài thơ dạy lại mình cách viết” [55; 441]
Xã hội ngày càng thay đổi, phát triển kéo theo quan niệm, thị hiếu thẩm
mỹ của con người cũng thay đổi, điều đó đòi hỏi nhà thơ luôn có ý thức tìm tòi
và đổi mới: “Trách nhiệm của mỗi nhà thơ phải khám phá cho được không giannghệ thuật của chính mình, nếu thực sự muốn tồn tại trong không gian mới củathời đại” [55; 375], và, “Thật kinh hãi khi phải ngắm nhìn một nghệ sỹ cứ đứngmãi một chỗ mà biểu diễn quá nhiều lần một tiết mục tới gần như vô cảm, nói
Trang 34cách khác là thương hại những ai thâm canh triền miên trên mảnh đất đã cằncỗi” [55; 399].
Xuất phát từ những quan niệm nói trên, Mai Văn Phấn quyết liệt đặt ravấn đề đổi mới thi pháp thơ: “Đổi mới thi pháp trước hết là từ chối ve vuốtnhững sở thích của người đọc, nhằm tạo những sóng từ khác, những mã số kháctrong không gian thơ vừa được khám phá Lý tưởng thi ca của sự cách tân nhằmgọi đúng bản chất của sự vật trong nhịp điệu đời sống hiện đại” [55; 378] Nhàthơ nếu chỉ để tâm ve vuốt sở thích của đám đông thì sẽ làm nghèo đi sự phongphú của khu vườn thi ca sinh động Mọi người cầm bút đều mong muốn đượcnhiều bạn đọc chia sẻ, nhưng đây không phải là cứu cánh của những thi sỹ chânchính Mai Văn Phấn cho rằng: “Đổi mới thi pháp trước hết nhằm chống lại sựthoái hóa, trơ mòn thẩm mỹ của người đọc, tạo những không gian thơ đa dạng,thiết lập hệ quy chiếu mới trong cách tiếp cận tác phẩm Sáng tạo là quá trìnhsản sinh những nhân tố mới, không mô phỏng hay phát triển những giá trị đãđịnh hình, mà tạo sự khác hẳn, biệt lập (đôi khi đối lập) với cái đã được địnhgiá” [55; 423], và phù hợp “lối tư duy phổ quát, mạch lạc, tốc độ họ luôn khaokhát những giá trị mới lạ phù hợp với đời sống hiện đại của độc giả” [55; 423] Tuy nhiên, với Mai Văn Phấn, sáng tạo, cách tân không đồng nghĩa vớiviệc cắt đứt với thơ ca truyền thống Cách tân là tiếp thu cái truyền thống đồngthời làm mới để tạo nên nét hiện đại cho truyền thống Mai Văn Phấn là ngườiđọc nhiều và rất am hiểu về các xu hướng, trường phái thơ phương Tây hiện đại,nhưng ông quan niệm học hỏi và sáng tạo chứ không phải bắt chước máy móc.Sáng tạo luôn đòi hỏi tài năng và bản lĩnh Chính vì thế, trong một bài thơ của
mình, ông viết: Anh là con cá miệng dàn dụa trăng/ Rời bỏ bầy đàn quẫy vào
Trang 35biển động (Ngậm em trong miệng) Là người hành nghề sáng tạo, nhà thơ phải
biết dũng cảm rời bỏ bầy đàn và chính mình
Từ những phân tích trên ta thấy, Mai Văn Phấn nhà thơ luôn có ý thứcquyết liệt đổi mới mình, đổi mới thi ca Quan niệm sáng tạo ấy đã phần nào chothấy bản lĩnh, phẩm chất của thi sỹ Đây cũng chính là một cơ sở quan trọng hìnhthành nên thế giới nghệ thuật thơ khác biệt, độc đáo của Mai Văn Phấn: “Thơ tôi
là ngôi nhà của riêng tôi, ai muốn vào xin hãy gõ cửa và tuân theo những nghithức nhất định” [55, 447 - 448] Tất nhiên, từ những quan niệm đến thực tế sángtác nhiều khi là cả một khoảng cách đầy thử thách đối người nghệ sỹ sáng tạo
Trang 36Chương 2
HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI VÀ HÌNH TƯỢNG THẾ GIỚI
TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN
Thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn là một chỉnh thể thống nhất baogồm các thành tố cấu trúc và quy luật vận động nội tại, thể hiện quá trình cái tôinhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng, sáng tạo Từ góc độthi pháp, luận văn chúng tôi tập trung tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Mai VănPhấn ở hai phương diện: hình tượng cái tôi và hình tượng thế giới
2.1 Hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn
Cái tôi là biểu hiện của ý thức về con người cá nhân, là sự tự nhận thức
của con người về tư cách, nhân phẩm hoặc giá trị của chính mình trong xã hội
Mỗi nhà thơ khi sáng tạo đều thể hiện sự nhận thức của bản thân về cuộcsống hiện thực và nhu cầu bộc lộ cảm xúc của cá nhân giữa cuộc đời Hìnhtượng cái tôi được xây dựng khi nhà thơ tự ý thức đầy đủ về cá tính năng lựcsáng tạo và con đường nghệ thuật của mình Có thể, tìm hiểu hình tượng cái tôi
ở nhiều cấp độ: bài thơ, tập thơ, nhà thơ, thời đại Tuy nhiên trong phạm vi củaluận văn, chúng tôi nghiên cứu hình tượng cái tôi ở cấp độ nhà thơ thể hiện quacác sáng tác cụ thể Ở cấp độ này, hình tượng cái tôi là một kiểu nhân vật trongtác phẩm văn học Nó là kết quả của sự khái quát hiện thực, thể hiện cái nhìncủa tác giả và gợi lên ở người đọc quan niệm, nhận thức sinh động về con người
Trang 37- Cái tôi say đắm, nồng nàn trong tình yêu
- Cái tôi thống nhất giữa lí tính tỉnh táo và trực giác nhạy bén
- Cái tôi khao khát hướng tới một thế giới tinh thần lý tưởng “thuần Việt”
2.1.1 Cái tôi giàu khát vọng và năng lượng cách tân thi ca
Với Mai Văn Phấn, cách tân thơ là điều tất yếu trong quy luật vận động thi
ca, cũng là khát vọng tự thân mãnh liệt của người nghệ sỹ này Điều đó đượcchứng minh qua hành trình sáng tạo của ông Mỗi tập thơ ra đời là kết quả củamột ý thức tìm tòi, cách tân mạnh mẽ, để không lặp lại người khác và quantrọng hơn là không lặp lại chính mình Hành trình ấy cho thấy nhà thơ khôngngừng học hỏi, tiếp thu, thể nghiệm nhiều bút pháp, khuynh hướng sáng tạokhác nhau, từ nhiều nguồn thi ca trên thế giới Khát khao làm mới khuôn mặttinh thần bản thân và thi ca, cái tôi Mai Văn Phấn không ngại phủ định và tựphủ định, để liên tục hướng tới những giá trị thẩm mĩ mới Cái tôi ấy luônhướng tới mục tiêu cách tân nghệ thuật, sử dụng nhiều kỹ thuật hiện đại, songluôn tuân thủ mục đích tạo ra không gian thơ, trường thơ riêng, coi thơ là tiếngnói khai mở một cõi thế giới riêng của trực giác, tâm linh Ở đó, thi sỹ tìm vềmột tiếng thơ riêng, thuần khiết của người Việt hiện đại
Nói như vậy cũng có nghĩa là sự đổi mới này, dĩ nhiên, không chỉ dừng lại
ở những thể nghiệm kĩ thuật nhỏ lẻ, thuần túy Ngược lại, nó luôn hướng tới vàgắn liền với mục đích kiến tạo một quan niệm mĩ học hiện đại, nhất quán ở nhàthơ Với Mai Văn Phấn, “Điều quan trọng trước hết trong sáng tạo là thiết lậpkhông gian Không gian ấy hàm chứa những vấn đề lớn tạo nên từ trường ảnhhưởng cho những bài thơ cụ thể sau này Đó là những ám ảnh cốt lõi về thời đại,thời cuộc, những quan chiếu, hệ luỵ trong xã hội, thái độ sống, thái độ chính trịcủa thi sỹ; một cõi riêng của cảm giác hay linh giác mà người ngoài không thể
Trang 38dụng ý chạm tới, và cả những vấn đề muôn thuở của văn chương, như khuynhhướng, giọng điệu, thể loại, tính nhân bản v.v ”[60; 1] Đặc biệt, “Không giansáng tạo này luôn mang giá trị biệt lập, độc sáng, không trùng hợp với nhữngngười khác, và, không lặp lại chính mình Đây là thử thách lớn nhất với nghệ sỹ,đặc biệt nhà thơ, vì thường sau mỗi giai đoạn sáng tạo, các nhà thơ nhìn lạikhông gian mình vừa trải qua với thái độ tự hài lòng, cảm giác như mọi góckhuất đời sống, những bí ẩn của tâm trạng đều được ánh sáng thi ca soi tỏ; nóicách khác, nhà thơ như không muốn nói thêm điều gì, và, cũng thấy mọi ngảđường phía trước bị bịt lối Nếu không mở được không gian nghệ thuật kháctiếp theo, nhà thơ sẽ rơi vào bế tắc, cùn mòn, thấy nặng nề nếu phải cố gắng nóinhững điều đã cũ” [60; 1]
Chính quan niệm cách tân mạnh mẽ này đã tạo nên đặc điểm nổi bật đầu
tiên ở hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn: giàu khát vọng và năng lượng
cách tân thi ca.
Trước hết, hiện diện trong thơ Mai Văn Phấn là cái tôi của những tìm tòi,
thể nghiệm sáng tạo đa dạng Trong các sáng tác trước 1995, như nhận xét của
một nhà phê bình, Mai Văn Phấn đã có ý thức khác đi - so với chính ông và vớingười khác Những bài thơ mang đậm dấu ấn thi pháp truyền thống đã bắt đầucựa quậy với những dấu hiệu đổi mới trong thi tứ, thi ảnh Chẳng hạn:
Tàn mùa chiếc lá lia qua Cho cô đơn ấy xẻ ra mấy phần Sáng thì làm trăng thượng tuần
Lu thì ghép với mấy lần cong vênh
(Một mình)Hoặc:
Trang 39Em ngủ say không biết/ anh đang nhìn hạt mưa/ bóng tối xơ xác ngoài
cửa sổ/ tán cây đè nặng ngực mình/ / Những ngọn thác câm lặng đang đổ xuống rất mạnh/ những đế giày chuẩn bị vỡ tung/ chân tường mở cánh cửa thoát hiểm/ bụi mưa phùn hay châu chấu bay qua/ cả ngôi nhà lao đi chóng mặt/ sửng sốt, rã rời khi gặp bình minh (Để nhận ra anh).
- Những hạt giống vừa chạm vào ánh sáng/ Đã gặp những gì chẳng thấy trong mơ/ Rơm rạ mục dâng lên từ đất ẩm/ Gió xước qua bụi gai trong lúc giao mù/ Ngày mới đến đưa bàn tay nắng ấm/ Để lấy đi những hạt cuối cùng/ Tôi chếnh choáng rỗng không chiếc hũ/ Đợi những mùa vàng rạo rực hiến dâng”
(Tự thú trước cánh đồng)
Ngay trong những sáng tác ở giai đoạn đầu, thơ Mai Văn Phấn đã đem lại
cho người đọc những liên tưởng mới lạ nhờ các ẩn dụ tinh tế Chẳng hạn: Vầng
trăng em đứng giữa trời/ Để rơi ngàn mảnh gương ngời mặt sông/ Ngày tràn đêm vỡ lên bông/ Mình ta khua động cả dòng tịch liêu (Trương Chi); Anh đi níu gió trên trời/ Lùa râm mát tới những nơi em chờ/ / Mắt người buông xuống sông xưa/ Ru con thuyền ấy trong mưa mỏi mòn/ (Bâng quơ).
Đấy vẫn là một cái tôi mang trong mình những vẻ đẹp cổ điển: Em nhòe
nắng mới ngây thơ/ Ấm ran khắp tầng vũ trụ/ Anh thành bông cúc thẫn thờ/ Cuối mùa vàng lên vội vã (Cuối xuân đầu hè), nhưng không nằm im trong
khuôn khổ mà luôn cựa quậy tìm lối, chuyển động: “Lỡ vin vào bóng mây qua /
Lỡ nghe đắm đuối tiếng ma gọi đò / Đầu kim tựa có ai chờ/ Khâu ta vào với ỡm
ờ xửa xưa” (Gom nhặt cuối mùa) Con người luôn tìm cho mình một lối đi riêng
với khát vọng thay đổi: “Những hạt giống vừa chạm vào ánh sáng / Đã gặp
những gì chẳng thấy trong mơ / Rơm rạ mục dâng lên từ đất ẩm / Gió xước qua bụi gai trong lúc giao mùa / Ngày mới đến đưa bàn tay nắng ấm / Để lấy đi
Trang 40những hạt cuối cùng / Tôi chếnh choáng rỗng không chiếc hũ / Đợi những mùa vàng rạo rực hiến dâng” (Tự thú trước cánh đồng).
Có thể thấy, cái tôi trong sáng tác ở giai đoạn đầu của nhà thơ vừa mang
vẻ đẹp của cái tôi truyền thống vừa có dấu hiệu bắt đầu cựa quậy để bứt phá, đổimới
Từ 1995 đến 2000, thơ Mai Văn Phấn cách tân thi pháp mạnh mẽ Khátkhao nhận thức hiện thực ở “bề sâu, bề rộng, bề xa” buộc phải đổi mới cáchnhìn, cách lí giải về hiện thực Hình tượng cái tôi trong thơ Mai Văn Phấn giaiđoạn này là sự “cộng hưởng” của ý thức cá nhân và tinh thần công dân, dân tộcđược thể hiện ấn tượng qua hệ thống hình ảnh, ngôn từ mới, lạ:
Nghe trong đám đông cộng hưởng những giai điệu cá tính, tựa hào quang hắt lên từng khuôn mặt, đan xen nhau rồi kết thành nhọn tháp Ở đó qua chuông trái tim đã được kéo lên…
Cá tính hòa đồng với quy luật thiên nhiên, cho ta nhịp nhàng, cho ta nguôi ngoai, cho ta thổn thức…
Tuân theo luật mà dồi dào cá tính Cái Tôi tận cùng dẫn tới cái ta”
Hay:
“Cộng hưởng cùng bạn bè, đồng chí, vợ con…Cùng giấc mơ trước thềm thế kỉ, để không còn những ngón tay rã rời (ngón duy cảm, ngón thì duy lý) Mà tất cả là những ngón tay chân thực, hòa đồng trên một bàn tay.”
(Cộng Hưởng II)Không dừng lại cái tôi với những khát vọng của đời sống hiên hữu, nhàthơ còn muốn “hóa thân” để được sống lại với những cảm giác vô thức trongtừng giấc mơ – hay chính là những suy tư của con người, thông qua tiếng nóicủa trực giác, vô thức, tâm linh Đây là giai đoạn cách tân mạnh mẽ của nhà thơ