1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng tỉnh kiên giang

117 1,8K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa: “ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân tới nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứ

Trang 1

Nguyễn Nguyệt Minh

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

Nguyễn Nguyệt Minh

Chuyên ngành : Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên)

Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN ĐỨC TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, sự giúp đỡ tận tình của Thầy hướng dẫn và những người thân trong gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Tuấn cùng các thầy

cô khoa Địa Lý Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học, trường Đại học Sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để luận văn được hoàn thành đúng tiến độ

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình, bạn bè và những người

hoàn thành luận văn

Nguyễn Nguyệt Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các hình

Danh mục viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 8

1.1 Cơ sở lý luận về Du lịch sinh thái 8

1.1.1 Khái niệm du lịch sinh thái 8

1.1.2 Các đặc trưng của du lịch sinh thái 16

1.1.3 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái 18

1.1.4 Những yêu cầu của du lịch sinh thái 18

1.1.5 Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia 24

1.2 Cơ sở thực tiễn về Du lịch sinh thái 31

1.2.1 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia trên thế giới 31

1.2.2 Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia của Việt Nam 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG 41

2.1 Giới thiệu về VQG U Minh Thượng 41

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển VQG U Minh Thượng 41

2.1.2 Mục tiêu thành lập VQG U Minh Thượng 42

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý VQG U Minh Thượng 42

2.1.4 Các khu chức năng 43

2.2 Tiềm năng phát triển DLST 44

2.2.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 44

2.2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 44

2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 57

2.2.4 Cơ sở hạ tầng 63

Trang 5

2.3 Hiện trạng phát triển DLST 64

2.3.1 Khách du lịch 64

2.3.2 Doanh thu du lịch 69

2.3.3 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 72

2.3.4 Đội ngũ cán bộ, nhân viên trong Ban du lịch 73

2.3.5 Hiện trạng các tuyến du lịch đã được khai thác 73

2.3.6 Hiện trạng các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường 74

2.3.7 Hiện trạng hoạt động du lịch với công tác bảo tồn 76

2.3.8 Hiện trạng những lợi ích du lịch mang lại cho cộng đồng 78

2.4 Những điểm mạnh - yếu - cơ hội và thách thức đối với phát triển DLST ở VQG U Minh Thượng 79

2.4.1 Những điểm mạnh và yếu 79

2.4.2 Những cơ hội và thách thức 83

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DLST VQG U MINH THƯỢNG 87

3.1 Định hướng phát triển DLST 87

3.1.1 Mục tiêu chung 87

3.1.2 Các định hướng cụ thể 88

3.2 Kiến nghị và giải pháp phát triển DLST 94

3.2.1 Cải thiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với du lịch sinh thái 94

3.2.2 Tăng cường giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái 94

3.2.3 Giải pháp về quản lý 94

3.2.4 Giải pháp về khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch 95

3.2.5 Giải pháp về cơ chế chính sách 95

3.2.6 Giải pháp về đào tạo 97

3.2.7 Giải pháp tiếp thị 98

3.2.8 Giải pháp về hợp tác đầu tư 98

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC

Trang 6

DAN H MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 : Phí tham quan đối với du khách ở VQG Galápagos 32

Bảng 2.1 : Các phân khu chức năng tại VQG U Minh Thượng 43

Bảng 2.2 : Diện tích các kiểu lớp phủ thực vật VQG U Minh Thượng 45

Bảng 2.3 : Danh sách các loài thú ăn thịt ở VQG U Minh Thượng 49

Bảng 2.4 : Tài nguyên thú rừng ở một số VQG trong cả nước 50

Bảng 2.5 : Những loài chim quan trọng trong bảo tồn tại VQG UMT 51

Bảng 2.6 : So sánh bò sát giữa VQG U Minh Thượng với các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên khác 52

Bảng 2.7 : Cấu trúc thành phần loài động vật nổi ở VQG U Minh Thượng 53

Bảng 2.8 : Các Bộ Côn Trùng ở VQG UMT cùng với số loài và họ tương ứng 54

Bảng 2.9 : Dân số các xã vùng đệm và vùng lõi VQG U Minh Thượng 58

Bảng 2.10: Lượng khách đến tham quan VQG U Minh Thượng giai đoạn 2008-2011 65

Bảng 2.11 : Doanh thu du lịch của VQG U Minh Thượng giai đoạn 2008 – 2011 69

Bảng 2.12 : Doanh thu của các VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên trong nước năm 2011 71

Bảng 2.13 : Những hoạt động du lịch mà người dân địa phương muốn tham gia ở VQG UMT 78

Bảng 2.14 : Nguyện vọng của người dân địa phương khi được tham gia vào hoạt động du lịch 79

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 : Số lượt khách đến tham quan VQG UMT (2008-2011) 65Biểu đồ 2.2 : Thể hiện cơ cấu khách tham quan VQG UMT (2008-2011) 67Biểu đồ 2.3 : Doanh thu du lịch của VQG UMT giai đoạn 2008 – 2011 70

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Cấu trúc DLST 15

Hình 1.2: Mô hình phân vùng hoạt động du lịch trong VQG 20

Hình 1.3: Các dạng quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên 25

Hình 2.1: Sơ đồ nhân sự trung tâm DLST VQG U Minh Thượng 43

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, khi cuộc sống của người dân đang ngày càng được nâng cao thì du lịch trở thành một nhu cầu cần thiết trong đời sống xã hội Về mặt kinh tế, du lịch

đã trở thành một ngành quan trọng, một ngành kinh tế tổng hợp năng động và được coi là phương sách hiệu quả để mỗi vùng, mỗi quốc gia phát triển nền kinh tế của mình

Tuy nhiên, những nước có du lịch phát triển đều đã nhận ra cái giá phải trả cho các hoạt động du lịch là không nhỏ, bởi những tác động tiêu cực của nó đến kinh tế - xã hội và môi trường Yêu cầu đặt ra cho hoạt động du lịch là phải hạn chế được những tác động tiêu cực mà nó gây nên, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững

Du lịch sinh thái (DLST) là mô hình du lịch có trách nhiệm cao với môi trường và cộng đồng Nó đang là xu thế phát triển nhanh chóng và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Năm 2002, Tổ chức Du lịch Thế giới xác định là “năm DLST” với chủ đề: “DLST: Bí quyết phát triển bền vững” Điều này, phản ánh sự quan tâm và công nhận ngày càng tăng của cộng đồng quốc tế đối với DLST trong việc góp phần vào quá trình phát triển bền vững của nhân loại

Ở Việt Nam, du lịch mới chỉ phát triển rộng rãi trong vài thập niên gần đây, nên những tác động tiêu cực của nó đến Kinh tế - Xã hội và môi trường còn chưa bộc lộ hết Vì thế, DLST cũng ít được quan tâm và chưa phát triển đúng với bản chất của nó, mặc dù ở Việt Nam có tiềm năng to lớn cho loại hình du lịch này

Vườn quốc gia (VQG) U Minh Thượng là một Vườn Quốc Gia của Việt

quốc gia theo Quyết định số 11/2002/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vườn quốc gia U Minh Thượng là một khu bảo vệ có tính đa dạng sinh học cao nhất khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long với 387 loài thực vật, 172 loại côn trùng, 66 loại cá, 7 loại ếch nhái,

Trang 11

31 loại bò sát và 172 loài chim, 32 loài thú Đến U Minh Thượng, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành cùng với không gian khoáng đãng, tha hồ nhìn ngắm chim muông, thú rừng, và các loài động thực vật Nhiều địa chỉ để tham quan như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, quần thể heo rừng, rái cá, kỳ đà,

và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai Chính vì vậy mà du khách đến với U Minh Thượng ngày càng đông hơn, tuy nhiên VQG U Minh Thượng chưa có một quy hoach thật sự hợp lý để phát triển ngành du lịch nơi đây đặc biệt là du lịch sinh thái nhằm phát triển bền vững quần thể sinh vật nơi đây

Vấn đề đặt ra cho VQG U Minh Thượng hiện nay là sớm xây dựng một mô hình DLST phù hợp để vừa phát triển được du lịch lại vừa bảo tồn được các giá trị

tự nhiên, giá trị văn hóa - nhân văn bản địa, đồng thời góp phần cải thiện đời sống nhân dân địa phương

Chính vì vậy mà tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tiềm năng và hiện trạng phát triển

Du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia U Minh Thượng – Tỉnh Kiên Giang ” làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Trên thế giới

Trong vài thập niên gần đây, du lịch trên thế giới phát triển rộng rãi, bộc lộ ngày càng rõ các tác động của nó đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của các lãnh thổ du lịch Vì thế, các nhà nghiên cứu du lịch đã rất quan tâm nghiên cứu đến những tác động này và cố gắng tìm ra những mô hình phát triển du lịch hiệu quả nhất (hạn chế được ít nhất những tác hại và gia tăng tối đa những lợi ích mà du lịch

được quan tâm nhiều nhất là mô hình DLST

DLST mới chỉ bắt đầu được bàn đến trên thế giới từ những năm đầu của thập

kỷ 80 Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Ceballos – Lascurain, Buckley…cùng rất nhiều các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về DLST của các nhà khoa học, các tổ chức quan tâm đến lĩnh vực này như: Cater, Chalker, Dowling, Hiệp hội DLST, Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF), Tổ chức bảo

Trang 12

tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), … đã có nhiều công trình nghiên cứu và công bố những quan điểm, khái niệm về DLST, các bài học thực tiễn cũng như những hướng dẫn cho các nhà quản lý, tham gia hoạt động DLST như: Hiệp hội DLST đã xuất bản cuốn “DLST: Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch – Chẩn đoán DLST và hướng dẫn quy hoạch”, George N.Walace (1998): Quản lý khách tham quan, bài học từ VQG Galapagos; Karrtrina Brandon (1998): Những bước cơ bản nhằm khuyến khích sự tham gia của dân địa phương vào dự án DLST

2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam DLST là loại hình du lịch tương đối mới mẻ, nhiều vấn đề đang tiếp tục được nghiên cứu quy hoạch và quản lý, điều hành du lịch DLST nổi lên ở Việt Nam từ khoảng giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học du lịch và môi trường Có nhiều các hội nghị, hội thảo về DLST được tổ chức ở Việt Nam, như: “Hội nghị Quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam” do Tổng cục du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) được tổ chức tại Huế, tháng 5/1997; Hội thảo “DLST với phát triển

du lịch bền vững ở Việt Nam” diễn ra tại Hà Nôi, tháng 4/1998; Hội thảo “Xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam” được tổ chức vào tháng 9/1999, tại Hà Nội, do Tổng cục du lịch phối hợp với IUCN và ESCAP Trong đó, rất nhiều tham luận được trình bày và đã đóng góp nhiều giá trị quý báu

về cơ sở lý luận và cả những kinh nghiệm thực tiễn phát triển DLST của các nhà nghiên cứu du lịch và môi trường đến từ nhiều nước trên trế giới và Việt Nam

DLST, bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, tiêu biểu như của các tác giả: Lê Văn Lanh, Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thị Sơn…

Ngoài ra, những vấn đề DLST cũng có thể tìm thấy trên các trang Web của các báo điện tử, các phương tiện thông tin đại chúng, trong các ấn phẩm chuyên ngành

Tại VQG U Minh Thượng đã có một số công trình nghiên cứu tổng thể sinh thái tự nhiên đề cập các giá trị tài nguyên du lịch của vườn như về thú ăn thịt

Trang 13

(Carnivora) ở vườn quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang được đăng ở tạp chí khoa học ĐHQGHN, Khoa học tự nhiên và công nghệ 25(2009) Nguyễn Kiêm Sơn, Đỗ Thanh Hải, Đa dạng về thành phần loài cá Vườn Quốc Gia U Minh Thượng, những vấn đề cơ bản trong khoa học sự sống, NXB Khoa học & Kinh tế,

Hà Nội, 2005 Ngày 20.4, Sở KH&CN Kiên Giang đã tổ chức Hội đồng KH&CN

đánh giá, nghiệm thu đề tài “Biên hội, đánh giá tổng quan sinh thái Vườn Quốc gia

U Minh Thượng và đề xuất giải pháp bảo tồn” do Viện Kỹ thuật Biển chủ trì thực hiện, PGS.TS Lương Văn Thanh làm chủ nhiệm Đề tài được thực hiện từ năm 2008 đến nay Với mục tiêu đặt ra ban đầu, đề tài đã tổng hợp, biên hội lại được những kết quả đã nghiên cứu về VQG U Minh Thượng, kết hợp với khảo sát thực tế để đưa

ra những đánh giá tổng quan về hiện trạng sinh thái rừng

Ngoài ra, cũng đã có nhiều bài viết mang tính khảo cứu và giới thiệu về tài nguyên DLST trong VQG U Minh Thượng Tuy nhiên, việc nghiên cứu tổng thể về DLST ở đây vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ Đề tài này hy vọng sẽ là tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu, quy hoạch DLST sau này ở VQG U Minh Thượng

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu

Trên cơ sở vận dụng lí luận và thực tiễn phát triển DLST trên thế giới và Việt Nam, đề tài phân tích tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST ở VQG U Minh Thượng để từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển DLST ở địa bàn nghiên cứu

Trang 14

U Minh Thượng, đảm bảo các mục tiêu kinh tế - xã hội và bảo tồn, nhằm khai thác bền vững nguồn tài nguyên du lịch

4 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ VQG U Minh Thượng, bao gồm

cả vùng đệm và những mối liên hệ du lịch với các lãnh thổ du lịch Kiên Giang

Các phân tích, đánh giá về tiềm năng, thực trạng chủ yếu là định tính do khả năng và thời gian làm khoá luận còn hạn chế

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm chủ yếu

5.1.1.Quan điểm hệ thống

Quan điểm này đã được vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Đề tài

đã nghiên cứu các mặt tự nhiên, kinh tế và xã hội của VQG U Minh Thượng trong một hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ với nhau để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn

5.1.2.Quan điểm lãnh thổ

Bất kì đối tượng nghiên cứu nào của địa lí đều phải gắn liền với một lãnh thổ nhất định, du lịch cũng vậy Lãnh thổ du lịch là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên và các dịch vụ cho du lịch Quan điểm này được vận dụng vào đề tài thông qua việc phân tích, đánh giá các tiềm năng cho phát triển DLST trong mối quan hệ tổng hợp của các yếu tố ở VQG U Minh Thượng

5.1.3 Quan điểm phát triển bền vững

Vận dụng quan điểm này, các giải pháp nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của môi trường cần phải được coi trọng, các tác động của DLST trong VQG U Minh Thượng đến khả năng chịu đựng của môi trường cần phải được tính đến sao cho không để phá vỡ cân bằng sinh thái, tạo ra môi trường phát triển du lịch bền vững

5.1.4 Quan điểm hỗ trợ cộng đồng địa phương

Đối với DLST, mục tiêu cơ bản là ủng hộ bảo tồn và đóng góp cho lợi ích cộng đồng địa phương, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Do đó, những lợi ích

Trang 15

kinh tế có được từ hoạt động du lịch phải được quay trở lại phục vụ công tác bảo tồn và hỗ trợ kinh tế cộng đồng dân cư khu vực VQG U Minh Thượng

Vai trò của cộng đồng dân cư địa phương là hết sức quan trọng vì cộng đồng đồng bào dân tộc mới là người chủ đích thực của những giá trị nhân văn, là người bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch và tham gia các hoạt động du lịch tại VQG

5.1.5 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi hay phát triển theo quá trình của nó Quan điểm này được vận dụng khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của VQG U Minh Thượng và đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể để có được những đánh giá đúng hiện tại, từ đó có cơ cở để đưa ra các dự báo, định hướng về

xu hướng phát triển của VQG U Minh Thượng trong tương lai

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài, bắt đầu từ việc thu thập các số liệu, tranh ảnh, bài viết, báo cáo…có liên quan đến VQG U Minh Thượng, sau đó phân tích, tổng hợp, so sánh và lựa chọn ra những tài liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu Tác giả đã tham khảo các nguồn như

Hồ sơ đăng kí di sản thiên nhiên thế giới, báo cáo thường niên của Ban quản lí VQG và Sở Du lịch Thương mại tỉnh Kiên Giang

5.2.2 Phương pháp thực địa

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của phương pháp này, tác giả đã thực hiện nhiều chuyến thực địa với các hoạt động chủ yếu là:

nguyên (Trạm kiểm lâm), các cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương (Ban quản lý VQG U Minh Thượng và Sở Du lịch Thương mại Kiên Giang) và cộng đồng địa phương

5.2.3 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp đặc thù của nghiên cứu Địa lý Bản đồ vừa được coi là

Trang 16

tư liệu, phương tiện nghiên cứu, vừa là phương tiện minh họa kết quả nghiên cứu trong địa lý học nói chung và địa lý du lịch nói riêng

Quá trình thực hiện khoá luận được bắt đầu bằng việc tìm hiểu địa bàn nghiên cứu thông qua các bản đồ: Bản đồ địa hình VQG U Minh Thượng, bản đồ dân sinh, kinh tế - xã hội vùng đệm và VQG U Minh Thượng, bản đồ phân bố động, thực vật quý hiếm VQG U Minh Thượng, bản đồ quy hoạch VQG U Minh Thượng, bản đồ thảm thực vật VQG U Minh Thượng, bản đồ phân khu chức năng VQG U Minh Thượng, bản đồ tổ chức không gian và tuyến điểm du lịch Kiên Giang Kết quả nghiên cứu luận văn lại được thể hiện thông qua các bản đồ mới là bản đồ hành chính VQG U Minh Thượng, bản đồ hiện trạng sử dụng rừng VQG U Minh Thượng

và bản đồ du lịch VQG U Minh Thượng

5.2.4 Phương pháp ứng dụng công nghệ tin học

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả phải sử dụng đến các phần mềm ứng dụng MapInfo, khai thác các thông tin từ Internet

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: So sánh lãnh thổ (so sánh với các VQG khác để thấy được những được điểm khác biệt, giá trị đặc trưng riêng của VQG U Minh Thượng)

6 Những đóng góp chính của đề tài

nghiên cứu ở VQG U Minh Thượng

DLST ở VQG U Minh Thượng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về DLST

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST VQG U Minh Thượng Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển DLST VQG U Minh Thượng

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1 Cơ sở lý luận về Du lịch sinh thái

1.1.1 Khái niệm du lịch sinh thái

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

Theo một số học giả, thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tornos” có nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hóa thành “tornus” và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) có ý nghĩa là đi chơi, du ngoạn, (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa,2004; Trần Đức Thanh, 2003) Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch có nguồn gốc từ tiếng Hán Theo tiếng Hán, Từ du lịch theo tiếng Trung Quốc:

Du: tức là Hành là sự ra đi

Lịch: là sự trái đời người 4 yếu tố:

Trên cơ sở giải thích về mặt từ ngữ, “du lịch” chỉ đơn giản là việc con người rời khỏi nhà và lưu trú tạm thời ở một nơi khác với nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian nhất định để nhằm nâng cao hiểu biết, tăng cường sức khỏe, tìm kiếm thị trường kinh doanh, tạo các mối quan hệ với người thân và bạn

bè, v.v

Tuy nhiên, du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội rất phức tạp Cùng với quá trình phát triển, nội hàm khái niệm ngày càng được mở rộng Cho nên hiện nay

ở nhiều quốc gia cách hiểu về du lịch vẫn còn có nhiều điểm khác nhau do góc độ

và thời gian tiếp cận không giống nhau

Dưới đây xin nêu ra các cách tiếp cận cơ bản nhất, phổ biến nhất về du lịch (Vũ Đức Minh, 1999):

Trang 18

Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người:

Con người có rất nhiều nhu cầu một khi họ có thời gian rỗi và tiền bạc Các nhu cầu đó có thể là: nghỉ ngơi, ăn uống, tham quan, giải trí, mua sắm, v.v Nhờ có nhu cầu đa dạng của con người mà du lịch ra đời Tiếp cận du lịch ở góc độ nhu cầu

của con người, I.I Pirogionic đã định nghĩa : “Du lịch là một dạng hoạt động của

dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” (Nguyễn Minh Tuệ,1996)

Từ khi hoạt động du lịch đã diễn ra khá phổ biến thì các hoạt động đi lại, ăn

ở, mua sắm, vui chơi giải trí trở thành các nhu cầu thiết yếu của chuyến đi và nó trở thành cơ hội kinh doanh cho các nhà cung ứng dịch vụ du lịch Từ đó du lịch được quan niệm là một hoạt động kinh tế nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách Theo hai học giả người Mỹ McIntosh và Goeldner, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp của các lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển, kể cả xúc tiến quảng bá, v.v Như vậy, với cách tiếp cận dưới góc độ du lịch là một ngành kinh tế thì du lịch được hiểu

các tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du

Hai tác giả McIntosh và Goeldner cho rằng muốn thật sự hiểu được khái niệm và bản chất của du lịch một cách đầy đủ cần phải xem xét đến tất cả các chủ thể (thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch Các chủ thể bao gồm: khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch, chính quyền sở tại, dân cư địa phương Tiếp cận du lịch dưới góc độ tổng hợp, các học giả người Mỹ

mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh

Trang 19

doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch” (Trần Đức Thanh, 2003)

Với sự đa dạng cách tiếp cận về du lịch như trên, việc đưa ra một khái niệm

có thể bao hàm tất cả nội dung là điều vô cùng khó khăn Theo Luật Du lịch Việt

Nam năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con

người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Trần Văn

Thông, 2006)

Như vậy, qua định nghĩa về du lịch của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, du lịch có ba tuyến nghĩa quan trọng Tuyến nghĩa thứ nhất bao hàm việc di chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, mua sắm, nghỉ ngơi, giải trí của con người và ở đó có

sự tương tác với các nhà cung ứng các dịch vụ; tuyến nghĩa thứ hai đó là nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người; tuyến nghĩa thứ ba có sự khống chế về mặt thời gian, tức quá trình du khách thực hiện chuyến đi của mình chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian nào đó

Mỗi tác giả viết lách đều có cách định nghĩa riêng của mình về du lịch, vì thế

có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về du lịch ( hàng trăm cách của hàng trăm tác giả) Chung quy lại có 1 số cách định nghĩa như nhau:

Ví dụ: trong từ điển Tiếng Việt: hai chữ du lịch được định nghĩa như sau:

“Du lịch là đi chơi cho biết xứ người.”

Một nhà du lịch học người Pháp là Husher cũng có cách định nghĩa tương tự:

“ du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân” Như vậy phải khẳng định: Du lịch

là đi chơi chứ không phải đi làm, hay đi kiếm việc làm… Thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều có viết: “ Nghề chơi cũng lắm công phu…” Bởi vậy mới có nhiều điều mà chúng ta cần phải học

Viện sĩ Nguyễn Khắc Kiệm, một nhà xã hội học nổi tiếng của Việt Nam cũng đưa ra 1 cách định nghĩa ngăn gọn về du lịch: “ Du lịch là sự mở rộng về không gian văn hóa của con người ”

Trang 20

Như vậy ở đây du lịch lại liên quan mật thiết tới văn hóa

du lịch phát triển mạnh trên thế giới

“ Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời, từ một vùng này sang một vùng khác, từ mặt nước này sang mặt nước khác, vốn không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc.”

việc thường xuyên của họ.”

+Nhà kinh tế du lịch Người Đức Kalfiotis cho rằng:

“ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của các cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức Do đó có thể tạo nên các hoạt động kinh tế

+Quan niệm của các nhà thống kê du lịch người Việt Nam: Nguyễn Cao Thắng và Tô Đăng Hải (1990)

“ Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiều vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ ngơi hoặc kết hợp hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.”

Trên thế giới, Mỹ là nơi có hoạt động du lịch mạnh nhất và lớn nhất Các học giả du lịch người Mỹ cũng đóng góp rất nhiều các ly luận về du lịch

Hai học giả Mỹ: Mathieson và Mall

Trang 21

Định nghĩa: “ Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân tới nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ”

Theo các nhà Địa lý du lịch của Hoa Kỳ Michaud:

“ Du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất 1 đêm ở ngoài nơi ở thường ngày với lí do: giải trí, kinh doanh, chữa bệnh, thể thao hoặc tôn giáo”

Trong hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng, ngoài tiếp cận với môi trường thiên nhiên, phải có mối quan hệ với cộng đồng nơi đến mới đảm bảo cho một sự phát triển du lịch lâu dài và bền vững

Một nhà kinh tế du lịch người Mỹ là ColtMan ( Michael.M.Coltman) đã định nghĩa: “ Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của 4 nhóm cộng đồng bao gồm:

hàng…)

“ Du lịch là tổng thể các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và phục vụ nhu cầu của du khách”

1.1.1.2 Khái niệm du lịch sinh thái

Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, du lịch đại chúng vẫn chủ yếu chú trọng đến việc săn bắn các loài thú lớn Chính sự việc này đã gây phiền nhiễu tới đời sống của các loài động vật hoang dã, phá hủy thiên nhiên và môi trường Tuy nhiên, dần dần du khách cũng bắt đầu nhận thức được những tác hại sinh thái do họ gây ra và hơn thế nữa người dân địa phương cũng đã có sự quan tâm đến giá trị của tự nhiên

và môi trường nên các tour du lịch chuyên về săn bắn chim, thú, cưỡi lạc đà, bộ

Trang 22

hành thiên nhiên đã bắt đầu có sự hướng dẫn và quản lý nghiêm ngặt DLST dần dần được định hình từ đây (Lê Huy Bá, Thái Lê Nguyên, 2006)

DLST (ecotourism) là loại hình du lịch khá mới mẻ (mới thật sự được quan tâm từ thập kỷ 80) nhưng từng bước đã khẳng định được lý do tồn tại của nó ( thập

kỷ 90 của thế kỷ XX được coi như là “ thập kỷ của DLST ”)

Có người quan niệm DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch Cũng có ý kiến cho rằng: DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý,

du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền

vững (Lê Huy Bá (Chủ biên), Thái Lê Nguyên, 2006)

Ở góc nhìn hẹp, xét về mặt chữ nghĩa DLST đơn thuần chỉ là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái” Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm này phức tạp hơn nhiều và cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm:

Năm 1987, nhà nghiên cứu tiên phong về DLST: Hector Ceballos -

Lascurain đã đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về DLST như sau: “ DLST là

du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” (Phạm Trung Lương, 2002)

Năm 1991, Wood định nghĩa DLST như sau: “DLST là du lịch đến các khu

vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” (Phạm Trung Lương, 2002)

Năm 1993, Lindberg và Hawkins đưa ra khái niệm rất ngắn gọn nhưng phản

ánh khá đầy đủ về nội dung và chức năng của DLST Theo đó: “DLST là du lịch có

trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” ( Lê Huy Bá, Thái Lê Nguyên, 2006)

Năm 1994, nhấn mạnh đến yếu tố bảo vệ tài nguyên du lịch và giáo dục môi

trường, Buckley đã tổng quát khái niệm DLST như sau: “ Chỉ có du lịch dựa vào

Trang 23

thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là DLST” (Phạm Trung Lương, 2002)

Như vậy, từ định nghĩa DLST được đưa ra đầu tiên vào năm 1987, sau nhiều năm và qua nhiều định nghĩa khác nhau đã cho thấy có sự thay đổi về quan niệm

Từ chổ cho rằng DLST đơn thuần chỉ là loại hình du lịch mà địa bàn của nó là các khu vực tự nhiên còn tương đối hoang sơ và du khách đến đó ít có những hoạt động làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn, đó là DLST còn có vai trò đóng góp cho bảo tồn, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, có trách nhiệm và giáo dục cao về môi trường

Mặc dù DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những

cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái, du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa DLST nói theo một định nghĩa nào đi chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần:

đồng (Lê Huy Bá (Chủ biên), Thái Lê Nguyên, 2006)

Trong lần Hội thảo Quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh

cơ sở phối hợp với nhiều Tổ chức Quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN, v.v, với sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST Định

nghĩa DLST lần đầu tiên được đưa ra ở Việt Nam như sau: “DLST là loại hình du

lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Phạm Trung Lương, 2002)

Trang 24

định nghĩa Du lịch sinh thái

Có thể nói, định nghĩa do Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát

triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” đưa ra đã bao hàm đầy đủ nội dung của DLST

Nó bao quát được các quan niệm về DLST của các nhà khoa học trên thế giới Trên cơ sở định nghĩa có thể khái quát thành sơ đồ cấu trúc của DLST như sau:

Hình 1.1: Cấu trúc DLST

Nguồn: (Lê Văn Lanh, 1998; Nguyễn Thị Sơn, 2000)

Trang 25

1.1.2 Các đặc trưng của du lịch sinh thái

DLST là loại hình du lịch đặc thù so với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác vì tính ưu việt của nó đối với thiên nhiên, môi trường và xã hội Nhìn chung DLST có những đặc trưng cơ bản như sau (Nguyễn Thị Sơn, 2000):

DLST lấy tự nhiên và văn hóa bản địa làm cơ sở cho sự phát triển Đó là các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm; các giá trị văn hóa bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên như: các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống dân tộc, v.v Bên cạnh

đó, DLST chỉ có thể phát triển trong điều kiện môi trường thuận lợi, đó là những khu tự nhiên còn tương đối hoang sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con người

DLST là một loại hình du lịch có quy mô và đang tăng trưởng ở nhiều nước Một trong những lợi thế của DLST là việc nó tạo ra một sự thúc đẩy đối với việc bảo tồn Nguồn lợi tài chính thu được từ lệ phí vào cổng và các lệ phí khác liên quan có thể bổ sung cho nguồn kinh phí bảo tồn (Kreg Lindberg, Donald E Hawkins, 1999) Việc hổ trợ bảo tồn trong DLST được thể hiện ở hai khía cạnh Một là, thông qua thu nhập từ du lịch có thể trích ra một phần để trả lương cho nhân viên bảo vệ, cải tạo tự nhiên, nghiên cứu và bảo vệ môi trường sống cho động, thực vật Hai là, tạo điều kiện cho cư dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch và được hưởng lợi, có như vậy họ sẽ ủng hộ phát triển DLST, thậm chí bảo vệ địa điểm khỏi bị săn bắn trộm hoặc các xâm phạm khác

Giáo dục và diễn giải về môi trường là một trong số các đặc điểm quan trọng

để phân biệt sự khác nhau giữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác Thông qua các hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường nơi du khách đến tham quan bởi các nhà hướng dẫn, các biển báo, các tờ rơi, v.v, sẽ giúp du

Trang 26

khách có được những hiểu biết về giá trị của môi trường tự nhiên, những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách đối với môi trường sẽ thay đổi, điều đó được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong việc ra sức bảo vệ, giữ gìn và tôn trọng đối với môi trường

Nếu như các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác ít quan tâm đến việc mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương, và phần lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại DLST sẽ dành một phần đáng

kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

Ngoài ra, DLST còn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động phục vụ du lịch như: đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ ăn nghỉ, cung cấp các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm, v.v, cho du khách thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Nhờ đó mà cuộc sống của người dân địa phương ít phụ thuộc vào việc khai thác các thành phần tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy được lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST

Một trong những đặc điểm của khách DLST là không đòi hỏi nhiều các nhu cầu về tiện nghi nhưng lại yêu cầu cao về thông tin và kinh nghiệm du lịch; thích tìm kiếm những thách thức về sức lực và tinh thần, ưa khám phá và mạo hiểm; mong muốn được giao tiếp với cư dân địa phương và tìm hiểu văn hóa bản địa, v.v Qua những đặc điểm đó có thể nói khách DLST là những người thích khám phá những điều mới lạ bằng chính tinh thần và nghị lực của mình Đối với họ đi du lịch

là để có những hiểu biết về thiên nhiên và tích lũy những kinh nghiệm sống chứ không phải là tiện nghi Cho nên, việc thỏa mãn mong muốn của khách tham quan với những kinh nghiệm du lịch lí thú là rất cần thiết và đây còn là yếu tố đảm bảo sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Bên cạnh đó, công tác bảo tồn để bảo vệ những gì

Trang 27

hài lòng du khách mà có ảnh hưởng đến hệ sinh thái

1.1.3 Các nguyên tắc của du lịch sinh thái

DLST được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền vững Các nguyên tắc được đảm bảo trong DLST là các nguyên tắc không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý, điều hành mà còn cho cả những hướng dẫn viên DLST Cochrane đã tổng kết các nguyên tắc đó như sau (Nguyễn Thị Sơn, 2000):

tồn và giảm thiểu các nguồn tiêu dùng gây rác rưởi

các chiến lược sử dụng lãnh thổ

người nên được quyền làm chủ trong sự phát triển và trong hoạch định

xói mòn nền văn hóa và xã hội địa phương

xuyên đáp ứng cho du khách những kinh nghiệm du lịch lý thú

đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao

1.1.4 Những yêu cầu của du lịch sinh thái

Đối với DLST, để hình thành và phát triển cần tuân thủ các yêu cầu sau đây: dựa trên các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao, đảm bảo tính giáo dục, sử dụng lãnh thổ du lịch phù hợp với bảo tồn, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương (Nguyễn Thị Sơn, 2000)

1.1.4.1 Dựa trên các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao

Sinh thái tự nhiên là sự cộng sinh của các điều kiện tự nhiên bao gồm: sinh thái động vật, sinh thái thực vật, sinh thái khí hậu, v.v (Phạm Trung Lương, 2002)

Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các

cơ thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh

Trang 28

hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu, v.v, đó

là các hệ sinh thái và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (Phạm Trung Lương, 2002)

Như vậy có thể nói, DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chỉ

có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với đa dạng sinh thái cao nói riêng và đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích vì sao hoạt động DLST thường chỉ phát triển ở các khu tự nhiên, đặc biệt ở các VQG (Phạm Trung Lương, 2002)

Để nâng cao sự hiểu biết cho khách DLST và hướng hoạt động của họ theo chiều hướng có lợi cho môi trường nhất thiết phải có hướng dẫn viên am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương để giới thiệu cho khách Qua đó hình thành ở du khách lòng yêu quý và trân trọng thiên nhiên và văn hóa địa phương

Trong DLST còn đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin đầy đủ để cung cấp, hướng dẫn cho du khách Đó là các ấn phẩm về VQG giới thiệu về đa dạng sinh học, nét độc đáo của văn hóa địa phương; các bảng chỉ dẫn và nội quy tham quan Các thông tin này cần phải được phổ biến đến từng du khách thông qua hướng dẫn viên, trung tâm đón khách và các phương tiện, thiết bị tiếp nhận và phân phối thông tin trên tuyến tham quan (Nguyễn Thị Sơn, 2000)

1.1.4.3 Sử dụng lãnh thổ du lịch phù hợp với bảo tồn

a Khoanh vùng sử dụng lãnh thổ du lịch

Mô hình khoanh vùng hoạt động du lịch cho lãnh thổ một VQG được Gunn đưa ra như sau:

Trang 29

Hình 1.2: Mô hình phân vùng hoạt động du lịch trong VQG

Nguồn: (Nguyễn Thị Sơn, 2000)

nhân về tài nguyên, môi trường nên hầu như được bảo vệ nghiêm ngặt

đi bộ hoặc dùng các thuyền nhỏ (nếu có sông, suối chảy qua) cho các hoạt động tham quan

tham quan bằng ô tô đến những điểm hấp dẫn về tự nhiên và văn hóa

điểm đỗ xe đón khách tham quan vào tuyến trong

Vùng dành cho du khách

Đường đi bộ hoặc đi xuồng trên sông, suối

Đường vào tham quan bằng ô tô

Trang 30

5) Vùng dà nh cho các dịch vụ du lịch của cộng đồng: khu vực này thường ở

lân cận cổng VQG hoặc giáp ranh với vùng đệm

Gunn đã khẳng định, việc khoanh vùng trong phạm vi lãnh thổ của VQG để lượng khách chủ yếu tập trung trong những trung tâm dịch vụ sẽ không gây tác

động lớn đến nguồn tài nguyên nhạy cảm và quý hiếm (Nguyễn Thị Sơn, 2000)

b Quản lý lượng khách phù hợp trên cơ sở sức chứa du lịch

Nhằm hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có của hoạt động DLST đến tự nhiên, văn hóa, môi trường, theo đó DLST cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về sức chứa

thể chấp nhận, không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa cộng đồng địa phương và du khách, không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng bản địa” (Lê Huy Bá, 2006)

Từ khái niệm trên cho thấy, trong phát triển DLST sức chứa là yếu tố quan trọng hàng đầu, nó liên quan trực tiếp đến sự bền vững của khu, điểm du lịch và nó

khu, điểm DLST chỉ chấp nhận một khối lượng khách và phương tiện chuyên chở nhất định (Lê Huy Bá, 2006)

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có sức chứa khác nhau

Để đơn giản, Boullón đưa ra một công thức chung để xác định sức chứa du lịch của một khu vực, chia thành yêu cầu khu vực do du khách sử dụng và tiêu

Sức chứa =

Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch

Trang 31

Ví dụ: Hoạt động giải trí ở các khu du lịch

- Nghỉ dưỡng biển : 30 - 40 m2/người

- Thể thao : 200 - 400 m2/người

Tổng số khách có thể tham quan mỗi ngày được tính:

Số lượng khách tham quan hàng ngày = Sức chứa x Hệ số luân chuyển

Hệ số luân chuyển =

quan đến các yếu tố như: chính sách cho du lịch và quản lý VQG, hiện trạng tham quan, các yếu tố ảnh hưởng đến điểm tham quan, khả năng phục vụ, v.v, (Nguyễn Thị Sơn, 2000):

quan có khả năng chứa

Trong đó:

, Visitor/area)

mà Rf = Tổng thời gian mở cửa/Thời gian trung bình một lần tham quan

điều kiện cụ thể của địa điểm tham quan như: môi trường, sinh thái, xã hội

Trang 32

Cf - các biến số điều chỉnh, nếu biểu thị bằng % sẽ là:

Trong đó: Cf - biến số điều chỉnh

Các biến số điều chỉnh liên quan tới các đặc điểm và điều kiện cụ thể của mỗi tuyến, điểm tham quan và không nhất thiết giống nhau

các điều kiện liên quan đến mức độ quản lý du lịch Chẳng hạn, mức độ đảm bảo yêu cầu quản lý chỉ đáp ứng X%, ECC sẽ là:

Như vậy, PCC luôn lớn hơn RCC và RCC lớn hơn ECC hoặc chỉ bằng khi mức độ quản lý đảm bảo 100%

Sức chứa thay đổi tùy thuộc vào địa điểm, tính mùa, thời gian, thái độ của người sử dụng, các phương tiện, tình trạng và mức độ quản lý, cũng như đặc trưng động về môi trường của bản thân điểm du lịch

c Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương

Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào DLST không phải chỉ vì lý do công bằng và bình đẳng mà còn vì họ có thể đóng góp được những kiến thức quý báu vào công tác quản lý, hướng dẫn về địa bàn phát triển DLST và đồng thời là yếu tố hấp dẫn du khách Cho nên cộng đồng cần được tham gia vào quá trình ra quyết định, lập kế hoạch và quản lý DLST Sự tham gia này có thể diễn ra với nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào quyền hạn và năng lực của cộng đồng địa phương

Khi tham gia vào hoạt động DLST, cộng đồng có thể có thêm nguồn thu

Ml

Cf = x 100

Mt

ECC = RCC x X/100

Trang 33

nhập thông qua những cơ hội việc làm có được, thông qua những sản phẩm và dịch

vụ của họ được du khách sử dụng Nguồn thu nhập này có thể giúp giảm sự phụ thuộc của họ vào các hoạt động ảnh hưởng đến tính bền vững của DLST

cao dịch vụ y tế và giáo dục Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng lâu dài tới việc nhận thức về bảo tồn trong cộng đồng và giảm các sức ép lên địa bàn phát triển DLST

Để hoạt động bảo tồn có hiệu quả thì lợi ích thu được từ DLST phải được chia sẻ cho đa số dân cư của cộng đồng, nghĩa là hiệu quả của công tác bảo tồn sẽ tỷ

lệ thuận với số dân cư tham gia và được hưởng lợi ích từ DLST (Nguyễn Thị Sơn, 2000)

1.1.5 Du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia

1.1.5.1 Khái niệm vườn quốc gia

DLST thường lấy các VQG làm địa điểm để phát triển VQG đầu tiên được thành lập là VQG Đá Vàng (Yellowstone) ở Mỹ vào năm 1872 (Nguyễn Thị Sơn, 2000) ở Việt Nam, VQG được thành lập sớm nhất là VQG Cúc Phương (1966) Đến nay, hệ thống các VQG đã được hình thành trên khắp các châu lục và các quốc gia

Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN): “ VQG là những khu

vực rộng lớn có vẻ đẹp thiên nhiên (ở bờ biển hay ở đất liền) được giữ gìn để bảo vệ một hoặc một vài hệ sinh thái đặc biệt Đồng thời được dùng cho các mục đích giáo dục, nghiên cứu khoa học, nghỉ ngơi giải trí và tham quan du lịch” (Lê Huy Bá,

2006)

Việc thành lập các VQG nhằm vào các mục tiêu chủ yếu sau đây (Sở Văn

Đồng Tháp thời kỳ 2001 - 2010 và định hướng đến năm 2020):

và quốc tế phục vụ cho mục đích vui chơi, giải trí, giáo dục, nghiên cứu khoa học, đời sống tinh thần hay du lịch;

địa sinh học, quần thể sinh học, nguồn gen và các loài khác nhau, bảo đảm ổn định

Trang 34

và đa dạng về sinh thái;

văn hóa, giáo dục sao cho vẫn duy trì được đặc điểm tự nhiên hoặc gần gũi với thiên nhiên

1.1.5.2 Quan hệ giữa du lịch sinh thái với bảo tồn tự nhiên ở các vườn quốc gia

a Các dạng quan hệ chủ yếu

Budowski là người đi đầu trong việc đưa ra quan điểm về mối quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên Mối quan hệ đó được thể hiện ở một trong ba dạng chính sau đây :

bảo tồn tự nhiên hoặc cả hai tồn tại một cách độc lập

những lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau

cứu du lịch tìm kiếm mô hình phát triển theo hướng bền vững

Hình 1.3: Các dạng quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên

Nguồn: Nguyễn Thị Sơn, 2000

Tình trạng A có thể chuyển sang tình trạng B từ đó có thể biến đổi sang C,

hoặc từ tình trạng A có thể chuyển trực tiếp sang C

Trang 35

Những mối quan hệ này được thể hiện ở dạng nào là tùy thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó mức độ sử dụng và quản lý tài nguyên là yếu tố quan trọng

Ở giai đoạn đầu, khi hoạt động du lịch mới phát triển, mức độ sử dụng tài nguyên còn thấp, mối quan hệ thường thể hiện ở dạng quan hệ cùng tồn tại Lúc này hoạt động du lịch và bảo tồn tự nhiên ít có ảnh hưởng đến nhau và cùng song song tồn tại Tuy nhiên, dạng quan hệ này rất khó duy trì lâu dài, đặc biệt khi hoạt động

du lịch phát triển hơn với mức độ sử dụng tài nguyên cao hơn và những tác động đến môi trường cũng rõ rệt hơn

Giai đoạn tiếp theo, mối quan hệ này có thể phát triển theo hướng tích cực nếu hoạt động du lịch được quản lý theo quy hoạch phù hợp với các quy luật tự nhiên, có lợi cho bảo tồn và du lịch Mối quan hệ này được xem là quan hệ cộng sinh, trong đó những giá trị của tự nhiên vẫn được bảo tồn, thậm chí ở điều kiện tốt hơn, trong khi chất lượng sản phẩm du lịch được đảm bảo, lợi ích của ngành du lịch

và khu vực được tăng cường

Trong trường hợp ngược lại, khi du lịch phát triển mà không quan tâm đến công tác bảo tồn thì mối quan hệ sẽ trở thành mâu thuẫn Thậm chí, ngay cả khi mối quan hệ này đang là cộng sinh, song nếu không được duy trì và quản lý tốt sẽ dễ chuyển sang quan hệ mâu thuẫn Trong thực tế điều này thường xảy ra, đặc biệt trong trường hợp khi du lịch phát triển với mục đích đơn thuần vì lợi ích kinh tế

b Những lợi ích mà du lịch sinh thái có thể mang lại cho các vườn quốc gia

DLST có khả năng mang lại lợi ích về nhiều mặt cho địa bàn phát triển Các lợi ích có thể được khái quát như sau (Nguyễn Thị Sơn, 2000):

lợi ích hai chiều được hình thành khi DLST hoạt động trong các VQG

cơ chế tự hạch toán tài chính cho VQG, trong đó có cả việc duy trì bảo tồn các giá trị của VQG, nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch

biết về môi trường thiên nhiên, từ đó có thể làm thay đổi thái độ của họ và ủng hộ

Trang 36

tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường

giá trị cho nông nghiệp, tạo cho các vùng đó trở nên có giá trị hơn, kích thích sự phát triển khu vực và lân cận

duy trì độ che phủ thực vật tự nhiên, tăng cường bảo vệ môi trường

bớt sức ép lên môi trường ở VQG

c Những tác động tiêu cực lên môi trường tự nhiên của hoạt động du lịch sinh thái ở các vườn quốc gia

DLST phát triển mạnh mẽ tất yếu sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường Tuy nhiên, nếu không được quản lý chặt chẽ và tổ chức tốt thì DLST cũng sẽ có những tác động không tốt đến môi trường tự nhiên

Phát triển DLST và các hoạt động có liên quan đã góp phần không nhỏ làm cho tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị xuống cấp một cách trầm trọng Đó cũng chính là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở du lịch không đúng nơi hoặc không đảm bảo chất lượng, sự có mặt của du khách làm ảnh hưởng đến tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học, yếu tố thẩm mỹ (Nguyễn Thị Sơn, 2000)

khách sạn, nhà nghỉ, cửa hàng ăn uống và các dịch vụ khác làm tăng lượng nước thải sinh hoạt Lượng nước thải này không được xử lý triệt để cho nên lâu ngày thấm vào nước ngầm làm ảnh hưởng đến nguồn nước giếng ở các địa phương Bên cạnh đó, lượng du khách đông mà lại còn vứt rác bừa bãi; dầu mỡ do phương tiện giao thông làm ảnh hưởng đến nước sạch ở các sông, hồ

hoạt động của các phương tiện giao thông phục vụ cũng tăng theo Hàm lượng bụi, khói từ các hoạt động giao thông ít nhiều làm ô nhiễm bầu không khí

Trang 37

kết cấu hạ tầng như: khách sạn, nhà hàng, các công trình phục vụ du lịch khác sẽ làm cho diện tích đất bị xâm lấn, thu hẹp Ngoài ra, quy hoạch DLST không đúng nơi, xây dựng các công trình hạ tầng không đúng quy cách cũng làm cho tài nguyên đất bị phá vỡ Các hoạt động đi bộ, tham quan trên đường mòn, các khu vực cắm trại, các bãi đỗ xe, v.v, làm tăng cường sự kết chặt đất, lở đất, xói mòn đất, v.v

làm gia tăng lượng rác thải, một khi không có hoặc thiếu những phương tiện thu gom, thiết bị chứa và phương tiện xử lý rác sẽ gây ảnh hưởng không tốt đối với đời sống sinh vật Bên cạnh đó, do việc phá rừng xây nhà lưu trú, sự giẫm đạp, bẻ cành, hái hoa, thu lượm cây cảnh ảnh hưởng đến thảm thực vật; các hoạt động tham quan, tiếng ồn của khách, xe cộ, v.v, khiến các loài động vật hoảng sợ dẫn đến sự thay đổi các diễn biến sinh hoạt, địa bàn cư trú, hoạt động kiếm ăn, săn mồi của chúng

dẫn đến việc săn lùng, buôn bán chúng cũng là những tác động làm suy giảm số lượng quần thể động vật

vẽ lên thân cây cũng làm xấu cảnh quan Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng không hợp lý, hài hòa với thiên nhiên làm giảm tính hấp dẫn của không gian du lịch

Từ những khía cạnh đã phân tích trên về những khả năng mà DLST có thể

gây ra đối với môi trường tự nhiên ở các VQG cho thấy một điều rằng: “DLST cũng

như các loại hình du lịch khác cũng chứa đựng sẵn những mầm mống để tự làm hủy hoại môi trường mà nó tồn tại nếu không có sự quản lý, tổ chức tốt của ban quản lý, các nhà điều hành du lịch”

d Đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia đối với phát triển du lịch sinh thái

Đa dạng sinh học là tất cả các loài động vật, thực vật và vi sinh vật sống hoang dã trong rừng, trong đất, trong không khí và trong các vực nước Đa dạng sinh học là tổng thể số lượng những nguồn sống trên hành tinh gồm các cây và các con

Trang 38

Đa dạng sinh học bao gồm: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái Chính sự đa dạng về gen (đa dạng di truyền), đa dạng loài góp phần tạo nên đa dạng về hệ sinh thái Đứng ở góc độ DLST, thì đa dạng sinh học bao gồm cả sự đa dạng về văn hóa - đó là con người, một thành viên của thế giới sinh vật, đồng thời là nhân tố quan trọng thuộc các hệ sinh thái

Đặc trưng của DLST là lấy các khu tự nhiên làm nền tảng cho sự phát triển Chính vì vậy, sự phong phú của thế giới tự nhiên quyết định lên giá trị của các sản phẩm DLST Đa dạng sinh học là nhân tố không thể thiếu để từ đó xây dựng các chương trình DLST Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao

1.1.5.3 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và cộng đồng địa phương

a Vai trò của cộng đồng địa phương đối với du lịch sinh thái

Cộng đồng địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng Qua quá trình phát triển DLST ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chứng minh được rằng cộng đồng địa phương đóng góp một phần không nhỏ vào việc cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch, bảo vệ tài nguyên và môi trường, góp phần thu hút du khách thông qua cách đối đãi, nét đặc sắc văn hóa

Đối với DLST, địa bàn để nó ra đời và phát triển là các khu vực có nhiều tài nguyên hoang dã, còn khá nguyên trạng Nhưng tại các khu vực này thường các điều kiện giao thông không thật thuận lợi, đồng thời nằm ở vị trí khá biệt lập với các đô thị lớn, các điểm du lịch khác nên gây khó khăn cho các hoạt động cung cấp dịch vụ của các công ty du lịch Vì vậy, các nhà kinh doanh du lịch và cả khách du lịch thường dựa vào cộng đồng địa phương để thực hiện mong muốn của mình

Cộng đồng địa phương sống gần các VQG thường có cuộc sống tương đối khó khăn, thiếu công ăn việc làm nên đã dựa vào điều kiện tự nhiên để kiếm kế sinh nhai Tuy nhiên, nếu được tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch chắc chắn họ

sẽ ra sức bảo vệ và gìn giữ tài nguyên, môi trường - điều kiện để DLST có thể tồn tại và phát triển

Trang 39

Ngoài ra, cộng đồng địa phương cũng có các phong tục tập quán, lễ hội, lối sống, kiến trúc nhà ở, v.v, trở thành tài nguyên du lịch - là đối tượng để du khách có thể tìm hiểu thưởng thức

Như vậy, cộng đồng địa phương vừa là đối tượng vừa là chủ thể để phát triển DLST tại các VQG

b Những lợi ích mà du lịch sinh thái có thể mang lại cho cộng đồng địa phương ở các vườn quốc gia

DLST là loại hình du lịch mà quá trình phát triển có sự cân nhắc rất lớn về vấn đề mục tiêu nào nên đặt lên hàng đầu Đó là nỗi trăn trở đối với các nhà quản lý

và điều hành du lịch ở các VQG Mặc dù mục tiêu kinh tế không phải là yếu tố quá chú trọng nhưng phát triển DLST ở các VQG có thể mang lại các lợi ích cho cộng đồng địa phương cụ thể như sau (Lê Văn Thăng, 2008):

liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động du lịch

đó là: hệ thống đường giao thông, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống điện, hệ thống truyền thông, y tế, v.v

nhất thiết phải bảo vệ tài nguyên môi trường là con đường duy nhất để đảm bảo cho cuộc sống lâu dài và duy trì phát triển các thế hệ tương lai của họ

những giá trị và truyền thống địa phương, tạo mối quan hệ xã hội ngày càng tiến bộ

từ các vùng nông thôn lên thành thị do có việc làm Cũng nhờ những lợi ích do du lịch mang lại, các cộng động địa phương thể hiện sự đoàn kết và quyết tâm bảo vệ đối với các tài sản vốn có của mình

c Những tác động tiêu cực của du lịch sinh thái đối với cộng đồng địa phương ở các vườn quốc gia

Trang 40

DLST là loại hình du lịch có tính ưu việt so với các loại hình du lịch khác về những đóng góp cho cộng đồng Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý, tổ chức tốt trong quá trình phát triển thì DLST cũng có khả năng đem đến những động tiêu cực đối với cộng đồng địa phương:

khiến cho cảnh quan bị hủy hoại ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân

thông, ô nhiễm nguồn nước mặt từ rác thải, ô nhiễm nguồn nước ngầm từ nước thải sinh hoạt, v.v, đã và đang là những vấn đề môi trường nhức nhối cho các cộng đồng

ở gần các khu phát triển du lịch (Võ Quế, 2006)

trẻ em, cũng là những vấn đề lo ngại của nhiều cộng đồng nơi du lịch phát triển

sinh những va chạm và xung đột văn hóa giữa nhóm người bản địa với các nhóm người di cư đến làm ăn

1.2 Cơ sở thực tiễn về Du lịch sinh thái

1.2.1 Một số kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái trong các vườn quốc gia trên thế giới

1.2.1.1 Du lịch sinh thái trong vườn quốc gia Galápagos

Quần đảo Galápagos nằm ở Thái Bình Dương Quần đảo gồm có 61 đảo lớn nhỏ, chúng thuộc về Ecuador từ năm 1832 (IUCN tại Việt Nam, 2008) Quần đảo mang những nét đặc trưng riêng do hệ động, thực vật độc đáo Các loài động vật quan trọng bao gồm: rùa biển, chim cánh cụt, chim hải âu lớn, kỳ đà biển, v.v Các loài thực vật đặc hữu có xương rồng khổng lồ, hướng dương, v.v Thế giới hoang dã độc đáo và sự bạo dạn trong giao tiếp với con người tạo nên điểm thu hút du lịch tự nhiên hàng đầu trên thế giới (IUCN tại Việt Nam, 2008; Buckley R, 2003)

DLST bắt đầu ở vùng biển đảo này vào năm 1969 khi hai công ty lữ hành Metropolitan Touring và Turismundial dùng tàu đưa du khách đến quần đảo và từ

đó du khách tăng liên tục Năm 1980, tổng số khách đến tham quan ở quần đảo

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu trúc DLST  Nguồn: (Lê Văn Lanh, 1998; Nguyễn Thị Sơn, 2000) - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Hình 1.1 Cấu trúc DLST Nguồn: (Lê Văn Lanh, 1998; Nguyễn Thị Sơn, 2000) (Trang 24)
Hình 1.2: Mô hình phân vùng hoạt động du lịch trong VQG - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Hình 1.2 Mô hình phân vùng hoạt động du lịch trong VQG (Trang 29)
Hình 1.3: Các dạng quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Hình 1.3 Các dạng quan hệ giữa phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên (Trang 34)
Hình 2.1: Sơ đồ nhân sự trung tâm DLST VQG U Minh Thượng - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Hình 2.1 Sơ đồ nhân sự trung tâm DLST VQG U Minh Thượng (Trang 52)
Bảng 2.1: Các phân khu chức năng tại VQG U Minh Thượng - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.1 Các phân khu chức năng tại VQG U Minh Thượng (Trang 52)
Bảng 2.2: Diện tích các kiểu lớp phủ thực vật VQG U Minh Thượng - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.2 Diện tích các kiểu lớp phủ thực vật VQG U Minh Thượng (Trang 54)
Bảng 2.3: Danh sách các loài thú ăn thịt ở VQG U Minh Thượng - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.3 Danh sách các loài thú ăn thịt ở VQG U Minh Thượng (Trang 58)
Bảng 2.4: Tài nguyên thú rừng ở một số  VQG trong cả nước - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.4 Tài nguyên thú rừng ở một số VQG trong cả nước (Trang 59)
Bảng 2.5: Những loài chim quan trọng trong bảo tồn tại VQG UMT - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.5 Những loài chim quan trọng trong bảo tồn tại VQG UMT (Trang 60)
Bảng 2.6: So sánh bò sát giữa VQG U Minh Thượng với các VQG, khu bảo tồn - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.6 So sánh bò sát giữa VQG U Minh Thượng với các VQG, khu bảo tồn (Trang 61)
Bảng 2.7 : Cấu trúc thành phần loài động vật nổi ở VQG U Minh Thượng - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.7 Cấu trúc thành phần loài động vật nổi ở VQG U Minh Thượng (Trang 62)
Bảng 2.8 : Các Bộ Côn Trùng ở VQG UMT cùng với số loài và họ tương ứng - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.8 Các Bộ Côn Trùng ở VQG UMT cùng với số loài và họ tương ứng (Trang 63)
Bảng 2.12: Doanh thu của các VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.12 Doanh thu của các VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên (Trang 80)
Bảng 2.13: Những hoạt động du lịch mà người dân địa phương - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
Bảng 2.13 Những hoạt động du lịch mà người dân địa phương (Trang 87)
Hình ảnh ở Đầm Dơi - tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia u minh thượng   tỉnh kiên giang
nh ảnh ở Đầm Dơi (Trang 117)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w