LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI DLST là một loại hình mới phát triển trong vài thập kỷ gần đây và đang trở thành xu hướng tích cực đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thi
Trang 1BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ - DU LỊCH
LAO SƠN HẢI
TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DU LỊCH
Cần Thơ, tháng 04/2011
Trang 2BỘ MÔN LỊCH SỬ - ĐỊA LÝ - DU LỊCH
LAO SƠN HẢI MSSV: 6075755
TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
Trang 3Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn thầy Huỳnh Văn Đà là người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thầy cũng đã chỉ bảo tận tình và giúp
đỡ để em hoàn thiện đề tài nghiên cứu này Lời tiếp theo, em xin gởi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô trong Khoa Khoa học – Xã hội & Nhân văn, thầy Đào Ngọc Cảnh trưởng
bộ môn Lịch sử - Địa lý & Du lịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt đề tài luận văn này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các ban ngành thuộc sở Văn hóa – Thể thao &
Du lịch tỉnh Đồng Tháp và Sở Tài Nguyên và Môi Trường, ban quản lý các khu DLST: Gáo Giồng, Xẻo Quýt và Vườn Quốc Gia Tràm Chim đã cung cấp cho em các
số liệu và tài liệu cần thiết trong việc hoàn thiện luận văn
Chân thành cảm ơn!
Lao Sơn Hải
Trang 5Bảng 1: Thống kê chi tiết về thành phố, huyện, thị xã của Tỉnh Đồng Tháp Bảng 2: Diện tích nơi sống của các loài động thực vật ở khu di tích Xẻo Quýt Bảng 3: Số lượng khách đến Đồng Tháp từ 2005 đến 2010
Bảng 4: Doanh thu du lịch của tỉnh Đồng Tháp từ 2005 đến 2010
Bảng 5: Thống kê cơ sở lưu trú du lịch Đồng Tháp
Bảng 6: Thống kê nguồn nhân lực du lịch Tỉnh Đồng Tháp từ 2006 đến 2010 Bảng 7: Số lượng khách đến Tràm Chim từ năm 2004 đến 2009
Bảng 8: Doanh thu du lịch từ các lĩnh vực của Tràm Chim
Bảng 9: Số lượng nhân viên của VQG Tràm Chim năm 2004 – 2009
Bảng 10: Số lượng khách đến Gáo Giồng từ năm 2005 đến 2010
Bảng 11: Kết quả doanh thu Gáo Giồng từ năm 2008 đến 2010
Bảng 12: Số lượng khách đến Xẻo Quýt từ năm 2004 đến 2009
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện đặc điểm khách du lịch tại Gáo Giồng
Biểu đồ 2: Lượng khách đến Xẻo Quýt từ 2004 – 2009
Biểu đồ 3: Doanh thu từ hoạt động tại Khu di tích Xẻo Quýt 2005-2009 Biểu đồ 4: Kết quả phục vụ của nhân viên tại Xẻo Quýt
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
1.2.3.3 Các loại tài nguyên DLST cơ bản 11 Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG DLST TỈNH ĐỒNG THÁP 14
2.2.2.2 Khu DLST di tích lịch sử Xẻo Quýt 21
2.2.3 Đánh giá chung về tiềm năng các khu DLST Đồng Tháp 24
Trang 72.3.1 Tình hình chung của Tỉnh 26
2.3.1.3 Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 28 2.3.1.4 Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch 29 2.3.2 Hiện trạng các khu DLST Tỉnh Đồng Tháp 29
2.3.2.3 Khu DLST di tích lịch sử Xẻo Quýt 34 2.3.3 Vấn đề môi trường Tỉnh Đồng Tháp 36 Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DLST TỈNH ĐỒNG
3.1.2.3 Phát triển DLST tại các khu bảo tồn 39 3.1.2.4 Phát triển các đại lí du lịch, các nhà điều hành du lịch 39 3.1.2.5 Phát triển mạng lưới thông tin liên lạc và phương tiện giao thông 39 3.1.2.6 Nâng cao các dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch 40 3.1.2.7 Phát triển cộng đồng địa phương 40 3.1.3 Định hướng phát triển DLST Tỉnh Đồng Tháp 40
3.2 Giải pháp phát triển DLST Tỉnh Đồng Tháp 42 3.2.1 Nâng cao sự quản lý của Nhà Nước 42 3.2.2 Tăng cường thu hút vốn đầu tư để phát triển DLST 43 3.2.3 Chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch 43 3.2.4 Chú trọng bảo tồn, tôn tạo và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch 44 3.2.5 Hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng 44 3.2.6 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương 45 3.2.7 Tăng cường xúc tiến quảng cáo, quảng bá du lịch 45
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
DLST là một loại hình mới phát triển trong vài thập kỷ gần đây và đang trở thành xu hướng tích cực đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên và môi trường, các giá trị nhân văn giàu bản văn hóa của mọi dân tộc, thông qua việc giáo dục nhận thức xã hội, của cộng đồng
Khi mà kinh tế phát triển đi đôi với nhu cầu du lịch thay đổi theo hướng trở về với thiên nhiên thì DLST đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận quan trọng của ngành du lịch Nơi nào có DLST phát triển thì thu hút càng nhiều du khách với sự cân bằng của HST, môi trường trong lành và cảnh quan tự nhiên
Việt Nam là đất nước có nhiều tiềm năng về nguồn lực du lịch cả về tự nhiên lẫn nhân văn Khách nước ngoài đến Việt Nam đều đánh giá cao vẻ đẹp đất nước ta Hàng loạt các địa danh có thể sử dụng phục vụ khách du lịch, bên cạnh đó nhiều điểm vẫn còn chưa được khai thác Thật khó mà liệt kê hết tất cả những điểm có sức thu hút khách
Cùng với sự phát triển của du lịch nói chung, trong những năm gần đây du lịch sinh thái Việt Nam cũng phát triển nhanh chóng Bên cạnh những tiềm năng và triển vọng, sự phát triển của du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức to lớn
Trước tình hình phát triển chung của cả nước, DLST Đồng Tháp cũng đang có bước chuyển mình để hòa vào không khí chung của cả nước Với HST rừng tràm, rừng ngập mặn, đã giúp Tỉnh Đồng Tháp đang từng bước khẳng định mình trong hiện tại
và tương lai
Tuy nhiên, DLST Đồng Tháp trong thời gian qua vẫn chưa được khai thác đúng với tiềm năng, đồng thời với sự trùng lắp của sản phẩm du lịch với nhiều tỉnh khác thuộc ĐBSCL làm ảnh hưởng đến sức hút của DLST Đồng Tháp đối với du khách Với việc chọn đề tài “Tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển DLST Tỉnh Đồng Tháp” tác giả mong muốn tập trung vào việc nghiên cứu về thực trạng và tình hình phát triển du lịch sinh thái để tìm ra những ưu điểm, thế mạnh, cũng như những điểm yếu của DLST Tỉnh Đồng Tháp Bên cạnh đó, luận văn còn khái quát lên hiện trạngdu lịch, việc khai thác, sử dụng, đưa ra các phương hướng, biện pháp, trong việc bảo tồn, tôn tạo tài nguyên DLST Đồng Tháp
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu đánh giá tiềm năng và tài nguyên DLST Đồng Tháp để đưa ra giải pháp phát triển bền vững
- Đánh giá hiện trạng, việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên DLST
Trang 9- Nêu ra những mặt hạn chế tồn tại trong công tác bảo tồn phát triển các nguồn tài nguyên
- Đưa ra những đánh giá kiến nghị giải pháp trong công tác bảo tồn phát triển
du lich sinh thái tại Đồng Tháp
- Đưa ra các định hướng phát triển
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
DLST nằm trong tổng thể ngành du lịch của Tỉnh Đồng Tháp Do đó, nghiên cứu về DLST Đồng Tháp là nghiên cứu tổng thể các mối quan hệ vùng, lãnh thổ nơi
có điều kiện để phát triển DLST
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong khi DLST trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ thì DLST Việt Nam chỉ bắt đầu khởi sắc từ những năm 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, cùng với sự thu hút đông đảo lượng khách tham gia vào loại hình du lịch này là sự quan tâm của các nhà chuyên gia nghiên cứu bảo vệ môi trường và vấn đề sinh thái
Từ ngày 07 đến 09/09/1999, Tổng Cục Du Lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như: ESCAP, WWF, IUCN,… có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST, các lĩnh vực có liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam”
Bên cạnh đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng sách, giáo án, luận
án tiến sĩ, luận án thạc sĩ, v.v, của các tác giả như: Nguyễn Bích San, Phạm Trung Lương, Lê Huy Bá,… đã nghiên cứu DLST ở những mức độ khác nhau
Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến DLST ở Đồng Tháp:
Dự án đầu tư và phát triển VQG Tràm Chim giai đoạn 1999 – 2003 của Viện điều tra quy hoạch rừng – Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Đây là dự án nhằm nâng cấp khu BTTN Tràm Chim thành VQG Tràm Chim
5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm hệ thống tổng hợp
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở, gồm các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chịu sự chi phối của nhiều quy luật cơ bản Nghiên cứu du lịch không thể tách rời hệ thống kinh tế - xã hội của địa phương và của cả nước Quan điểm hệ thống giúp ta có cái nhìn tổng thể, khái quát của toàn bộ hệ thống du lịch và quan điểm này được áp dụng trong suốt quá trình thực hiện luận văn
5.2 Quan điểm lịch sử
Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi Quá trình ấy có thể bắt đầu từ trong quá khứ, hiện tại và kéo dài đến tương lai Đứng trên quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ
sở để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát triển trong tương lai Quan điểm
Trang 10này được vận dụng trong khi phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình phát triển
hệ thống du lịch và dự báo xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ
5.3 Quan điểm viễn cảnh
Sẽ giúp người nghiên cứu dự đoán và định hướng được bước phát triển kế tiếp của sự vật, hiện tượng đó ở quá khứ và hiện tại Thông qua thực trạng phát triển du lịch, các nguồn lực phát triển du lịch để thấy được các quy luật phát triển trong quá khứ và hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ sở
để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát triển trong thời gian sắp tới Quan điểm này được vận dụng trong khi phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống du lịch và dự báo xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ
5.4 Quan điểm lãnh thổ
Lãnh thổ du lịch được tổ chức như là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên và dịch vụ cho du lịch Do đó, khi tiến hành nghiên cứu về DLST Đồng Tháp cần xem xét và đánh giá tất cả các đối tượng liên quan đến hoạt động DLST của toàn Tỉnh
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu
Sau khi thu thập các thông tin, tư liệu từ các nguồn như: sách tham khảo, báo, truyền hình, tạp chí, VCD, internet, trong các lĩnh vực như du lịch, địa lý, môi trường, lịch sử và một số ngành học thuộc nhiều lĩnh vực khác Tác giả đã tiến hành
xử lý, phân tích, đánh giá, tổng hợp, sắp xếp và xử lí tài liệu một cách có hệ thống, phân tích từng nội dung đưa ra những kết luận đúng đắn nhất nhằm tạo cho đề tài tăng thêm tính sáng tạo, khoa học và logic
6.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp không thể thiếu nhằm tích luỹ tài liệu thực tế về sự hình thành, phát triển và đặc điểm của tổ chức lãnh thổ du lịch Trong quá trình thực hiện luận văn, phương pháp này rất được coi trọng vì nó phản ánh thực tiễn khách quan của
đề tài mà luận văn nghiên cứu Sau khi có được nhưng tư liệu cần thiết tôi tiến hành đi khảo sát thực đia để quan sát, nhận xét tình hình hiên tại đối tượng đang nghiên cứu một cách chính xác Thông qua nhiều lần đi khảo sát thực địa tôi thu thập thêm một số thông tin mới từ phía cơ quan, từ các khu du lịch sinh thái trên địa bàn Tỉnh Đồng Tháp
6.3 Phương pháp biểu, bản đồ
Trong qua trình nghiên cứu tác giả cũng tham khảo, sử dụng nhiều loại bản đồ nhưng quan trọng nhất là: bản đồ du lịch, bản đồ hành chính, bản đồ giao thông (Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tỉnh Đồng Tháp) nhằm làm tăng tính trực quan của vấn đề đang nghiên cứu
6.4 Phương pháp khai thác phần mềm công nghệ thông tin
Trang 11Các thông tin, số liệu và dự báo trong luận văn được xử lý bởi phần mềm Microsoft Word, internet,… để thể hiện các phân tích, đánh giá, so sánh những tiềm năng, hiện trạng và định hướng phát triển DLST Tỉnh Đồng Tháp
Trang 12
Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp: “tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi Du lịch gắn liền với việc nghỉ nghơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khẻo và khả năng lao động của con người, nhưng trước hết liên quan mật thiết với sự chuyển chổ của họ
Theo điều 10 của Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999): “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch qui định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm (Hội nghị quốc tế và thống kê du lịch tại Canada, 1991)
Du lịch là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức,… và nhìn chung là những lí do không phải
để kiếm sống (Tổ chức du lịch thế giới WTO, 1994)
Trong những thập kỷ gần đây, du lịch phát triển rất nhanh Theo số liệu của Tổ chức du lịch thế giới, hàng năm trên trái đất có khoảng 3 tỉ người đi du lịch Du lịch không chỉ bao gồm các dạng hoạt động của dân cư trong thời gian tới, mà còn bao trùm lên không gian diễn ra các hoạt động khác nhau, đồng thời cũng là nơi tập trung các xí nghiệp dịch vụ chuyên môn hoá
Về phương diện lãnh thổ, du lịch cũng có những tác động nhất định, đặc biệt đối với các vùng xa xôi, nền kinh tế chậm phát triển nhưng có nhiều tiềm năng du lịch lôi cuốn khách du lịch Bộ mặt nền kinh tế của vùng dần dần được thay đổi tùy thuộc nhiều vào số lượng khách đến Đời sống nhân dân được cải thiện nhờ có thêm việc làm
và tăng thêm thu nhập
1.1.2 Chức năng của du lịch
Du lịch có những chức năng nhất định Có thể xếp các chức năng ấy thành 4 nhóm: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trị
1.1.2.1 Chức năng xã hội
Trang 13Chức năng xã hội thể hiện ở vai trò nâng cao nhận thức và ý thức giao lưu quan
hệ xã hội của con người Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người Thông qua hoạt động
du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với các thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc
tế, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như yêu lòng lao động, tình bạn…điều
đó quyết định sự phát triển cân đối về nhận thức các của mỗi cá nhân trong toàn xã hội
1.1.2.2 Chức năng kinh tế
Chức năng kinh tế của du lịch liên quan mật thiết với vai trò của con người như
là lực lượng sản xuất của xã hội Việc nghỉ ngơi du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lí sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp Chức năng kinh tế còn được thể hiện ở một khía cạnh khác, đó là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến
cả cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế Hơn nữa nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của con người được thỏa mãn thông qua thị trường hàng hóa và dịch vụ
du lịch, trong đó nổi lên ưu thế của dịch vụ vận chuyển, ăn uống, lưu trú Chính vì vậy dịch vụ du lịch là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại
tệ lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao
1.1.2.3 Chức năng sinh thái
Chức năng sinh thái của du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích vào việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người
Mặt khác, việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng đất nhất định lại đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng thiên nhiên với mục đích du lịch Đến lượt mình, quá trình này kích thích việc tìm kiếm các biện pháp bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lí
Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh có ý nghĩa không nhỏ đối với khách du lịch Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết sâu sắc về các tri thức tự nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên, góp phần giáo dục cho du khách về mặt sinh thái học
Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo
vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch Du lịch - bảo vệ môi trường là những hoạt động gần gũi và liên quan với nhau
1.1.2.4 Chức năng chính trị
Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một
Trang 14hiểu biết của các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở những khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc
1.2 KHÁI NIỆM DU LỊCH SINH THÁI
1.2.1 Định nghĩa DLST
DLST là một khái niệm tương đối mới nhưng đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Cho đến nay, khái niệm về DLST vẫn còn hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với những tên gọi khác nhau
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Hội DLST Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa như sau: “DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi, nó phải đóng góp cho bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi địa phương”
Cùng với thời gian, DLST càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhiều quốc gia cũng đưa ra khái niệm DLST dựa vào đặc thù và mục tiêu phát triển của quốc gia mình Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (International Ecotourism Society - TIES) đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”
Trong hội thảo quốc gia về “Xây dụng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam”
từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999 với có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực có liên quan tiên đã đưa ra định nghĩa
về DLST ở Việt Nam, theo đó: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Đây được coi là mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo của quá trình phát triển DLST ở Việt Nam Tuy nhiên, những đặc điểm cơ bản nhất của định nghĩa về DLST cũng đã được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) tóm tắt như sau:
- DLST bao gồm những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của du khách là tham quan và tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá tri văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó
- DLST bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường
- Thông thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp có quy
mô nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho nhóm nhỏ du khách Các công ty lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức, điều hành hoặc quảng cáo các tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế
Trang 15- DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hóa - xã hội
- DLST Có hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn tự nhiên
1.2.2 Đặc trưng và nguyên tắc của DLST
1.2.2.1 Các đặc trưng của DLST
Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ
DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng có tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch, bao gồm:
- Tính đa ngành: Thể hiện ở đối tượng khai thác để phục vụ du lịch và thu nhập
xã hỗi từ du lịch mang lại
- Tính đa phần: thể hiện ở sự đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ, cộng đồng địa phương, các tổ chức tham gia
- Tính đa mục tiêu: thể hiện ở lợi ích đa dạng mà hoạt động DLST hướng tới
- Tính liên vùng: biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với quần thể các điểm
du lịch
- Tính mùa vụ: biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm
- Tính chi phí: biểu hiện ở mục đích đi du lịch
- Tính xã hội hóa: biểu hiện ở sự thu hút ở thành phần tham gia
Bên cạnh những đặc trưng chung của ngành du lịch, DLST cũng hàm chứa những đặc trưng riêng, bao gồm:
- Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và DLST được xem là chiếc chìa khóa để cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường
- Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: cộng đồng địa phương chính
là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặc ra một yêu cầu cấp bách là phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó Hơn ai hết, chính những người dân địa phương là người hiểu rõ nhất nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác
Trang 16đồng thời góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng
1.2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST
- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nổ lực bảo tồn:
Đây là nguyên tắc cơ bản hoạt động DLST, tạo ra sự khác biệt giữa DLST với các loại hình dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ
có được sự hiểu biết cao hơn về giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi biểu hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển các giá trị tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực
- Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái:
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động DLST tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái chưa phải là những
ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần phải bảo vệ vì:
+ Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính thức là mục tiêu hoạt động của DLST
+ Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự suy giảm của hoạt động DLST
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng:
Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, bởi vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào
đó sẽ làm mất đi sự cân bằng vốn có Hậu quả của quá trình này tác động trực tiếp đến DLST
- Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương:
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc các công ty lữ hành Ngược lại, DLST dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương Ngoài ra, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương như: đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho du khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho du khách,… thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẻ bị ít phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên,
Trang 17đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng địa phương sẽ là những người chủ thật sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa của nơi diễn ra hoạt động DLST
1.2.3 Tài nguyên DLST
1.2.3.1 Khái niệm tài nguyên DLST
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên trái đất và không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng
để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình
Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với nhân tố về con người và xã hội Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch
Là loại hình phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, “ Tài nguyên DLST là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó ”
Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là DLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn liền với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung DLST nói riêng mới được xem là tài nguyên DLST
Tài nguyên DLST bao gồm các tài nguyên đang khai thác và các tài nguyên chưa khai thác Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc vào:
+ Khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn có còn tiềm ẩn
+ Yêu cầu phát triển các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách DLST
+ Trình độ tổ chức quản lý đối với việc khai thác tài nguyên, đặc biệt ở những nơi có HST nhạy cảm
+ Khả năng tiếp cận để khai thác các tiềm năng tài nguyên
Tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, một số loại tài nguyên DLST chủ yếu được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách DLST bao gồm:
+ Các HST tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm ( các KBTTN, các VQG, các sân chim,… )
+ Các HST nông nghiệp ( vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh,… )
Trang 18+ Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của các HST tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng,…
1.2.3.2 Đặc điểm của tài nguyên DLST
- Tài nguyên DLST phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc
có sức hấp dẫn lớn
- Tài nguyên DLST thường rất nhạy cảm với các tác động
- Tài nguyên DLST có thời gian khai thác khác nhau
- Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch
- Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dũng lâu dài
1.2.3.3 Các loại tài nguyên DLST cơ bản
Ở Việt Nam, do đặc điểm vị trí địa lí, địa hình và hình thái lãnh thổ cho nên tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng, tiêu biểu là một số loại sau:
a Các HST điển hình và đa dạng sinh học
- HST rừng nhiệt đới:
Các HST rừng nhiệt đới với nét đặc trưng là hệ thống các khu rừng đặc dụng là nơi lưu trữ các nguồn gen quý của nước ta phân bố ở khắp từ Nam ra Bắc, từ đất liền tới các hải đảo Tính đến năm 2004, cả nước đã có 107 khu rừng đặc dụng trong đó có
28 vườn quốc gia, 43 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường với tổng diện tích là 2.092.466 ha Ngoài ra, HST rừng nhiệt đới còn bao gồm các HST như sau:
+ HST rừng rậm nội chí tuyến gió mùa ầm thường xanh ( HST rừng ẩm nhiệt đới )
+ HST rừng rậm gió mùa thường xanh trên núi đá vôi ( HST Karst )
+ HST savan nội chí tuyến gió mùa khô ( HST rừng savan )
+ HST rừng khô hạn
- HST núi cao
- HST đất ngập nước:
HST đất ngập nước ở các vùng có những đặc thù riêng, trong đó nổi bật là các
hệ sinh thái ngập mặn ven biển trải dài dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Mũi Nai (Kiên Giang) Tiêu biểu nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long phân bố một diện tích lớn các HST đất ngập nước, chủ yếu là các hệ sinh thái ngập mặn và các hệ sinh thái đất ngập phèn Trong các HST ngập mặn thì các HST rừng ngập mặn châu thổ sông Cửu Long nuôi dưỡng một số lớn diệc, cò, cò lớn, cò quăm Tại đây có các sân chim lớn Rừng ngập mặn là nơi sinh sản, cư trú của nhiều hải sản, chim nước, chim di cư và các loài động vật có ý nghĩa kinh tế lớn như khỉ, lợn rừng, kỳ đà, chồn, trăn, Một dạng hệ sinh thái đất ngập nước điển hình khác là các đầm lầy nội địa hoặc đầm phá ven bờ, trong đó có các hệ sinh thái rừng tràm U Minh, tứ giác Long Xuyên
Trang 19là nổi tiếng Các hệ sinh thái đầm lầy nội địa kết hợp với các vùng sình lầy cửa sông tạo nên các vùng đất ngập nước lớn ở hai châu thổ, nơi có số lượng lớn chim cư trú và chim di cư hàng năm cùng với nguồn lợi quý là mật ong rừng
- HST san hô, cỏ biển:
HST san hô ở Việt Nam khá giàu về thành phần loài, tương đương với các khu vực giàu san hô khác ở Tây Thái Bình Dương, trong đó ở khu vực ven bờ phía Bắc có
95 loài, ở khu vực ven bờ phía Nam có 255 loài Trong các rạn san hô quần tụ nhiều loài sinh vật khác nhau, nhiều loài có màu sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao
- HST vùng cát ven biển:
HST vùng cát ven biển của nước ta đa dạng với 60 vạn ha, tập trung chủ yếu ở ven biển miền Trung (30% tổng diện tích) Các nhóm HST cát hình thành trên các loại cát khác nhau: hệ sinh thái vùng cồn cát trắng vàng; HST vùng đất cát biển; HST vùng đất cát đỏ Đặc biệt lớn là khối cát đỏ ở Tây Bắc Phan Thiết với các cồn di động (do gió tạo nên) vừa có sức hấp dẫn lớn với du khách, vừa có thể phục vụ sản xuất nông nghiệp (trồng hoa màu, dưa hấu, đào lộn hột, )
- HST biển – đảo
- HST nông nghiệp
Các HST đặc thù này thường được tập trung bảo vệ các VQG và KBTTN Vì vậy, việc khai thác các tiềm năng DLST phục vụ phát triển du lịch thường gắn liền với các khu vực này
Dựa trên sự phân bố địa lí, cấu trúc quần thể động, thực vật, sự khác nhau về tổ hợp loài và giới hạn phân bố các loài mang tính chỉ thị, lãnh thổ Việt Nam được chia thành các đơn vị địa lí – sinh học (đơn vị sinh học) chính, gồm:
+ Đơn vị sinh học Đông Bắc
+ Đơn vị sinh học Tây Bắc – Hoàng Liên Sơn
+ Đơn vị sinh học Đồng bằng Sông Hồng
+ Đơn vị sinh học Bắc Trung Bộ (Bắc Trường Sơn)
+ Đơn vị sinh học Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
+ Đơn vị sinh học Đông Nam Bộ (Nam Trung Tâm Đông Dương)
+ Đơn vị sinh học Đồng bằng Sông Cửu Long
Đây là cơ sở quan trọng để xác định tổ chức không gian DLST Việt Nam
b Các tài nguyên DLST đặc thù
- Miệt vườn:
Trang 20Đây là một dạng đặc biệt của HST nông nghiệp Miệt vườn là các khu chuyên canh trồng cây ăn quả, trồng hoa, trồng cảnh,… rất hấp dẫn đối với khách du lịch Tính cách sinh hoạt của cộng đồng người dân nơi đây pha trộn giữa tính cách người nông dân và người tiểu thương Đặc điểm này đã hình thành nên những giá trị văn hóa bản địa riêng gọi là “ văn minh miệt vườn ” và cùng với cảnh quan vườn tạo thành một dạng tài nguyên DLST đặc sắc
- Cảnh quan tự nhiên:
Là sự kết hợp tổng thể các thành phần tự nhiên, trong đó địa hình, lớp phủ thực vật và sông nước đóng vai trò quan trọng để tạo nên yếu tố thẩm mỹ hấp dẫn khách du lịch
- Văn hóa bản địa:
Các giá trị văn hóa bản địa thể hiện đặc trưng sinh thái nhân văn trên góc độ kiến thức bản địa về thiên nhiên, sinh thái nơi cộng đồng đó cư trú Việc khai thác các giá trị văn hóa bản địa để đưa vào nội dung các chương trình DLST ở từng vùng sinh học khác nhau được xem là một bộ phận sinh học hữu cơ không tách rời của DLST, hoàn toàn không lẫn với du lịch văn hóa
Các giá trị văn hóa bản địa thường được khai thác với tư cách tài nguyên DLST bao gồm:
+ Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống của cộng đồng
+ Đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống
+ Kiến trúc dân gian, công trình gắn với các truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực
+ Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn liền với cuộc sống cộng đồng
+ Các di tích lịch sử văn hóa, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng
Trang 21CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI
TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐỒNG THÁP
Đồng Tháp là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, có nền nông nghiệp phát triển, là vựa lúa lớn thứ ba của Việt Nam, là Tỉnh có chỉ số tăng trưởng GDP cao và chỉ số về cạnh tranh kinh tế đứng thứ 1 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, với 2/3 là vùng trũng Đồng Tháp Mười nên việc phát triển DLST cũng phát triển khá rõ nét tại tỉnh này
2.1.1 Vị trí địa lý
Đồng Tháp là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 3.374,07
km2, chiếm 8,17% diện tích vùng ĐBSCL, trong giới hạn 10°07’ - 10°58’ vĩ độ Bắc và 105°12’ - 105°56’ kinh độ Đông
Phía bắc giáp tỉnh Prây Veng (Cam pu chia) trên chiều dài biên giới 47,8 km với 4 cửa khẩu: Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước, phía nam giáp Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía tây giáp An Giang, phía đông giáp Long An và Tiền Giang Tỉnh lỵ của Đồng Tháp hiện nay là thành phố Cao Lãnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 162 km Đồng Tháp có hai đô thị loại III là thành phố Cao Lãnh và thị xã Sa Đéc Với diện tích khoảng 3.246,1 km2
(năm 2003)
Bản đồ hành chính Tỉnh Đồng Tháp
(Nguồn:http://www.dongthap.gov.vn/utility/mapdtnew/dtmap1.htm)
Trang 22Tỉnh Đồng Tháp bao gồm 9 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố: Cao Lãnh (tỉnh lỵ),
2 thị xã: Sa Đéc, Hồng Ngự, 9 huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Tài nguyên đất
Đồng Tháp là một trong những tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên nguồn tài nguyên đất đa dạng, gồm có đất phù sa, đất phèn, đất xám Đất phèn: diện tích 84.382 ha, chiếm 25,99% diện tích đất tự nhiên, đa số đã được ngọt hóa, trồng được lúa, nuôi trồng thuỷ sản với năng suất và chất lượng cao Ngoài ra, còn trồng được cây tràm, một trong những cây đặc trưng của tỉnh Đồng Tháp Đất xám: diện tích 28.155 ha, chiếm 8,67% diện tích đất tự nhiên, tập trung chủ yếu trên địa hình cao ở các huyện: Tân Hồng, Tam Nông, Hồng Ngự Đất cát: diện tích 120 ha, chiếm 0,04% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Trong đó đất phù sa chiếm phần lớn (hơn 50%), rất thuận lợi để trồng hoa màu: Bắp, khoai, sen, rau muống lấy hạt, Cây công nghiệp ngắn ngày: Đậu nành, mè, đậu phộng,… Cây ăn quả: Xoài, cam, quít, chanh, nhãn, Với điều kiên đất đai, cây ăn quả và rừng tràm như vậy rất thuận lợi cho tỉnh Đồng Tháp phát triển mạnh về DLST, và cũng là loại hình du lịch chủ yếu của tỉnh này
2.1.2.2 Tài nguyên nước
Đồng Tháp có nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với mặt nước
ngọt quanh năm, không bị nhiễm mặn Lưu lượng nước Sông Tiền: bình quân 11.500 mét khối/giây, lớn nhất 41.504 m3/giây, nhỏ nhất 2.000 m3/giây Đồng tháp bao gồm 2 nguồn nước chính: nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
- Nguồn nước mặt: Đồng Tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn Ngoài ra còn
có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền
ở Hồng Ngự Phía Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông Sa Đéc,…hệ thống kênh rạch chằng chịt
- Nguồn nước ngầm: Đồng Tháp có nhiều vỉa nước ngầm ở các độ sâu khác nhau, nguồn này hết sức dồi dào, mới chỉ khai thác, sử dụng phục vụ sinh hoạt đô thị
và nông thôn, chưa đưa vào dùng cho công nghiệp
2.1.2.3 Tài nguyên khí hậu
Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh,
có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày Lượng mưa trung bình từ 1.170 – 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm Đặc điểm khí hậu này tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện Ngoài ra, khí hậu còn thể hiện tính đa dạng:
- Độ ẩm tương đối của không khí: bình quân năm là 82 – 85%
- Số giờ nắng: cao, bình quân năm khoảng 2.500 giờ/năm Trên địa bàn, trong
Trang 23năm thường thịnh hành hai hướng gió chính: gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 4), gió mùa Tây Nam (từ tháng 5 đến tháng 10)
2.1.2.4 Tài nguyên rừng
Đồng Tháp có tài nguyên rừng với diện tích gần 10.772 ha, chưa tính 7.612 ha rừng đã được quy hoạch thành khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, cây tràm được coi là đặc thù của Đồng Tháp Mười Nhiều khu rừng đặc dụng: Vườn quốc gia Tràm Chim, Khu di tích Xẻo Quít, Khu di tích Gò Tháp có giá trị bảo tồn lịch sử, văn hóa, nghiên cứu khoa học, thu hút nhiều loài: chim muôn, bò sát, cá tôm, cua ốc, dược liệu,… Hệ sinh thái và động thực vật vô cùng phong phú: 140 loài cây dược liệu, 40 loài cá, 198 loài chim và hàng chục loài bò sát,… Đây cũng là nơi sinh trưởng của nhiều loại động, thực vật quý hiếm: rắn, rùa, sếu đầu đỏ (hạc), bồ nông, ngan cánh trắng, vịt trời,… và
là điểm phát triển du lịch sinh thái lý tưởng Ngoài ra, rừng còn bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm
2.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản
Đồng Tháp là tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu có: cát xây dựng các loại, phân bố ở ven sông, cồn hoặc các cù lao, là mặt hàng chiến lược của tỉnh trong xây dựng; sét gạch ngói: có trong phù sa cổ, trầm tích biển, trầm tích sông, trầm tích đầm lầy
2.1.2.6 Tài nguyên sinh vật
Trước đây, đa số diện tích ẩm thấp ở Đồng Tháp Mười được bao phủ bởi rừng rậm, trong đó cây tràm được coi là đặc trưng của Đồng Tháp Mười Hiện nay, diện tích rừng bị giảm nhanh để chuyển sang sản xuất nông nghiệp, chỉ còn khoảng 14.574 ha, chủ yếu là rừng thứ sinh đang phát triển trở lại thông qua công tác khoanh trồng và bảo
vệ rừng Rừng thứ sinh tập trung nhiều ở các huyện Tam Nông, Tháp Mười, Cao Lãnh Ngoài ra, còn có rừng bạch đàn với diện tích 150 ha ở huyện Tân Hồng và các loại cây rất đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười như: sậy, lau, lúa ma, sen, súng, tảo, cỏ mồm, Tài nguyên rừng vừa phục vụ cho mục đích bảo vệ môi sinh, vừa được khai thác phục vụ cho ngành xây dựng và nguyên liệu giấy
Các loài động vật ở Đồng Tháp tương đối phong phú và đa dạng, có rất nhiều động vật quý như: rùa, rắn, trăn, lươn, cá đồng, tôm, cò, cồng cộc, sếu, có nhiều loại chim quý hiếm trong đó có loài sếu cổ trụi đầu đỏ được cả nước và thế giới quan tâm bảo vệ
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.3.1 Cơ sở hạ tầng
Đồng Tháp có hệ thống giao thông đường bộ và thủy khá phong phú Trong đó
có các cửa ngõ giao lưu kinh tế quan trọng là: Quốc lộ 30 từ biên giới Campuchia nối
Trang 24liền quốc lộ 1A, nối với các tỉnh: Tiền Giang, Long An và đặc biệt với khu kinh tế trọng điểm phía nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu), quốc
lộ 80 nối quốc lộ 1A với phà Vàm Cống, quốc lộ 54 nằm cặp sông Hậu kéo dài từ phà Vàm Cống đến Trà Vinh Bên cạnh hệ thống giao thông bộ, còn có 02 nhánh sông lớn, sông Tiền và sông Hậu đi qua Đồng Tháp là tỉnh có nhiều sông rạch, toàn tỉnh có 339 sông, kênh, rạch với tổng chiều dài 2.838 km, tạo thành mạng lưới giao thông thủy đều khắp Đặc biệt là các tuyến đường thủy sông Tiền, sông Hậu, kênh Tân Thành - Lò Gạch, kênh Hồng Ngự - Long An, kênh An Phong - Mỹ Hoà, kênh Nguyễn Văn Tiếp, sông Sa Đéc - rạch Lấp Vò, rạch Cái Cái - kênh Phước Xuyên - kênh Tư Mới, sông Sở Thượng, sông Sở Hạ, rạch Nha Mân, rạch Cần Lố, rạch Lai Vung có vai trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá, hành khách liên tỉnh và nội tỉnh Cảng Đồng Tháp thuộc hệ thống cảng biển quốc gia đang từng bước được đầu tư để trở thành đầu mối trung tâm tiếp nhận hàng hóa của tỉnh và các loại phương tiện lớn trong nước và quốc
tế Phương án phát triển giao thông vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Tháp Mười của Chính phủ được thực hiện, cụ thể là triển khai nâng cấp các tuyến quốc lộ
80, 54, 30, khởi công xây dựng mới Quốc lộ N1, N2 (đường Hồ Chí Minh), xây 02 cầu Cao Lãnh và Vàm Cống bắc qua sông Tiền và sông Hậu, sẽ tạo điều kiện thuận lợi
để Đồng Tháp mở rộng giao thương, thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển
2.1.3.2 Dân cư
Đồng Tháp là tỉnh có dân số đông ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tại thời điểm 01-04-2009, dân số của tỉnh là 1.665.420 người, đứng thứ 4 khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (sau An Giang, Kiên Giang và Tiền Giang) và đứng thứ 15/63 tỉnh, thành phố trong cả nước
Dân cư Đồng Tháp phân bố không đều, tập trung ở các khu đô thị như thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, thưa thớt ở các huyện thượng nguồn sông Tiền và vùng Đồng Tháp Mười Tỉnh có mật độ đô thị hoá thấp hơn so với trung bình cả nước Tỷ lệ dân thành thị trong tổng số dân của tỉnh năm 2003 là 15% so với mức bình quân của cả nước là 25,1% Dân số thành thị tập trung ở thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và các thị trấn Riêng thành phố Cao Lãnh và thị xã Sa Đéc chiếm hơn 50% tổng số dân thành thị của Tỉnh
Trong đó người Kinh chiếm khoảng 99,3%, còn lại là người Hoa và người Khmer Hơn 20,4% dân số là tín đồ của các tôn giáo như Hòa Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa,… Với tỉ lệ diện tích và phân bố dân cư như vậy, ta có bảng thống kê chi tiết về thành phố, huyện và thị xã thuộc địa bàn Tỉnh Đồng Tháp như sau:
Trang 25Bảng 1: Thống kê chi tiết về thành phố, huyện, thị xã của Tỉnh Đồng Tháp
Tên Thành
phố/Thị
xã/Huyện
Đơn vị trực thuộc
Diện tích (km²)
2.2 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DLST CỦA TỈNH ĐỒNG THÁP
2.2.1 Hệ sinh thái tự nhiên
HST tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên, sinh thái động vật, sinh thái thực vật, sinh thái khí hậu và sinh thái nhân văn Sự tương tác giữa các yếu tố tự nhiên: địa mạo, trầm tich, đất, nước và các yếu tố khác đã hình thành những cảnh quan tự nhiên với các hệ sinh thái đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười Tỉnh Đồng Tháp là một trong những Ttỉnh có HST khá đa dạng ở ĐBSCL Do vị trí địa lý nằm trong vùng Đồng Tháp Mười nên thiên nhiên đã ưu ái cho nơi đây HST rừng tràm và HST đất
Trang 26ngập nước với sự đa dạng về chủng loại động, thực vật, là một trong những điều kiện thuận lợi để Đồng Tháp phát triển thế mạnh về DLST
Hệ sinh thái rừng tràm (Melaleuca spp.) có thể tìm thấy khá nhiều trong đồng
bằng ngập nước Phạm vi xuất hiện của hệ sinh thái này khá đa dạng, từ vùng triền của đất dốc tụ cho đến đất phèn hoạt động Những cánh rừng tràm có thể phát triển trên những cánh đồng, đồng thời cũng có thể phát triển khá nhiều dọc theo sông rạch Tràm
ở đây chủ yếu là loài cây phát triển nhanh, thân mảnh, cao 10-20m, mọc trên đất đã ổn định miễn là ẩm ướt và không bị xâm nhập triều Tràm cũng chịu được phèn, có trường hợp chịu mặn yếu Rừng tràm (Melaleuca cajuputi) là thảm thực vật thân gỗ có diện tích lớn nhất, diện tích khoảng 1.826 ha Do tác động con người, hầu hết những cánh rừng tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉ còn lại là những cánh rừng tràm trồng Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các loài năng ống (Eleocharis dulcis), cỏ mồm (Ischaemum rugosum và I indicum), hoàng đầu Ấn (Xyris indica), nhĩ cán vàng (Utricularia aurea), cỏ ống (Panicum repens), súng (Nymphaea lotus), cú muỗi (Caprimulgusmaeruru), chèo bẻo (Dicrurus macrocercus), hút mật (Aethopiga siparaja), vành khuyên (Zosterops palpebrosa), chim sẻ (Carpodacus erythrinus), én (Apus affinis), rẻ quạt (Rhipidura albicollis), chích chòe (Lucustella lanceolata) Những loài chim thường gặp: cò trắng (Egretta garzetta), cò
bợ (Ardeola bacclus), cò lửa (Ixobrychus sinensis), cò lép, vạc (Nycticorax nycticorax), diệc lửa (Ardea purpurea), diệc xám (Ardea cinerea), điêng điểng (Anhinga melanogaster), cồng cộc (Pharacrocoraxniger), tu hú, cú ngói (Streptopelia tranquebarica), cú cườm (Caprimulgusmaerurus), cú (Tyto capensis) Rừng tràm là loại rừng thuần nhất cao nhất trong tất cả các loại rừng thuần nhất ở nước ta Diện tích rừng tràm ở U Minh ước lượng có đến 140ha Cây tràm thích ứng tuyệt vời với sinh cảnh hai mùa nước ngập và khô cạn Chữ xưa gọi tràm là “bách bì” vì vỏ tràm mềm, dày, gồm nhiều lớp mỏng Cấu tạo như vậy giúp hơi nước thoát nhanh ra được khi bị ngập nước Vào mùa khô hạn, thân tràm có cách bảo vệ khác Lúc này một loại dây leo, dây “dớn” thân rất dai, bám dày đặc trên thân tràm, giúp tràm giữ độ ẩm cần thiết
Hệ sinh thái đồng cỏ ngập nước theo mùa khá phổ biến và chiếm ưu thế trong vùng này xưa kia Thảm thực vật với các quần xã thay đổi theo môi trường tự nhiên
trong từng vùng Những cánh đồng hoàng đầu ấn (Xyris indica), cỏ năng (Eleocharis sp.), cỏ ống (Panicum repens), cánh đồng cỏ mồm (Ischaemum sp.), cỏ lác (Cyperus
sp.) trải rộng khắp vùng này xưa kia vẫn còn tìm gặp khá nhiều ở các khu bảo tồn và vườn quốc gia, mặc dù tính phong phú giữa các loài đã và đang bị suy giảm Phát huy các giá trị của hệ sinh thái đất ngập nước có giá trị rất lớn trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, du lịch sinh thái, vui chơi giải trí, giáo dục môi trường Cung cấp giống thủy sản trong các thủy vực,
cung cấp thủy sản cho nhân địa phương và khu vực Các loài sen–súng (Nymphaea
sp.) cùng các loài thực vật thủy sinh khác chiếm ưu thế và đặt trưng ở các vùng đầm
Trang 27lầy đã bị thu hẹp diện tích do quá trình thoát thủy cải tạo đất cho mục tiêu sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Tiềm năng các khu du lịch sinh thái Tỉnh Đồng Tháp
thuộc huyện Tam Nông, Tỉnh Ðồng Tháp
b Tiềm năng du lịch
Đây là một Ðồng Tháp Mười thu hẹp với hệ sinh vật phong phú, đa dạng của vùng đất ngập nước, là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, gồm 231 loài chim nước, chiếm khoảng 1/4 số loài chim có ở Việt Nam như: cồng cộc, giang sen, già đẫy, diệc, các loại cò trắng, cò bọ, cò lửa, chim dẽ, bồ nông, mòng két, vịt trời, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới Loài chim điển hình nhất và được nhiều người biết đến ở đây là sếu đầu đỏ Ðến đây, du khách được tận mắt ngắm nhìn những con Sếu đầu đỏ – một trong số 15 loài sếu còn tồn tại trên thế giới đang có nguy cơ diệt chủng
Đây là một trong 27 VQG ở Việt Nam và được đánh giá là "Hòn ngọc của Đồng bằng sông Cửu Long" do có hệ sinh thái đất ngập nước rộng hơn một triệu ha của vùng Đồng Tháp Mười Hiện VQG Tràm Chim có diện tích thu nhỏ được bảo vệ nghiêm ngặt là 7.588 ha (vùng lõi) và có trên 20.000 ha vùng đệm bao quanh có dân
cư sinh sống thuộc 5 xã: Tân Công Sính, Phú Đức, Phú Hiệp, Phú Thành B, Phú Thọ
và hàng chục kênh rạch lớn nhỏ
Tổng diện tích 7.588 ha, trong đó khu bảo vệ nghiêm ngặt 688 ha, khu phục hồi sinh thái 653 ha và khu dịch vụ 46 ha Là vườn quốc gia đất ngập nước đầu tiên của Việt Nam VQG Tràm Chim là một trong những nơi sót lại cuối cùng của hệ sinh thái vùng lau sậy ngập nước đã từng che phủ 700 nghìn ha diện tích đất tự nhiên trước đây của các tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang Trước đây có nhiều sông suối tự nhiên chảy từ tây sang đông, dẫn nguồn nước từ sông Cửu Long vào vùng Đồng Tháp Mười
và đây cũng là vùng ngập lũ theo mùa với mức nước ổn định trong suốt 7 tháng
Về môi trường sống có 42 % số loài sử dụng đầm lầy nước ngọt, 10 % sử dụng các đồng cỏ, 8 % sử dụng rừng ngập nước, 2 % sử dụng các con kênh có cây bụi, cây
gỗ và còn lại 38 % sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên
Các loài chim quý hiếm được tìm thấy ở đây là: sếu đầu đỏ, già đã lớn, già đãy
Trang 28cánh trắng, điên điểng, cò trắng Trung Quốc, diệc Sumatra, bồ nông chân xám, giang sen, nhạn ốc, ô tác,…
Hệ thống rễ tràm dày đặc là nơi cư ngụ và đẻ trứng của nhiều loài động vật đáy, các loài sú, vọp, cua và nhiều loài động vật khác như rùa, baba, ếch, nháy, rắn các loại,… đây cũng là môi trường sống thích hợp của các loại tảo Trên mặt nước, các cành cây là nơi sinh sống của các loài động vật không xương sống như ong, kiến, nhện
và các loại côn trùng khác
Ngày nay, do có hệ thống kênh mương thay đổi, thời gian ngập lũ đã bị rút ngắn
và không ổn định về mức nước Thảm thực vật của VQG Tràm Chim không đồng nhất, gồm đồng cỏ năn ngập nước theo mùa, đầm sen, vùng sình lầy ngập nước và rừng tràm (Melaleuca sp.) tái sinh Trong số các quần xã cỏ dại, đáng chú ý là quần xã lúa trời (lúa ma - Oryza rufipogon) Thảm thực vật đặc trưng là rừng kín lá rộng thường xanh ngập nước theo mùa trên đất chua phèn với 130 loài thực vật bậc cao
Cũng chính thảm thực vật dày đặc nơi đây đã tạo nơi ở cho nhiều loài bò sát như trăn, rắn, rùa, lươn và trước đây có cả Đồi mồi và Cá sấu từ biển hồ (Campuchia)
di cư xuống Vào mùa lũ, trên những cây gáo có khi có tới vài chục con rắn sống quấn quyện bên nhau Nhưng ngày nay không còn xuất hiện Cá sấu và Đồi mồi ở vùng đất này, các loài khác cũng đã dần biến mất
Thành phần các loài cá ở VQG Tràm Chim phản ánh một phần hình ảnh thu nhỏ của các loài cá ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long Tuy nhiên nếu so sánh với các vùng nước phèn khác thì thành phần các loài cá ở đây phong phú hơn nhiều, mang tính chất vùng ngập ven sông chịu ảnh hưởng lũ
Các khu rừng tràm trong VQG Tràm Chim là các khu rừng được trồng ở độ tuổi
từ 4 đến 25, mật độ biến thiên trong khoảng từ 5.000 đến 20.000 cây/ha
Không còn gì bằng khi đến thăm thú một khung cảnh tự nhiên và thưởng thức các món ăn đặc sản của vùng đất này Với các món đặc sản chủ yếu là “cây nhà lá vườn” như cá lóc, cá rô, lá sen,…đến đây khách du lịch sẽ có thể thưởng thức một
buổi ăn tuyệt vời mang đậm chất dân dã nhưng cũng không kém phần hấp dẫn
Với sự đa dạng về mặt sinh học, VQG Tràm Chim có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền du lịch của tỉnh nhà trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và tạo ra sự tăng trưởng kinh tế xã hội của tỉnh với tốc độ cao
2.2.2.2 Khu DLST di tích lịch sử Xẻo Quýt
a Vị trí địa lý
Xẻo Quýt thuộc 2 xã Mỹ Hiệp và Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Là di tích lịch sử văn hóa được công nhận từ năm 1994, Xẻo Quýt - một căn cứ giữa lòng dân được bảo tồn nguyên trạng: nhà hầm, công sự, hầm bí mật, giúp cho du khách biết được khung cảnh của cuộc sống khắc nghiệt thời chống Mỹ Cách thị xã Cao Lãnh Tỉnh Ðồng Tháp chừng 30km, theo quốc lộ 30, là một khu rừng tràm rộng
Trang 29hơn 20ha được tỉnh Ðồng Tháp quy hoạch, bảo tồn trở thành khu di tích cách mạng, trong khung cảnh thiên nhiên rừng tràm nằm giữa vùng đất trũng với nhiều loại cây: tràm, gáo, sậy, trâm bầu, sen, súng, v.v
b Tiềm năng du lịch
Nơi đây từng là căn cứ của cơ quan tỉnh ủy Kiến Phong trong kháng chiến chống Mỹ (từ cuối năm 1959) Môi trường sinh thái ở đây hết sức đa dạng với hơn 170 loài thực vật và 200 loài động vật hoang dã, trong đó có 13 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam như trăn mốc, rắn hổ trâu, rái cá, rùa hộp,… không ngoa khi người ta gọi Xẻo Quýt là Đồng Tháp Mười thu nhỏ Rừng tràm ở đây với tuổi đời hơn 30, 40 năm,
vì thế có những cây tràm cao mấy chục mét
Chỉ chiếm diện tích khoảng 20 ha nhưng cảnh quan và môi trường sinh thái của Xẻo Quýt hết sức đa dạng Có đến 32 họ thực vật tiêu biểu của vùng Nam bộ xuất hiện tại Xẻo Quýt, mỗi họ như vậy có đến hàng vài chục loại, có nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng Còn chỉ riêng cá đồng, theo thống kê có đến 116 loài cá đang sinh sống trong hệ sinh thái rừng bán ngập của Xẻo Quýt
Bảng 2: Diện tích nơi sống của các loài động thực vật ở khu di tích Xẻo Quýt
4 Rừng trồng hỗn loài Tre + Gáo vàng 0,52 1,20
5 Rừng hỗn loài Tràm + Gáo vàng + Chưn bầu
12 Các nơi sống trên đê nhân tạo 1,45 3,36
(Nguồn: Điều tra sự đa dạng sinh học của khu di tích lịch sử văn hóa Xẻo Quýt,
Trang 30Thăm Xẻo Quýt vào mùa khô, bạn sẽ len lỏi theo những con đường mòn ngoằn ngoèo dưới tán tràm mát rượi, nếu mỏi chân có thể mắc võng, ngả lưng ngắm nhìn cây
lá Mùa nước lên, trên chiếc xuồng ba lá, những cô du kích áo bà ba đen, khăn rằn, nón tai bèo đưa bạn luồn lách qua những con rạch nhỏ hoang sơ để vào những di tích nằm khuất trong rừng tràm mênh mông Tiếng nước róc rách, cá quẫy và chim hót trên những hàng cây cao vút, xanh rì, bao phủ bởi lớp dây leo mềm mại đem lại những giây phút thư thái, bình yên cho khách tham quan
Đối diện với khu di tích là trụ sở Ban quản lý, nhà hàng, khu nghỉ ngơi, nhà thủy tạ và một hồ sen rộng 3.000 m² Xung quanh hồ trang trí nhiều loại cây cảnh đặc trưng của xứ Đồng Tháp Mọi người đến đây sẽ được đắm mình vào khoảng xanh thơ mộng của một vùng quê yên ả, thanh bình và phảng phất chút gì sắc thái của U Minh
Ngày nay, đến với Xẻo Quýt, du khách không những chiêm ngưỡng nét độc đáo của thiên nhiên mà còn được tận mắt quan sát thế trận của quân và dân ta, đặc biệt là các hầm tránh pháo, các công sự chiến đấu cá nhân hình chữ L, nhà đón khách tỉnh ủy, các nơi hội họp, làm việc và sinh hoạt của cán bộ, bộ đội trong suốt thời kỳ đánh Mỹ
ác liệt giữa một vùng trời nước bao la Đặc điểm của khu du lịch này là không có bê tông, không có tường vôi, gạch đá mà hầu hết các hạng mục công trình đều được phục chế bằng gỗ, tre, tràm, đưng, lá dừa nước, trong đó có không ít di tích vẫn còn nguyên trạng, như hầm bí mật của đồng chí Trần Anh Điền, Bí thư tỉnh ủy, được thiết kế bằng
lu mái đầm ngụy trang rất tài tình
Hiện nay, khu di tích Xẻo Quýt đã được nhiều cơ quan, đoàn thể và khách du lịch từ mọi miền đất nước đến tham quan và du lịch về nguồn, đông nhất là vào các ngày cuối tuần Hướng tới, ngành du lịch sẽ tiếp tục mở rộng và nâng cấp các khu vui chơi giải trí, du lịch dã ngoại, ăn uống và dịch vụ du lịch để giữ màu xanh và giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau
2.2.2.3 Khu du lịch Gáo Giồng
a Vị trí địa lý
Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng nằm trong khu vực rừng tràm thuộc ấp 6, xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, cách trung tâm Thị xã Cao Lãnh khoảng 17km Khu du lịch này có 36 ha sân chim với 15 loài chim cùng hàng trăm loài động thực vật và thuỷ sản
b Tiềm năng du lịch
Khu du lịch sinh thái Gáo Giồng được thành lập từ tháng 3/2003 Rừng tràm Gáo Giồng có diện tích khoảng 1.700 ha, trong đó có 250 ha rừng nguyên sinh, với những bưng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau sậy, cà na, gáo,
Nơi đây có sân chim với nhiều loài chim nước sinh sống và làm tổ quanh năm như: trích mồng đỏ, cồng cộc, le le, vịt trời, diệc, điên điển, nhiều hơn hết vẫn loài cò trắng hàng chục nghìn con khiến rừng tràm này được xem là vườn cò lớn nhất hiện nay
ở vùng Đồng Tháp Mười Lúc bình minh hay hoàng hôn, rừng tràm Gáo Giồng sống
Trang 31động, nhộn nhịp hẳn lên với tiếng chim gọi đàn và từng đàn cò trắng từ bốn phương trở về tổ Vào mùa nước nổi, trên các cánh đồng đàn cò trắng cần mẫn kiếm mồi tạo nên một cảnh đẹp ngoạn mục Các lung sen - nơi quy tụ hàng nghìn con trích mồng đỏ
về đây vui múa, nhộn nhịp suốt ngày Trên bãi ăn của trích, hàng nghìn con dạn dĩ, mồng đỏ ối trên bộ lông xanh lam thư thả nhổ những cọng năn tươi non, thỉnh thoảng chúng cất tiếng gáy hay “trình diễn” những vũ điệu tuyệt đẹp
Gáo Giồng chia thành 4 khu với trên 70 km kênh phân lô, 20 km đê bao khép kín Đây là vựa cá nước ngọt lớn vào bậc nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mười Sản lượng cá tự nhiên khai thác hằng năm hơn 30 tấn, nhiều nhất là cá lóc, cá rô, cá thát lát Với nguồn thức ăn tự nhiên phong phú nên rất nhiều loài chim nước đã khéo chọn đây làm nơi sinh sống, quần tụ
Tại đây có loài rau đồng vượt nước như bông điên điển, bông súng, rau dừa, rau mát tạo nên một khung cảnh khá hấp dẫn du khách Vào mùa khô, nơi đây có thể tổ chức cắm trại dưới những tán rừng tràm, tham quan các sân chim hoặc câu cá Du khách sẽ được thưởng thức các món đặc sản truyền thống của vùng Đồng Tháp Mười như cá lóc nướng gói với đọt sen, lá sâu nhái chấm với mắm me, rắn nướng mọi, cá linh nấu canh chua bông điên điển, mắm kho chấm với rau dừa, rau mát, bông súng và nhấm nháp rượu mật ong tràm tinh khiết
Nhờ có hệ thống giao thông thuận lợi cả bằng đường thuỷ và đường bộ nên số lượng du khách đến với Gáo Giồng ngày càng tăng Họ đến để tham quan và tận hưởng bầu không khí trong lành, yên tĩnh Điều thú vị đối với khách du lịch là ngồi trên những chiếc xuồng ba lá nhẹ êm len lỏi giữa các con rạch hay nằm trên võng đung đưa dưới tán lá tràm mát rượi
2.2.3 Đánh giá chung về tiềm năng các khu DLST Đồng Tháp
2.2.3.1 Những lợi thế
Đồng Tháp có tiềm năng tài nguyên du lịch khá phong phú, đặc biệt là tài nguyên DLST và du lịch nhân văn khá tiêu biểu và độc đáo Các nguồn tài nguyên du lịch của Đồng Tháp được phân bố tương đối tập trung ở một số khu vực chính như thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, huyện Cao Lãnh, huyện Tháp Mười, huyện Tam Nông dọc sông Tiền, sông Hậu Ở những nơi này, có sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
- Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Đồng Tháp có Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước (Vườn Quốc gia Tràm Chim – Tam Nông), Khu sân chim và rừng tràm Gáo Giồng, cồn Tiên (Lai Vung), cồn
An Hiệp (Châu Thành), cồn Đông Giang (thị xã Sa Đéc), cồn Bình Thạnh (Cao Lãnh), cồn Tô Châu (Thanh Bình), Cù lao Long Khánh (Hồng Ngự), nằm trong hệ thống sông ngòi chằng chịt và một số làng nghề truyền thống như đan thảm lát, đan lục bình, đan
Trang 32lợp, đan thúng, đan lưới, dệt chiếu, dệt khăn rằn, đặc biệt là khu vực hoa kiểng Sa Đéc có khả năng phát triển du lịch sinh thái, homestay Ngoài ra, những cây tràm hiện hữu còn có những thảm thực vật đặc trưng như lúa trời, năng, lác, bông súng, điên điển, động vật có các loài quý hiếm như: cồng cộc, trích, le le,…
Đồng Tháp là vùng đất giàu truyền thống yêu nước nên có nhiều di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia như Khu di tích cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ) Nơi đây là điểm thu hút khách du lịch nội địa đến tham quan và hành hương Bên cạnh đó còn có Khu di tích Gò Tháp, là căn cứ của Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều trong kháng chiến chống Pháp Đặc biệt nơi đây có
di chỉ của nền văn hóa Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam đang được khai quật Nơi đây hàng năm có hai kỳ lễ hội: Lễ hội bà Chúa Xứ tháng 3AL và lễ hội Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều vào tháng 11AL Hàng năm đã thu hút hàng trăm ngàn lượt khách từ các nơi đến đây hành hươngvà một số đình, chùa cổ đã được ghi vào sách sử Mỗi đình đều có cúng Kỳ Yên hàng năm để cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an Cúng đình là đặc trưng của dân tộc Việt Nam và cũng là ngày hội văn hóa của nhân dân địa phương
Đây là một điểm thuận lợi để hình thành những cụm du lịch bao gồm 3 cụm du lịch: cửa khẩu biên giới, thành phố Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc,… có sức thu hút du khách cao Mặt khác, việc xây dựng các tuyến du lịch nối các tỉnh lân cận và Thành phố Hồ Chí Minh cũng được thuận lợi Bên cạnh đó, cũng có một số tuyến du lịch nội tỉnh như: Lăng cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – Khu du lịch Gáo Giồng, Khu di tích
Gò Tháp – VQG Tràm Chim,…
Với lợi thế tiềm năng đặc thù trên, Đồng Tháp đã lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và các dự án đầu tư cơ sở vật chất, các khu du lịch trọng điểm Theo đó, tập trung vào 19 khu, điểm du lịch, trong đó 5 khu, điểm du lịch trọng điểm thuộc cấp tỉnh quản lý và ưu tiên đầu tư Ngoài ra là các khu, điểm du lịch thuộc huyện, thị quản
lý, tuy chưa hoàn chỉnh nhưng bước đầu một số đã khai thác và đón khách du lịch
2.2.3.2 Những hạn chế
Đồng Tháp là Tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú nhưng hiện tại sản phẩm du lịch còn hạn chế, nghèo nàn, chưa hấp dẫn, phương thức kinh doanh du lịch chưa phong phú Thời gian lưu giữ khách thấp, bình quân khoảng 1 ngày, hiệu quả kinh doanh thấp, chưa tương xứng với tiềm năng Hầu hết các khu, điểm du lịch còn khai thác ở dạng tự nhiên, thiếu quy hoạch tổng thể, thiếu vốn đầu tư, tôn tạo
Việc phát triển du lịch Đồng Tháp cũng còn gặp không ít khó khăn Trước hết,
là hệ thống cơ sở hạ tầng kém, gây khó khăn cho việc hình thành các tour du lịch khép kín Thứ hai, là do nguồn kinh phí hạn hẹp nên bản thân các khu di tích và nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như lễ hội, các làng nghề thủ công truyền thống cũng chưa được đầu tư, tôn tạo và phát triển đúng mức và cuối cùng là cơ chế quản lý khai