1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang

132 2,3K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở khu vực ĐBSCL, DLST cũng được quan tâm chú ý phát triển, trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã nêu rõ sản phẩm đặc trưng của vùng du lịch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đặng Văn Thanh

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Đặng Văn Thanh

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐÀO NGỌC CẢNH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn là TS Đào Ngọc Cảnh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nh ận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong ph ần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể

hi ện trong phần tài liệu tham khảo

N ếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

TP H ồ Chí Minh, tháng 09 năm 2013

Đặng Văn Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập và nghiên cứu, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học: TS Đào Ngọc Cảnh đã tận tình chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quí thầy, cô trong Khoa Địa lí, Trường ĐHSP

TP Hồ Chí Minh đã cung cấp kiến thức và tài liệu qúy Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học và các phòng ban khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và thầy cô đồng nghiệp trong trường THPT nơi tôi công tác đã ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn cô, chú lãnh đạo và chuyên viên các Sở, Ban ngành của tỉnh Kiên Giang và của huyện Phú Quốc đã nhiệt tình cung cấp tài liệu liên quan đến đề tài và giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa, điều tra phục vụ đề tài

Cuối cùng, xin cám ơn bạn bè và người thân đã nhiệt tình ủng hộ, động viên, khích lệ, chia sẻ những khó khăn và là nguồn động lực cần thiết để tôi hoàn thành đề tài luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 6

MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 9

3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 9

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 10

5 Quan điểm nghiên cứu 12

6 Phương pháp nghiên cứu 13

7 Những đóng góp chính của đề tài 15

8 Cấu trúc của luận văn 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 16

1.1 Một số vấn đề về du lịch sinh thái 16

1.1.1 Khái niệm DLST 16

1.1.2 Vai trò DLST 19

1.1.3 Các đặc trưng của DLST 21

1.1.4 Các nguyên tắc của DLST 22

1.1.5 Những yêu cầu của DLST 24

1.2 Tài nguyên du lịch sinh thái 26

1 2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch sinh thái (TNDLST) 26

1.2.2 Đặc điểm TNDLST 28

1.2.3 Phân loại TNDLST 29

1.3 Thực tiễn phát triển du lịch sinh thái trên thế giới 30

1.3.1 Du lịch sinh thái ở Nhật Bản 30

1.3.2 Du lịch sinh thái ở Lào 33

1.3.3 Du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Galapagos (Ecuador) 34

1.4 Phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam 36

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI PHÚ QUỐC 39

2.1 Khái quát về huyện đảo Phú Quốc 39

Trang 6

2.1.1 Vị trí địa lí 39

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 40

2.1.3 Đặc điểm KT-XH 41

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái Phú Quốc 43

2.2.1 Tài nguyên DLST Phú Quốc 43

2.2.2 Những điều kiện ảnh hưởng đến phát triển DLST Phú Quốc 51

2.2.3 Đánh giá chung tiềm năng du lịch sinh thái Phú Quốc 59

2.3 Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái Phú Quốc 60

2.3.1 Khái quát hiện trạng phát triển du lịch Phú Quốc 60

2.3.2 Hiện trạng phát triển DLST Phú Quốc 67

2.3.3 Đánh giá chung hiện trạng phát triển DLST Phú Quốc 76

C HƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI PHÚ QUỐC 78

3.1 Cơ sở xây dựng định hướng 78

3.1.1 Định hướng phát triển du lịch Kiên Giang 78

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội Phú Quốc 80

3.1.3 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với phát triển DLST Phú Quốc 81

3.2 Định hướng phát triển DLST Phú Quốc 84

3.2.1 Định hướng chung 84

3 2.2 Định hướng về loại hình DLST Phú Quốc 85

3.2.3 Định hướng phát triển các cụm DLST 87

3.2.4 Định hướng phát triển các tuyến- điểm DLST 88

3.2.5 Định hướng phát triển thị trường DLST 91

3.2.6 Định hướng liên kết vùng trong phát triển DLST Phú Quốc 92

3.3 Các giải pháp phát triển du lịch sinh thái Phú Quốc 93

3.3.1 Giải pháp về quy hoạch DLST 93

3.3.2 Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật 94

3.3.3 Giải pháp đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng bá DLST 96

3.3.4 Giải pháp tổ chức và quản lý phát triển DLST 97

3.3.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ DLST 98

3.3.6 Giải pháp về cơ chế chính sách cho DLST 100

3.3.7 Giải pháp tăng cường giáo dục, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái 101

3.3.8 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong DLST 104

Trang 7

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC 116

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

- BTTN : Bảo tồn thiên nhiên

- IUCN : Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế

- KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

- KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 9

- TNDL : Tài nguyên du lịch

- TNDLNV : Tài nguyên du lịch nhân văn

- TNDLST : Tài nguyên du lịch sinh thái

- TNDLTN : Tài nguyên du lịch tự nhiên

- TNTN : Tài nguyên thiên nhiên

- UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

- VHBĐ : Văn hóa bản địa

- VQG : Vườn quốc gia

- WWF : Qũy Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển nhanh chóng trong phạm vi nhiều quốc gia trên thế giới, ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong xã hội Đặc biệt trong hai thập kỷ qua khi mà các nhà máy, các xí nghiệp ngày càng phát triển, dân số không ngừng gia tăng, đô thị hóa và tập trung dân cư, khu công nghiệp với nhiều nhà máy, khói bụi giao thông…đang là vấn nạn thì việc tìm về với tự nhiên là nhu cầu tất yếu

DLST đang trở thành một bộ phận có tốc độ tăng trưởng mạnh về tỷ trọng trong ngành du lịch Nơi nào còn giữ nhiều khu thiên nhiên, có được sự cân bằng sinh thái thì nơi đó sẽ có tiềm năng phát triển tốt về DLST và thu hút được nguồn du khách lớn, lâu dài và ổn định, từ đó sẽ mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp phần làm tăng thu nhập quốc dân, tạo nhiều cơ hội về việc làm, cải thiện đời sống, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng dân cư các địa phương, nhất là ở những nơi có các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), các cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa hấp dẫn

Xuất phát từ nhận thức về lợi ích của DLST đối với bảo tồn môi trường tự nhiên, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội DLST cần được chú ý đầu tư nghiên cứu phát triển

Việt Nam với cảnh quan thiên nhiên đa dạng, giàu tiềm năng để phát triển DLST Trong đó, vùng ĐBSCL hiện đang được đầu tư phát triển nhiều loại hình DLST hấp dẫn: du lịch cồn, miệt vườn, du lịch sông nước, DLST biển đảo…

Điển hình cho hệ thống các đảo và quần đảo, trong đó có Phú Quốc được nhà nước quan tâm đầu tư, phát triển thành trung tâm DLST lớn nhất nước, có tầm cở trong khu vực

Phú Quốc được đánh giá là nơi nhiều tiềm năng phát triển DLST: các bãi biển, đảo, đa dạng sinh học biển, hệ sinh thái (HST) Vườn quốc gia (VQG); tài nguyên

Trang 11

bước đầu DLST đã được hình thành và phát triển, hiện đã khai thác được các loại hình tham quan VQG, lặn ngắm san hô, câu cá, mực phục vụ nhu cầu du khách Tuy nhiên chỉ ở mức độ lệ thuộc vào tài nguyên, tự phát là chính mà chưa có hướng khai

du lịch đúng nghĩa, phát huy hết tiềm năng, lợi thế để phát triển lâu dài Do vậy, Phú Quốc cần được đánh giá đúng tiềm năng, hiện trạng hoạt động DLST và trên cơ sở đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp nhằm góp phần phát triển DLST Đồng thời cũng có kế hoạch bảo vệ tài nguyên vốn có của đảo phục vụ phát triển trong thời gian tới là vấn đề hết sức cần thiết

Xuất phát từ những mong muốn như trên, tôi chọn “Phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu

Mục tiêu cần đạt được của đề tài là phân tích, đánh giá được tiềm năng, hiện trạng phát triển DLST Phú Quốc Qua đó đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển nhằm thúc đẩy phát triển DLST Phú Quốc

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm

vụ cụ thể sau:

- Tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn về DLST

- Phân tích, đánh giá các tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST ở Phú Quốc

- Trên cơ sở đó, đưa ra định hướng và giải pháp phát triển DLST Phú Quốc thời gian tới

3 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

3.1.V ề nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau đây:

Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST ở Phú Quốc

Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm vào việc khai thác tốt hoạt động DLST của huyện đảo

Trang 12

hệ mắc xích với PTBV là mô hình DLST

Từ những năm 1990 trở lại đây, trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của hội DLST (1992, 1993); Chương trình môi trường Liên hiệp Quốc (1979); Tổ chức Du lịch Thế Giới (1994)… Đó là là các công trình nghiên cứu về DLST của Burns; Holden (1995); Pata (1993); Cater (1993); Glaser (1996); Wrihgt (1993) Đáng chú ý là công trình nghiên cứu “DLST hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lí” của Kreg Lindberg (1999) và các chuyên gia của hội DLST quốc

tế

4.2 Ở Việt Nam

DLST mới chỉ nổi lên từ những năm 90 của thế kỉ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Đã có nhiều hội nghị, hội thảo về DLST được tổ chức ở Việt Nam Hội nghị Quốc tế về Du lịch bền

Trang 13

(Cộng hòa Liên Bang Đức) tổ chức tại Huế (tháng 5/1997) Các vấn đề về DLST, du lịch với môi trường được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm thảo luận

Hội thảo về DLST với Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam diễn ra tại Hà Nội (tháng 4/1998)…Trong đó, có rất nhiều tham luận của các tác giả (Nguyễn Thượng Hùng, Đặng Huy Huỳnh, Lê Văn Lanh, Võ Trí Chung…) Các báo cáo tham luận chủ yếu tổng quan một số khía cạnh lí luận về DLST và đã có một số nghiên cứu đánh giá về tiềm năng DLST ở Việt Nam (Phạm Trung Lương, Koeman…)

Bên cạnh đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng sách, giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ… của các tác giả: Phạm Trung Lương, Nguyễn Thị Sơn, Lê Huy Bá, Nguyễn Song Toàn, Trần Quang Hiệu, Phạm Thị Bích Hằng… đã nghiên cứu về DLST ở các mức độ khác nhau

Ở khu vực ĐBSCL, DLST cũng được quan tâm chú ý phát triển, trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã nêu rõ sản phẩm đặc trưng của vùng du lịch Tây Nam Bộ là: DLST, khai thác các giá trị văn hóa sông nước miệt vườn, nghỉ dưỡng, sinh thái biển, đảo…

Với chiến lược phát triển du lịch chung của cả nước, Phú Quốc được chú trọng đầu tư phát triển mạnh du lịch thời gian tới, do đó Phú Quốc cũng là nơi tập trung nhiều nghiên cứu Trong đó có một số nghiên cứu liên quan đến đề tài như:

“Quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch Phú Quốc theo hướng chủ yếu là du lịch chất lượng cao, gắn với nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng” do Tổng cục du

lịch trình Chính phủ phê duyệt năm 2005

“Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển đảo Phú Quốc”do Bộ xây dựng

trình Chính phủ phê duyệt năm 2005

“Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang đến năm 2020”,

do Bộ xây dựng - công ty tư vấn xây dựng Kiên Giang làm chủ đề tài (2005)

“Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch bền vững huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang đến năm 2020”, do tiến sĩ Trương Thị Kim Chuyên làm chủ nhiệm đề tài

(2006)

Trang 14

“Phát triển các loại hình du lịch huyện đảo Phú Quốc theo hướng bền vững”

của Đinh Thị Thanh Mai (2011)

Ngoài ra, còn có quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội huyện liên quan đến du lịch được chính phủ phê duyệt, bước đầu áp dụng vào khai thác và phát triển huyện đảo

5 Q uan điểm nghiên cứu

5.1 Quan điểm hệ thống

Đối tượng nghiên cứu của khoa học Địa lí du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch

Hệ thống này bao gồm nhiều thành phần (tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa) có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau Do đó, bất kì một sự thay đổi nào dù lớn hay nhỏ của một thành phần tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác trong toàn bộ hệ thống Đối với Phú Quốc là địa thế ở đảo, chỉ cần sự thay đổi về một thành phần nào đó sẽ dẫn đến sự thay đổi về môi trường, cảnh quan và từ đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng SPDL và tất nhiên cũng ảnh hưởng đến lượng khách đến hàng năm

Do đó, trong nghiên cứu cần phải thấy được mối quan hệ này để đưa ra các giải pháp đúng đắn giúp cho các thành phần của hệ thống lãnh thổ du lịch phát triển một cách đồng bộ

5 3 Quan điểm kinh tế - sinh thái bền vững

Phát triển DLST Phú Quốc nói chung không ngoài mục đích kinh tế nhưng còn

Trang 15

nước, giữ bền vững HST vùng biển đảo Bên cạnh đó, còn phải tích cực tạo công ăn việc làm và mang lại lợi ích cho cư dân địa phương trên đảo và giữ gìn văn hóa truyền thống của họ DLST chỉ có thể phát triển khi địa bàn có HST đa dạng, đặc thù, văn hóa bản địa (VHBĐ) nguyên vẹn Bởi vậy, các lợi ích đạt được từ du lịch phải quay trở lại hỗ trợ bảo tồn tài nguyên ở Phú Quốc nhằm đảm bảo môi trường du lịch PTBV

5.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mọi sự vật và hiện tượng đều có lịch sử hình thành, phát triển và biến đổi của

nó Đó là quy luật tất yếu của sự phát triển Do đó, cần phải nghiên cứu quá khứ làm

căn cứ cho việc đánh giá tình hình phát triển, biến đổi ở hiện tại Nghiên cứu hiện tại

để biết thực trạng và làm cơ sở dự báo, định hướng cho tương lai Luận văn vận dụng quan điểm này để: phân tích, đánh giá quá trình hình thành, phát triển của DLST Phú

Quốc; sự biến đổi về lượng khách và doanh thu du lịch theo thời gian; mối tương quan giữa CSVCKT phục vụ du lịch với tốc độ tăng trưởng của du khách để có định hướng đúng đắn cho việc đầu tư phát triển các dịch vụ

6 P hương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập phân tích và tổng hợp tài liệu

Tài liệu được thu thập để phục vụ nghiên cứu đề tài này bao gồm các nguồn chủ yếu như sau: tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành, tạp chí và báo cáo khoa học liên ngành, sách chuyên ngành, báo cáo tổng kết cơ quan chức năng địa phương,

số liệu thống kê… Các nguồn tài liệu này đòi hỏi người nghiên cứu phải thu thập và

xử lí nhằm nhận thức được cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu của những người đi trước; các chủ trương và chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu và số liệu thống kê,…Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, tiến hành lựa chọn và xử lí (phân tích, tổng hợp, so sánh) nhằm chắt lọc ra những thông tin cần thiết cho nội dung đề tài

6 2 Phương pháp nghiên cứu thực địa

Đối với đề tài nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể nhất thiết phải có quá trình thực địa Quá trình này giúp người nghiên cứu thu thập thêm tài liệu có liên quan đến đề

Trang 16

tài (ở dạng ấn phẩm hoặc tự ghi chép), đồng thời kiểm chứng tính chính xác của thực

tế so với sách vở Bên cạnh đó, còn giúp người nghiên cứu phần nào phát huy tính độc lập của mình trong nghiên cứu và có cái nhìn xác đáng, toàn diện hơn từ thực tế

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ tiến hành đi thực địa để thu thập bản

đồ, tài liệu, chụp ảnh, tham quan và đồng thời cũng đến các điểm DLST để thấy được tiềm năng từ đó có những định hướng, giải pháp hợp lí cho DLST các điểm thời gian tới

6.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê

Nghiên cứu hoạt động du lịch có rất nhiều số liệu ở nhiều lĩnh vực như lượng khách, doanh thu, đầu tư Các số liệu đó đều mang tính định lượng Nghiên cứu, phân tích các số liệu này để có những nhận định, đánh giá khoa học, phù hợp với thực

tế

Các số liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu từ Niên giám thống kê huyện Phú Quốc và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Kiên Giang cung cấp Trên cơ sở nguồn số liệu đó chúng tôi tiến hành sử lí, phân tích để có những phân tích, đánh giá,

dự báo trong tương lai phù hợp, đồng thời có thể xây dựng được bản đồ, biểu đồ và đưa ra được những kết luận chân thực, chính xác

6.4 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng Bản đồ thể hiện sự phân bố, mối liên hệ và động thái của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau Vì thế bản đồ vừa là nguồn tư liệu quý giá giúp người nghiên cứu có thể khai thác những thông tin cần thiết, đồng thời là phương tiện thể hiện một cách trực quan, khái quát một số đối tượng nghiên cứu của

đề tài

6.5 Phương pháp thống kê

Phương pháp này được sử dụng để xác định xu hướng, diễn biến của tập hợp các số liệu thu thập được Tùy thuộc vào tính hệ thống và khả năng thu thập thông tin, số liệu có thể được trình bày dưới nhiều dạng, từ đơn giản đến phức tạp, từ dạng

Trang 17

kém trực quan đến trực quan hơn gồm: các con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ nhằm thể hiện các mối quan hệ và xu thế của sự vật

Trong đề tài tác giả dùng phương pháp thống kê để thể hiện các số liệu dưới dạng bảng biểu về dân số, nguồn lao động, doanh thu du lịch, số lượng lao động phục

vụ du lịch Ngoài ra, tác giả còn thể hiện các số liệu dưới dạng biểu đồ như: hiện trạng khách du lịch, cơ cấu trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch…của Phú Quốc

7 Những đóng góp chính của đề tài

Đề tài có những đóng góp chính như sau:

- Tổng quan cơ sở lí luận, thực tiễn về DLST và vận dụng vào việc nghiên cứu phát triển DLST Phú Quốc

- Kiểm kê, đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST Phú Quốc

- Định hướng khai thác DLST Phú Quốc theo hướng đảm bảo mục tiêu và hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm khai thác hợp lý tiềm năng phát triển DLST gắn với việc bảo tồn và hỗ trợ phát triển cộng đồng

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về DLST

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST Phú Quốc

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển DLST Phú Quốc

Trang 18

C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH

du khách cũng bắt đầu nhận thức được những tác hại sinh thái do họ gây ra và hơn thế nữa người dân địa phương cũng đã có sự quan tâm đến giá trị của tự nhiên và môi trường nên các tour du lịch chuyên về săn bắn chim, thú, cưỡi lạc đà, bộ hành thiên nhiên đã bắt đầu có sự hướng dẫn và quản lý nghiêm ngặt DLST dần dần được định hình từ đây [2]

DLST (Ecotourism) là loại hình du lịch khá mới mẻ (mới thật sự được quan tâm từ thập kỷ 80) nhưng từng bước đã khẳng định được lý do tồn tại của nó (thập kỷ

90 của thế kỷ XX được coi như là “thập kỷ của DLST”) [2], [14]

Có người quan niệm DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của HST, nơi diễn ra các hoạt động du lịch Cũng có ý kiến cho rằng: DLST đồng nghĩa với du lịch địa lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững [2]

Ở góc nhìn hẹp, xét về mặt chữ nghĩa DLST đơn thuần chỉ là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái” Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm này phức tạp hơn nhiều và cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm:

Năm 1987, nhà nghiên cứu tiên phong về DLST: Hector Ceballos - Lascurain

đã đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về DLST như sau: “DLST là du lịch đến

những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được

Trang 19

Năm 1991, Wood định nghĩa DLST như sau: “DLST là du lịch đến các khu vực

còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” [9]

Năm 1993, Lindberg và Hawkins đưa ra khái niệm rất ngắn gọn nhưng phản

ánh khá đầy đủ về nội dung và chức năng của DLST Theo đó: “DLST là du lịch có

trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” [2]

Ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều phát triển những định nghĩa riêng của mình về DLST

Định nghĩa của Nêpan: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham

gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lí các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào” [9]

Định nghĩa của Malaixia: “Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm

viếng một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế” [9]

Định nghĩa của Ôxtrâylia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có

liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lí bền vững về mặt sinh thái”

Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có

trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”

Trang 20

Năm 1994, nhấn mạnh đến yếu tố bảo vệ TNDL và giáo dục môi trường,

Buckley đã tổng quát khái niệm DLST như sau: “ Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên,

được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là DLST” [9]

Như vậy, từ định nghĩa DLST được đưa ra đầu tiên vào năm 1987, sau nhiều năm và qua nhiều định nghĩa khác nhau đã cho thấy có sự thay đổi về quan niệm Từ chỗ cho rằng DLST đơn thuần chỉ là loại hình du lịch mà địa bàn của nó là các khu vực tự nhiên còn tương đối hoang sơ và du khách đến đó ít có những hoạt động làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn, đó là DLST còn có vai trò đóng góp cho bảo tồn, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương (CĐĐP), có trách nhiệm và giáo dục cao về môi trường

Mặc dù DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn

và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái, du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các HST và VHBĐ DLST nói theo một định nghĩa nào

đi chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần:1) Sự quan tâm tới thiên nhiên và môi

trường; 2) Trách nhiệm với xã hội và cộng đồng [2]

Trong lần Hội thảo Quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh

thái ở Việt Nam” (từ ngày 7 - 9/9/1999) do Tổng cục Du lịch Việt Nam tổ chức trên

cơ sở phối hợp với nhiều Tổ chức Quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN, , với sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST Định nghĩa

DLST lần đầu tiên được đưa ra ở Việt Nam như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình

du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [9]

Trang 21

Có thể nói, định nghĩa do Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát

triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” đưa ra đã bao hàm đầy đủ nội dung của DLST Nó

bao quát được các quan niệm về DLST của các nhà khoa học trên thế giới

Trên cơ sở định nghĩa có thể khái quát thành sơ đồ cấu trúc của DLST như sau:

Góp phần cải thiện và nâng cao CSHT của các khu DLST, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của CĐĐP cùng với việc giáo dục môi trường giúp CĐĐP có kế

Định nghĩa Du lịch sinh thái

Trang 22

hoạch phát triển nguồn tài nguyên mà không bị xuống cấp trong quá trình khai thác

và sử dụng

DLST cũng góp phần khôi phục và phát triển những ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, thúc đẩy các ngành nghề khác cùng phát triển và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Vì vậy DLST mang lại lợi ích cho kinh tế rất lớn đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia, địa phương, đơn vị kinh doanh du lịch

1.1.2.2 Lợi ích xã hội

Cùng với sự phát triển của đô thị hóa, con người ngày càng tách rời với môi trường tự nhiên, một số hình ảnh thiên nhiên chỉ còn tìm thấy trong ký ức, nhờ có sự phát triển của DLST nhu cầu tìm hiểu thiên nhiên của con người mới được đáp ứng

1.1.2.3 Lợi ích thẩm mỹ

Mỗi một cảnh quan chứa đựng trong nó biết bao nhiêu vẽ đẹp, sự sinh động của thế giới tự nhiên và sự năng động trong cách thích ứng với thế giới tự nhiên của con người Nơi DLST phát triển là nơi cảnh quan thiên nhiên được phát hiện, phát triển và bảo tồn

DLST tạo điều kiện cho các nhà thiết kế tour tiến hành khảo sát các tuyến, điểm du lịch (ĐDL) nhằm bảo vệ nguồn TNTN, tài nguyên nhân văn Sự khảo sát này kèm theo những nguyên tắc chặt chẽ như nghiêm cấm mọi hành vi phá hoại nguồn TNTN, cấm sờ mó vào các thạch nhũ, các công trình kiến trúc, văn hóa cổ, thúc đẩy

sự bảo tồn nguồn tài nguyên nhân văn

1.1.2.4 Lợi ích sinh thái

Thông qua các hoạt động, DLST sẽ giúp cho các loài động thực vật quý hiếm được khôi phục, gìn giữ và bảo vệ sự đa dạng sinh học (ĐDSH) trên toàn thế giới, DLST góp phần giúp con người sống có trách nhiệm hơn với môi trường tự nhiên

DLST kết hợp hài hòa cả 3 mục tiêu: kinh tế, xã hội, sinh thái Do đó DLST là một loại hình du lịch bền vững, nó đảm bảo cho môi trường tự nhiên và xã hội không những không bị suy thoái mà còn được cũng cố phát triển lâu dài

Trang 23

1.1.3 Các đặc trưng của DLST

Du lịch nói chung và DLST nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của TNDLTN, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về CSHT và dịch vụ Kết quả hình thành các SPDL từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội

DLST là một dạng của hoạt động du lịch, do đó cũng bao gồm các đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm [9]:

1.1.3.1 Tính đa ngành

Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, CSHT và các dịch vụ kèm theo ) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa )

1.1.3.2 T ính đa thành phần

Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ

du lịch, CĐĐP, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch

1.1.3.3 Tính đa mục tiêu

Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về BTTN, cảnh quan lịch sử-văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội

Trang 24

theo mùa (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc của những người hưởng thụ SPDL)

1.1.3.8 Tính giáo dục cao về môi trường

DLST hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về ĐDSH và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động

du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và DLST được coi là chiếc chìa khóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường

1.1.3.9 Góp phần bảo tồn các nguồn TNTN, duy trì tính ĐDSH

Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ TNTN và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu PTBV

1.1.3.10 Thu hút sự tham gia của CĐĐP

CĐĐP là những người chủ sở hữu các nguồn TNTN tại địa phương Phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về ĐDSH, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của CĐĐP tại khu vực để bảo vệ nguồn tài nguyên đó Sự tham gia của CĐĐP có tác dụng to lớn giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời góp phần nâng cao hơn nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng

1.1.4 Các nguyên tắc của DLST

Hoạt động DLST được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc sau [9]:

1.1.4.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn

Trang 25

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các loại hình du lịch Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên

(MTTN), về đặc điểm sinh thái khu vực và VHBĐ Với những hiểu biết đó, thái độ ứng xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá khu vực

1.1.4.2 Bảo vệ môi trường và duy trì HST

Đối với loại hình DLST, vấn đề bảo vệ môi trường là một trong những nguyên tắc cơ bản, cần tuân thủ, bời vì:

- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các HST là mục tiêu hoạt động của DLST

- Sự tồn tại của DLST gắn liền với MTTN và các HST điển hình như: sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các HST đồng nghĩa với việc đi xuống của hoạt

động DLST

Với nguyên tắc này, mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để

giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST

sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các HST

1.1.4.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng

Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, bởi các giá trị VHBĐ là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của HST ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của CĐĐP dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự căn bằng sinh thái vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi HST đó Hậu quả của quá trình này

Trang 26

Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại, DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của CĐĐP

Ngoài ra, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương như: đảm nhiệm vai trò HDV, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách… Thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho CĐĐP Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo

vệ các nguồn TNTN để phát triển DLST Sức ép của cộng đồng đối với môi trường vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính CĐĐP sẽ là những người chủ thật

sự, những người bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và VHBĐ nơi diễn ra các hoạt động DLST

1.1.5 Những yêu cầu của DLST

Đối với DLST, để hình thành và phát triển cần tuân thủ các yêu cầu sau đây: dựa trên các HST tự nhiên điển hình với tính ĐDST cao, đảm bảo tính giáo dục, hạn chế những tác động của hoạt động DLST đến tự nhiên và môi trường, thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch [9], [15]:

1.1.5.1 Dựa trên các HST tự nhiên điển hình với tính ĐDST cao

Sinh thái tự nhiên là sự cộng sinh của các điều kiện tự nhiên bao gồm: sinh thái động vật, sinh thái thực vật, sinh thái khí hậu, [9]

ĐDST là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của ĐDSH ĐDST thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu, , đó là các HST và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật [9]

Trang 27

Như vậy có thể nói, DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các HST điển hình với ĐDST cao nói riêng và ĐDSH cao nói chung

Để nâng cao sự hiểu biết cho khách DLST và hướng hoạt động của họ theo chiều hướng có lợi cho môi trường nhất thiết phải có HDV am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và VHBĐ để giới thiệu cho khách Qua đó hình thành ở du khách lòng yêu quý và trân trọng thiên nhiên và văn hóa địa phương

Trong DLST còn đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin đầy đủ để cung cấp, hướng dẫn cho du khách Đó là các ấn phẩm giới thiệu về ĐDSH, nét độc đáo của văn hóa địa phương; các bảng chỉ dẫn và nội quy tham quan Các thông tin này cần phải được phổ biến đến từng du khách thông qua HDV, trung tâm đón khách và các phương tiện, thiết bị tiếp nhận và phân phối thông tin trên tuyến tham quan [15]

1.1.5.3 Hạn chế những tác động của hoạt động DLST đến tự nhiên và môi trường

Trong hoạt động DLST, tổ chức, quản lí không hợp lí gây ra nhiều vấn đề [9]:

Liên quan đến sức chứa của lãnh thổ Thứ nhất, nếu một lãnh thổ có số lượng khách

tập trung quá đông vượt khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra và ảnh

hưởng trực tiếp đến môi trường Thứ hai, bản thân du khách sẽ cảm thấy khó chịu vì

sự “đông đúc” và hoạt động của họ bị ảnh hưởng Mức độ thỏa mãn của du khách bị giảm xuống dưới mức bình thường, những tác động này làm giảm sự hài lòng của du khách Thứ ba, xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống

văn hóa-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của CĐĐP có

Trang 28

cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập Thứ tư, năng lực quản lí (lực lượng nhân viên, trình độ

và phương tiện quản lý ) sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ ảnh hưởng đến môi

trường và xã hội

Để đảm bảo hoạt động DLST được PTBV, lâu dài phục vụ tốt nhu cầu của du khách, nhất thiết phải tổ chức, quản lí một cách hợp lí nhất để giảm thiểu những tác động đến tự nhiên và môi trường Sự tác động quá mức sẽ gây ra những hậu quả có thể làm suy giảm, xuống cấp nhanh chóng của tài nguyên, môi trường, mất đi sự cân bằng lãnh thổ

1.1 5.4 Thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch

Việc thỏa mãn mong muốn của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, VHBĐ thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan [9]

1.2 Tài nguyên du lịch sinh thái

1 2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch sinh thái (TNDLST)

DLST là loại hình du lịch lấy thiên nhiên và VHBĐ làm cơ sở để phát triển Nói đến TNDLST, không thể không kể đến TNTN; tuy nhiên, có sự gắn kết yếu tố du lịch vào trong tài nguyên nên được gọi là TNDL hay TNDLST Như vậy:

“ TNDLST là các yếu tố cơ bản để hình thành các điểm, các tuyến hoặc các khu DLST; bao gồm: các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình sáng tạo của nhân loại có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu

về DLST”[2]

TNDLST là một bộ phận cấu thành trong TNDL, bao gồm: các giá trị của tự nhiên thể hiện trong một HST cụ thể và các giá trị VHBĐ tồn tại và phát triển không tách rời khỏi HST tự nhiên đó Tuy vậy, không phải bất cứ mọi giá trị tự nhiên và VHBĐ đều được xem là TNDLST, mà chỉ có các thành phần và các tổng thể tự nhiên, các giá trị văn hóa gắn với một HST cụ thể có thể được khai thác, được sử

Trang 29

dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng mới được xem là TNDLST

TNDLST bao gồm: tài nguyên đã và đang khai thác và tài nguyên mà triển vọng sẽ khai thác Khả năng khai thác TNDLST phụ thuộc vào:

- Khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá các tiềm năng của tài nguyên

- Mức độ yêu cầu để phát triển sản phẩm DLST nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và càng đa dạng của du khách

- Khả năng tiếp cận để khai thác các tiềm năng của TNDLST

- Trình độ tổ chức quản lý đối với việc khai thác TNDLST

Khi nghiên cứu về DLST, ta thường gặp các thuật ngữ như: Hệ sinh thái, đa dạng sinh học, đa dạng sinh thái, văn hóa bản địa [9]

Hệ sinh thái: Là hệ cân bằng tự nhiên với tất cả các đặc thù của nó Vũ trụ,

Thái Dương hệ, Trái Đất và khí quyển được coi là sinh thái quyển bao gồm nhiều hệ thống cân bằng tự nhiên tồn tại trước khi sự sống xuất hiện, trong đó sinh quyển chỉ

là một hệ thống cân bằng của sinh thái quyển được hình thành khi đã xuất hiện những

cơ thể sống Những sinh vật sống này tập hợp thành những quần thể sinh vật, tồn tại

và phát triển trong sự cân bằng động, có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố như khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng

Đa dạng sinh học: Là thuật ngữ tổng quát biểu hiện sự phong phú, đa dạng của

thiên nhiên, gồm toàn bộ các dạng sống được tạo nên trên Trái Đất

Đa dạng sinh thái: Thể hiện sự đa dạng của các kiểu cộng đồng (các HST, các

nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật) khác nhau tạo nên cơ thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau, cũng như mối liên hệ với các yếu tố vô sinh như đất, nước, khí hậu, địa hình có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự sống

Văn hóa bản địa: Là các giá trị về vật chất và tinh thần được hình thành trong

quá trình phát triển của một cộng đồng dân cư, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới tự nhiên và con người trong không gian của một HST cụ thể VHBĐ là một bộ phận đặc biệt của đa dạng văn hóa-một cấu thành quan trọng của ĐDSH, góp phần tạo nên nền văn hóa nói chung của một dân tộc, một quốc gia

Trang 30

1.2.2 Đặc điểm TNDLST

1.2.2.1 TNDLST phong phú và đa dạng

TNDLST được hình thành trên nền tảng các tài nguyên trong tự nhiên, mà bản thân tự nhiên thì rất đa dạng và phong phú, vì thế TNDLST cũng có chung đặc điểm này TNDLST bao gồm những HST đặc biệt, là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển của nhiều loài sinh vật quý hiếm Như vậy, TNDLST có sức hấp dẫn đặc biệt đối với

du khách [9]

1.2.2.2 TNDLST thường nhạy cảm với các yếu tố tác động

So sánh với nhiều loại tài nguyên du lịch khác, TNDLST thường rất nhạy cảm đối với những tác động của con người Bất kỳ một sự tác động nào làm thay đổi tính chất của tự nhiên hoặc một hợp phần của tự nhiên hoặc làm suy giảm hay mất đi một

số loài sinh vật cấu thành nên HST nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân làm thay đổi thậm chí làm biến mất HST đó và kết quả là một diễn thế sinh thái mới xuất hiện Trong trường hợp này, TNDLST bị ảnh hưởng với những mức độ khác nhau [9]

1.2.2.3 TN DLST có thời gian khai thác khác nhau

Trong các loại TNDLST, có loại tài nguyên có thể khai thác được quanh năm, cũng có loại khai thác theo thời vụ; chủ yếu dựa vào các yếu tố khí hậu, mùa di cư, sự sinh sản của các loài sinh vật, đặc biệt là các loài đặc hữu, quý hiếm

Du khách chỉ có thể đến thăm những vườn cây đặc sản như vải thiều, xoài cát, nhãn lồng vào mùa hạ; cam giấy, cam đường vào mùa đông

Như vậy, để khai thác có hiệu quả TNDLST, các nhà quản lý, tổ chức điều hành cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa của các loại tài nguyên để làm căn

Trang 31

cuộc sống của mình Điều này giải thích tại sao phần lớn TNDLST lại nằm trong phạm vi các VQG, KBTTN – nơi có sự quản lí chặt chẽ

Khác với nhiều loại tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể vận chuyển

đi nơi khác để chế biến tạo ra sản phẩm rồi lại đưa đến nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch nói chung, TNDLST nói riêng thường được khai thác tại chổ để tạo ra các sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của khách Trong một số trường hợp thực tế có thể tạo ra những môi trường giống như MTTN với các vườn thực vật, công viên để du khách tham quan Tuy nhiên, đây chưa phải là sản phẩm của DLST đích thực, chúng được tạo ra trong các khu đô thị, các thành phố lớn, nhằm phục vụ cho số người dân ít có điều kiện về với các khu tự nhiên [9]

Do những đặc điểm trên nên để khai thác có hiệu quả TNDLST, cần phải xây dựng CSHT, đặc biệt là hệ thống giao thông tiếp cận với những vùng giàu tài nguyên

1.2.2.5 TNDLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

Phần lớn các TNDL, trong đó có TNDLST được xếp vào nhóm tài nguyên có khả năng tái tạo, sử dung lâu dài Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của

tự nhiên Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều TNDLST đặc sắc như các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm hoàn toàn có thể mất đi do tự nhiên hoặc do tác động của con người Vấn đề đặt ra là cần phải nắm được quy luật của tự nhiên, lường trước được những tác động của con người đối với tự nhiên nói chung, TNDLST nói riêng để có những định hướng, giải pháp cụ thể khai thác hợp lý, có hiệu quả; không ngừng bảo

vệ tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá này nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch [9]

Đây là yêu cầu sống còn của du lịch nhằm góp phần thực hiện chiến lược phát triển DLBV Chỉ có phát triển DLBV mới đảm bảo cho nguồn TNDL trong đó có

TNDLST ít bị tổn hại, nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển du lịch hiện tại mà còn sẵn

sàng đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng trong tương lai

1.2 3 Phân loại TNDLST

TNDLST rất đa dạng và phong phú Một số loại TNDLST chính thường được khai thác và phục vụ nhu cầu của khách DLST bao gồm:

Trang 32

1.2.3.1 Các HST tự nhiên đặc thù

Các HST này có tính đa dạng sinh học cao, nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm Bao gồm các các HST rừng; HST rừng ngập mặn ven biển; HST núi cao; HST đất ngập nước, ngập mặn; HST đầm lầy nội địa; HST Sông, hồ; HST đầm phá; HST san hô, cỏ biển; HST vùng cát ven biển; HST biển đảo; sân chim, cảnh quan tự nhiên Thường được tập trung bảo vệ ở các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ)

1.2.3.2 Các HST nông nghiệp

Bao gồm các vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cây cảnh hấp dẫn du khách, vừa là nơi để tham quan, ngắm cảnh, học hỏi những kinh nghiệm sản xuất

1.2.3.3 Văn hóa bản địa

Các giá trị VHBĐ có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của HST tự nhiên, được khai thác với tư cách là TNDLST bao gồm:

- Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống của cộng đồng

- Đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống

- Kiến trúc dân gian, công trình gắn với các truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực

- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn liền với cuộc sống của cộng đồng

- Các di tích lịch sử văn hóa, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng [2]

Ngoài ra, tài nguyên DLST còn có thể phân loại một cách đơn giản như sau:

- Tài nguyên DLST tự nhiên: bao gồm tất cả các yếu tố thuộc về tự nhiên phục

vụ cho các hoạt động DLST

- Tài nguyên DLST nhân văn: bao gồm các giá trị văn hóa bản địa

1.3 Thực tiễn phát triển du lịch sinh thái trên thế giới

1.3.1 Du lịch sinh thái ở Nhật Bản

Trong một hai thập kỷ gần đây, Nhật Bản đã nổi lên như một trong nước đi đầu

Trang 33

người dân DLST tại Nhật Bản phát triển ngày càng định hình rõ là một trào lưu của khách du lịch DLST cũng đã trở thành một trong những hướng ưu tiên của chính phủ Nhật Bản, hướng tới mục tiêu PTBV

DLST của Nhật Bản thực sự trở thành một loại hình du lịch được quan tâm phát triển từ đầu những năm 1990, khi Ủy ban Môi trường (nay là Bộ Môi trường) Nhật Bản tiến hành nghiên cứu về các giải pháp phát triển DLST ở đảo Okinawa (đảo phía Nam Nhật Bản) Năm 1998, Hội đồng Xúc tiến DLST Nhật Bản được thành lập Hội đồng đưa ra các chính sách phát triển DLST tại Nhật Bản hướng tới việc bảo tồn

và PTBV của các nguồn tài nguyên tự nhiên, lịch sử, văn hóa của các vùng Hội đồng bao gồm cả những đại diện của những cơ quan quản lý nhà nước có liên quan (các bộ Môi trường; Đất đai, Cơ sở Hạ tầng, Giao thông và Du lịch; Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản …), các cơ quan quản lý nhà nước của địa phương, các hiệp hội

du lịch, đại diện cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực DLST Đứng đầu Hội đồng là Bộ truởng Bộ Môi trường Nhật Bản [38]

Chính sách do Hội đồng Xúc tiến DLST đưa ra không chỉ tập trung trực tiếp vào việc xây dựng và phát triển loại hình du lịch này ở Nhật Bản mà còn liên quan tới bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch, giảm các tác động tiêu cực của du lịch và nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề môi trường Hội đồng đã đưa ra “5 giải pháp xúc tiến DLST”, đó là:

- Xây dựng luật về DLST nhằm phổ biến và khuyếch trương hoạt động DLST

- Đưa ra một danh sách các “chương trình du lịch sinh thái” và quảng bá các hoạt động và kinh doanh DLST

- Xây dựng “Giải thưởng lớn về du lịch sinh thái” nhằm cổ vũ cho những hoạt động du lịch này

- Biên soạn “Sổ tay phát triển du lịch sinh thái” nhằm cung cấp những kiến thức, hướng dẫn phát triển DLST

- Phát triển dự án về DLST tại một số địa phương

Hiện nay, Bộ Môi trường trực tiếp đầu tư phát triển thành công các mô hình này, mô hình chia thành ba nhóm: nhóm các vùng bảo tồn tự nhiên (tại Shiretoko,

Trang 34

Shirakami, Ogasawara, Yakushima), nhóm các vùng có nhiều khách du lịch (tại Urabandai, Bắc núi Phú Sĩ, Rokko, Sasebo), và nhóm các vùng có tài nguyên nhân văn đặc sắc đi cùng với những tài nguyên du lịch tự nhiên tái sinh (Tajiri, Hanno-naguri, Iida region, Kosei, Nanki-Kumano) Nội dung chính của các dự án này gồm:

- Hình thành các “Hội đồng xúc tiến du lịch sinh thái địa phương” với sự tham gia của chính quyền địa phương, HDV, công ty lữ hành, các tổ chức phi lợi nhuận, giới nghiên cứu

- Xây dựng các quy định cho khách du lịch về bảo vệ môi trường tự nhiên

- Phát triển nguồn nhân lực hay xây dựng các chương trình phát triển DLST tại các địa phương

Bên cạnh các dự án phát triển DLST là một loạt các dự án nhằm sử dụng hữu hiệu hơn các VQG Tại Nhật Bản có 28 VQG, đón nhận khoảng 370 triệu lượt khách một năm Nhà nước đưa ra nhiều biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề phục vụ PTBV tại các VQG, ví dụ như quy định về số lượng ô tô được ra vào 25 VQG, tu tạo

hệ thống đường mòn lên núi và bảo vệ thảm thực vật hai bên đường, trang bị hệ thống nhà vệ sinh tại các vùng núi, phát triển các hệ thống kiểm soát việc sử dụng các VQG … Bộ Môi trường Nhật Bản cũng phối hợp với các cơ quan và tổ chức du lịch trong nước và quốc tế xây dựng và phổ biến các quy định và tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch bền vững tại các khu bảo tồn như “Hướng dẫn về du lịch tại các vườn và khu bảo tồn tại khu vực Đông Á”

Thực tiễn phát triển DLST tại Nhật Bản cho thấy tầm quan trọng của một định hướng và kế hoạch phát triển DLST rõ ràng Định hướng vừa có thể được xem là bước đi tiên phong trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, vừa là cơ sở phát triển một loại hình kinh doanh của một quốc gia Do vậy, tổ chức như một Hội đồng quốc gia với

sự tham gia của nhiều Bộ, Ban, Ngành, của giới kinh doanh và cộng đồng địa phương

là cần thiết

Ở nước ta có nhiều tiềm năng phát triển DLST, có thể học tập mô hình phát triển DLST của Nhật Bản để vừa phát huy hiệu quả kinh tế cao, vừa khai thác hợp lí,

Trang 35

bảo vệ tài nguyên sinh thái đảm bảo PTBV Trong đó, Phú Quốc có tiềm năng DLST rất lớn, là huyện đảo có thể là nơi thí điểm cho mô hình phát triển DLST này

1.3.2 Du lịch sinh thái ở Lào

Mở cửa đón dòng du khách nước ngoài vào những năm 1990, chính quyền Lào

đã nhận thấy cơ hội phát triển kinh tế từ ngành công nghiệp không khói Dựa vào thế mạnh thiên nhiên chưa bị bàn tay con người tàn phá cùng với sự tham vấn của Tổ chức UNESCO, chính phủ đã thành lập 20 khu công viên quốc gia (chiếm 14% lãnh

thổ Lào) dành cho mục đích khai thác DLST

Theo các số liệu chính thức, từ 20.000 du khách năm 1999, đến năm 2010 đã

có gần 250.000 du khách bốn phương đến với khu rừng quốc gia Nam Ha với diện tích 220.000 ha, nơi sinh sống của loài vượn tay dài, voi, một số loài báo giữa những bụi tre khổng lồ và những ngôi làng của dân bản địa dọc theo sông Namtha, một

nhánh của sông Mekong [39]

Vẻ đẹp hoang sơ cùng sự phong phú, đa dạng văn hóa của vô số chủng tộc thiểu số ở tỉnh Louang Namtha, cực bắc nước Lào đã thu hút ngày càng nhiều du

khách

Với sự trợ giúp của UNESCO, từ năm 1999 công viên quốc gia Nam Ha đã thực hiện mô hình DLST dựa trên những cấu tạo tại chỗ, với người dân bản địa làm nòng cốt Hàng loạt ngôi làng đã ký hợp đồng với các hãng du lịch địa phương cung cấp các dịch vụ phục vụ khách du lịch như tham gia đưa khách khám phá những con

đường mòn, ẩm thực truyền thống và chỗ ngủ qua đêm

Những quy định giới hạn số du khách cho mỗi lần tham quan, những tranh vẽ

đề nghị du khách cần tôn trọng những nơi chốn linh thiêng, không chụp ảnh khi chưa được phép, nhà tour không đưa khách vào thăm làng khi chưa tham khảo ý kiến dân làng cũng như dân làng luôn được cung cấp thông tin để hiểu rõ mục đích của du

khách đã giúp khách du lịch và các bộ tộc xích lại gần nhau hơn

Các du khách nhận định sắc màu cộng đồng các dân tộc thiểu số sinh sống tại các ngôi làng nằm sâu trong các khu rừng hoang sơ ở Lào có sức thu hút mãnh liệt đối với những khách du lịch có máu phiêu lưu Trong khi đó, tại các ngôi làng, người

Trang 36

dân tộc Akhas, Hmongs hay Khmus thường chăm chú vào các công việc thường nhật

của mình mà chẳng mấy bận tâm đến các du khách đang chiêm ngưỡng họ

Sự kỳ vọng của cơ quan du lịch Lào vào chiến lược DLST sẽ giúp Lào trở thành một điểm đến du lịch bền vững nổi tiếng thế giới Đồng thời tránh được tình trạng hàng loạt cụm khách sạn bằng bêtông và hàng đoàn xe chở khách có máy lạnh

có thể tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái khi khai thác du lịch đang dần trở thành hiện thực

Với tiềm năng DLST của nước ta, nếu được đầu tư phát triển mạnh cũng sẽ trở thành quốc gia nổi tiếng được nhiều nước biết đến

1.3.3 Du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Galapagos (Ecuador)

VQG Galapagos nằm trong quần đảo cùng tên thuộc chủ quyền của nước Ecuador Từ lâu nơi đây đã nổi tiếng thế giới về sự độc đáo, khác lạ của thế giới hoang dã Các loài động, thực vật ở VQG đa dạng và thể hiện tính đặc hữu ở mức độ cao Về động vật có kỳ đà biển, rùa biển, chim cánh cụt, hải cẩu, rùa Galapagos, chim hải âu lớn, sư tử biển, cá mập Chính sự độc đáo và bạo dạn của thế giới động vật trong giao tiếp với con người đã làm cho Galapagos trở thành điểm thu hút khách du lịch thiên nhiên hàng đầu trên thế giới Bên cạnh đó, Galapagos còn có một số loài thực vật đặc hữu như xương rồng khổng lồ, hướng dương Đây là những giá trị rất lớn giúp cho Galapagos có thể phát triển tốt loại hình DLST [7]

Quá trình phát triển của Galapagos luôn gặp phải những mối đe dọa đến thiên nhiên, môi trường, du lịch từ hoạt động của con người

Trên 200 năm trước con người đã đến quần đảo Galapagos và dẫn đến việc du nhập vào những loài sinh vật ngoại lai Điều này đưa đến sự tuyệt chủng một số loài động vật đặc hữu trên đảo Cùng với đó, sự khai thác nguồn lợi biển quá mức từ người dân trên đảo đe dọa các loài hải sâm, tôm hùm và cá mập

Tác động của cư dân địa phương đã làm giảm tính ĐDSH ở Vườn và từ đó ảnh hưởng đến TNDL Bên cạnh đó, sự phát triển du lịch thiếu quản lý, hướng dẫn nghiêm ngặt cũng đã ảnh hưởng đáng kể đến thế giới hoang dã trên đảo

Trang 37

Đứng trước nguy cơ tuyệt chủng của một số loài sinh vật đặc hữu, sự tác động xấu đến môi trường, TNTN đang bị đe dọa cạn kiệt Dịch vụ công viên quốc gia Galapagos đã quản lí du lịch từ những năm 1970 của thế kỷ XX vì thế có thể cung cấp cái nhìn thấu đáo, hữu dụng về chương trình DLST thành công để có thể vận dụng vào các địa bàn phát triển DLST Cách quản lý DLST ở VQG Galapagos cụ thể như sau:

- Tất cả các tàu chở khách tham quan bắt buộc phải có HDV được đào tạo bài bản về DLST và được cấp giấy phép đi cùng làm công tác hướng dẫn

- Để hạn chế sự tác động của du khách lên tài nguyên, các tàu được thiết kế nhằm phục vụ ăn uống, tham quan của du khách, giảm sự phát triển CSHT trên đảo

- Một số đường mòn thiên nhiên trên đảo được thiết lập để phục vụ nhu cầu tham quan của du khách nhưng có giới hạn rõ ràng phạm vi được phép tham quan

- Một số khẩu hiệu được thiết lập ở VQG như: Không lấy gì ngoài những bức ảnh và kỉ niệm đẹp; không để lại gì ngoài những dấu chân; không làm hại đến động vật hoang dã

- Hạn chế khả năng tiếp cận để du khách không làm hoảng hốt, xua đuổi động vật trong trạng thái nghỉ ngơi hoặc làm tổ

- Du khách không được hút thuốc và sử dụng điện thoại trên đảo

- Các loại rác rưởi, chai lọ, chất dẻo phế thải từ thuyền du lịch không được vứt xuống biển mà phải được sắp xếp ở nơi quy định

- Khuyến khích du khách không nên mua những hàng lưu niệm được làm từ các loài sinh vật bản địa Galapagos

- Các tàu không được phép đưa du khách đến tham quan ở các đảo chưa bị xâm nhập bởi sinh vật ngoại lai

- VQG có thu phí vào cổng, hoặc phí sử dụng theo hệ thống giá có sự phân biệt giữa khách nội địa và khách quốc tế, giữa các lứa tuổi của du khách Khách quốc tế

phải chi trả nhiều hơn đối với khách nội địa, khách là người lớn chi trả nhiều hơn đối với khách là trẻ em (3-11 tuổi) Đối tượng miễn giảm phí tham quan là trẻ em dưới 2 tuổi

Trang 38

- VQG cũng tuân thủ chặt chẽ sức chứa trong DLST

- Khách du lịch đến VQG được quản lý bằng cách khai báo họ, tên, tuổi, quốc tịch

- Các tàu phải báo cáo số lượng du khách cho mỗi chuyến tham quan

- HDV cũng phải báo cáo số lượng khách và các tuyến điểm tham quan, thời gian tham quan để tiện cho việc quản lý khách cũng như hoạt động du lịch ở VQG

- Có cơ chế phân chia lợi nhuận từ du lịch cho các đối tượng khác nhau: 40% cho VQG, 20% cho khu vực tự trị Galapagos, 10% cho chính quyền địa phương tỉnh Galapagos, 10% cho viện quốc gia Galapagos, 5% cho Bộ môi trường, 5% cho Hải quân quốc gia, 5% cho Hệ thống kiểm dịch và điều khiển, 5% cho Khu bảo tồn biển [13]

- Ban quản lý du lịch nhận thức được rằng nếu người dân địa phương không được tham gia vào các quyết định và quá trình quản lý, nếu họ không được hưởng lợi

từ du lịch, có thể họ sẽ tạo nguồn tài chính bằng cách chuyển sang các hoạt động gây hại cho môi trường Cho nên, họ đã tạo điều kiện cho người dân địa phương được tham gia vào hoạt động du lịch như cung cấp dịch vụ ăn uống, lưu trú, tham quan; bán hàng lưu niệm; làm HDV, Nhờ vậy, đã làm giảm đáng kể những tác động xấu của cư dân đến quần đảo

Hiện tại, VQG Galapagos đã trở thành điểm DLST nổi tiếng trên thế giới không chỉ về thế giới sinh vật độc đáo, hấp dẫn mà còn về cách làm du lịch ở đây

Với nước ta, có rất nhiều hệ thống các VQG nếu được khai thác tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế và giúp bảo tồn nguồn tài quý giá của quốc gia

1.4 Phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

Trong những năm qua, DLST đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan du lịch và nghỉ ngơi

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nước ta có nhiều tiềm năng cho phát triển DLST: các VQG, KBTTN, KDTSQ với các loài động, thực vật đa dạng,

Trang 39

phong phú; nhiều HST đặc trưng: HST san hô, HST đất ngập nước, HST vùng cát

ven biển, các HST rừng

Các tiềm năng nhân văn cho phát triển DLST ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú Ngoài các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, nhiều nghề thủ công truyền thống với kỹ năng độc đáo, nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc cùng với những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật ẩm thực được hòa quyện, đan xen trên nền kiến trúc phong cảnh có giá trị triết học phương Đông đã tạo cho Việt Nam sức hấp dẫn về du lịch

Tuy là loại hình du lịch khá mới ở nước ta, nhưng trước nhu cầu của thị trường

và khả năng đáp ứng của các tiềm năng DLST của Việt Nam, tại một số nơi hoạt động DLST cũng đã hình thành dưới các hình thức khai thác tiềm năng TNDLTN khác nhau như du lịch tham quan, nghiên cứu ở một số khu VQG (Cát Bà, Cúc Phương, Ba Bể, Nam Cát Tiên, Tam Nông, U Minh ); du lịch thám hiểm, nghiên cứu vùng núi cao như Phanxipăng; du lịch tham quan miệt vườn, sông nước ĐBSCL;

du lịch lặn biển (Hạ Long - Cát Bà, Nha Trang), thám hiểm hang động (Phong Nha) Một số điểm DLST tiêu biểu của nước ta như:

VQG Nam Cát Tiên: là VQG lớn nhất của Việt Nam và là khu lưu trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới, nằm trên vùng ranh giới của ba tỉnh Đồng Nai-Bình Phước-Lâm Đồng có diện tích 73.878 ha HST động, thực vật đa dạng đại diện cho cả Nam Bộ

Rừng có nhiều loại gỗ, hơn 600 loài thực vật, hơn 100 loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, hơn 60 loài cây phong lan

Động vật có 240 loài chim, có nhiều loài chim quý: trĩ lông đỏ, cò quắm xanh

VQG có giá trị bảo tồn bậc nhất nước ta, là một điểm nóng về đa dạng sinh học

Hiện nay, Vườn đang phát triển các loại hình DLST chủ yếu: du lịch khám phá bằng xe đạp địa hình, đi bộ xuyên rừng, tham quan làng dân tộc Mạ, S'tieng,du lịch nghiên cứu học tập, xem chim, xem thú ban đêm, đi thuyền trên sông Mỗi năm,

Trang 40

Vườn đón hơn 10.000 lượt khách trong đó có hơn 3000 lượt khách quốc tế Đối tượng khách quốc tế đến đây ngoài một số đi du lịch thông thường, còn có một số lượng lớn là các nhà khoa học nghiên cứu về động, thực vật của hệ sinh thái rừng

VQG Bạch Mã: Được thành lập từ năm 1991 với diện tích 22.031 ha VQG có HST rừng mưa nhiệt đới rất giàu, đẹp được công nhận là trung tâm ĐDSH của Đông Dương Địa hình đa dạng rừng núi, sông hồ, dạng đồng bằng còn có khu di tích khảo cổ, nền VHBĐ Ngoài ra, ở những nơi có dân cư sinh sống thì có nhiều vườn cây ăn trái như: xoài, chôm chôm, ổi, mận Với khu nhà vườn thoáng mát, lịch sự

Hiện nay, Vườn đã và đang được đầu tư tái phục hồi lại đường mòn sinh thái

và các CSHT khác, nhằm phục vụ cho khách tham quan nghiên cứu với các loại hình chủ yếu: đi bộ tham quan rừng Chò đen, Trĩ Sao, Ngũ hồ, nhà vườn Khe Su

VQG Tràm Chim: là KBTTN đất ngập nước cách sông Mêkông 25km về phía Tây, gần biên giới Campuchia, thuộc địa phận 4 xã: Tân Công Sinh, Phú Thọ, Phú Hiệp và Phú Đức của huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Mười với tổng diện tích là 7.612 ha

HST đa dạng, có trên 200 loài chim, có nhiều loài chim di trú quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (Sếu đầu đỏ) Ngoài ra, còn có 130 loài thực vật bậc cao, có một

số loài đặc hữu của Đồng Tháp Mười và 55 loài cá, có loài đại diện cho thủy vực ngập nước ở ĐBSCL

VQG Tràm Chim còn là căn cứ địa cách mạng trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước với những chiến công hiển hách của quân dân ta

Hiện VQG là đang phát triển các loại hình: câu cá giải trí, tham quan cảnh quan HST đất ngập nước, những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến khảo sát, nghiên cứu

Lượng khách đến tham quan Vườn không ngừng tăng, trung bình mỗi năm có hơn 5000 lượt khách tham quan, trong đó khách quốc tế cũng tăng liên tục

Ngoài ra, còn có các vườn chim, các khu vui chơi do con người tạo nên để tham quan du lịch

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình DLST  ở Phú Quốc. - phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang
nh DLST ở Phú Quốc (Trang 43)
Hình 1: Vẽ đẹp của bãi Sao Phú Quốc - phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang
Hình 1 Vẽ đẹp của bãi Sao Phú Quốc (Trang 128)
Hình 5: Mũi Dinh Cậu Phú Quốc - phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang
Hình 5 Mũi Dinh Cậu Phú Quốc (Trang 130)
Hình 7: Một góc Resort Sài Gòn-Phú Quốc - phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang
Hình 7 Một góc Resort Sài Gòn-Phú Quốc (Trang 131)
Hình 8: Đặc sản nước mắm, hồ tiêu Phú Quốc - phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang
Hình 8 Đặc sản nước mắm, hồ tiêu Phú Quốc (Trang 131)
Hình 9: Rượu sim Phú Quốc - phát triển du lịch sinh thái huyện đảo phú quốc tỉnh kiên giang
Hình 9 Rượu sim Phú Quốc (Trang 132)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w