1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

  XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2010 2015 TẦM NHÌN ĐẾN 2020

104 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên thực, động vật Rừng Đồng Nai trước đây là rừng nguyên sinh được hình thành dưới ảnh hưởng tương tác và tổng hợp của những điều kiện tự nhiên trong vùng như đặc điểm về vị trí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

 

XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

TẦM NHÌN ĐẾN 2020

NGUYỄN THỊ THU HÀ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH : KINH TẾ NÔNG LÂM

TP.Hồ Chí Minh Tháng 05 năm 2010

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học, Khoa Kinh tế trường Đại học

Nông Lâm TP Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Xây dựng chiến lược phát triển

du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn đến 2020”, do sinh viên Nguyễn Thị Thu Hà , sinh viên khóa 2006 – 2010 đã bảo vệ thành công khóa lụân

ngày ………

TS LÊ QUANG THÔNG

Giáo viên hướng dẫn

(Ký tên, ngày tháng năm 2010 )

Chủ tịch Hội Đồng chấm thi Thư ký Hội Đồng chấm thi

(Ký tên, Ngày tháng năm 2010) (Ký tên, Ngày tháng năm 2010)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho con xin trân trọng tỏ lòng thành kính, ghi nhớ công ơn ba mẹ

là người đã sinh thành và nuôi dưỡng con, cùng với những người thân, những người đã

động viên và giúp đỡ cho con cả về vật chất lẫn tinh thần để con có thể vững tâm học

tập đến ngày hôm nay

Xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến:

Quý thầy cô Khoa Kinh Tế trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại

trường Đặc biệt là thầy Lê Quang Thông – người đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi

hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Ban Giám Đốc, các anh chị phụ trách các bộ phận của Công ty CP Du lịch Kỳ

Nghỉ Việt và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai đã nhiệt tình giúp đỡ

cung cấp cho tôi đầy đủ những thông tin trong thời gian thực tập tại công ty

Và cuối cùng, cảm ơn tất cả bạn bè đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình học tập,

tìm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu cũng như hỗ trợ rất nhiều cho tôi về tinh thần để

tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận

Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người!

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 4

NỘI DUNG TÓM TẮT

Nguyễn Thị Thu Hà Tháng 5 năm 2010 "Xây Dựng Chiến Lược Phát Triển

Du Lịch Sinh Thái Tỉnh Đồng Nai Giai Đoạn 2010-2015, Tầm Nhìn Đến 2020 ”

Nguyễn Thị Thu Hà May 2010 "Building Strategic Development Ecological Tourist Dong Nai Province Period 2010-2015, 2020 vision to"

Trước hết đề tài mô tả một cách khá rõ nét về tình hình thực tế Du lịch sinh thái của Tỉnh Đồng Nai với nguồn tài nguyên du lịch đa dạng phong phú và tiềm năng phát triển du lịch của Tỉnh

Nội dung chính của đề tài là đánh giá tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái của tỉnh, phân tích thực trạng phát triển du lịch Đồng Nai và xu thế phát triển loại hình này, định hướng chiến lược phát triển DLST của Đồng Nai (chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ) Bên cạnh đó đề tài đưa ra một số đề xuất, giải pháp phát triển DLST tỉnh Đánh giá tiềm năng phát triển DLST của Đồng

Trang 5

2.1.3 Tài nguyên văn hóa bản địa 16

2.2 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Đồng Nai 32

2.2.3 Tình hình kinh doanh du lịch 36

2.2.4 Đầu tư phát triển du lịch 38

2.2.5 Hoạt động xúc tiến du lịch 40

2.2.6 Đánh giá tác động môi trường du lịch 41

2.3 Kết quả và khó khăn hạn chế trong quá trình phát triển DLST của tỉnh

2.3.1 Kết quả 42 2.3.2 Khó khăn hạn chế 42

Trang 6

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

3.1 Nội dung nghiên cứu 44

3.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch 44

3.2 Phương pháp nghiên cứu 62

3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 62

3.2.2 Phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống 62

3.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa 63

3.2.4 Phương pháp phân tích xu thế 63

CHƯƠNG 4 XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2010-2015 TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 64

4.1 Phân tích những lợi thế và hạn chế đối với phát triển du lịch sinh thái

4.2 Các chiến lược phát triển du lịch sinh thái 72

4.2.1 Chiến lược sản phẩm du lịch sinh thái 72

4.2.2 Chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ DLST 76

4.2.3 Chiến lược tôn tạo, giữ gìn và phát triển tài nguyên DLST 77

4.2.4 Chiến lược đầu tư phát triển DLST 78

4.2.5 Chiến lược giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực DLST 79

4.3 Dự báo tốc độ phát triển du lịch Tỉnh trong những năm tới 81

4.3.2 Dự báo tổng lượt du khách DLST và tổng doanh thu du lịch: 83

5.1 Kết luận 86 5.2 Các giải pháp và kiến nghị 88

5.2.1 Về tổ chức 88

Trang 7

5.2.2 Về vốn đầu tư phát triển 88

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 : Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên Đồng Nai 5

Bảng 2.2: Diện tích các loại rừng 7 Bảng 2.3 : Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Đồng Nai 17

Bảng 2.4 : Rừng văn hóa lịch sử Đồng Nai 18

Bảng 2.5: Dân tộc bản địa sinh sống quanh rừng đặc dụng 21

Bảng 2.6 : Cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Đồng Nai năm 2009 30

Bảng 2.7 : Công suất phòng bình quân từ 2005 - 2009 31

Bảng 2.8 : Cơ sở kinh doanh ăn uống tỉnh Đồng Nai 31

Bảng 2.9 : Phân loại lao động du lịch Đồng Nai theo trình độ đào tạo 32

Bảng 2.10 : Tổng lượt khách du lịch đến Đồng Nai qua các năm: 36

Bảng 2.11 : Doanh thu du lịch Đồng Nai qua các năm 37

Bảng 2.13 : Kinh phí và hình thức xúc tiến du lịch Đồng Nai 41

Bảng 3.1: Thống kê định nghĩa DLST 51

Bảng 4.2: Tổng lượt khách du lịch qua các năm 83

Bảng 4.3: Tổng doanh thu du lịch qua các năm 83

Bảng 4.4 : Dự báo tăng trưởng du lịch qua các năm 84

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu 2.1: Thời vụ du lịch sinh thái Đồng Nai 38Biểu đồ 4.1: Dự báo tổng lượt khách và tổng doanh thu du lịch năm 2010

Trang 11

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩch vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ

Đồng Nai là tỉnh có tài nguyên du lịch sinh thái đa dạng, phong phú Cơ cấu kinh tế của Đồng Nai đang dịch chuyển theo hướng nâng cao tỷ trọng dịch vụ và Tỉnh cũng đang quyết tâm đẩy mạnh sự chuyển dịch này theo hướng phát triển bền vững

Đề tài " XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TỈNH ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN 2010-2015, TẦM NHÌN ĐẾN 2020” Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và phương pháp thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh Đồng Nai, nâng cao vị thế cạnh tranh với khu vực khác tạo nguồn thu nhập cho người dân

Trang 12

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

• Đánh giá tiềm năng phát triển DLST của Đồng

• Phân tích thực trạng phát triển du lịch Đồng Nai và xu thế phát triển loại hình này

• Định hướng chiến lược phát triển DLST của Đồng Nai (chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực )

• Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp phát triển DLST tỉnh

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về tình hình phát triển và các dự án phát triển du lịch tại tỉnh Đồng Nai trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2010

1.4 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Đặt vấn đề, nêu lên sự cần thiết của đề tài, mục tiêu và cấu trúc của

đề tài nghiên cứu

Chương 2: Đánh giá tổng quan tài nguyên du lịch và thực trạng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Đồng Nai; sau đó nêu lên những khó khăn, hạn chế trong phát triển du lịch sinh thái của tỉnh và tổng quan về các tài liệu nghiên cứu có liên quan

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trong chương này nêu lên một số khái niệm cơ bản, những cơ sở luận phục vụ cho nghiên cứu xây dựng chiến

lược trong luận văn

Chương 4: Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2015 tầm nhìn đến năm 2020 Chương này nhằm xây dựng những chiến lược phát triển du lịch sinh thái như chiến lược sản phẩm, chiến lược nâng cao chất

lượng dịch vụ, tôn tạo, đầu tư, phát triển và chiến lược thị trường DLST

Chương 5: Nêu lên kết luận tổng quát về tình hình DLST tại Đồng Nai và đưa

ra những kiến nghị để giúp phát triển DLST tỉnh Đồng Nai

Trang 13

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan tài nguyên du lịch Đồng Nai

Ngày 1/4/2010, UBND tỉnh Đồng Nai đã bàn giao 4 đơn vị hành chính cấp xã

là An Hòa, Long Hưng, Phước Tân và Tam Phước từ huyện Long Thành về TP.Biên Hòa Sự điều chỉnh địa giới hành chính này có ý nghĩa quan trọng đối với diện mạo tỉnh Đồng Nai trong mối thông thương hệ thống giao thông liên vùng cao tốc Biên Hòa – Bà Rịa Vũng Tàu, đường cao tốc TP.Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, đường cao tốc Bến Lức – TP.Hồ Chí Minh – Long Thành và các tuyến đường kết nối với sân bay Quốc tế Long Thành như đường tỉnh lộ 769, tỉnh lộ 25C, cụm cảng hàng không quốc tế Long Thành nối với các tỉnh Nam Trung Bộ, tuyến Quốc lộ 51, đường tránh Quốc lộ 1A trong phát triển kinh tế - xã hội của TP.Biên Hòa, huyện Long Thành và tỉnh Đồng Nai trong tương lai

Vị trí:

- Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương,

- Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu,

- Đông giáp tỉnh Bình Thuận, và

- Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

thuật từ nước ngoài

2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Trang 15

Bảng 2.1 : Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên Đồng Nai

Stt Tên địa phương

Phân loại các điểm du lịch theo địa hình

Tổng Rừng

Núi, đồi Hồ Thác Suối

Sông,

Cù lao, đảo

Công viên, vườn

Hang động

(Nguồn : Sở Văn hoá Thể thao Du lịch Đồng Nai)

Sự đa dạng và phong phú về địa hình đã mang đến cho Đồng Nai tiềm năng to lớn về tài nguyên du lịch thiên nhiên Đồng Nai hầu như đã có các loại địa hình lý tưởng cho việc phát triển DLST Trên nền tảng này, du lịch Đồng Nai có thể phát triển thành một số chuyên đề như sau:

DLST rừng: VQG Cát Tiên, Khu bảo tồn gien rừng miền Đông Nam bộ, Thác

Mai – Hồ nước nóng

Du lịch tìm hiểu, dã ngoại: khu hang động (rừng giả tỵ), các miệng núi lửa, Đá

Ba Chồng, Thác Ba Giọt, Cù lao Ấp 7, Thác Giang Điền

Du lịch tham quan, nghỉ dưỡng: Thác Mai - Hồ nước nóng, Đảo Ó - Đồng

Trường, Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long

Du lịch vườn: làng bưởi Tân Triều, vườn trái cây Long Khánh

Du lịch sông nước: sông Đồng Nai, các đảo Hồ Trị An, Cù lao Ba Xê, Cù

Trang 16

lao Cỏ, Cù lao Tân Vạn, Cù lao Hiệp Hòa (Cù lao Phố)

2.1.2.2 Khí hậu

Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa) Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao

và cây ăn trái Nhiệt độ bình quân năm 25-260C chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,20C; số giờ nắng trung bình từ 5-9, 6-8 giờ/ngày Lượng mưa tương đối lớn khoảng 2.155,9mm phân bố theo vùng và theo vụ

Do có khí hậu tương đối ổn định và phân bố khá đồng đều giữa các vùng nên

Đồng Nai có điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và phát triển du lịch 2.1.2.3 Tài nguyên nước

Đồng Nai có 16.666 ha sông suối chiếm tỷ lệ 2,8% diện tích tự nhiên Đáng kể

là hệ thống sông Đồng Nai với sông chính dài 610 km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài

220 km (từ cực Bắc huyện Tân Phú, Định Quán đến ngã ba sông Lòng Tàu – Nhà Bè), lưu vực 42.600 km2, có nhiều sông suối lớn làm phụ lưu (sông La Ngà, sông Bé, sông Buông,…) Ngoài ra, Hồ Trị An với diện tích 32.300 ha và dung tích 2.765 x 106 m3 được đánh giá có tiềm năng về nhiều mặt

Bên cạnh việc tạo ra bầu không khí trong lành, mang lại nguồn lợi về thủy sản, cung cấp nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và làm ra điện, hệ thống sông, hồ, suối, thác trên địa bàn Đồng Nai còn là yếu tố quan trọng tạo ra tiềm năng về du lịch Những điểm có tiềm năng du lịch của Đồng Nai liên quan đến tài nguyên nước như sông (sông Đồng Nai, sông La Ngà), hồ (Hồ Trị An, Hồ Đa Tôn, Hồ Sông Mây), thác (Thác Mai, thác Trời, Thác Giang Điền, Thác Ba Giọt ), suối (Suối Mơ, Suối nước trong, Suối Reo )

Trên địa bàn tỉnh đã phát hiện một số điểm có nước khoáng, nước nóng Trong

đó có 2 điểm là nước khoáng – nước nóng Bicacbonat ở Phú Lộc và Gia Ray, 1 điểm nước khoáng Magiê – Bicacbonat ở Suối Nho, 2 mỏ nước khoáng siêu nhạt ở Tam Phước – Nhơn Trạch, 1 điểm tại khu vực gần Thác Mai Trữ lượng của mỏ Suối Nho đạt 10.000m3/ngày và có nhiệt độ tới 600 Nước khoáng Magiê– Bicacbonat với hàm lượng tổng khoáng hóa từ 0,8 – 4,2g/l

Trang 17

2.1.2.4 Tài nguyên thực, động vật

Rừng Đồng Nai trước đây là rừng nguyên sinh được hình thành dưới ảnh hưởng tương tác và tổng hợp của những điều kiện tự nhiên trong vùng như đặc điểm về vị trí địa lý, sự đa dạng trong cấu tạo địa hình và tính chất thổ nhưỡng kết hợp với chế độ khí hậu ẩm nhiệt đới góp phần hình thành và phát triển hệ ĐTV phong phú

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động thực vật phong phú đa dạng, giàu nguồn gien, nhiều HST trong đó nổi bật là HST nguyên sinh và HST rừng ngập mặn (rừng sác) Các loài ĐTV quý hiếm ở Đồng Nai chiếm tỷ

lệ cao trong tài sản ĐTV quý hiếm của quốc gia Tiêu biểu là VQG Nam Cát Tiên với khoảng 1.610 loài thực vật và trên 1.400 loài động vật Năm 1976, tỷ lệ che phủ của rừng còn 47,8% DTTN, năm 1981 còn 21,5% Đến nay, độ che phủ rừng đã tăng lên khá cao, có khu bảo tồn thiên nhiên vườn quốc gia Nam Cát Tiên, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm Với việc triển khai thực hiện chương trình trồng rừng và quy hoạch này, tỷ lệ che phủ (bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày) tăng lên đạt 45-50% trong thời kỳ đến cuối năm 2010

Bảng 2.2: Diện tích các loại rừng

Loại rừng Diện tích rừng

(ha)

Rừng tự nhiên (ha)

Rừng trồng (ha)

Rừng lá rộng thường xanh ẩm nhiệt đới: Đây là kiểu rừng chính bao phủ

phần lớn diện tích rừng, phân bố trên các loại đất feralit đỏ vàng, đất phù sa cổ, tầng

Trang 18

đất ẩm, ít thoát nước, đặc trưng là rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) thường mọc thành cụm, chiếm ưu thế ở tầng vượt tán, đôi khi mọc tập trung thuần loại thường được gọi là lán dầu Bên cạnh đó còn nhiều cây gỗ mọc hỗn giao mà đa số thuộc họ Đậu (Fabaceae) như Gõ đỏ, Gõ mật, Cẩm Lai, Giáng Hương…và các loài cây gỗ thuộc các họ khác như họ Xoài (Anacardiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae)…tạo thành rừng nhiều tầng tán, độ đa dạng thực vật khá cao, cây phụ sinh phong phú, là kiểu rừng có cảnh sắc đa dạng phức tạp, tiêu biểu của kiểu rừng xanh ẩm nhiệt đới

Rừng nửa rụng lá ẩm nhiệt đới : Kiểu rừng này thường phân bố xen kẽ

trong các vùng của kiểu rừng thường xanh, phân bố ở vùng sườn đồi hoặc ven thung lũng trên các loại đất mỏng, đất bồi tụ ven sông, tầng đất mỏng, khả năng giữ nước kém, thiếu nước trong mùa khô Rừng có trữ lượng khá cao, phân tầng rõ gồm những loại cây có đặc tính rụng lá về mùa khô, điển hình là cây Bằng lăng (Lagerstroemia sp) thuộc họ Tử vi (Lythraceae), cây thường xanh hay rụng lá thuộc các họ Xoan (Meliaceae), họ Long não (Lauraceae)… Kiểu rừng này phân bố ở nhiều vùng của Đồng Nai, đặc biệt là rừng Nam Cát Tiên

Các kiểu phụ rừng thứ sinh: bao gồm nhiều kiểu rừng như rừng tre, rừng lá

buông và HST nhân tạo

- Rừng tre lồ ô: phân bố ở độ cao 100m – 400m trên địa hình đồi, đất feralit đỏ

vàng và đất xám, có tầng sâu, thoát nước Thành phần thực vật chủ yếu là thuần loại phân họ Bambusoidae, mọc tập trung trên diện tích lớn, đại diện chủ yếu là Lồ ô (Bambusa procera) có nguồn gốc từ thảm thực vật rừng ẩm thường xanh và nửa rụng

lá dưới các tác động của con người Hiện tại Đồng Nai có rừng lồ ô xen gỗ (phân bố rải rác ở các vùng phía Bắc sông Đồng Nai) và rừng lồ ô thuần loại (có ở Lâm trường Vĩnh An - huyện Vĩnh Cửu), rừng tre già ở Tây Bắc rừng Cát Tiên

- Rừng lá buông (Corypha lecomtei): tập trung chủ yếu ở huyện Xuân Lộc,hiện

còn khoảng 400ha, giáp với rừng lá buông tỉnh Bình Thuận, là nguồn cung cấp nguyên liệu đan lát cho các mặt hàng xuất khẩu Động vật cư trú tại các vùng rừng này thường

là thú nhỏ như Cheo, Chồn, Sóc, Chuột, Thằn lằn…

- HST nhân tạo: rừng trồng trên các vùng đất trống đã bị mất rừng nhằm

mục đích phục hồi rừng và phòng hộ bảo vệ MTST, gồm các kiểu rừng hỗn giao

Trang 19

cây gỗ lớn như Sao, Dầu, Vên Vên…, rừng trồng thuần loại hoặc hỗn giao Bạch đàn, Keo lá tràm hoặc cây trồng nông nghiệp kết hợp trên đất lâm nghiệp

Hệ sinh cảnh đất ngập nước: Là loại hình sinh cảnh mang nét đặc trưng của

rừng Nam Cát Tiên và một số vùng rừng trong tỉnh Thảm cây ngập nước theo mùa gồm nhiều loại cây ưa ẩm thuộc các chi Careya, Lagerstroemia, Hydnocarpus… Đây là nơi cư trú của nhiều loài cá nước ngọt như Cá đen, Cá sấu, Kỳ đà, Rùa vàng, Chim nước… Đáng chú ý là các vùng ngập nước tại VQG Cát Tiên (các bàu, đầm lầy

có diện tích khoảng 100 ha -150 ha), như Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá Về mùa khô, các vùng này là nơi quy tụ nhiều loài thú lớn Riêng khu vực Bàu Sấu thuộc VQG Cát Tiên được Ban thư ký công ước Ramsar quốc tế công nhận là vùng đất ngập nước quan trọng của thế giới vào năm 2005

HST thủy vực gồm các loại sinh cảnh sông suối, bàu nước, trong đó có khu hệ tảo đa dạng và phong phú về thành phần loài, làm tăng giá trị của các thủy vực cùng với các động vật nổi và động vật đáy Sinh cảnh đất ngập nước và HST thủy vực là hợp phần đặc trưng cho rừng Đồng Nai Đây không chỉ là nguồn cung cấp nước mà còn là nguồn gen sinh vật thủy sinh cho các khu vực mà đáng chú ý là hồ Trị An

HST rừng ngập mặn: rừng ngập mặn hay còn gọi là “rừng sác”, là nơi tập

trung chủ yếu của loài cây Đước (Rhyzophora mucronata) Đây là HST đặc biệt ở vùng cửa sông Đồng Nai chảy ra biển bị các nhánh sông chia cắt Thủy triều lên xuống tạo thành những vùng đất bùn mặn lầy lội nên chỉ có rừng ngập mặn phát triển Thành phần thực vật rừng ngập mặn bao gồm các tổ hợp Đước – Bần (Rhizophora - Sonneratia), Đước – Vẹt – Mấm (Rhizophora – Bruguiera - Avicennia), Đước – Dà Vôi – Mấm (Rhizophora – Ceriops – Avicennia) Bên cạnh đó, trong HST còn tồn tại một số tổ hợp thực vật không ngập thường xuyên, nước lợ như Chà là (Phoenix paludosa), Dừa nước (Nipa fructicans)

* Sự đa dạng về sinh học

Đồng Nai là tỉnh có nhiều tài nguyên quý giá về ĐDSH, trong đó điển hình tại

VQG Cát Tiên là kho tàng dự trữ tài nguyên sinh học, nguồn gen ĐTV, VQG Cát

Tiên được đánh giá là điểm nóng về ĐDSH VQG Cát Tiên nằm giữa 2 vùng sinh học địa lý chuyển tiếp từ Cao nguyên Trường Sơn xuống vùng Nam bộ, do vậy hội tụ được các luồng hệ ĐTV phong phú, đa dạng đặc trưng cho HST rừng ẩm nhiệt đới

Trang 20

thường xanh của vùng Đông Nam bộ

Hồ Trị An :

- Phiêu sinh vật: thành phần giống loài rất phong phú gồm 131 loài

- Các loài cá nước ngọt: có 95 loài cá sống ở nước ngọt

Rừng ngập mặn Long Thành – Nhơn Trạch: với nhiều loại thủy sinh phong

phú

Khu Dự trữ Thiên nhiên Vĩnh Cửu: Thảm thực vật của Khu dự trữ thiên

nhiên Vĩnh Cửu đặc trưng là cây thuộc các họ: Dầu, Bàng, Tung, Dẻ, Kim Giao, Gấm,

Đỗ Quyên, Xoan, cùng nhiều loài cây rụng lá khác Hệ thực vật hiện có khoảng 614 loài, nằm trong 390 chi, 111 họ, 70 bộ thuộc 6 ngành thực vật khác nhau

Hệ động vật có 276 loài thuộc 84 họ, 28 bộ phận, được phân ra các lớp, trong đó

có nhiều loài động vật rừng quý hiếm được ghi vào danh sách đỏ Việt Nam như: gấu chó, báo gấm, bò tót Ngoài ra, khu hệ động, thực vật ở đây có quan hệ mật thiết với khu hệ động, thực vật ở VQG Nam Cát Tiên

*Giá trị khai thác cho phát triển du lịch sinh thái

Sự đa dạng về sinh học, HST cùng với cảnh quan tự nhiên và gắn với các di tích văn hóa lịch sử đã làm cho các tài nguyên du lịch của Đồng Nai có ưu thế rất lớn trong việc phát triển DLST Một số khu điểm tiêu biểu như sau:

VQG Cát Tiên : nằm trên địa phận 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình

Phước với tổng diện tích 73.878 ha, cách thành phố HCM 150 km, được thành lập từ năm 1992 Phần diện tích thuộc tỉnh Đồng Nai quản lý chiếm 38.100 ha Năm 2001,

VQG Cát Tiên đã được Hội đồng quốc tế về chương trình Con người và Sinh quyển của UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ 411 Vườn là kho tàng

gen quý giá của nhiều loài ĐTV có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ IUCN Kiến trúc địa hình đặc trưng đã tạo cho VQG Cát Tiên nhiều cảnh thiên nhiên kỳ thú: có sông, đồi, các trảng rộng lớn, các dòng chảy dốc, các đảo Đáng chú

ý phải kể đến khu Bàu Sấu Đây là hồ chứa nước rộng nhất, nằm ở khu trung tâm của VQG Cát Tiên Lòng bàu chứa nhiều loại cá, đặc biệt có cả cá sấu nước ngọt Ven bàu là nơi tập hợp của nhiều đàn chim lớn như công, trĩ, gà lôi, sếu, giang, mòng, két, le le, cù đen

Bên cạnh tài nguyên sinh học, VQG Cát Tiên còn chứa đựng các giá trị văn hóa

Trang 21

đặc sắc bởi nơi đây đã từng ghi lại dấu tích của cội nguồn văn hóa khu vực vương quốc Phù Nam và nền văn hóa Óc Eo nằm giữa vùng đệm của Văn hóa Chămpa

và văn hóa Phù Nam Cát Tiên là đô thị của Vương quốc Phù Nam được thành lập vào thế kỷ thứ 2 Nơi đây còn tồn tại hàng ngàn hiện vật quý hiếm được các nhà khảo cổ khai quật từ trong lòng đất mang dấu ấn tôn giáo của nền văn minh Ấn Độ như tượng thần Siva bằng bạc, Linga-Yoni bằng đá, 113 tấm vàng lá có điêu khắc liên quan đến

Bà La Môn giáo đã và đang gây được sự chú ý của giới khoa học trên thế giới

Do tính đặc thù của một khu bảo tồn, VQG Cát Tiên đặc biệt thích hợp với việc phát triển DLST bằng nhiều loại hình hấp dẫn như đi bộ, quan sát chim thú và cây cảnh, cắm trại, du thuyền, du lịch mạo hiểm, nghiên cứu ĐDSH và văn hóa Xét về quy mô và tầm vóc, VQG Cát Tiên có tiềm năng to lớn để trở thành khu DLST mang tính quốc tế

Rừng Thác Mai – Hồ nước nóng: Rừng đặc dụng Lâm Trường Tân Phú

cách TP HCM khoảng 120 km, với diện tích 14.152,7 ha rừng thường xanh đặc trưng của khu vực Đông Nam Bộ Hệ động vật ở Lâm Trường hiện đã xác định được

167 loài Chim, 26 loài bò sát, 16 loài ếch nhái và hơn 200 loài bướm Khu Thác Mai –

Hồ nước nóng thuộc Lâm trường Tân Phú, nằm trên địa bàn xã Gia Canh, huyện Định Quán

Thác Mai có nhiều phong cảnh đẹp xen kẽ hệ thống sông suối, núi rừng Cảnh quan vẫn còn giữ được nét hoang sơ mộc mạc Thác có chiều dài khoảng 2 km với 5 đảo cây cối xanh tươi và rất nhiều mai rừng mọc đầy cả hai bên bờ thác Diện tích mặt nước và bãi đá ước tính 500 ha, được hợp thành từ vô số dòng suối, thác và sông con Đặc biệt, nơi đây còn có bàu nước nóng với diện tích 7ha có nhiệt độ 50-

600C, đã được kiểm định có chứa các thành phần khoáng chất có tác dụng tốt cho sức khỏe Thác Mai – Hồ nước nóng thích hợp với loại hình tham quan cảnh quan rừng, nghỉ dưỡng, thể thao mạo hiểm, cắm trại dã ngoại

Rừng ngập mặn (Rừng Sác): HST rừng ngập mặn Long Thành - Nhơn Trạch

nằm trên địa bàn 4 xã: Long Phước, Phước Thái (huyện Long Thành), Phước An, Long Thọ (huyện Nhơn Trạch) có tổng diện tích tự nhiên là 7.953 ha Nơi đây có địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển và là vùng đất thấp nhất củatỉnh (độ cao chỉ từ 0,3 - 2m so với mực nước biển) nên thường xuyên bị ngập theo triều Hệ thực

Trang 22

vật có các loài cây như mấm, đước, dà, vẹt, quần thể dừa nước, u du, choại, chà là, ô

rô, ráng Trên những vùng đất phèn mặn, ngập nước trung bình còn có cả quần xã Lác quý Hệ động vật rừng bao gồm các loài thú, chim, bò sát, lưỡng cư và nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế Bên cạnh sự phong phú về hệ ĐTV, rừng ngập mặn Long Thành - Nhơn Trạch có cảnh quan đẹp và gắn với địa danh lịch sử, có tiềm năng phát triển du lịch

Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu: được thành lập từ tháng 12/2003 trên cơ

sở sáp nhập các lâm trường Hiếu Liêm, Mã Đà và một phần lâm trường Vĩnh An thuộc địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm của huyện Vĩnh Cửu với tổng diện tích khoảng 53.800 ha Mục tiêu của khu dự trữ bảo tồn các sinh cảnh rừng, cảnh quan tự nhiên, các loài động vật hoang dã; bảo tồn DTLS và văn hóa nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ sau; phục vụ nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường và phát triển DLST

Ngoài sự phong phú của hệ ĐTV, cảnh quan rừng tự nhiên của khu dự trữ khá đa dạng : Cảnh quan rừng cây họ dầu trên đất nguyên trạng vùng đồi; cảnh quan rừng hỗn giao cây gỗ với lồ ô, tre nứa; cảnh quan rừng ven hồ Trị An và cảnh quan rừng trồng Bên cạnh sự ĐDSH, Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu còn là vùng căn cứ chiến khu Đ với các DTLS như Căn cứ khu ủy miền Đông, phù hợp phát triển loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu bởi cảnh quan môi trường hấp dẫn với nhiều loại ĐTV đặc hữu

Hệ thống hang động: Đồng Nai có nhiều hang dơi ở các huyện Tân Phú, Định

Quán, Long Khánh Bên cạnh một số hang động không đưa vào phát triển du lịch vì lý

do an ninh quốc phòng, số hang động còn lại được xem là có giá trị khai thác du lịch Khảo sát sơ bộ cho thấy, có 7 hang động nằm trong khu rừng giả tỵ, tại QL 20, thuộc địa bàn ấp 2, xã Phú Tân, huyện Định Quán (do Công ty cổ phần giống lâm nghiệp vùng Đông Nam bộ quản lý) Trong 7 hang động có 5 hang bị đá che lấp miệng không thể xuống khảo sát được, 2 hang còn lại có thể tổ chức thành điểm tham quan trong thời gian tới Chiều dài mỗi hang này khoảng 200 mét, chiều ngang trên 3 mét và chiều cao có nơi lên đến 4 mét Nhiều bầy dơi cư trú trong hang 7 hang động nói trên là vết tích của các dòng chảy do hai núi lửa hoạt động cách đây hàng ngàn năm trước

Trang 23

Bên cạnh đó, hang dơi tại thị xã Long Khánh (hang dơi Bàu Sen) cũng có lợi thế về du lịch hang động Cửa hang lớn rộng khoảng 5 mét cao 2 mét, cửa nhỏ thông hơi chỉ độ hơn một mét Nơi đây có đến 3 hang dơi được liên kết với nhau dưới lòng đất, mỗi miệng hang cách nhau từ 200 đến 300 mét, là nơi trú ẩn của những đàn dơi có đến cả ngàn con Hệ thống hang nơi đây là hệ quả của miệng núi lửa ngày xưa Ngoài ra, các hang tại Khu du lịch Đá Ba Chồng cùng với các quần thế đá cũng tạo ra nhiều nét độc đáo Các hang động này thích hợp phát triển loại hình du lịch khám phá, dã ngoại

Nón núi lửa: được hình thành trong điều kiện dung nham có độ nhớt cao hoặc

trong các đợt phun nổ Chúng tập trung thành từng cụm hoặc đứng độc lập Các nón núi lửa tập trung thành các cụm ở Gia Kiệm – Xuân Lộc (23 nón), Phú Hòa (6 nón), Định Quán (3 nón) Núi lửa lớn nhất được thấy ở Sóc Lu, có dạng nón, đường kính 5,5 km Đỉnh núi cao 418m, sườn có dạng lõm, phần dưới thoải phần trên dốc Trên sườn nón núi lửa có nhiều tảng khối bazan lẫn với sét bột Địa hình núi lửa thích hợp với loại hình du lịch dã ngoại, khám phá

Sông Đồng Nai: sông chính bắt nguồn từ cao nguyên Lâm viên (tỉnh Lâm

Đồng) Sông và các phụ lưu của nó chảy qua nhiều địa phương trong tỉnh, tạo ra nhiều

cù lao lớn nhỏ và cảnh quan đẹp có giá trị khai thác du lịch như cù lao Phố, cù lao Giấy, cù lao Ông Cồn Đoạn sông chảy qua huyện Long Thành có lợi thế phát triển

du lịch sông kết hợp tham quan các vườn cây ăn trái, đoạn chảy qua huyện Nhơn Trạch thuận lợi về vui chơi giải trí dưới nước và có khả năng nối kết với Cần Giờ (TP.HCM), đoạn chảy qua huyện Vĩnh Cửu phù hợp với du lịch sông kết hợp tham quan các vườn bưởi, đoạn chảy qua thành phố Biên Hòa thích hợp với du lịch tham quan cù lao, làng nghề gốm và các di tích văn hóa lịch sử, có thể nối kết với các điểm thuộc sông Sài Gòn Nhìn chung, sông Đồng Nai có tiềm năng to lớn về phát triển du lịch

Hồ Trị An: được hình thành do việc đắp đập ngăn sông Đồng Nai, là một trong

những hạng mục chính của công trình thủy điện Trị An, nằm trên địa phận xã Cây Gáo, huyện Vĩnh Cửu với dung tích 2,5 x 109m3 Hồ nằm ở độ cao 40 – 50m so với mặt nước biển, trên hồ có nhiều đảo nhỏ cùng với cảnh quan đẹp là điều kiện tốt cho việc phát triển các loài hình du lịch như thể thao nước (thuyền buồm, trượt nước, kéo dù),

Trang 24

tắm hồ, dã ngoại cắm trại trên các đảo, nghỉ dưỡng

Hồ Đa Tôn: thuộc xã Thanh Sơn, huyện Tân Phú, cách quốc lộ 20 chưa đầy 4

km, hiện là công trình phục vụ cho việc tưới tiêu các cánh đồng rộng lớn ở các xã: Thanh Sơn, Phú Lâm, Phú Thanh, Phú Điền và một phần ở Định Quán Đây là hồ nhân tạo được hình thành vào năm 1986 Hồ có diện tích mặt nước khoảng 350 hécta, bao quanh là đồi núi, rừng cây Vẻ đẹp hoang sơ của Hồ Đa Tôn khá lý tưởng cho việc phát triển du lịch hồ, tham quan, dã ngoại

Danh thắng Bửu Long: nằm ở hướng Tây Bắc thành phố Biên Hòa, cách trung

tâm thành phố khoảng 2km, thuộc địa phận phường Bửu Long, có diện tích

84ha (hiện mở rộng lên đến 285ha), có độ cao trung bình 100 mét so với mực nước biển Đây là di tích danh thắng quốc gia gồm các quần thể núi, hồ, hang động, chùa chiền Theo các nhà khoa học, núi đá Bửu Long có cách nay từ 100 – 150 triệu năm, do tác động của mưa gió nên bị bào mòn tạo thành những hình dáng đẹp

Khu danh thắng bao gồm hai cụm chính là cụm núi Bình Điện và cụm Long Sơn Thạch Động Trên cụm núi Bình Điện có chùa Bửu Phong – một trong ba ngôi chùa cổ nhất Đồng Nai Cụm Long Sơn Thạch động (Chùa Hang) tọa lạc trên núi Long Ẩn là một hang đá tự nhiên ẩn sâu vào lòng một tảng đá khổng lồ Trong vách có nhiều nhũ đá với hình thù kỳ lạ rủ xuống Ngoài ra, khu danh thắng Bửu Long còn khu hồ Long Ẩn rất đẹp Đây là hồ nước nhân tạo do nhân dân trong vùng khai thác

đá tạo thành Hồ rộng gần 20.000 m2, nước trong xanh với những cụm đá còn lại tạo thành phong cảnh tuyệt đẹp Thắng cảnh Bửu Long còn được mệnh danh

”Vịnh Hạ Long thu nhỏ”

Núi Chứa Chan: thuộc địa phận huyện Xuân Lộc, cao 837 mét so với mực

nước biển, diện tích khoảng 1.400ha Núi Chứa Chan là một trong những ngọn núi lớn hiếm hoi ở Nam bộ, thắng cảnh hữu tình Ở lưng núi có nhiều giếng tiên (đó là những vũng nước nhỏ trong hốc đá không bao giờ cạn) Trên đỉnh núi, đã từng xây dựng một nhà nghỉ mát cho Toàn quyền Decoux và Thống đốc Pages

Hệ thực ở đây phong phú với hơn 3.000 loài cây từ những loại gỗ quý như

gõ, mật, giáng hương, cẩm lai đến những loại phong lan, chuối, xoài, mít, mận Tô điểm cảnh quan và làm tăng giá trị là di tích Chùa Bửu Quang (hay còn gọi là Chùa Gia Lào) tọa lạc ở vị trí cao nhất trên núi Trong kháng chiến chống Mỹ, Chùa Bửu

Trang 25

Quang là trạm giao liên mật và nơi hoạt động của các chiến sĩ cách mạng Hàng năm khách hành hương đến viếng cảnh chùa rất đông, có thể khai thác loại hình du lịch hành hương

Danh thắng Đá Ba Chồng: nằm sát Quốc lộ 20 thuộc huyện Định Quán Đây

là quần thể đá kỳ vĩ với nhiều cảnh quan đẹp do thiên nhiên ưu ái ban tặng Hòn Ba Chồng là ba hòn đá xếp chồng lên nhau ở độ cao 36m so với mặt đất trong tư thế rất chông chênh Phía Tây bắc là cụm núi Hòn Dĩa Đó là một phiến đá có hình tròn không đều, nằm trên một tảng đá nhỏ hơn nhiều lần, tựa như mong manh dễ vỡ nhưng khá vững chắc, có độ cao 43m so với mặt đất

Phía Tây Nam là Cụm núi Đá Voi còn gọi là núi Bạch Tượng Núi có hình hai con voi lớn nằm cạnh nhau Trên đỉnh một hòn đá gọi là Voi Đực có tượng phật Thích Ca khổng lồ nhìn về hướng đông, được xây dựng vào đầu năm 1970 Hòn đá Voi Cái nằm cạnh bên Phía dưới của cụm đá có hang Bạch Hổ Cụm núi có nhiều tảng đá công kênh vào nhau, nhiều cây cối mọc um tùm tạo nên những hang động đầy

vẻ huyền bí Nơi đây còn lưu giữ những vết tích liên quan đến cuộc sống của người tiền sử (thuộc nền văn hóa Óc Eo – Phù Nam) đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khảo cổ học, bảo tàng học Năm 1988 Đá Ba Chồng đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là khu di tích danh thắng cấp quốc gia

Vườn cây ăn quả: Đồng Nai là tỉnh có diện tích cây ăn quả lớn nhất vùng

Đông Nam bộ với 50.000ha bao gồm chuối, xoài, chôm chôm, nhãn, cam, sầu riêng

và sản lượng lên đên 300.000 tấn/năm, phân bố chủ yếu ở các huyện Xuân Lộc, thị xã Long Khánh, huyện Long Thành, Trảng Bom, Thống Nhất, Tân Phú và Định Quán, chiếm gần 20% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đây là tiềm năng lớn về du lịch nông nghiệp của tỉnh

Làng bưởi Tân Triều: Bưởi Tân Triều là một thương hiệu bưởi nổi tiếng từ rất

lâu của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai Theo quy hoạch, đến năm 2010 huyện Vĩnh Cửu sẽ có 1.000 ha diện tích trồng bưởi Bên cạnh giá trị thương mại của cây bưởi, làng bưởi Tân Triều còn có nhiều lợi thế về khai thác phát triển du lịch Do điều kiện

tự nhiên và lịch sử, hiện có khá nhiều hộ dân trồng bưởi sinh sống dọc theo bờ sông Đồng Nai Điều này tạo ra sự thuận lợi trong việc hình thành và phát triển loại hình du lịch vườn kết hợp du lịch sông

Trang 26

Các kiến trúc, địa hình khác: bên cạnh các khu điểm tiêu biểu, Đồng Nai còn

có rất nhiều dạng địa hình tự nhiên, các công trình kiến trúc, các giá trị văn hóa lịch sử

có thể đưa vào phát triển DLST

2.1.3 Tài nguyên văn hóa bản địa

2.1.3.1 Các di tích lịch sử

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 17 DTLS cách mạng và 7 di tích thắng cảnh, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ Các DTLS, cách mạng bao gồm các công trình tôn giáo, tín ngưỡng như chùa, đình, đền (Chùa Ông, Đình Tân Lân, Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ) và các công trình từng là “chứng nhân” lịch sử về một thời quá khứ hào hùng của vùng đất Đồng Nai (Nhà Xanh, Nhà lao Tân hiệp, Căn cứ khu ủy miền Đông, Địa đạo Nhơn Trạch, Khu căn cứ Rừng Sác ) Nhóm DTLS, cách mạng là

cơ sở để phát triển những tour chuyên đề về nguồn, giáo dục truyền thống cách mạng, học tập và nghiên cứu lịch sử

Các di tích được xếp vào nhóm thắng cảnh, kiến trúc, nghệ thuật khảo cổ chứa đựng những giá trị to lớn về nhiều mặt Nổi bật trong nhóm này là Mộ Cổ Hàng Gòn (di tích khảo cổ), Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long (di tích danh thắng), Khu Đá Ba Chồng (di tích thắng cảnh), Đình Tân Lân (DTLS kiến trúc nghệ thuật) Đây là những công trình có giá trị cao về văn hóa và tự nhiên có thể định hướng phát triển thành những trọng điểm du lịch của tỉnh

Trang 27

Bảng 2.3 : Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Đồng Nai

Stt Tên địa phương

Tổng

số di tích

Loại hình

Trong đó, cấp xếp h

Di tích lịch

sử,

Di tích thắng cảnh, kiến trúc, nghệ thuật hoặc khảo cổ

Tỉnh Quốc

Đặc biệt một số di tích văn hóa lịch sử phân bố xen kẽ trong các khu rừng tạo

Trang 28

thành một dạng tài nguyên DLST đặc sắc : các khu rừng văn hóa lịch sử và bảo vệ môi trường

Bảng 2.4 : Rừng văn hóa lịch sử Đồng Nai

Stt Tên di tích Tên rừng đặc dụng Ghi chú

1 Thánh địa vương quốc Phù

Nam VQG Cát Tiên

Di tích này thuộc địa phận Lâm Đồng

2 Căn cứ Khu ủy miền Đông,

Trung ương cục miền Nam

Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu

3 Hệ thống hang động Rừng đặc dụng Giả tỵ Chưa được xếp hạng

4 Chiến khu rừng Sác Rừng ngập mặn (Rừng Sác

Nhơn Trạch)

Nguồn: Sở Văn hóa Thông tin Đồng Nai năm 2008 Trên cơ sở sự phong phú về tài nguyên du lịch nhân văn, có thể định hình phát triển một số loại hình du lịch thích hợp :

Du lịch về nguồn, nghiên cứu lịch sử : tìm hiểu lịch sử hình thành và phát

triển của vùng đất Đồng Nai tại Căn cứ khu ủy miền Đông Nam bộ, Trung ương Cục miền Nam, địa đạo Nhơn Trạch, Nhà Xanh, Bảo tàng Đồng Nai

Du lịch hành hương : Chùa Gia Lào (Núi Chứa Chan), Chùa Ông, Chùa Đại

Giác, Chùa Long Thiền, Chùa Bửu Phong là những nơi phù hợp phát triển loại hình

du lịch hành hương

Du lịch văn hóa kết hợp du lịch thiên nhiên : tham quan rừng kết hợp

nghiên cứu DTLS (kết nối VQG Cát Tiên và Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam bộ), tham quan DTLS kết hợp sinh hoạt văn hóa (tham quan Căn cứ khu ủy, Trung ương cục miền Nam, sinh hoạt văn nghệ cồng chiêng, giao lưu văn hóa với người Châu Ro tại ấp Lý Lịch, huyện Vĩnh Cửu), du lịch sông kết hợp tìm hiểu văn hóa (Cù lao Ba

Xê, Chùa Long Thiền, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh )

2.1.3.2 Các lễ hội

Bên cạnh một số lễ hội mang tính quốc gia (Tết Nguyên Đán, Tết Trung thu, Giỗ tổ Hùng Vương, Quốc khánh, ) có thể chia các lễ hội ở Đồng Nai thành các

loại sau:

Trang 29

- Lễ hội làng xã truyền thống : cúng đình, cúng vía trời đất, cúng bà, tả tài phán,

- Lễ hội của các dân tộc ít người : cúng lúa mới, cầu được mùa, đâm trâu, cầu an

- Lễ hội kỷ niệm những sự kiện lịch sử Đồng Nai : lễ hội truyền thống cách mạng tại Chiến Khu Đ, Chiến thắng La Ngà, chiến thắng sân bay Biên Hòa

Các lễ hội truyền thống làng xã vẫn còn khá phổ biến ở Đồng Nai Lễ hội cúng đình mà một trong những hình thức của nó là Lễ Kỳ Yên thường diễn ra tại các đình làng trên địa bàn thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành, nơi có số lượng tập trung đình chùa rất lớn Lễ Kỳ Yên là lễ chính của đình gọi là vía thần nhưng thực chất là lễ hội nông nghiệp, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa

Cùng với lễ hội Kỳ Yên, các lễ hội cúng bà cũng được chuẩn bị và tổ chức không kém phần nghiêm túc Lễ hội cúng Bà ở mỗi miếu tùy vào ngày vía của mỗi

Bà Tiêu biểu cho loại hình này là Lễ cúng Bà Thiên Hậu (chùa Thiên Hậu - Bửu Long) Đi kèm với các hoạt động nghi thức của lễ hội này còn có các tiết mục ca hát, diễn xướng tổng hợp – đó là Hát bóng rỗi - Chặp Địa Nàng

Điểm đặc sắc của các hoạt động lễ hội còn được thể hiện qua các loại hình lễ hội của các dân tộc ít người Trong số đó phải kể đến một số lễ hội hiện vẫn còn tồn tại như lễ hội đâm trâu (dân tộc Châu Mạ - Tân Phú) và một số lễ hội đã thất truyền nhưng có khả năng khôi phục như lễ hội cúng lúa mới (dân tộc Châu Ro – Xuân Lộc) Đây là những nét sinh hoạt văn hóa, là tinh hoa của các dân tộc anh em sống trên địa bàn Đồng Nai, mang tính đặc thù rất cao, rất thích hợp cho việc tạo ra những SPDL độc đáo, đặc sắc vì đối với các tài nguyên văn hóa phi vật thể này, giá trị của nó được thể hiện qua các điệu múa, trường ca, nhạc cụ, món ăn, vốn rất đặc trưng của các dân tộc

2.1.3.3 Dân tộc và các làng nghề truyền thống

Đồng Nai nằm ở phía Đông Nam bán đảo Đông Dương, trên đường giao lưu của nhiều tộc người từng qua lại từ thời tiền sử nên Đồng Nai là một trong số các tỉnh

có nhiều dân tộc ít người khác nhau cùng chung sống Hiện Đồng Nai có khoảng

41 dân tộc ít người, bao gồm Hoa, Tày, Nùng, Châu Ro, Khmer, Mạ Riêng các

cư dân bản địa (Châu Ro, Mạ, Stiêng, Kơho ) đã có mặt ở vùng đất Đông Nam

Trang 30

bộ từ rất lâu đời, thường cư trú ở gò đồi, vùng có nước ngọt theo tuyến sông rạch, chủ yếu là sông Đồng Nai hình thành các thôn làng, gắn với nghề sông nước, ruộng rẫy

và buôn bán như các làng cổ Bến Gỗ (Long Thành), Đồng Môn (Nhơn Trạch), Bến Cá (Vĩnh Cửu), Cù Lao Phố (Biên Hòa)

- Người Châu ro (JRO) : đã có mặt rất sớm cùng với các cư dân người Việt,

tập trung chủ yếu tại các huyện Long Khánh, Định Quán, Long Thành, Vĩnh Cửu (ấp Lý Lịch, xã Phú Lý) Phần đông người Châu ro sống bằng nghề nông cổ truyền nên tín ngưỡng của họ - thờ đa thần - cũng liên quan mật thiết với nghề nông cổ truyền : yang va (yang : thần, va : lúa), yang bri (thần rừng), yang dal (thần suối), yang

mơ (thần ruộng) Văn hóa người Châu Ro khá phong phú : dân ca, chuyện cổ tích, huyền thoại về tình yêu, cuộc sống, tín ngưỡng vạn vật Người Châu Ro có một số dụng cụ âm nhạc cổ truyền như chiêng đồng, mõ gỗ, trống, khèn bầu, kèn ống lúa, đàn ống tre Bộ chiêng đồng có 7 chiếc (3 chiếc lớn hòa âm, 4 chiếc nhỏ giữ nhịp) dùng trong lễ cúng nhang lúa, cầu an, đám cưới Ngày nay, các xóm ấp Châu Ro hầu như không còn bộ chiêng nào, ngoại trừ các xóm ấp ở Túc Trưng (huyện Định Quán)

và Lý Lịch (huyện Vĩnh Cửu)

- Người Mạ : còn được gọi bằng tên Châu Mạ (Châu : người, Mạ : tên tộc

người), thuộc dòng Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn – khmer, xưa chỉ có tiếng nói, chưa

có chữ viết riêng, tập trung nhiều tại huyện Định Quán, huyện Tân Phú Người Mạ sống bằng nghề nông, giỏi dệt vải thô (dệt thổ cẩm) tạo thành áo, váy, khố, chăn với nhiều hoa văn trang trí đẹp mắt Là cư dân nông nghiệp cổ truyền, mỗi năm họ có nhiều lễ cúng như lễ cúng thần rừng (yu xin bri), lễ cúng thần lửa (lở Yàng ux), lễ cúng hồn lúa (lở Yàng tuýt kòi) Các giá trị đặc sắc của nền văn hóa dân gian Mạ đang dần thất truyền do thế hệ sau không kế thừa được

- Người Stiêng : còn được viết là Xtiêng, tập trung đông ở xã Tà Lài (huyện

Tân Phú), xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc), nhưng địa bàn cư trú chính ở các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh Họ chưa có chữ viết, tiếng nói khá gần người Mạ, Châu Ro Khi Pháp thống trị đất nước ta, một số học giả Pháp mới phiên âm la tinh hóa tiếng Xtiêng, thứ chữ này không phổ biến trong đồng bào Người Stiêng thờ thần mặt trời, thần sấm sét, thần đất đai Nhạc cụ của người Stiêng có bộ chiêng đánh vào khoảng 50cm, dùng đệm khi ca hát Một số nét văn hóa của người Stiêng đang dần bị

Trang 31

mai một

- Người Kơho : sống xen kẽ với dân tộc Mạ và Mnông nên một số nhóm

Kơho khó phân biệt với hai dân tộc trên, nhất là về tiếng nói Người Kơho là một trong những dân tộc bản địa sinh sống lâu đời ở phía Bắc tỉnh Đồng Nai Người Kơho

có nhiều lễ cúng đặc trưng như lễ cúng thần đất, lễ rửa chân trâu, lễ cúng lúa chín, lễ đâm trâu Nhạc cụ chính của người Kơho là đàn tre, sáo hai lỗ, kèn bầu Ngoài ra, rượu cần cũng là một nét riêng của người Kơho

Một số dân tộc hiện đang sống trong hoặc lân cận các khu vực rừng, tạo ra khả năng kết hợp giữa yếu tố thiên nhiên và văn hóa để hình thành các SPDL đắc sắc

Bảng 2.5: Dân tộc bản địa sinh sống quanh rừng đặc dụng

Stt Tên dân tộc bản địa Tên rừng đặc dụng Địa bàn cư trú

1 Châu Mạ, Stiêng VQG Cát Tiên trong ranh giới rừng

2 Châu Ro Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh

Cửu trong ranh giới rừng

3 Châu Ro Rừng Thác Mai – Hồ nước nóng ngoài ranh giới rừng

Nguồn : Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Đồng Nai Nhìn chung, các dân tộc tại Đồng Nai bao gồm nhóm dân tộc bản địa và nhóm dân tộc đến sau Mỗi dân tộc đều có kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc riêng, cùng chung sống đoàn kết thuận hòa trên vùng đất Đồng Nai Sự giao lưu văn hóa của nhiều dân tộc trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã tạo cho vùng đất này một nền văn hóa mang những nét đặc trưng riêng của mình đồng thời vẫn thể hiện được những dấu ấn văn hóa của các dân tộc khác Sự đa dạng, phong phú này là cơ sở cho việc hình thành

và phát triển một nền văn hóa Đồng Nai hiện đại

Nghề, làng nghề truyền thống cũng là tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Nghề truyền thống với các sản phẩm

độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động mà còn thể hiện tư duy triết học và tâm tư tình cảm của con người

Trải qua quá trình phát triển, địa bàn Đồng Nai hiện có một số nghề, làng nghề truyền thống tiêu biểu như :

- Đan lát, mây tre (Phường An Bình, thành phố Biên Hòa; Đan sọt,

Trang 32

Huyện Tân Phú)

- Làng cá bè (Huyện Định Quán, thành phố Biên Hòa)

- Dệt thổ cẩm (Huyện Tân Phú)

- Gỗ mỹ nghệ (Xã Bình Minh, Huyện Trảng bom)

- Chế tác đá ( Phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa)

- Gốm mỹ nghệ (Xã Tân Hạnh, Xã Hóa An, thành phố Biên Hòa)

- Trồng bưởi ( xã Tân Bình, Huyện Vĩnh Cửu)

- Trồng chôm chôm, sầu riêng ( thị xã Long Khánh)

Trong các ngành nghề kể trên, một số ngành nghề có trên 100 năm như sản xuất gốm mỹ nghệ, dệt vải, mây tre đan, chế biến gỗ, chế tác đá,… Những ngành nghề truyền thống Đồng Nai mang đậm nét văn hóa của các địa phương trong tỉnh, đã được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ Xét về giá trị của các làng nghề trong việc gắn kết, phối hợp phát triển du lịch, một số làng nghề bao gồm gốm mỹ nghệ, dệt thổ cẩm, làng bưởi, gỗ mỹ nghệ, chế tác đá có nhiều lợi thế

Gốm mỹ nghệ : Xuất hiện từ thế kỷ thứ XVII khi những người Hoa được chúa

Nguyễn cho cư trú ở Biên Hòa Đồng Nai, được hòa trộn từ các dòng gốm Việt, Chăm, Hoa để tạo thành gốm Đồng Nai và hình thành những làng gốm Tân Vạn, Bửu Hòa,

Cù Lao Phố, Hóa An, bến đò Trạm cho đến ngày nay Gốm Biên Hòa có sự kết hợp hài hòa giữa Đông và Tây, giữa cũ và mới, mang bản sắc riêng biệt của gốm địa phương với vẻ đẹp độc đáo về hình dáng, màu men và nghệ thuật trang trí Gốm Biên Hòa rất da dạng gồm: bình, tượng, phù điêu, chậu, đôn, lân, voi, đèn lồng, đĩa trang trí

Dệt thổ cẩm : Các di chỉ khảo cổ lưu vực sông Đồng Nai đã phát hiện hàng trăm

dọi se chỉ dệt vải cách đây gần 4.000 năm Người bản địa là dân tộc Mạ, Châu Ro, Xtiêng, K’ho đều biết dệt vải, chủ yếu là để tự túc trong gia đình Những chiếc khung giản đơn do bàn tay khéo léo của người phụ nữ dệt thành những tấm vải thổ cẩm có hoa văn rất đẹp Nguyên liệu để dệt vải là bông, vỏ cây có sợi có sẵn trong rừng tự nhiên Các loại màu được chiết từ vỏ cây, lá, quả, củ trong rừng Nghề dệt thổ là sản phẩm mỹ thuật của đồng bào dân tộc Mạ tập trung ở vùng Định Quán, Tân Phú Sự phát triển của nghề dệt thổ cẩm đã giúp cho các dân tộc thiểu số có công ăn việc làm, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa và phát huy được nghề truyền thống lâu đời

Trang 33

của các dân tộc tỉnh Đồng Nai

Làng bưởi : Tân Triều thuở xưa là một vùng đất hoang vu, một nơi khỉ ho cò

gáy, dân cư thưa thớt, nằm phía tả ngạn sông Đồng Nai, cách tỉnh Biên Hòa cũ khoảng 10km Năm 1869, nhà thờ Tân Triều được xây dựng, một cha xứ đã đem hai cây bưởi

ổi về trồng trước sân nhà thờ, hằng năm cho trái sum suê Thấy vậy, người dân ở đây xin chiết nhánh bưởi về trồng Và cứ thế nhân rộng ra cùng với một số giống bưởi khác Hơn một thế kỷ sau, Tân Triều trở thành một làng bưởi nổi tiếng Các vườn bưởi có lợi thế trong việc phát triển DLST vườn Ngoài bưởi, các sản phẩm làm từ bưởi cũng rất hấp dẫn như rượu, gỏi bưởi, chè bưởi, các món ăn từ bưởi

Gỗ mỹ nghệ : Nghề gỗ mỹ nghệ là nghề mộc cao cấp, đòi hỏi nghệ nhân phải có

năng khiếu về mỹ thuật Nguyên liệu chính để tạo nên sản phẩm chạm khắc là các loại gỗ cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật, gụ, giáng hương, huỳnh đường Với bàn tay khéo léo, các nghệ nhân đã tạo nên sản phẩm điêu khắc độc đáo như tượng Phật Quan Âm, tượng Quan Thánh, các bức hoành phi, những bức lèo của các tủ, bàn, ghế theo tích ngũ dơi, nho sóc Đây là một nghề xuất xứ từ tỉnh Nam Định được đưa vào tỉnh Đồng Nai từ năm 1954 trở đi

Làng cá bè : Do nhu cầu sinh nhai, nhiều hộ dân đã chuyển sang sinh sống

trên các thuyền bè dọc theo các khu vực sông và tạo nên những cộng đồng dân cư đông đúc Nghề nghiệp chính của họ là nuôi thả cá bè tại các bè trên sông Một số làng cá bè tiêu biểu như làng cá bè La Ngà (huyện Định Quán), làng cá bè Tân Mai (thành phố Biên Hòa), làng cá bè huyện Vĩnh Cửu Hiện tại, các hộ dân nuôi cá tự phát, xả chất thải gây ảnh hưởng đến môi trường nước Do đó nhà nước cần quy hoạch các hộ dân nuôi cá bè, nối kết phát triển du lịch nhưng vẫn đảm bảo giữ gìn môi trường sông nước

2.1.3.4 Các công trình, giá trị văn hóa khác

Ngoài các di tích văn hóa lịch sử, trên địa bàn Đồng Nai còn lưu giữ một số hiện vật, công trình văn hóa vật thể và các giá trị văn hóa phi vật thể

Nhà cổ : Hiện nay trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai còn một số ngôi nhà cổ tại các

huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu và thành phố Biên Hòa Một số ít ngôi nhà

cổ được trùng tu giữ gìn nguyên vẹn cho đến nay, nổi bật nhất là nhà từ đường họ Đào – Nhơn Trạch, nhà từ đường họ Trần phường Tân Vạn- TP Biên Hòa

Trang 34

Văn miếu Trấn Biên : Năm 1715, Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Trấn thủ Nguyễn

Phan Long và Ký Lục Phạm Khánh Đức chọn thôn Tân Lại, tổng Phước Vĩnh (nay là phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa) để xây dựng Văn miếu Trấn Biên, có vai trò như một trung tâm văn hóa - giáo dục của vùng đất này Văn miếu Trấn Biên là văn miếu đầu tiên ở Nam Bộ Hàng năm, vào ngày đinh mùa xuân và mùa thu, đích thân chúa Nguyễn đến Văn miếu Trấn Biên để hành lễ

Năm 1861, Văn Miếu bị thực dân Pháp tàn phá hoàn toàn khi đánh chiếm Tỉnh Biên Hòa Năm 2002, Văn Miếu Trấn Biên được xây dựng lại trên nền Văn miếu xưa, gần Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long Văn miếu ngày nay là nơi thờ phụng các danh nhân văn hóa Việt Nam và văn hóa vùng Nam Bộ, nơi bảo tồn và ghi danh các đơn vị, cá nhân có thành tích cao, là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa và lễ hội dân tộc

Hiện nay, Văn miếu Trấn Biên là điểm đến của nhiều du khách đến tham quan tìm hiểu văn hóa lịch sử Đồng Nai Văn miếu đang tiếp tục quá trình thi công xây dựng giai đoạn 2 là khu dịch vụ du lịch Điểm thuận lợi là Văn miếu Trấn Biên rất gần Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu long nên có thể kết hợp với khu du lịch này tạo thành một quần thể du lịch danh thắng văn hóa rất lý tưởng

Bảo tàng Đồng Nai : là nơi trưng bày và lưu giữ các hiện vật văn hóa, những di

chỉ khảo cổ qua nhiều thời kỳ mà có rất nhiều hiện vật không thể thấy được ở các bảo tàng khác Đây là một trong những bảo tàng lớn nhất Nam bộ phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu nghiên cứu, học tập, tìm hiểu về văn hóa lịch sử Sẽ rất thiếu sót nếu các chương trình du lịch về nguồn, giáo dục truyền thống văn hóa cách mạng mà lại bỏ qua một điểm đến giá trị này

Đặc sản ở các địa phương: Đồng Nai có một số đặc sản tiêu biểu là bưởi và

các món ăn, thức uống được chế biến từ bưởi như rượu bưởi, chè bưởi, gỏi bưởi, nem bưởi; bắp Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu), rượu Bến Gỗ (huyện Long Thành), rượu cần, cơm Lam (huyện Tân Phú),

Các giá trị văn hóa phi vật thể : Do đặc điểm hợp cư của nhiều dân tộc nên

văn hóa Đồng Nai rất đa dạng phong phú Hiện tại, một số giá trị văn hóa đặc trưng hiện còn có thể đưa vào khai thác du lịch như trường ca, điệu hát, điệu múa, cồng chiêng của dân tộc Châu Mạ (huyện tân Phú), đờn ca tài tử (huyện Nhơn Trạch, Long

Trang 35

Thành, thành phố Biên hòa), ca nhạc dân tộc, ca nhạc hiện đại Về lâu dài, cần có

kế hoạch khôi phục những giá trị văn hóa đã mai một, phát huy và giữ gìn, bảo vệ những nét văn hóa hiện tại tạo cơ hội nhiều hơn cho việc khai thác du lịch văn hóa Bên cạnh đó, cần sưu tầm tìm hiểu và phổ biến rộng những yếu tố mang giá trị văn hóa hữu hình hoặc vô hình cùng tồn tại song song với các giá trị văn hóa vật thể

để từ đó tôn vinh, nâng cao hơn nữa giá trị của các DTLS Đó chính là những câu chuyện, truyền thuyết, lịch sử, sự kiện gắn với quá trình hình thành và phát triển các di tích Có thể kể đến một số sự kiện cụ thể :

Chùa Đại Giác – một trong ba ngôi chùa cổ nhất của Đồng Nai gắn với chuyện

Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh – con gái thứ ba của Chúa Nguyễn Ánh (sau là Vua Gia Long), trên đường chạy trốn quân Tây Sơn đã đến trú tại đây một thời gian Năm

1820, Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh đã cúng cho chùa tấm biển tên chùa Đại Giác

tự sơn son thếp vàng Hiện tấm biển này vẫn được treo ở hành lang trước chánh điện

Nhà Xanh - nơi ghi dấu ấn đậm nét sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền

Nam Việt Nam, từng là nơi diễn ra sự kiện lịch sử hai người Mỹ đầu tiên chết trong chiến tranh Việt Nam là thiếu tá Bael Buis và trung sĩ Chester Ovmand

Đài Chiến sĩ ở Biên Hòa – do chính quyền Pháp xây dựng năm 1923 để tưởng

nhớ những người bản xứ bỏ mình vì “mẫu quốc đại pháp” Đó là những người Việt bị Pháp bắt rời bỏ quê hương lên đường sang Pháp để chiến đấu bảo vệ mẫu quốc

và không bao giờ trở lại Nguyễn Ái Quốc đã lên án và tố cáo về sự kiện mỵ dân này

trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”

Mộ Cổ Hàng Gòn - minh chứng về một thời kỳ cách đây khoảng 2.000 năm,

một sự khó lý giải về việc người xưa đã vận chuyển những tảng đá nặng hàng chục tấn

về xây mộ từ nơi cách đó hàng trăm km chỉ với những phương tiện thô sơ

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi thờ tự Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh

Năm 1698 ông là người được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược vùng đất phương Nam, đặt bộ máy hành chính tại Cù lao Phố Đền thờ là một trong số ít những

di tích của Biên Hòa còn lưu giữ sắc thần, trong đó ghi rõ họ tên, chức tước vinh hiển, thứ bậc Thượng đẳng Thần do triều đình Huế ban phong cho Nguyễn Hữu Cảnh Nhìn chung, còn rất nhiều yếu tố văn hóa phi vật thể trong kho tàng văn hóa Đồng Nai tạo nên tiềm năng du lịch nhân văn Từ đó cho thấy, lợi thế về tài nguyên

Trang 36

nhân văn của Đồng Nai hứa hẹn mở ra nhiều khả năng cho việc đưa các yếu tố văn hóa vào kết hợp phát triển DLST

2.1.4 Các nguồn lực phát triển khác

2.1.4.1 Tình hình phát triển kinh tế – xã hội

Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nên tỉnh có rất nhiều lợi

t hế và cơ hội phát triển kinh tế - xã hội Trong quý I/2010, toàn tỉnh đã tập trung thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đạt kết quả rất khả quan Ước thực hiện tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn là 7.456,9 tỷ đồng, đạt 20,9% kế hoạch, tăng 13,4% so với cùng kỳ Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 24.916,6 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ và đạt 25,6% kế hoạch Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.437,2 triệu USD, đạt 20,4% kế hoạch và tăng 18,5% so cùng kỳ Thu hút đầu tư trong nước thông qua cấp giấy chứng nhận đầu tư là 22.405 tỷ đồng, đạt 89,6% so kế hoạch và tăng gấp 17,4 lần

so với cùng kỳ Riêng thu hút đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký cấp mới và dự

án tăng vốn là 115,2 triệu USD, đạt 7,7% so kế hoạch và tăng gấp 2,8 lần so với cùng

kỳ Trên lĩnh vực nông nghiệp, đã tập trung tổ chức gieo trồng vụ Đông xuân, không phát sinh dịch bệnh trên gia súc, gia cầm Các hoạt động văn hóa xã hội được quan tâm thực hiện, đáp ứng cơ bản nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân, đặc biệt là nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Công tác giáo dục đào tạo, y tế

và chăm sóc sức khỏe nhân dân được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện Các cơ quan chức năng của tỉnh đã phối hợp tốt trong việc cung ứng lao động cho các doanh nghiệp và đã giải quyết việc làm cho 20.212 lao động, đạt 23,8% kế hoạch năm Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản được giữ vững ổn định1.1Nguồn:http://hdnd.dongnai.gov.vn/thongtinhoatdong/thong_tin_chung/mlnews.2010-03-26.2443128709

Đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, Đồng Nai cùng với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung phát triển du lịch gắn liền với việc bảo vệ, tôn tạo các DTLS, văn hóa, khu bảo tồn thiên nhiên Chú trọng phát triển các tuyến du lịch trọng điểm

Trang 37

2.1.4.2 Kết cấu hạ tầng du

Giao thông vận tải

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn Đồng Nai : tổng chiều dài là

Đường sắt Bắc Nam chạy qua tỉnh Đồng Nai : Có chiều dài 87,5km qua 12

ga Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối tỉnh Đồng Nai với miền Bắc và TP Hồ Chí Minh

Hệ thống cảng trên địa bàn Đồng Nai gồm : Cảng Đồng Nai, cảng công ty

vật tư xăng dầu Đồng Nai, cảng SCT GAS-VN Ngoài ra, một hệ thống cảng sông, bến bãi đóng vai trò rất quan trọng trong lưu thông, vận chuyển hàng hóa và đã xây dựng như các cảng trên sông Cái, trên sông Đồng Nai Sản lượng hàng hóa thông quan các cảng biển hiện nay trên 3 triệu tấn/năm

Các công trình giao thông trong tỉnh và các tỉnh, thành lân cận có vị trí chiến lược đối với tình hình phát triển kinh tế xã hội của Đồng Nai:

Sân bay Tân Sơn Nhất: năng lực thông quan tối đa của Sân bay Tân Sơn

Nhất cho phép đạt tới 15 triệu hành khách/năm

Sân bay quốc tế Long Thành : dự kiến đi vào hoạt động 2016, năng lực phục

vụ 10-12 triệu khách/năm, 700-800 tấn hàng hóa/năm

Cảng biển: nâng cấp cụm cảng Sài Gòn lên tối đa khoảng 15-16 triệu

tấn/năm trong năm 2010 Xây dựng cụm cảng Thị Vải (bao gồm các cảng Gò Dầu, Phú Mỹ, ngã ba sông Cái Mép - Phú Tân) với công suất khoảng 10 triệu tấn năm

2000 và khoảng 15 triệu tấn năm 2010 Xây dựng cảng Sao Mai - Bến Đình thành cảng trung chuyển quốc tế với công suất hàng hoá thông quan khoảng 40-50 triệu

Trang 38

tấn/năm, chủ yếu phục vụ cho chuyển tài hàng hoá bằng container với cỡ tàu 50-100 nghìn tấn

Trục đường 51: Hiện nay đang nâng cấp tuyến Quốc lộ 51 Biên Hòa-Bà Rịa

Vũng Tàu thành đường cấp I (4 làn xe) Sau năm 2015, xây dựng thành tuyến cao tốc (8 làn xe tốc độ 120 km/giờ) chạy dọc theo hướng đường 51 hiện có hơi chếch về phía Đông, với hành lang rộng 140-180m kéo dài từ thành phố Vũng Tàu cắt Quốc lộ 1A vòng qua thành phố Biên Hoà về phía Bắc, vượt qua sông Đồng Nai sang Thủ Dầu Một rồi nối với đường 22 (đường xuyên Á) và 1 nhánh qua Nhơn Trạch đến Thủ Thiêm

Nâng cấp quốc lộ 20 Dầu Giây – Tân Phú đi Đà Lạt thành đường cấp II

đến 2010 và cấp I đến 2015, kết nối với đường Cao Tốc Long Thành

Xây dựng tuyến cao tốc Quận 9 (TP.HCM) – Long Thành – Dầu Giây để

tạo thêm cửa mở cho TP.HCM và khu vực phía Tây Nam đi ra khu vực miền Trung, phía Bắc và Tây Nguyên

Nâng cấp QL56 Long Khánh – Bà Rịa Vũng Tàu thành đường cấp I sau

2010, kéo dài tuyến giao cắt với tuyến trục Long Thành - Nhơn Trạch

Hoàn thành xây dựng xa lộ Bắc - Nam trên địa phận Đông Nam Bộ

Hoàn thành xây dựng cầu Đồng Nai mới giúp giảm tải trọng cầu cũ và giao

thông lưu thông dễ dàng và thông thoáng hơn

Nâng cấp đoạn QL1A từ thành phố Hồ Chí Minh đi miền Tây Nam Bộ theo

hướng trở thành xa lộ Đồng thời nâng cấp hai tuyến đường 50 đi thành phố Hồ Chí Minh đi Gò Công, nối liền với Mỹ Tho và đường 81C thành quốc lộ từ thành phố

Hồ Chí Minh qua Long An (huyện Đức Hoà, Đức Huệ) xuống đồng bằng sông Cửu Long cùng với quốc lộ 1A Đây là 3 hành lang phát triển nối liền thành phố Hồ Chí Minh (và Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam nói chung) với ĐBSCL

Trên hành lang đường cao tốc 51 có thêm tuyến đường sắt khổ 1m xuất phát

từ cảng Sao Mai - Bến Đình (có phương án làm ga cuối cùng ở cách thành phố Vũng Tàu 20km) và nối với đường sắt Bắc - Nam Cải tạo khu đầu mối đường sắt thành phố

Hồ Chí Minh, xây dựng các tuyến đường sắt từ Sài Gòn đi Vũng Tàu, Phnôm Pênh, Tây Nam Bộ và đi Tây Nguyên

Trang 39

Nâng cấp đường 22 thành tuyến xuyên Á (dự kiến 4 làn xe)

Bưu chính viễn thông

Hiện nay, mạng lưới bưu chính - viễn thông của Đồng Nai đã được thiết lập rộng khắp trên địa bàn tỉnh Ước tính doanh thu bưu chính viễn thông quí I/2009 là 465

tỷ đồng, đạt 25,1% kế hoạch, tăng 1% so cùng kỳ

- Số máy điện thoại phát triển: điện thoại cố định quí I/2009 là 9.983 máy, đạt 13,3% kế hoạch, bằng 74% so cùng kỳ Điện thoại di động quí I/2009 là 135.757 máy, đạt 33,9% kế hoạch, tăng 45% so cùng kỳ

- Thuê bao Internet phát triển quí I/2009 (ADSL) là 4.349 thuê bao, đạt 22,3%

kế hoạch, tăng 41% so cùng kỳ

Hệ thống nguồn và mạng chuyển tải điện

Nguồn cấp điện cho tỉnh lấy chủ yếu từ các nhà máy thủy điện Trị An (công suất 4 x 100MW), nhà máy điện FORMOSA (công suất 150MW), nhà máy điện Hàm Thuận ( công suất 2 x 150MW), nhà máy điện Phú Mỹ và một số nhà máy điện nhỏ khác ở các khu công nghiệp trong tỉnh

Hệ thống lưới điện gồm các cấp điện áp 110, 35, 15 và 22KV với tổng chiều dài mạng lưới đường dây truyền tải điện gần 6.000km Hệ thống trạm biến áp có 5.252 trạm Hệ thống lưới điện đến nay đã được kéo phủ khắp toàn tỉnh, đến 100% số

xã, đảm bảo cung cấp điện năng ổn định phục vụ các khu công nghiệp, đô thị và hầu hết khu vực nông thôn trong tỉnh

Cấp nước

Bên cạnh một số nhà máy, trạm cấp nước tại chỗ ở thị trấn, thị xã; hệ thống cấp nước hiện có 5 nhà máy , trong đó lớn nhất là nhà máy nước Thiện Tân công suất 100.000m3/ngày Tổng công suất cấp nước hiện đạt gần 350.000 m3/ngày, cơ bản đáp ứng được yêu cầu cấp nước cho các khu công nghiệp và đô thị trong tỉnh Các nhà máy nước lớn trong tỉnh đều lấy nguồn nước từ sông Đồng Nai Tỷ lệ thất thoát nước của toàn hệ thống cấp nước còn khá lớn, chiếm 29%

2.1.4.3 Cơ sở vật chất – kỹ thuật dịch vụ du lịch

Cơ sở lưu trú

Theo thống kê của Sở Văn hoá Thể thao Du lịch Đồng Nai, tính đến cuối năm

2009, Đồng Nai có 153 CSLT du lịch với tổng số buồng là 2.914 buồng, trong đó có 1

Trang 40

khách sạn 4 sao, 1 khách sạn 3 sao, 2 khách sạn 2 sao, 3 khách sạn 1 sao Số còn lại là

các CSLT du lịch đạt tiêu chuẩn và các nhà nghỉ Đây là những CSLT có cơ sở vật chất

ở mức khá Ngoài số CSLT này, Đồng Nai còn có khoảng 518 hộ kinh doanh CSLT

dưới dạng nhà trọ, nhà nghỉ cấp thấp, chủ yếu phục vụ công nhân tại các khu công

nghiệp hoặc khách vãng lai

Các CSLT du lịch phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại khu trung

tâm đô thị và rải rác ở các huyện Riêng tại thành phố Biên Hòa đã có khoảng 73

CSLT du lịch Điều này, làm cho tình trạng thiếu phòng tại các khu vực vùng sâu vùng

xa (nơi tập trung các khu điểm DLST lớn) càng trở nên nghiêm trọng

Bảng 2.6 : Cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Đồng Nai năm 2009

Nguồn: Sở Văn hoá Thể thao Du lịch Đồng Nai

Đa số điểm du lịch đã đầu tư các khách sạn, nhà nghỉ trong khu du lịch của

mình Trung tâm Văn hóa Du lịch Bửu Long với 25 phòng nghỉ, Trung tâm Dịch vụ

DLST Cát Tiên (VQG Cát Tiên) với 35 phòng nghỉ, khu du lịch Thác Giang Điền

đang trong giai đoạn xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng Bên cạnh đó, một số khu du

lịch tổ chức phục vụ lưu trú mang tính đối phó ngắn hạn như Khu Thác Mai – Hồ

nước nóng dành ra một căn nhà gỗ đủ chỗ cho 20 người ngủ, khu Núi Chứa Chan –

Chùa Gia Lào cho thuê chiếu, võng cho khách khi có nhu cầu ngủ lại trên núi

Thực tế cho thấy, với hệ thống CSLT như trên, các khu du lịch bị hạn chế rất

nhiều trong việc lưu khách qua đêm đối với những đoàn khách có số lượng lớn Đây

cũng là yếu tố mà các khu điểm du lịch cần lưu ý trong quá trình nâng cao chất

lượng SPDL của mình

Công suất phòng bình quân của các CSLT đạt mức khá, bình quân

Ngày đăng: 28/02/2019, 11:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w