1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo Trình Y Học Tư Pháp

89 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 340 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, nếu việc khám chữa bệnh đó đợc tha kiện, thì tất cả hồ sơ bệnh án, những chỉ định, y lệnh của thầy thuốc đơng nhiên trở thành chứng cứ của vụ việc.Trong lĩnh vực nghiên cứu y họ

Trang 1

Bài 1

Giới thiệu môn học

Mục tiêu:

1 Hiểu rõ định nghĩa, khái niệm về môn học, về mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa y học và pháp luật.

2 Bớc đầu hình thành ý thức tuân thủ pháp luật trong khi hành nghề y.

3 Nhận rõ ý nghĩa phục vụ công dân, phục vụ xã hội một cách thiết thực và chiều hớng phát triển của môn học.

1.1. Định nghĩa: Y học t pháp là một môn khoa học ứng dụng những kiến thức và

ph-ơng tiện y học, sinh học để bổ trợ cho hoạt động t pháp và đáp ứng những vấn đề

về sức khỏe của con ngời liên quan đến sự điều chỉnh của pháp luật Đồng thời, y học t pháp có chức năng xây dựng năng lực pháp lý cho các cán bộ và cơ sở y tế, cung cấp những khái niệm, kiến thức y học cho việc chế định ra pháp luật và pháp qui liên quan đến y học, y tế.

Khi nói y học t pháp là đề cập đến phạm vi các chuyên khoa, đa khoa rộng rãi trong toàn ngành y, trong tất cả các hoạt động y tế liên quan đến chức năng phục vụ pháp luật Còn khi nói đến pháp y, là đề cập đến một chuyên ngành sâu có đặc tính là giao thoa, lồng ghép giữa khoa học hình sự (Forensic science) và y học.

Trong quyển sách này, khi sử dụng thuật ngữ y học t pháp , các tác giả sẽ đề cập

đến những nội dung kiến thức chung cần cung cấp cho tất cả các thầy thuốc tơng lai; còn khi sử dụng thuật ngữ pháp y là muốn nói đến kiến thức chuyên ngành pháp y“ ”

học với nội dung và yêu cầu ở mức độ một bác sĩ đa khoa hoặc chuyên khoa khác cần biết.

1.2 Y pháp và y học:

Với định nghĩa đã nêu trên, có thể thấy lĩnh vực rất rộng, rất chuyên sâu mà y học t pháp giao thoa với tất cả các chuyên khoa bạn trong y học, sinh học và với các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội khác

Trang 2

Sức khỏe của con ngời, của cộng đồng đòi hỏi sự chăm sóc, chữa trị của đủ mọi chuyên khoa về mặt y học Nhng, theo định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức sức khỏe Thế giới (WHO) sức khỏe của con ngời không chỉ đơn thuần là không bị bệnh tật mà phải là trạng thái lành mạnh về cả thể chất, tinh thần và xã hội.

Con ngời vừa là một thực thể sinh học lại vừa là một tiểu vũ trụ tổng hòa các mối quan

hệ xã hội Do đó, y học t pháp tham gia vào các phần tinh thần và xã hội của việc chăm sóc sức khỏe con ngời Mọi ngời dân (kể cả ngời đã bị kết án) đều đợc hởng sự chăm sóc sức khỏe cũng nh sự bảo hộ của pháp luật để có đợc trạng thái cân bằng, tin tởng và tích cực trong tinh thần, trong mối quan hệ xã hội Một ngời bệnh, khi cần phải đến cơ sở y

tế để khám chữa bệnh trên thực tế đã hình thành một quan hệ dân sự có tính pháp lý, mọi giao dịch giữa ngời bệnh và nhân viên, cơ sở y tế khi cần thiết phải đợc điều chỉnh, xử lý theo luật định Hơn nữa, nếu việc khám chữa bệnh đó đợc tha kiện, thì tất cả hồ sơ bệnh

án, những chỉ định, y lệnh của thầy thuốc đơng nhiên trở thành chứng cứ của vụ việc.Trong lĩnh vực nghiên cứu y học, việc nghiên cứu không chỉ dựa trên những lý thuyết, phơng pháp và phơng tiện y học, sinh học thuần túy mà đối với con ngời, những nghiên cứu đó phải tuân theo những chuẩn mực y đức, đạo lý và đặc biệt phải tuân theo pháp luật để đảm bảo tính nhân văn, nhân đạo phù hợp với quan điểm của xã hội

1.3 Y học t pháp và pháp luật:

Các hoạt động t pháp hiểu theo nghĩa rộng hay chỉ nghĩa hẹp trong hoạt động điều tra, tố tụng bao giờ cũng cần sự trợ giúp một cách đắc lực của các ngành khoa học tự nhiên và xã hội khác để có thể tiếp cận đến mức gần nhất tới sự thật Trong xã hội phát triển, các ngành khoa học phát triển theo hớng ngày càng chuyên sâu, không một ai dù thông thái

đến đâu cũng không thể nắm bắt hết đợc Vì vậy, các hoạt động t pháp phải luôn luôn có vai trò của bổ trợ t pháp Đây là hoạt động của các chuyên gia thuộc đủ mọi ngành khoa học làm chức năng t vấn, giám định những vấn đề thuộc chuyên ngành của mình giúp cho hoạt động t pháp tiến hành một cách khoa học, khách quan và công bằng

Trong các hoạt động bổ trợ t pháp đó, hoạt động của y học bổ trợ cho t pháp là loại hình phổ biến nhất, thờng nhật nhất và có xu hớng phát triển ngày càng chuyên sâu, liên tục cập nhật với các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ

Nói một cách khác, mọi thành tựu của y học nói riêng và các khoa học khác nói chung

đều đợc động viên kịp thời để giúp giải quyết những vấn đề mà xã hội và pháp luật đặt ra

1.4 Y học t pháp - pháp y:

Y học t pháp là sự phát triển và mở rộng của pháp y - một chuyên khoa có từ lâu đời và

ngày nay đã phát triển thành nhiều nhánh chuyên sâu Pháp y với quan niệm kinh điển

có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề về tính mạng, thân thể con ngời trong những vụ

án hình sự giúp cho cơ quan điều tra tố tụng điều tra và xét xử chính xác, khoa học và

Trang 3

cơ quan t pháp nhiều nớc theo mô hình Anh - Mỹ có một cơ quan chuyên điều tra về các

vụ có ngời chết đợc gọi thành tên riêng là Coroner Trong cơ quan này có các điều tra viên y học (Medical inspector, medical examiner), họ vừa là sĩ quan điều tra thuộc cảnh sát lại vừa đợc đào tạo về y học, đặc biệt là chuyên khoa pháp y để trực tiếp điều tra toàn diện một vụ chết ngời Tơng tự nh vậy, ở Việt Nam cũng có các bác sĩ pháp y trong biên chế của cơ quan cảnh sát khoa học hình sự Các bác sĩ này vừa là sĩ quan cảnh sát của cơ quan công an vừa đợc đào tạo về y khoa và pháp y có bằng cấp bác sĩ chuyên khoa pháp y

Xuất phát từ sự phát triển vừa rộng vừa chuyên sâu của khoa học điều tra nói chung và pháp y nói riêng mà ngày nay pháp y hiện đại trở thành một khoa học tơng đối độc lập nằm kề cận với một bên là y học và một bên là khoa học hình sự (Forensic science).Với t cách là một khoa học độc lập, pháp y học đã phân nhánh thành nhiều chuyên khoa sâu khác nhau và có xu hớng ngày càng phát triển thêm nhiều chi nhánh chuyên sâu khác Những chuyên khoa sâu cơ bản nhất của pháp y học bao gồm:

1.4.4 Nha khoa pháp y (Forensic odontology):

Nghiên cứu đặc tính cá thể thông qua răng, hàm mặt của đối tợng, trong đó quan trọng nhất là tàng th nhận diện răng (dental record) dùng để nhận diện khi phần mềm đã bị rữa nát hết

1.4.5 Độc chất học pháp y (Forensic toxicology) và phân tích (kiểm nghiệm) độc chất

pháp y (Forensic toxicologycal analysis):

Nghiên cứu về tác động của chất độc lên cơ thể và xét nghiệm phân tích mẫu chất độc

1.4.6 Tâm thần học pháp y (Forensic psychiatry):

Trang 4

ở Việt Nam có ngành tơng đơng là khoa pháp y của Viện sức khỏe tâm thần có chức năng giám định bệnh tâm thần của những bị can về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của họ.

Khi khai quật mộ cổ niên đại nhà Tần 220 năm trớc Công nguyên đã phát hiện nhiều văn bản viết trên thẻ tre liên quan đến pháp y Trong đó có nội dung “vấn đáp pháp luật”

“phong chẩn thức” qui định: gây ra những vết thơng nặng nhẹ khác nhau sẽ phải chọn những hình phạt nặng nhẹ khác nhau “Phong chẩn thức” còn ghi rõ nội dung công tác pháp y: kiểm nghiệm cơ thể sống, kiểm nghiệm thủ cấp, kiểm nghiệm thi thể, khám nghiệm hiện trờng và những ghi chép về dấu vết (vết tay, vết máu, vết hung khí, )

ở thời thợng cổ, Vua Ha-mu-ra-bi nớc Ba-bi-lon (1792-1750 TCN) đã qui định việc hành nghề y theo luật pháp, nêu rõ quyền lợi của ngời thầy thuốc nội, ngoại khoa, cụ thể

có những điều lệ truy tố họ nếu mắc sai sót điều trị vi phạm đến tính mạng bệnh nhân Tùy theo cơng vị xã hội của ngời chết, ngời thầy thuốc bị xử tội chặt tay hoặc bồi thờng tiền bạc Pháp luật cũng đề cập đến mối liên quan giữa bệnh tật và khả năng lao động của ngời bệnh, đến những hành vi bạo động nh hãm hiếp, phá thai Tại Trung Quốc trong khoảng từ 3000 đến 200 năm trớc Công nguyên, ngành y đã phân loại các chất độc nh: Thạch tín, thuốc phiện, a-cô-nít và dùng chất ma túy ha-sích để gây mê khi mổ xẻ Tại

Hy Lạp tử thi đợc coi là vật thiêng liêng, nhng trong chết nghi vấn, thầy thuốc đợc mổ xác để tìm nguyên nhân chết Thầy thuốc Hê-rô-phin đã phát hiện xơng móng ở cổ nhng cha biết tìm tổn thơng xơng này trong chết treo cổ Hip-pô-crat đợc tôn sùng là cha đẻ của ngành y, nhận định ngời béo dễ chết đột ngột và ngời ở lứa tuổi từ 40-60 thờng vỡ mạch máu não Trong lời thể của thầy thuốc trớc khi ra hành nghề, Hi-pô-crat đề cập đến việc tránh thai bằng thuốc ở ấn Độ những năm đầu sau Công nguyên, luật pháp cha qui

định rõ về tội trạng, nhng đã truy tố những kẻ phá hoại các cây thuốc và những kẻ loạn luân ở Ai Cập, những kẻ phá thai, đánh đập trẻ em, thầy thuốc làm chết bệnh nhân, đều

bị đa ra tòa xét xử Qua giám định pháp y, đã thống kê một số ca chấn thơng sọ não kín

và hiện tợng xác khô đét nếu bị vùi sâu trong cát nóng, mở đầu cho việc tìm tòi những phơng pháp ớp xác vua chúa trớc khi đem quàn dới hầm sâu trong kim tự tháp Tại nớc

Trang 5

trừng trị rất nặng Thời bấy giờ đã có văn bản phân loại thơng tích làm bảy nhóm, từ vết bầm tím đến những thơng tổn làm chết ngời, và mỗi khi khám cho ngời bị thơng đều phải sử dụng bảng phân loại đó Tại La Mã pháp y đợc chú trọng đặc biệt Vào khoảng

600 năm trớc Công nguyên, xác phụ nữ có thai sắp đến ngày sinh đợc mổ sớm để cứu lấy đứa trẻ, việc mai táng bị cấm ngặt nếu cha làm việc đó Trong chơng XII của Bộ luật Hình sự nớc này đã ghi: Thời gian dài nhất của thai nghén là 300 ngày và đứa trẻ ra đời dới thời hạn 10 tháng Hai nghìn năm sau, Bộ luật của Na-pô-lê-ông cũng ấn định nh vậy Luật cũng nghiêm cấm phá thai và thầy thuốc làm chết bệnh nhân thì bị đi đày hoặc

xử trảm Khi Xê-da bị ám sát, thầy thuốc Ang-tit-sti-uýt ghi nhận tử thi có 23 vết th ơng

và vết duy nhất gây chết sâu thấu khoang ngực, thuộc liên sờn thứ nhất Dới thời hoàng

đế Juytsti-ni-ăng giám định viên pháp y không những chỉ là nhân chứng tại phiên tòa mà còn có thể tham gia vào việc định mức án cho bị cáo Đã có sách đề cập đến chết đột tử, chết dới nớc, phá thai, hãm hiếp, trúng độc, bệnh tâm thần, giả bệnh, giả thơng tật

ở thời chuyển tiếp, khoảng đầu thế kỷ V sau Công nguyên, ngời Đức là dân tộc đầu tiên thời bấy giờ đề ra việc giám định các thơng tích để xác minh hung khí và thầy thuốc phải gửi văn bản giám định cho tòa án Tại Pháp dới thời Sác-lơ-ma-nhơ, những nhà hình pháp thờng xuyên cần đến sự cộng tác của các thầy thuốc để tìm ra manh mối các vụ án,

tự tử, hãm hiếp hoặc phá thai Nhng phải đợi đến vài thế kỷ sau, pháp y mới khởi đầu sự tiến triển dới thời Vua Hăng-ri đệ tứ, cụ thể là luật pháp qui định các bác sĩ, nội, ngoại, sản sau khi đợc trng dụng giám định các trờng hợp chết do thơng tích hoặc thai nghén

đều phải làm nhân chứng tại tòa án Trờng đại học tỉnh Mông-pe-li-ê đợc phép của Giáo hoàng cho mổ tử thi Các dợc sĩ đợc chỉ định giám định phẩm chất của thuốc có liên quan đến điều trị bệnh trong các vụ án Nhà phẫu thuật Am-broa-dơ Pa-rê nổi tiếng về thắt mạch và cầm máu bằng dao điện viết cuốn “chết do thơng tích gây tàn phế và cụt chi” và một số chuyên mục pháp y nh: chết sơ sinh, chết do sét, chết treo cổ; thơng tích trớc và sau chết; trúng độc ô-xýt các-bon Ông còn soạn thảo cả mẫu báo cáo pháp y Cùng thời đó Xê-vơ-rin Pi-nô xuất bản cuốn sách về trinh tiết và mất trinh Tác giả tranh luận sôi nổi với các bác sĩ pháp y về đặc điểm của màng trinh và nhận định rằng sau khi giao hợp một số phụ nữ vẫn còn màng trinh nguyên vẹn Giám định viên Ăng Toan Lu-i thụ lý vụ án Ca-la đã chứng minh anh ta tự treo cổ chết, phục hồi quyền công dân cho

ông bố bị tuyên án tử hình vì nghi là đã giết con ở thế kỷ XII tại Do Thái và một số nớc Hồi giáo vùng Cận đông, cấm mổ xác ngời chết do bệnh nhng phải khám nghiệm tử thi những ngời chết do án mạng và giám định viên phải xác minh nguyên nhân chết và vật gây thơng tích làm chết ngời ở thế kỷ XIII, Trung Quốc đã ấn hành bộ “Pháp y học” gồm 5 quyển đề cập đến dấu hiệu chết, khám nghiệm tử thi, chết treo, chết đuối, chết cháy và trúng độc Tại ý, bác sĩ ngoại khoa Hu-gô Đơ-lu-ca tuyên thệ giữ chức giám

định pháp y chính thức ở Đức, trờng y tỉnh Lai-xích giảng pháp y lần đầu vào năm

1650, một số tác giả nh Vens và Bon viết nhiều tài liệu về thơng tích trong tai nạn, tự tử,

án mạng Cat-spe giảng pháp y ngót 40 năm và viết cuốn “Pháp y thông dụng” đợc dịch ngay ra tiếng Anh năm 1856 ở áo, pháp y đợc giảng dạy lần đầu tại thủ đô Viên năm

1804 và cuốn “Pháp y” do bác sĩ Phôn-hớp-man đợc thông dụng ở nhiều nớc Châu Âu Tại Anh, giáo s pháp y đầu tiên là Đơn-can Crit-sti-sơn viết cuốn “chuyên đề về chất

Trang 6

độc” năm 1829 và sau thế chiến II Viện Hàn lâm pháp y đợc thành lập Tại Mỹ từ thế kỷ XVII, ngời Anh sang Mỹ khai khẩn đem theo luật lệ và thủ tục pháp y áp dụng trên đất

Mỹ Ca pháp y đầu tiên là một vụ án mạng, bác sĩ khám nghiệm tử thi cho sinh viên ờng y tham dự Sách pháp y là sách của Anh, cho đến thế kỷ XIX, pháp y mới đợc giảng dạy bằng sách của Mỹ ở trờng đại học Ha-vớt ở Nữu-ớc và Phi-la-đen-phi-a Năm 1923 nớc Mỹ qui định mỗi ca mổ tử thi trong 24 giờ là 40đôla Từ 1918 đến 1938, riêng thành phố Nữu-ớc giám định 11 vạn vụ pháp y gồm 8 vạn vụ chết do tai nạn các loại, hơn 2 vạn vụ tự tử và ngót 1 vạn vụ án mạng Đến năm 1954 mới bắt đầu giám định tâm thần những kẻ gây án Từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX, nền pháp y Châu Âu đã phát triển mạnh và có cơ sở khoa học vững chắc ở Pháp, Ooc-fi-la, giáo s pháp y Pa-ri, tác giả cuốn “Chuyên đề độc chất học” đã nổi tiếng trong các vụ trọng án, với đội ngũ các chuyên viên Pháp Tác-đi-ơ, Bru-a-den, La-ca-sa-nhơ, Ban-ta-da phục vụ đắc lực pháp luật và viết sách đợc dịch sang nhiều thứ tiếng Tại Đức, sách pháp y của Hen-kê-men-đê

tr-đợc tái bản ngót chục lần và dịch sang tiếng Anh Đến thế kỷ XX phần lớn các nớc tiên tiến đều có Viện Y pháp Trong các cuốn chuyên đề của áp-đê-ép, Pas-cô-vôi, Sa-pô-giơ-nhi-cốp (Nga), Cơn-béc-sơn, Crát-uôn (Mỹ), Đề-Rô-be, Lô-ca, Si-mô-nanh (Pháp), Sim-son, Bếch (Anh).v.v vẫn còn phổ cập đến nay

2.2 Lợc sử Pháp y Việt Nam:

Dới thời Pháp thuộc Trờng Đại học Y Hà Nội đợc khánh thành năm 1904 nhng đến năm

1919 pháp y mới đợc đa vào giảng dạy và cha thành một bộ môn Bác sĩ pháp y phụ trách môn này cũng không phải là chuyên viên pháp y Sau đó bác sĩ Vũ Công Hòe và bác sĩ Trơng Cam Cống là những chuyên viên giải phẫu bệnh đầu tiên giảng dạy môn này Bác sĩ Hòe đã chọn đề tài pháp y “Vấn đề tự tử ở Việt Nam” làm luận án tốt nghiệp

và đảm nhận hai bộ môn Giải phẫu bệnh - Pháp y suốt thời kỳ trớc và sau cách mạng Tháng Tám

Thời kỳ từ 1947-1954 Giáo s Vũ Công Hòe là chuyên viên pháp y và sau tháng 10-1954 công tác pháp y đợc chuyển cho bác sĩ Trơng Cam Cống phụ trách cả về giảng dạy lẫn giám định Năm 1976 Tổ pháp y đợc hình thành trong Bộ môn Giải phẫu bệnh Năm

1983 Bộ Y tế ra quyết định thành lập Bộ môn Y pháp tại Trờng đại học Y Hà Nội do Giáo s Nguyễn Nh Bằng làm Chủ nhiệm và Phó tiến sĩ Trần Văn Liễu làm Phó chủ nhiệm Bộ môn

Sau ngày thống nhất đất nớc, hoạt động pháp y ngày càng tăng, Bộ Y tế đã giao cho ờng Đại học Y Hà Nội đào tạo bác sĩ chuyên khoa pháp y nhng cho đến nay đội ngũ chuyên viên này còn ít ỏi cha đáp ứng đợc nhu cầu cho cả nớc Song các chuyên viên giải phẫu bệnh tại Hà Nội cũng nh các thành phố lớn và các tỉnh vẫn là những giám định viên phục vụ đắc lực cho các cơ quan pháp luật

tr-Trong khi cha có Viện Y pháp, Nhà nớc ta đã tổ chức đợc Viện Khoa học hình sự đặt dới quyền lãnh đạo của Bộ Công an có đội ngũ chuyên viên đã đợc đào tạp trog nớc và ở nớc ngoài làm công tác giám định Bộ môn Y pháp trờng Đại học Y Hà Nội thành lập năm

Trang 7

ngoại thành và một số tỉnh lân cận Hà Nội Bộ môn vừa giảng dạy vừa xúc tiến việc đào tạo chuyên viên về: Chấn thơng học, sinh vật học, cốt học, độc học để kiện toàn kiến thức chuyên môn chuẩn bị đội ngũ để tiến tới việc thành lập Viện Y pháp với đội ngũ giám định viên chuyên nghiệp từ trung ơng đến địa phơng, đợc Nhà nớc chính thức công nhận.

Hoạt động giám định t pháp nói chung và giám định pháp y nói riêng đã có một bớc ngoặt cơ bản và quan trọng khi nhà nớc ta bắt đầu thể chế hóa bằng những văn bản có tính pháp qui dới luật Ngày 21/7/1988 Hội đồng Bộ trởng ra Nghị định số: 117/HĐBT qui định rõ nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của hoạt động giám định t pháp Nghị định giao cho 5 Bộ và Uỷ ban Khoa học Nhà nớc (trong đó có Bộ Y tế) bổ nhiệm những chuyên gia có đủ t cách và năng lực làm giám định viên, đồng thời định ra hệ thống cơ quan quản lý và điều hành là các Tổ chức giám định t pháp Thực hiện Nghị định này, ngày 18/2/1989 Bộ Y tế đã ra quyết định số: 64/BYT-QĐ bổ nhiệm 9 giám định viên pháp y tâm thần trung ơng với PTS Nguyễn Đăng Dung Giám đốc bệnh viện tâm thần trung ơng làm giám định viên trởng và 20 giám định viên pháp y trung ơng thuộc nhiều chuyên ngành y dợc, với Giáo s Nguyễn Nh Bằng, Trởng Bộ môn Y -Pháp trờng Đại học

Y Hà Nội, Trởng khoa Giải phẫu bệnh viện Việt - Đức làm giám định viên trởng Tiếp

đó, ngày 30/11/1990, Bộ Y tế lại ra quyết định số: 1059/ BYT-QĐ thành lập Tổ chức giám định pháp y trung ơng trực thuộc Bộ Y tế có nhiệm vụ, chức năng đầu ngành hệ thống pháp y của ngành Y tế Cũng trong thời gian đó, tại các địa phơng, các ủy ban nhân dân tỉnh cũng ra quyết định thành lập các Tổ chức giám định pháp y và bổ nhiệm các giám định viên pháp y cấp tỉnh cho địa phơng của mình Nh vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, giám định pháp y đã trở thành một chuyên ngành Y tế chính thống hoạt động theo đúng luật pháp hiện hành, chấm dứt giai đọan hoạt động kiêm nhiệm của các cá nhân thầy thuốc đợc trng cầu giám định theo từng vụ việc

Trong tiến trình cải cách t pháp của Nhà nớc Việt Nam, việc hoàn thiện, tăng cờng hiệu lực của các cơ quan bổ trợ t pháp đã đợc ngành t pháp quan tâm và tích cực cùng ngành

y tế triển khai nhiều bớc đi quan trọng

Ngày 17/1/2001 Viện Y học t pháp TW thuộc Bộ Y tế đợc thành lập trên cơ sở của Tổ chức Giám định pháp y Trung ơng theo Quyết định của Thủ tớng Chính Phủ PGS.TS Trần Văn Liễu đợc bổ nhiệm làm Viện trởng

Ngày 3/4/2002 Bộ trởng Bộ Y tế ký Quyết định số: 1119/QĐ-BYT bổ nhiệm 52 chuyên gia thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau làm giám định viên pháp y trung ơng Trong số này, có nhiều giảng viên của Trờng Đại học Y Hà Nội nh PGS Nguyễn Lân Việt Hiệu trởng trờng Đại học Y Hà Nội làm giám định viên về chuyên khoa tim mạch, PGS Hà Văn Quyết Trởng Bộ môn Ngoại làm giám định viên chuyên khoa ngoại, và toàn bộ giảng viên của Bộ môn Pháp y làm giám định viên chuyên trách

Ngày 1/1/2005, Pháp lệnh về giám định t pháp chính thức có hiệu lực Đây là văn bản pháp luật cao nhất từ trớc đến nay ở nớc ta, điều đó nói lên tầm quan trọng và cấp bách của tiến trình pháp luật hóa các hoạt động xã hội cũng nh kiện toàn sự vững mạnh của các bộ máy công quyền

Trang 8

Ngày 19/5/2005 Chính phủ ban hành Nghị định số: 67/2005/NĐ-CP Qui định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giám định t pháp Nh vậy đã có một hành lang pháp lý chuẩn mực cho việc giám định t pháp.

Thời kỳ đ ơng đại:

Với sự phát triển nhanh chóng, toàn diện và chuyên sâu của các ngành khoa học tự nhiên

và xã hội, với sự ứng dụng ngày càng hiệu quả công nghệ tin học, kỹ thuật số hóa, công nghệ viễn thông, ngày nay sự tiến bộ của các ngành và từng ngành vợt lên những dự

đoán của các nhà khoa học; vì vậy chúng ta chỉ có thể thấy đợc những định hớng cơ bản sau:

Yêu cầu của ng ời dân về chăm sóc sức khỏe ngày càng cao:

Từ ngời dân bình thờng đến ngời bệnh đòi hỏi ngành y tế và ngời thầy thuốc không phải

là sự ban ơn khi khám chữa bệnh mà là những loại hình dịch vụ y tế có chất lợng chuyên môn kỹ thuật cao, có thái độ phục vụ tận tình chu đáo, có sự đảm bảo an toàn, sự bảo hộ của pháp luật, sự bảo hiểm của xã hội để họ có chất lợng cuộc sống ngày càng tiến bộ Yêu cầu này đặt ra tính pháp lý chặt chẽ trong điều hòa mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân Sẽ xuất hiện những điều luật mới qui định cụ thể, chặt chẽ những việc mà thầy thuốc và ngời bệnh phải thực thi song song với quá trình điều trị

Sự kiểm soát của xã hội bằng luật pháp với những nghiên cứu, phát triển của y học:

Năm 1997, thành tựu nhân bản vô tính chú cừu Dolly đã làm chấn động không chỉ ngành

y, mà thực sự nó đặt ra những vấn đề trọng đại cho cả xã hội loài ngời về triết học, đạo

đức, pháp luật và tôn giáo Quốc hội của rất nhiều nớc đã phải lập tức ban hành những

điều luật để kiểm soát sự phát triển của công nghệ nhân bản vô tính Tiếp đó, việc giải trình tự toàn bộ bộ gène của loài ngời lại đặt ra thử thách mới về quyền con ngời trong việc xử lý mối quan hệ giữa con ngời - sinh học và con ngời - xã hội Kỹ thuật “siêu cắt lớp vi tính” hiện nay có thể cho phép “dựng” một cá thể con ngời thành một “ngời ảo” bằng kỹ thuật 3D Trong tơng lai, kỹ thuật số còn có khả năng đi sâu vào từng “ngõ ngách” thầm kín nhất của từng con ngời rồi truyền lên mạng Internet Tất cả những tiến

bộ kỳ diệu đó nếu thoát ra ngoài sự kiểm soát, điều chỉnh của xã hội, của pháp luật sẽ có nguy cơ trở thành tai ơng cho sự an toàn xã hội

Vì vậy, sẽ có sự định hớng thứ 2 là: trong hoạt động nghiên cứu y học và trong thực tiễn hoạt động y tế, ngời thầy thuốc và cơ sở y tế sẽ phải chịu sự điều khiển, kiểm soát của hành lang pháp lý mà cộng đồng xã hội đặt ra

Hoạt động t pháp (điều tra, xét xử, dân sự) tiếp nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất bổ trợ cho quyền năng của mình:

Hiện nay, một số bang của Hoa Kỳ đã qui định sử dụng kết quả xét nghiệm ADN về mẫu - phụ hệ thay cho giấy khai sinh Những xét nghiệm ADN xác định giới tính, những xét nghiệm y học xác định độ tuổi đã đợc sử dụng để kiểm tra các vận động viên trong thi đấu thể thao Những nhận dạng căn cớc sinh học (ADN, ghi hình mống mắt, ) thay cho nhận dạng bằng vân tay Ngân hàng dữ liệu ADN (ADN finger data base) thay thế cho tàng th vân tay tội phạm truyền thống

Trang 9

Một vài dẫn chứng vừa nêu cho thấy, để đảm bảo an toàn xã hội, an ninh của thể chế, trong bối cảnh hoạt động tội phạm gia tăng và biết sử dụng tiến bộ công nghệ để gây án; ngành t pháp quốc tế cũng nh của nớc ta đã tích cực chủ động hoặc là mời các chuyên gia giám định trợ giúp hoặc là triển khai những kỹ thuật công nghệ mới để đảm bảo bổ trợ hiệu quả nhất cho hoạt động t pháp.

3 Chức năng, nhiệm vụ của chuyên ngành:

3.1 Tổng quan:

Y học t pháp là môn khoa học giao thoa giữa y học và khoa học xã hội nên chức năng, nhiệm vụ của nó xuất phát từ cả hai phía Cũng tơng tự nh vậy, chức năng nhiệm vụ này phát triển ngày càng sâu rộng do động lực từ sự phát triển của y học, sự phát triển và yêu cầu của hoạt động t pháp

Trong pháp y kinh điển, những thầy thuốc giỏi đợc trang bị hiểu biết về luật pháp đợc gọi là thầy thuốc y luật (medecin legist) có chức năng còn đơn giản là trợ giúp cho hoạt

động t pháp trong những vấn đề về tính mạng và sức khỏe của con ngời (họ thờng giám

định nguyên nhân tử vong trong những vụ án mạng) Dần dần, chức năng này đợc mở rộng ra và phân định theo các chuyên khoa khác nhau Khi đó có các bác sĩ pháp y thuộc một chuyên khoa cụ thể Ví dụ: Dentiste légist (nha sĩ pháp y)

Mặt khác, từ nhiệm vụ ngày càng phức tạp của mình, bản thân chuyên ngành pháp y cũng phân định những nhánh chuyên sâu của mình để có thể thực hiện tốt công vụ Ví

cơ quan lập pháp

3.2 Y học t pháp trong hoạt động y tế:

3.2.1 Y học t pháp cần thiết cho mọi cán bộ y tế:

Trang 10

Y học t pháp vừa là hiểu biết, t duy có tính pháp lý vừa là kỹ năng hành xử theo pháp luật, do đó mọi nhân viên y tế từ ngời làm quản lý lãnh đạo đến ngời điều dỡng viên, từ ngời làm lâm sàng cho đến ngời làm y tế cộng đồng đều phải tâm niệm tiêu chí “sống

và hành nghề y theo pháp luật” “Sống theo pháp luật” là bổn phận công dân của mọi

ng-ời, thầy thuốc cũng là một công dân bình quyền trong đời sống pháp luật do đó phải có nghĩa vụ hiểu biết pháp luật phù hợp với bối cảnh xã hội để có thể xử lý đúng pháp lý trong giao tiếp hàng ngày

“Hành nghề y theo pháp luật” là bổn phận cao hơn do nghề nghiệp cao quí đòi hỏi

Trong rất nhiều nghề nghiệp khác nhau trong đời sống, nghề y có một đặc điểm cơ bản

là liên quan đến sức khỏe, tính mạng của con ngời (cả cá nhân lẫn cộng đồng) Do đó, nó

vừa rất đợc coi trọng nh quan niệm đạo lý phơng Đông truyền thống đã tôn vinh là thầy

thuốc lại vừa gánh chịu một trách nhiệm rất nặng nề trong quan niệm của xã hội Trách

nhiệm đó đòi hỏi rất cao về t cách, phẩm chất, y đức và trên hết là trách nhiệm pháp lý của nghề nghiệp Trách nhiệm đó là trách nhiệm của cá nhân cụ thể ngời thầy thuốc hoặc của một pháp nhân cơ sở y tế đối với một ngời bệnh trên t cách một công dân có quyền đợc chăm sóc sức khỏe một cách đúng đắn về chuyên môn y học và đúng đắn về pháp luật

Hiện nay, xã hội có nhiều loại hình cơ sở y tế vận hành theo những cơ chế khác nhau bao gồm: cơ sở y tế của nhà nớc, cơ sở y tế t nhân, cơ sở y tế bán công, cơ sở y tế có yếu tố nớc ngoài Sự khác nhau thực chất là ở nguyên tắc tài chính về thanh toán, chi trả những chi phí cho chăm sóc sức khỏe; từ đó dẫn đến vị thế pháp lý của 2 bên khác nhau

đòi hỏi việc xử lý mối quan hệ giao dịch dân sự khác nhau Mối quan hệ dân sự đó đợc

điều chỉnh theo Bộ luật dân sự, Luật chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, Luật doanh nghiệp, Pháp lệnh hành nghề y tế t nhân và các văn bản dới luật khác

3.2.2 Y học t pháp cần thiết trong hoạt động thờng nhật:

Để làm tốt những vấn đề pháp lý trong hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe,

ngời thầy thuốc cần nhận rõ nguyên tắc: Xử lý về pháp lý song song với xử lý về chuyên

môn Ngay từ khi bắt đầu tiếp xúc với một ngời dân cần chăm sóc sức khỏe, tiếp theo là

trong toàn bộ quá trình khám chữa bệnh và cuối công đoạn là những vấn đề thanh toán, chế độ, chứng nhận y tế cho ngời bệnh sau khi ra viện; toàn bộ qui trình này đều cần thiết có những xử lý đúng pháp lý, đúng luật định

Ví dụ: Một ngời bệnh bị thơng vào viện Ngay từ khâu tiếp đón, nhân viên y tế phải đảm bảo ghi nhận đợc những thông tin cần thiết và chính xác về tên, tuổi, căn cớc của họ, nguyên nhân bị thơng (do tai nạn, rủi ro hay bị hành hung) Trong quá trình điều trị, thầy thuốc phải thăm khám tỉ mỉ và mô tả chi tiết về toàn trạng và từng thơng tích cụ thể nhằm xác định đợc loại hình và cơ chế gây nên (vết thơng do bị đâm chém, do bị đánh,

do hỏa khí ), trong bệnh án phải đợc ghi chép đầy đủ những chỉ định can thiệp, những chỉ định xét nghiệm thăm dò chức năng, những giải thích của thầy thuốc với ngời bệnh (nh giải thích cần cắt bỏ một bộ phận bị hoại tử ) và những ý kiến của ngời bệnh, ngời

Trang 11

thêm hay xin ra viện, chuyển viện ) Cuối cùng, khi ra viện, thầy thuốc có trách nhiệm cấp cho họ những giấy tờ y tế liên quan nh giấy ra viện, giấy mổ, đơn thuốc và giấy chứng nhận thơng tích khi có yêu cầu khắc phục hậu quả (để bảo hiểm chi trả tiền bồi thờng, để cơ quan pháp luật xử lý vụ gây thơng tích, để cơ quan chủ quản giải quyết chế

độ )

Qua dẫn chứng trên đây, có thể thấy những yếu tố pháp lý có mặt trong suốt quá trình thầy thuốc khám chữa bệnh và thậm chí cả sau khi kết thúc, khi bệnh nhân đã khỏi và ra viện Những yếu tố pháp lý này bắt buộc phải đợc thực hiện đầy đủ, không bỏ sót một công đoạn nào và phải tôn trọng tính khách quan, khoa học của sự việc Khi có một sự

cố xảy ra, bao giờ hồ sơ bệnh án và các giấy tờ y tế liên quan đều đợc niêm phong (không đợc sửa chữa, viết thêm) và xem xét nh một chứng cứ quan trọng của vụ việc mà không một ai có thể thay thế đợc khi thanh tra, điều tra để kết luận sự cố đó

3.2.3 Y học t pháp trong nghiên cứu khoa học:

Lâu nay, việc tiến hành những nghiên cứu khoa học trong ngành y của nớc ta đợc tiến hành tơng đối “dễ dàng” về mặt pháp lý Từ những đề cơng nghiên cứu đến triển khai trên ngời bệnh và làm báo cáo khoa học dễ bỏ qua khía cạnh pháp lý của việc nghiên cứu Có một lý do dễ hiểu là ngời bệnh cha có ý thức về quyền của họ nên khi đợc là đối tợng để khám chữa bệnh (thực chất là nghiên cứu) họ chỉ thấy lợi ích của ngời bệnh mà không có đòi hỏi khác, họ cũng không biết là trong bớc điều tra cơ bản họ đã phải khai những chi tiết thuộc về cá nhân mà theo luật pháp họ có quyền giữ bí mật của riêng mình Ngoài ra, những phát hiện về bệnh lý, những bệnh phẩm, những hình ảnh tổn th-

ơng đợc thu tập, xử lý và đa ra trình bày trong báo cáo khoa học thực chất là những bí mật đời t của ngời bệnh Nh vậy, thầy thuốc trong khi nghiên cứu y học lại vi phạm một

điều rất quan trọng về y đức là tiết lộ bí mật về sức khỏe thân thể của ngời bệnh

Một dạng vi phạm luật pháp khác rất hay gặp là vi phạm công ớc về sở hữu trí tuệ (công

ớc Bern) và luật về quyền tác giả Các công trình nghiên cứu của Việt Nam cần phải dựa rất nhiều vào các công trình của các tác giả ở nhiều nớc phát triển (từ ý tởng cho đến ph-

ơng pháp cụ thể), nhng trên thực tế việc xin phép tác giả hoặc trích dịch nguyên văn không có chú thích bị bỏ qua

Với xu thế hội nhập, giao lu toàn cầu, ngời thầy thuốc cần nhận thức rõ vấn đề này để biết cách xử lý đúng pháp luật trong các công trình nghiêncứu của mình tránh những sai sót dù vô tình hay cố ý làm mất thanh danh thậm chí phải xử lý bằng pháp luật

3.2.4 Những kỹ năng y học t pháp cần có:

Từ những nhận thức cần thiết đã nêu ở phần trên, trong hoàn cảnh hiện nay, ngời thầy thuốc sẽ cảm thấy một gánh nặng pháp lý khó khăn khi hành nghề y tế Hơn nữa, sự phát triển đòi hỏi tốc độ cập nhật kiến thức và kỹ năng ngày càng cao, do đó không dễ gì có khả năng đáp ứng hoàn hảo

Đó là sự cần thiết phải có một số kỹ năng cơ bản dẫn đờng sau đây:

Trang 12

3.2.4.1 Có nguồn lực y học t pháp:

Ngay từ bớc khởi đầu cho một hoạt động y tế (xúc tiến mở phòng mạch t, đề án xây dựng bệnh viện, đề án một chơng trình y tế ) phải có ý thức dành vị trí cho vấn đề pháp

lý ở cơ sở y tế lớn phải có bộ phận phụ trách về pháp luật Ví dụ, ở bệnh viện Chợ Rẫy,

có bộ phận gồm 3 luật s chịu trách nhiệm về các giao dịch có tính pháp lý ở những cơ

sở nhỏ, thầy thuốc phải tìm hiểu, đa vào hồ sơ quản lý tất cả những điều luật liên quan (cả luật về y tế và những luật dân sự khác), cần thiết phải sử dụng dịch vụ t vấn pháp lý không những khi khởi nghiệp mà trong suốt quá trình hoạt động nghề nghiệp (có thể hợp

đồng với luật s dài hạn hoặc theo vụ việc để họ trợ giúp mình về pháp luật)

Bên cạnh đó, cần có mối quan hệ đồng nghiệp với cơ quan y học t pháp (có thể là các trung tâm pháp y) để tranh thủ sự t vấn và giám định dân sự giúp cho hoạt động y tế luôn luôn đi đúng trong hành lang pháp lý

3.2.4.2 Pháp luật hóa (legislation) hoạt động nghiệp vụ và quản lý:

Mọi qui định, nội qui, chức năng, nhiệm vụ, chức trách của cơ sở, của từng bộ phận và từng cá nhân phải đợc xây dựng thành văn bản và đợc xem xét dới góc độ pháp luật (tức

là không đợc vi phạm pháp luật hiện hành) Giữa ngời sử dụng lao động và ngời lao động (bác sĩ, điều dỡng viên làm thuê cho cơ sở y tế) phải có hợp đồng lao động đúng luật, nghĩa là không phải ký hợp đồng có tính hình thức, đối phó mà phải chi tiết cụ thể các

điều khoản để có thể qui trách nhiệm rõ ràng

Chức năng về nghiệp vụ y tế phải tuân theo đúng giấy phép hoặc quyết định thành lập cơ

sở, ví dụ: Một phòng khám răng - hàm - mặt không đợc làm những việc thuộc chuyên khoa tai - mũi - họng

Những chức năng khác về quản lý, tài chính, bảo hiểm v.v của cơ sở y tế khi vận hành, khi có những quyết định qui định cho nhân viên thi hành phải đợc căn cứ vào những văn bản pháp qui (văn bản Luật hoặc dới luật) liên quan đến vấn đề đó

3.2.4.3 Đào tạo cơ bản và đào tạo lại về kiến thức luật pháp:

Trong nội dung đào tạo cán bộ y tế ở các trình độ khác nhau đều phải có học trình về y học t pháp Học viên phải thi đỗ môn học, nếu cha đạt kết quả phải thi lại theo đúng Luật giáo dục - đào tạo

Trong nội dung thi tuyển công chức, tuyển nhân viên, cơ sở tuyển dụng phải có nội dung

về pháp luật, về y học t pháp để lựa chọn đợc nhân viên có năng lực đáp ứng đúng yêu cầu

Trong quá trình làm việc, cơ sở y tế cần có định kỳ đào tạo lại thông qua một chơng trình ngắn hạn, chơng trình tập huấn để bổ sung và cập nhật kiến thức y học t pháp cho nhân viên

Trang 13

3.3 Y học t pháp bổ trợ hoạt động t pháp:

3.3.1 Khái niệm chung:

Theo nghĩa đầy đủ nhất, hoạt động t pháp không chỉ liên quan đến tố tụng, xét xử, thi hành án mà trên thực tế nó bao trùm lên các hoạt động khác nhau của đời sống xã hội Ngay từ khi con ngời chào đời, hoạt động t pháp đã thực hiện chức năng đầu tiên xác nhận một công dân bằng việc cấp giấy khai sinh Nói một cách dễ hiểu nhất, sau khi đỡ

đẻ (hoặc mổ đẻ), thầy thuốc đơng nhiên phải thực hiện một chức năng y học t pháp bổ

trợ cho t pháp là cấp giấy chứng sinh Từ giấy này, cơ quan t pháp phụ trách về hộ tịch mới có cơ sở để cấp giấy khai sinh là văn bản pháp lý đầu tiên cho một công dân và có

hiệu lực suốt cả cuộc đời

Tiếp sau đó, trong rất nhiều những giao dịch khác, ngời công dân cần đợc thầy thuốc, cơ

sở y tế xác nhận về sức khỏe, về bệnh tật của họ để phục vụ cho những giao dịch dân sự hàng ngày của họ Ví dụ chứng nhận sức khỏe để đi học, đi làm, chứng nhận tiêm chủng phòng dịch cho việc xuất nhập cảnh, chứng nhận thơng tật để nhận bồi thờng bảo hiểm v.v Sau cùng, khi một con ngời mất đi (kể cả ngời tù mất quyền công dân) họ lại đợc y

tế cấp giấy báo tử, chứng tử phục vụ cho t pháp cấp giấy khai tử cho ngời đó Ta cũng cần nhớ một điều, trong lĩnh vực t pháp chết không phải hết”, vì giấy khai tử của họ

còn có hiệu lực pháp lý với ngời còn sống trong giao dịch dân sự (ví dụ cho phép ngời vợ (hoặc chồng) kết hôn lần 2, cho phép công bố và thực hiện di chúc, bảo đảm quyền đ ợc chi trả bảo hiểm )

Tiếp theo, chức năng quan trọng và phức tạp nhất là thực hiện giám định pháp y theo luật

định

Nh vậy, ngời thầy thuốc và cơ sở y tế cần đổi mới và qui chuẩn về nhận thức và kỹ năng của mình về y học t pháp, coi đây là một chức năng không thể thiếu trong hoạt động th-ờng nhật, có trách nhiệm cao khi thực hiện công việc để đảm bảo chính xác, khoa học về chuyên môn và đúng pháp luật về pháp lý

3.3.2 Y học t pháp trong hoạt động t pháp dân sự:

Trong công việc thờng ngày, thầy thuốc và cơ sở y tế bên cạnh việc khám chữa bệnh, còn có chức năng cấp những chứng nhận y tế (medical certificat) phục vụ cho những nhu cầu giao dịch khác nhau của ngời dân, thông thờng bao gồm:

- Giấy chứng sinh phục vụ cho t pháp cấp giấy khai sinh

- Giấy chứng nhận sức khỏe phục vụ cho thủ tục kết hôn Hiện nay, việc này mới qui

định trong trờng hợp kết hôn với ngời nớc ngoài, nhng trong tơng lai sẽ phải thực hiện cho tất cả các trờng hợp

- Các loại giấy chứng nhận sức khỏe phục vụ cho các việc khác nh cấp bằng lái xe, xin đi học, đi làm v.v

Trang 14

- Giấy chứng thơng (y chứng) phục vụ cho việc điều tra tố tụng nếu là thơng tích trong

vụ án; còn thông thờng phục vụ cho việc giải quyết chế độ xã hội, giải quyết bồi ờng của bảo hiểm

th Những chứng nhận y tế khác tùy theo yêu cầu cần đợc xác nhận, chứng thực để miễn, hoãn hoặc giảm nhẹ cho ngời dân khi họ không đủ sức khỏe để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình

3.3.3 Y học t pháp trong hoạt động t pháp tiền tố tụng (còn đợc gọi là ngoài tố tụng):

Khi xuất hiện những vụ việc cha đủ yếu tố để tiến hành điều tra tố tụng theo phạm vi

điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng Hình sự, ngời ta coi đây là những vụ việc tiền tố tụng hay ngoài tố tụng Y học t pháp sử dụng kiến thức và phơng tiện chuyên môn của mình cung cấp những chứng cứ y học xác định để có cơ sở giải quyết vụ việc theo hớng tố tụng hay hòa giải, dân sự hay hình sự

- Xác định về tuổi, giới tính của công dân (trong thi đấu thể thao, trong các vụ việc cần xác định tuổi vị thành niên hay thành niên )

- Xác định việc sử dụng Dopping trong thi đấu thể thao

- Giám định mẫu-phụ hệ cho trẻ em có nghi ngờ nhầm lẫn hoặc cha biết cha theo yêu cầu dân sự của các đơng sự

- Giám định tỷ lệ thơng tật theo yêu cầu bảo hiểm

- Giám định bệnh tật trong quan hệ giao dịch bảo hiểm

3.3.4 Y học t pháp và giám định t pháp:

Giám định t pháp sẽ đợc trình bày chi tiết ở mục 6

Trong phần này, chỉ nói đến trách nhiệm và nghĩa vụ của ngành y phục vụ cho hoạt động

tố tụng Trên bình diện rộng, theo luật định tất cả các thầy thuốc có trách nhiệm phục vụ yêu cầu của cơ quan pháp luật theo chuyên môn nghiệp vụ của mình Trên bình diện hẹp, ngành y tế và ngành t pháp bổ nhiệm các thầy thuốc có trình độ chuyên môn giỏi làm giám định viên t pháp về chuyên khoa đó Chuyên sâu hơn nữa, các bác sĩ chuyên khoa bệnh học (ta quen gọi là giải phẫu bệnh) và chuyên khoa pháp y đợc bổ nhiệm làm giám định viên pháp y chuyên trách Trên thế giới, cách thức tổ chức quản lý giám định viên có nhiều mô hình khác nhau do một số đặc điểm riêng biệt về pháp luật, nhng đều giống với mô hình của Việt Nam trong chức năng, nhiệm vụ của các giám định viên.3.3.4.1 Tất cả các thầy thuốc có văn bằng y khoa chính thống, có kinh nghiệm công tác

thực tế, có phẩm chất đạo đức tốt đều có thể đợc mời làm chức năng ngời giám định khi

có quyết định trng cầu của các cơ quan có thẩm quyền theo luật định

Ví dụ: Một bác sĩ khoa ngoại của một bệnh viện huyện khi cơ quan luật pháp có quyết

định trng cầu về giám định một vụ việc gây thơng tích chẳng hạn; lúc đó, mặc dù bác sĩ

Trang 15

không đợc bổ nhiệm làm giám định viên cũng có thể thực hiện một vụ giám định pháp y với đầy đủ chức năng quyền hạn và trách nhiệm nh một giám định viên.

Cũng tơng tự nh vậy, một thầy thuốc có thể đợc cơ quan pháp luật mời đến (họp án hoặc xét xử) để có ý kiến t vấn, xác nhận hoặc giải thích một vấn đề về chuyên khoa của họ nhằm giúp cho các ngành t pháp hiểu về những khía cạnh chuyên môn, những khái niệm, những thuật ngữ về y học Một số nớc, coi các hoạt động này của các thầy thuốc là một

nhân chứng khoa học trong hoạt động tố tụng.

3.3.4.2 Các chuyên gia y học đợc bổ nhiệm làm giám định viên t pháp về y học (giám

định viên pháp y) thuộc các chuyên khoa khác nhau, hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm (hoặc nửa thời gian):

Ví dụ: Tòa thợng thẩm Paris (Pháp) có niên giám hơn 400 thầy thuốc thuộc đủ mọi chuyên khoa y học là những chuyên gia đợc bổ nhiệm (có tuyên thệ trớc tòa, tuyên thệ

về y khoa) làm giám định viên y học t pháp (experts médecins)

ở Việt Nam: Đội ngũ các giám định viên pháp y đợc Bộ Y tế - Bộ T pháp bổ nhiệm theo hình thức trên gồm hơn 50 giám định viên ở cấp trung ơng và khoảng 990 giám định viên ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng

3.3.4.3 Các giám định viên pháp y chuyên trách:

Là các thầy thuốc chuyên khoa pháp y học (medecine légale, Forensic medecine) chuyên trách làm việc giám định tử thi, giám định thơng tích và những giám định khác thờng gặp hàng ngày, có số lợng giám định lớn

Trong đó, có những thầy thuốc bệnh học pháp y (Forensic pathologist) làm chức năng giám định viên pháp y là mô hình đợc a thích ở nhiều nớc và ở nớc ta Có nhiều lý do để mô hình này hoạt động có hiệu quả Thứ nhất, trong giám định pháp y rất thờng gặp những tổn thơng bệnh lý, những nguyên nhân tử vong do bệnh tật, mà bác sĩ bệnh học pháp y là những ngời làm việc tại bệnh viện tất nhiên có nhiều kinh nghiệm để có thể chẩn đoán bệnh học tốt nhất Điều thứ hai, trong chơng trình đào tạo, trong sách giáo khoa bệnh học bao giờ cũng có nội dung rất cơ bản về những vấn đề liên quan đến pháp

y ở một số nớc (ví dụ ở Pháp), không thành lập Viện Pháp y, mà tại các bệnh viện lớn

có khoa bệnh học - pháp y thực hiện cả chức năng chẩn đoán bệnh học và làm giám dịnh

về pháp y

Nhiều trờng đại học y trên thế giới có mô hình viện trong trờng, khoa hoặc bộ môn pháp

y thực hiện đồng thời chức năng đào tạo chuyên khoa pháp y học và chức năng giám

Trang 16

- Làm việc tại Khoa Giải phẫu bệnh - pháp y bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức nh một bác sĩ bệnh học pháp y.

- Tham gia làm việc nửa thời gian (kiêm nhiệm) tại Viện Y học t pháp TW của Bộ Y tế với chức năng làm giám định viên pháp y chuyên trách

Một mô hình nữa của hoạt động chuyên trách là các bác sĩ pháp y làm việc tại các cơ

quan giám định pháp y.

Một số nớc có các Viện pháp y riêng, trong đó các thầy thuốc pháp y làm chức năng nghiên cứu chuyên sâu về pháp y học và đồng thời đảm nhiệm chức năng giám định pháp y ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Giám định t pháp, đã và đang xây dựng hệ thống cơ quan giám định pháp y chuyên trách với Viện Pháp y Quốc gia và các Trung tâm Giám

định pháp y cấp tỉnh, thành phố

Tơng ứng với mô hình này, các nớc có các bác sĩ pháp y chuyên trách đợc gọi với các tên khác nhau trong hệ thống Coroner, Forensic science, medicolegal investigation với các điều tra viên y học (Medical inspector, Medical examiner)

ở Việt Nam có các bác sĩ pháp y thuộc cơ quan cảnh sát khoa học hình sự, các bác sĩ pháp y quân đội thuộc Viện Pháp y Quân đội là những bác sĩ pháp y chuyên trách làm giám định viên pháp y trong các cơ quan giám định này

Ngoài ra, còn có mô hình giám định viên pháp y của Viện Pháp y trực thuộc Bộ T pháp

ví dụ nh ở Thụy Điển, Đan Mạch hay mô hình giám định viên pháp y hoạt động trong những Hiệp hội y học hoặc Đoàn bác sĩ có chức năng làm trọng tài, làm giám định trong những tranh chấp dân sự

Tóm lại, về cách thức tổ chức quản lý hoạt động giám định pháp y khá phong phú tùy thuộc từng nớc nhng nguyên tắc và tiêu chí cơ bản nhất là đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của các chuyên gia y học, chuyên gia pháp y phục vụ tốt cho đời sống xã hội và cho hoạt động t pháp.

Trang 17

3 Nắm vững nguyên tắc xử lý khi gặp tai biến điều trị.

4 Hiểu rõ ý nghĩa của một số điều của các bộ luật và văn bản dới luật liên quan nhất

Sự phát triển của y học và sự phát triển của đời sống xã hội nói chung đặc biệt là xã hội

định hớng pháp quyền dẫn đến hình thành khái niệm và hoạt động cụ thể của y học t pháp Nhìn tổng thể, y học t pháp có mối quan hệ 2 chiều trong nhiệm vụ chức năng của mình

Trang 18

Y học t pháp (Medical

Juris- Prudence) Pháp y (Forensic medicine

medicolegal)

Khoa học hình sự (Forensic science)

Sơ đồ 2: Quan hệ giữa y học t pháp và khoa học hình sự

1.1 Tuân thủ pháp luật khi hành nghề y dợc:

Tất cả các thầy thuốc và các cơ sở y tế thuộc đầy đủ các ngành chuyên khoa khác nhau

đều có trách nhiệm tuân thủ pháp luật trong hoạt động chuyên môn của mình, phải có năng lực pháp lý để ứng xử trong mối quan hệ với ngời bệnh, ngời thân của họ và các cơ quan có trách nhiệm với ngời bệnh Mối quan hệ đó từ xa xa là mối quan hệ cá nhân, cảm tính, có đợc điều chỉnh bằng y đức và quan niệm đạo lý chung Nhng dần dần, khi xã hội phát triển trở nên đa dạng và phức tạp, thì mối quan hệ giữa con ngời với xã hội chỉ có thể duy nhất điều chỉnh bằng pháp luật mới đảm bảo đợc sự công bằng cho công dân và sự ổn định cho xã hội Mối quan hệ đó trong ngành y càng đặc biệt coi trọng do tính nhạy cảm, sống còn của tính mạng và sức khỏe con ngời Từ một thầy thuốc hành nghề t nhân cho đến những nhà chuyên môn có trách nhiệm quản lý điều hành cơ sở y tế

đều phải hàng ngày đối diện với những vấn đề mang tính pháp lý và phải cần tự hỏi mình làm nh vậy có đúng pháp luật không? Có vô tình vi phạm một qui định, một điều luật nào đó không?

Ngày nay, ngời bệnh đợc xã hội và pháp luật đảm bảo cho quyền đợc chăm sóc sức khỏe, họ có quyền bỏ tiền ra để đợc sử dụng một dịch vụ y tế theo yêu cầu của họ, do đó

đơng nhiên đã hình thành một hợp đồng dân sự (thành văn hoặc bất thành văn) giữa họ

và thầy thuốc Một khi, hợp đồng dân sự đó không đạt đợc kết quả, các bên của hợp

đồng sẽ trở thành “bên nguyên”, “bên bị”, (mà tuyệt đai đa số ngời bệnh là bên nguyên)

và việc giải quyết khi đó chỉ còn con đờng theo luật pháp

Do đặc điểm của nớc ta, mới đang hình thành và đang phát triển cho một nhà nớc pháp quyền, đang học cách điều hành xã hội theo tiêu chí pháp quyền, từ ngời dân đến công chức, từ ngời bệnh đến thầy thuốc đều còn bỡ ngỡ trong việc xử sự theo đúng pháp luật Rất nhiều sự việc đáng tiếc xảy ra do không có hiểu biết về pháp luật, thiếu năng lực xử

lý có tính pháp lý dẫn đến hậu quả không đáng có Mối quan hệ của các bên đang từ một quan hệ nhân đạo, hàm ơn đột nhiên trở thành mối quan hệ tranh chấp căng thẳng, thậm

Trang 19

phức tạp thêm vấn đề và thờng gây tổn hại đến thanh danh của thầy thuốc và cơ sở y tế Câu thành ngữ dân gian “làm phúc phải tội” đã nói lên rõ ràng và đầy đủ hiện trạng này

Lý do quan trọng để xảy ra tình trạng này là thiếu sót chủ quan của phía thầy thuốc và cơ

sở y tế, cha có khả năng giải quyết vụ việc có lý có tình, để có thể vừa thuyết phục đợc ngời bệnh vừa tự bảo vệ đợc uy tín nghề nghiệp của mình Vì vậy, ngời thầy thuốc phải

có một “hàm lợng pháp lý” nhất định trong tố chất của mình mới trở thành ngời thầy thuốc có triển vọng đợc

1.2 Tuân thủ pháp luật trong hoạt động nghiên cứu khoa học:

Do đối tợng của y học là con ngời khác hẳn những đối tợng sinh học thuần túy nên việc nghiên cứu những ngời bệnh phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật hiện hành để đảm bảo tôn trọng cá thể ngời bệnh và cộng đồng Mọi nghiên cứu khoa học đều phải đợc sự cho phép của bản thân ngời bệnh hoặc ngời giám hộ, đơn giản nhất nh việc chụp ảnh ngời bệnh cũng phải đợc ngời bệnh đồng ý, khi công bố ảnh phải dùng kỹ thuật che kín mắt

để không lộ diện ngời bệnh và khi chú thích ảnh không đợc ghi rõ tên tuổi

Những mục tiêu nghiên cứu phải tuân theo đúng pháp luật nghĩa là không đợc làm những việc mà luật pháp cấm làm hoặc cha cho phép làm Ví dụ những nghiên cứu về nhân bản vô tính, về thay đổi giới tính, lựa chọn giới tính của thai nhi,

Những nghiên cứu về tác dụng của dợc phẩm, những phác đồ điều trị mới mà có thể đã công bố trên Internet hay sách báo y học các nớc nhng cha đợc Bộ Y tế nớc ta cho phép thì cũng không đợc tự tiện ứng dụng

Nói vắn tắt, trong lĩnh vực này thầy thuốc và cơ sở y tế vừa phải tuân thủ những điều luật của Bộ luật dân sự về quyền công dân, vừa phải tuân thủ những điều luật của Bộ luật chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cùng những văn bản pháp qui dới luật hiện đang có hiệu lực

1.3 Trợ giúp cơ quan pháp luật theo luật định:

Mọi điều luật liên quan đến y tế của các nớc bao giờ cũng có những điều khoản qui định trách nhiệm của thầy thuốc trong những trờng hợp phải hợp tác, báo cáo với cơ quan luật pháp

Ví dụ, thầy thuốc có trách nhiệm phải bảo đảm bí mật về tình trạng sức khỏe, bệnh tật của ngời bệnh mình đang điều trị, nhng một số trờng hợp ngời bệnh bị thơng trong những vụ việc hình sự thì thầy thuốc phải thông báo cho cơ quan cảnh sát biết và phải cấp giấy chứng thơng xác nhận đầy đủ, rõ ràng tình trạng sức khỏe, thơng tích của ngời bệnh

Hoặc trong những trờng hợp ngời bệnh đang trong thời gian liên quan đến điều tra, tố tụng, hay chấp hành án; theo yêu cầu nhân đạo và yêu cầu pháp chế, thầy thuốc có trách nhiệm xác nhận với cơ quan pháp luật về tình trạng bệnh tật sức khỏe của ngời bệnh có

đủ điều kiện để tham gia vào các quá trình tố tụng hay không

Trang 20

Một số trờng hợp, cơ quan pháp luật có văn bản yêu cầu về xác nhận hay t vấn trong những vấn đề ngời bệnh có liên quan đến pháp luật, thầy thuốc hoặc cơ sở y tế cũng có trách nhiệm phải trả lời bằng văn bản.

1.4 Đợc bổ nhiệm là giám định viên t pháp hay đợc mời giám định theo vụ việc:

Theo luật pháp Việt Nam, bất cứ ngời thầy thuốc nào, khi cơ quan luật pháp có Quyết

định trng cầu giám định bằng văn bản, đều có thể thực thi chức năng giám định t pháp trong lĩnh vực chuyên môn của mình

Cũng theo luật định, ngành y tế và ngành t pháp bổ nhiệm những thầy thuốc giỏi, có đủ tiêu chuẩn theo Pháp lệnh về Giám định t pháp và danh sách giám định viên Đây là vinh

dự nhng cũng là trách nhiệm pháp lý rất nặng nề của thầy thuốc trong hoạt động thực tiễn của mình, đây cũng là lý do mà môn học này có trách nhiệm cung cấp những kiến thức và kỹ năng thực hành về y học - t pháp cho tất cả các thầy thuốc thuộc mọi chuyên khoa

1.5 Những kỹ năng y học - pháp lý cần phải có:

1.5.1 Lấy tính mạng, sức khỏe của ngời bệnh là mục tiêu cao nhất trong hoạt động nghề

nghiệp Không để lệ thuộc, không bị điều khiển bởi những lý do, động cơ khác.1.5.2 Tôn trọng nguyện vọng của ngời bệnh, của ngời thân về bí mật bệnh tật, bí mật

điều trị

1.5.3 Có quyền yêu cầu sự trợ giúp, cung cấp phơng tiện, tạo điều kiện cần thiết cho sự

cứu chữa ngời bệnh

1.5.4 Đợc sự bảo hộ của pháp luật và cơ quan công an trong khi hoạt động cứu chữa

1.5.7 Không thực hiện những phác đồ điều trị, những cách thức thủ thuật phẫu thuật,

những loại thuốc nằm ngoài danh mục, phơng pháp đợc ngành y tế Việt Nam cho phép

1.5.8 Có trách trách nhiệm thông báo, giải thích, thỏa thuận với ngời bệnh, ngời nhà

trong những tình huống phát sinh và phải đợc văn bản hóa trong hồ sơ bệnh án.1.5.9 Văn bản hóa các nội dung làm việc với các cơ quan bên ngoài Cân nhắc thận

trọng khi cho phép hay không cho phép hoạt động ghi âm, ghi hình trong cơ sở y tế

Trang 21

1.5.10 Trong nghiên cứu khoa học phải tôn trọng đối tợng nghiên cứu (ngời bệnh, ngời

dân đợc điều tra thống kê), tuân thủ nghiêm ngặt Bộ luật dân sự về quyền công dân

1.5.11 Tôn trọng, đoàn kết hợp tác với đồng nghiệp trong hoạt động chuyên môn cũng

nh trong quan hệ thuộc phạm vi quản lý

đối với khách hàng và với toàn xã hội, ngành Y tế cũng nằm trong những qui tắc đó Hơn thế nữa, do nghề y là một nghề nhân đạo, liên quan đến vốn quí nhất của xã hội là con

ngời nên deontologie của ngành Y đã đợc đề cao nh một giá trị thiêng liêng cao quí ngay

từ khi có hoạt động khám chữa bệnh của loài ngời

1.6.2 Lời thề Hyppocrate-Deontologie:

Ngay từ năm 450 trớc Công nguyên, ngời thầy thuốc vĩ đại mà mọi thầy thuốc đều biết tiếng đã đề xớng ra “Lời thề”, sau đợc gọi là “Lời thề Hyppocrate”, hiện vẫn đợc nhiều trờng Đại học Y trên thế giới dùng cho sinh viên tuyên thệ khi tốt nghiệp

Các danh y của Việt Nam thời trớc nh Hải Thợng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, trong các sách dạy nghề làm thuốc của mình cũng có những lời dạy bảo, chỉ dẫn cho học trò Điển hình nh câu “Nam dợc trị nam nhân” có giá trị triết học y học cho đến ngày nay

ở các nớc khác, hoạt động nghề nghiệp có cơ chế tự quản, xã hội hóa trong các hiệp hội, các đoàn bác sĩ của địa phơng Chính những tổ chức này, thông qua đại hội theo điều lệ

đã đặt ra những chuẩn mực hành nghề, những nghĩa vụ, những đạo lý nghề nghiệp mà ngời thầy thuốc phải tuân theo

Do điều kiện ở mỗi nớc khác nhau, nên Deontologie của mỗi nớc cũng có khác nhau về chi tiết nhng tựu trung đều nhấn mạnh đến yếu tố nhân văn, giá trị cao quí và đòi hỏi cao

đạo đức của ngời làm nghề y Hoặc có những điều qui định có tính chất đặc thù của ngành y nh: không đợc mổ xẻ cho ngời thân của mình, không đợc tiết lộ về hoàn cảnh

đời t của ngời bệnh, phải có mặt 2 ngời trở lên khi thăm khám cho phụ nữ

Có thể nói, bên cạnh những điều luật thành văn về y tế, những qui định của Deontologie

có ý nghĩa sâu sắc, nó khuyến thiện ngời thầy thuốc, có tác dụng giáo dục để thầy thuốc

tự hoàn thiện mình trong đạo đức nghề nghiệp, tự trau dồi mình trở thành ngời trí thức vừa có tài cao vừa có tâm có đức trong sáng

Trang 22

1.6.3 Qui định về y đức (tiêu chuẩn của ngời làm công tác y tế):

Trong hoàn cảnh phức tạp của nền kinh tế thị trờng, kèm theo những ảnh hởng cả cái tốt lẫn cái xấu của xu hớng toàn cầu hóa; ngời thầy thuốc hiện nay có nguy cơ xem nhẹ những giá trị nhân văn, giá trị đạo lý của chính mình và của những ngời xung quanh Một xu hớng chạy theo những chuyên khoa, những cơ sở y tế có công nghệ cao tơng ứng với thu nhập cao đã bộc lộ ở thầy thuốc trẻ và sinh viên Trong khi hành nghề cũng có xu hớng đẩy cao giá thành của một phác đồ điều trị và tâm lý sùng ngoại, coi nhẹ các phơng pháp chữa bệnh truyền thống Trong học tập cũng nh trong thực hành, có định hớng lệch lạc coi trọng lâm sàng - nhẹ về cận lâm sàng, trọng về chữa trị mổ xẻ nhẹ về tuyên truyền, giáo dục, t vấn về phòng bệnh

Ngoài ra, ngời thầy thuốc còn phải chịu những thử thách do áp lực về thu nhập tiền bạc

mà nhiều nguồn từ bên ngoài tác động vào làm cho “khó giữ mình”

Nhằm góp phần vào việc nâng cao Deontologie và y đạo của thầy thuốc Việt Nam, ngày 6/11/1996; Bộ trởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số: 2088/BYT-QĐ Qui định về y

đức:

Qui định về y đức (Tiêu chuẩn đạo đức của ngời làm công tác y tế)

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 6/11/1996 của Bộ trởng Bộ Y

tế)

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của ngời làm công tác y tế, đợc biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thơng yêu chăm sóc ngời bệnh, coi họ đau đớn nh mình đau đớn, nh lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lơng y phải nh từ mẫu” Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vơn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức đợc xã hội thừa nhận

1 Chăm sóc sức khỏe cho mọi ngời là nghề cao quí Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ Phải có lơng tâm ngời thầy thuốc Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn Sẵn sàng vợt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo

vệ sức khỏe nhân dân

2 Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các qui chế chuyên môn Không đợc sử dụng ngời bệnh làm thực nghiệm cho những phơng pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi cha đợc phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của ngời bệnh

3 Tôn trọng quyền đợc khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân Tôn trọng những bí mật riêng t của ngời bệnh; khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự Quan tâm đến những ngời bệnh trong diện chính sách u đãi xã hội Không đợc phân biệt đối xử ngời bệnh Không đợc có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây

Trang 23

phiền hà cho ngời bệnh Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

4 Khi tiếp xúc với ngời bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho ngời bệnh Phải giải thích tình hình bệnh tật cho ngời bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ

về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của ngời bệnh; động viên an ủi, khuyến khích ngời bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục Trong trờng hợp bệnh nặng hoặc tiên lợng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình ngời bệnh biết

5 Khi cấp cứu phải khẩn trơng chẩn đoán, xử lý kịp thời không đợc đùn đẩy ngời bệnh

6 Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho ngời bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không dùng với yêu cầu và mức độ bệnh

7 Không đợc rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử lý kịp thời các diễn biến của ngời bệnh

8 Khi ngời bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hớng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc

11.Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác phân trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho

đồng nghiệp, cho tuyến dới

12.Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa ngời bị tai nạn, ốm đau tại cộng đồng; gơng mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trờng trong sạch

1.7 Xử lý tai biến điều trị:

Trang 24

Hai là những biến chứng, tai biến do sai sót điều trị thực sự:

Những sai sót có thể từ những nguyên nhân thuần túy chuyên môn sau:

- Chẩn đoán, tiên lợng bệnh không đúng

- Chỉ định không đúng

- Thao tác kỹ thuật sai

- Theo dõi ngời bệnh không sát

- Vi phạm qui trình qui tắc chuyên môn

Những sai sót do trách nhiệm, nghĩa vụ của thầy thuốc

- Thiếu tinh thần trách nhiệm vi phạm qui tắc nghiệp vụ

- Thái độ thờ ơ, coi thờng, chủ quan khi đợc thông báo về diễn biến bệnh lý

- Vi phạm y đạo - y đức của thầy thuốc

1.7.2 Nguyên tắc xử lý:

Điều cơ bản nhất khi xử lý tai biến là phải kết luận phân biệt rõ ràng 2 loại sự cố nh đã nêu ở phần 5.7.1 Bởi vì, từ 2 loại tai biến này sẽ dẫn đến việc xử lý vụ việc hoàn toàn khác nhau Thầy thuốc và cơ sở y tế chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự, hình sự tùy thuộc vào mức độ vi phạm khi nguyên nhân tai biến hoàn toàn do sai sót điều trị thực sự

Một nguyên tắc bất di bất dịch là bằng mọi cách phải tiến hành giám định (mổ tử thi,

làm các xét nghiệm bổ sung, hội chẩn) Thông thờng, tâm lý của ngời bệnh, ngời thân không muốn mổ tử thi nhng lại vẫn khiếu kiện kể cả khi trớc đó họ có cam kết bằng văn bản không kiện tụng Do đó, khi xảy ra tai biến trong điều trị làm ngời bệnh tử vong, cá nhân thầy thuốc và lãnh đạo cơ sở y tế cần phối hợp với những cơ quan chức năng liên quan thuyết phục bằng đợc ngời thân đồng ý để tiến hành giám định tử thi

Đối với những sai sót không gây tử vong; cơ sở y tế, ngành pháp y cần thiết có hội chẩn hồi cứu với sự tham gia của chuyên gia đầu ngành của chuyên khoa đó để có kết luận khoa học, khách quan về nguyên nhân của sai sót

Từ những căn cứ khoa học, khách quan nh vậy mới có cơ sở, chứng cứ để cơ quan quản

lý y tế hay cơ quan pháp luật tiến hành các bớc thanh tra hoặc điều tra vụ việc

1.7.3 Kỹ năng xử lý khi gặp sự cố điều trị:

1.7.3.1 Tích cực huy động mọi khả năng ở mức cao nhất để cấp cứu hồi sức ngời bệnh

để hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả

1.7.3.2 Sau khi cấp cứu hồi sức không kết quả, ngừng can thiệp chuyên môn

1.7.3.3 Báo cáo ngời có trách nhiệm lãnh đạo

Trang 25

1.7.3.4 Lu giữ niêm phong: hồ sơ bệnh án, mẫu thuốc men, dụng cụ, mẫu bệnh phẩm.1.7.3.5 Làm việc chính thức, có biên bản giữa cá nhân thầy thuốc, lãnh đạo cơ sở y tế,

ngời thân của bệnh nhân và các cơ quan có thẩm quyền liên quan (có thể là thanh tra y tế, cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát, ) để đề ra cách giải quyết hậu quả

1.7.3.6 Bình tĩnh giải quyết theo pháp luật, không tự tiện thỏa thuận tay đôi với ngời

thân của bệnh nhân một cách vô nguyên tắc vì không thể lờng trớc đợc diễn biến kiện tụng

1.7.3.7 Bảo vệ cơ sở y tế, bảo vệ thân thể nhân phẩm của thầy thuốc tránh những manh

động tiêu cực

1.7.3.8 Thận trọng, chính xác, đúng luật định, có biên bản ghi nhận khi làm việc với cơ

quan thông tin đại chúng

1.7.3.9 Không vội vàng xử lý thầy thuốc, chỉ ra quyết định xử lý vụ việc khi đã có kết

luận giám định, kết luận của thanh tra hay kết luận điều tra

Kết luận: Đây là vấn đề rất nhạy cảm với công luận xã hội và khá bức xúc với ngành y;

có nguy cơ ngày càng hay gặp và nguy cơ “hình sự hóa” vụ việc, đòi hỏi thầy thuốc và quản lý y tế phải có năng lực pháp lý khi ứng xử và biết địa chỉ cần tìm để đợc t vấn, trợ giúp giải quyết vụ việc với kết quả tốt nhất có thể đợc

2 Điều luật liên quan đến thầy thuốc và hoạt động y tế:

Trong giai đoạn xã hội đang phấn đấu cho mục tiêu “sống và làm việc theo pháp luật”, xây dựng nhà nớc pháp quyền, hoạt động y tế và chức năng của ngời thầy thuốc cần thiết phải đợc trang bị những kiến thức và năng lực pháp lý

Trong phần này chỉ có mục đích thông tin chính xác các Bộ luật và văn bản dới luật

để ngời học có tài liệu làm căn cứ cho việc áp dụng và tuân thủ trong hoạt động nghề nghiệp Vì vậy không có giải thích và bình luận các điều luật Các điều luật đợc trích dẫn, chọn lọc những điều liên quan hay gặp nhất, phục vụ sát thực cho các cơ sở y tế

và các thầy thuốc hành nghề và những trích dẫn tên điều luật để ngời đọc tiện tra cứu những văn bản luật hoặc tìm đọc thêm các bộ sách bình luận, giải thích của các cơ quan và tác giả có thẩm quyền Từ văn bản pháp luật đến thực tế đời sống tất nhiên

bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định do nguyên nhân khác nhau: về trình độ văn hóa chung, về hiểu biết pháp lý, năng lực pháp lý của công dân, của cán bộ y tế cũng

nh năng lực điều hành quản lý nhà nớc của các cơ quan nhà nớc chức năng Mặt khác trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, tất nhiên sẽ có những sửa đổi, bổ sung

và các điều luật mà chỉ có Quốc hội mới có quyền thông qua và ban hành những sửa đổi

đó Vì vậy, nguyên tắc cao nhất của ngời thầy thuốc khi hành nghề là “sống và hành nghề y theo pháp luật” Trong thực tế, các điều luật mới luôn luôn đợc công bố, ngời thầy thuốc có trách nhiệm cập nhật hóa những kiến thức không thể thiếu về luật pháp nói chung và những điều luật liên quan đến nghề nghiệp Trong chơng trình giảng dạy của các trờng đại học y khoa tất yếu cũng cần thiết trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ

Trang 26

bản nhất về pháp luật nói chung, về các luật lệ liên quan đến ngành Y Bên cạnh đó là việc hình thành đợc t duy và năng lực ứng xử có tính pháp lý giúp ngời sinh viên y khi ra trờng dù hành nghề ở bất cứ cơ sở y tế nào cũng không mắc phải những thiếu sót không

Đối với cán bộ quản lý ngành y tế, t duy, phẩm chất và năng lực pháp lý ngày nay đã trở thành một trong những tiêu chuẩn cấu thành nhiệm vụ và quyền hạn của ngời đơng chức.Một giải pháp mở, là có tiếp những khóa học ngắn hạn, thiết thực theo chuyên ngành, theo nhiệm vụ, về pháp lý, về luật pháp cơ bản cho các cán bộ y tế có những chức năng khác nhau

Mặt khác, mỗi ngời cán bộ y tế trải qua thực tế làm việc cũng tự thấy đợc những hiểu biết và các ứng xử pháp lý sao cho phù hợp với môi trờng pháp lý và môi trờng xã hội hiện tại Không có gì thay thế đợc việc cập nhật hóa kiến thức và các Bộ luật đã, đang và

sẽ ban hành

Trích các Bộ luật và văn bản dới luật

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989

Điều 1 Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ sức khỏe

Điều 4 Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nớc, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các đơn

vị vũ trang nhân dân

Điều 7 Vệ sinh lơng thực, thực phẩm, các loại nớc uống và rợu.

Điều 8 Vệ sinh nớc và các nguồn nớc dùng trong sinh hoạt của nhân dân.

Điều 16 Vệ sinh trong việc quàn, ớp, chôn, hỏa táng, di chuyển thi hài, hài cốt.

Điều 25 Trách nhiệm của thầy thuốc.

Điều 26 Giúp đỡ bảo vệ thầy thuốc và nhân viên y tế.

Điều 27 Trách nhiệm của ngời bệnh.

Điều 28 Chữa bệnh bằng phẫu thuật.

Điều 30 Lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con ngời.

Điều 31 Giải phẫu tử thi:

Trang 27

Bệnh viện đợc quyền giải phẫu thi thể ngời chết tại bệnh viện trong trờng hợp cần thiết

để nâng cao chất lợng khám bệnh, chữa bệnh Các trờng đại học y khoa đợc dùng tử thi vô thừa nhận và tử thi của ngời có di chúc cho phép sử dụng vào mục đích học tập và nghiên cứu khoa học

Điều 35 Điều kiện hành nghề của lơng y.

Điều 36 Trách nhiệm của lơng y.

Điều 44 Quyền của phụ nữ đợc khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa và nạo thai, phá thai.

Nghị định số: 23/HĐBT ngày 24/1/1991 của Hội đồng Bộ trởng ban hành:

Điều lệ: Khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc.

Điều lệ thuốc phòng bệnh, chữa bệnh:

Điều 7 Chỉ đợc thử nghiệm trên ngời các thuốc

Điều 8 Việc thử thuốc trên ngời phải theo đúng qui định của Bộ Y tế

Điều lệ vệ sinh:

Điều 8 Qui định việc báo cáo, điều tra ngộ độc thức ăn.

Điều 27 Những qui định trong việc chôn hoặc hỏa táng ngời chết.

Điều 28 Những qui định trong việc bốc mộ; di chuyển xác ngời chết, hài cốt và việc sử

dụng đất nơi đã bốc mộ

Điều 29 Những qui định trong việc di chuyển ngời chết qua biên giới nớc CHXHCN

Trang 28

Điều 8 Qui định về phẫu thuật, thủ thuật.

Điều 10 Qui định về lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con ngời.

Điều 11 Qui định về giải phẫu tử thi:

1 Việc giải phẫu tử thi theo trng cầu của các cơ quan pháp luật có thẩm quyền đợc tiến hành theo trình tự thủ tục qui định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự

2 Các bệnh viện đợc quyền giải phẫu thi thể ngời chết trong các trờng hợp chết do tai nạn, đột tử, ngộ độc hoặc cha rõ nguyên nhân và các trờng hợp cần thiết khác

để nâng cao chất lợng chuẩn đoán và chữa bệnh

3 Các trờng Đại học Y có đủ các điều kiện bảo quản tử thi đợc phép giữ tử thi vô thừa nhận hoặc tử thi của ngời có di chúc để nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Điều 32 Yêu cầu về nạo thai, phá thai.

Chỉ thị số: 661/TTg ngày 17/10/1995 của Thủ tớng Chính phủ về khám, chữa bệnh ngay cho những ngời bệnh bị cấp cứu hoặc chấn thơng ngoại.

Nghị định số: 71/2002/NĐ-CP ngày 23/7/2002 của Chính phủ Qui định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp trong trờng hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm.

Điều 20 Vệ sinh môi trờng sống, phòng, chống dịch bệnh ở nơi có thảm họa.

Điều 21 Tổ chức cấp cứu, khám chữa bệnh.

Điều 22: Hạn chế ra, vào vùng có dịch bệnh; thực hiện kiểm dịch, xử lý y tế đối với

ng-ời, phơng tiện ra vào vùng có dịch bệnh

Điều 23 Thực hiện các biện pháp ngăn ngừa lây lan dịch bệnh.

Điều 24 Các biện pháp chống dịch khẩn cấp:

Điều 25 Kiểm tra chặt chẽ các cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng; đóng cửa các cơ sở

Trang 29

Điều 16:

1 Cơ sở y tế có trách nhiệm xét nghiệm cho ngời tự nguyện xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS

Điều 17 Khi tổ chức khám sức khỏe định kỳ, ngời có trách nhiệm của cơ sở y tế có

quyền quyết định việc xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS đối với những ngời có nguy cơ nhiễm HIV/AIDS

Điều 18:

1 Cán bộ xét nghiệm và cơ sở xét nghiệm của cơ sở y tế có trách nhiệm giữ bí mật tên, tuổi, địa chỉ của ngời đến xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS

Điều 20:

1 Thầy thuốc và nhân viên y tế có trách nhiệm chăm sóc bệnh nhân AIDS

Điều 21 Nhà nớc qui định chế độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp ngay từ đầu đối với ngời

trực tiếp quản lý, chăm sóc cho ngời nhiễm HIV/AIDS

Nghị định số: 34/CP ngày 1/6/1996 của Chính phủ Hớng dẫn thi hành Pháp lệnh phòng chống nhiễm virut gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngời (HIV/AIDS).

Điều 3; Điều 4; Điều 5; Điều 8; Điều 9; Điều 10

Thông t liên tịch số: 25/1999/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 14/10/1999 của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội, Bộ Y tế Qui định tạm thời danh mục nghề, công việc những ngời bị nhiễm HIV/AIDS không đợc làm.

Thông t liên tịch số: 14/2000/TTLT - BLĐTBXH- BYT ngày 16/6/2000 của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội, Bộ Y tế Hớng dẫn quản lý, chăm sóc, t vấn cho ngời nhiễm HIV/AIDS tại cơ sở chữa bệnh thuộc ngành lao động - thơng binh và xã hội

Mục B Đối với cơ sở chữa bệnh

Quyết định số: 354/2002/QĐ-BYT ngày 6/2/2002 của Bộ trởng Bộ Y tế về việc ban hành bản hớng dẫn chẩn đoán, xử trí và phòng ngộ độc cá Nóc.

Hớng dẫn chẩn đoán; Xử trí và phòng ngộ độc cá nóc

Thông t liên tịch số: 03/1998/TTLT - BLĐTBXH-BYT- TLĐLĐVN ngày 26/3/1998 của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội, Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Hớng dẫn về khai báo và điều tra tai nạn lao động

Chỉ thị số: 03/2000/CT-BYT ngày 1/2/2000 của Bộ trởng Bộ Y tế về việc tăng ờng công tác cấp cứu tai nạn giao thông.

Trang 30

c-• Pháp lệnh hành nghề y, dợc t nhân năm 2003.

Điều 9 Ngời đợc cấp chứng chỉ hành nghề y, y dợc học cổ truyền, dợc, vắc xin, sinh

phẩm y tế t nhân phải có đủ các điều kiện

Điều 11 Ngời có chứng chỉ hàng nghề y, dợc t nhân chỉ đợc đứng đầu hoặc chịu trách

nhiệm quản lý chuyên môn một cơ sở y, dợc t nhân

Điều 17 Ngời đợc cấp chứng chỉ hành nghề y t nhân phải có đủ các điều kiện

Điều 18

1 Cá nhân, tổ chức hành nghề y t nhân có các quyền sau đây:

Điều 19 Ngời hành nghề y t nhân đợc khám bệnh, chữa bệnh theo phạm vi chuyên môn

hành nghề, đợc kê đơn nhng không đợc bán thuốc

Điều 20 Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức hành nghề y t nhân thực hiện các hành vi sau

đây:

Điều 22 Ngời đợc cấp chứng chỉ hành nghề y dợc học cổ truyền phải có đủ các điều

kiện sau đây:

Điều 23

1 Cá nhân, tổ chức hành nghề y dợc học cổ truyền t nhân có các quyền sau đây:

Điều 24 Ngời hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bằng y dợc học cổ truyền đợc khám

bệnh, kê đơn, bán thuốc y dợc học cổ truyền cho ngời bệnh tại cơ sở hành nghề

Điều 25 Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức hành nghề y dợc học cổ truyền t nhân thực hiện

các hành vi sau đây:

Thông t số: 04/2002/TT-BYT ngày 29/5/2002 của Bộ Y tế Hớng dẫn việc xét cấp chứng chỉ hành nghề y dợc.

Thông t số: 16/2000/TT-BYT ngày 18/9/2000 của Bộ Y tế Hớng dẫn tiêu chuẩn,

điều kiện, phạm vi hoạt động chuyên môn, hồ sơ, thủ tục, thẩm quyền thành lập cơ sở khám chữa bệnh bán công.

Thông t số: 10/2001/TT-BYT ngày 22/5/2001 của Bộ Y tế Hớng dẫn việc điều trị của nớc ngoài trong lĩnh vực khám, chữa bệnh tại Việt Nam.

Nghị định số: 41/1998/NĐ-CP ngày 11/6/1998 của Chính phủ Ban hành điều lệ kiểm dịch y tế biên giới của nớc CHXHCN Việt Nam.

Thông t số: 04/1998 /TT-BYT ngày 23/3/1998 của Bộ Y tế hớng dẫn thực hiện quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm trong kinh doanh, dịch vụ và phục vụ ăn uống

Trang 31

III Qui định về báo cáo, điều tra ngộ độc thức ăn.

Bảng qui định tiêu chuẩn thơng tật (Ban hành kèm theo Thông t liên bộ số: 12/TT-LB ngày 26/7/1995 của Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội).

Quyết định số: 11/2001/QĐ-TTg ngày 17/1/2001 của Thủ tớng Chính phủ về việc thành lập Viện Y học t pháp TW trực thuộc Bộ Y tế.

Nghị định số: 46/NĐ-CP ngày 6/8/1996 của Chính phủ Qui định về việc xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nớc về y tế.

Mục B Hành vi vi phạm hành chính về khám bệnh; chữa bệnh; hình thức và mức phạt.

Thông t số: 08/1999/TT-BYT ngày 4/5/1999 của Bộ Y tế Hớng dẫn phòng và cấp cứu sốc phản vệ Kèm 6 phụ lục.

Chỉ thị số: 02/1999 CT-BYT ngày 1/2/1999 của Bộ trởng Bộ Y tế về việc tăng ờng quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hớng tâm thần.

c-• Quyết định số: 2032/1999/QĐ-BYT ngày 9/7/1999 của Bộ trởng Bộ Y tế về việc ban hành Qui chế quản lý thuốc độc, danh mục thuốc độc và danh mục thuốc giảm độc.

Quyết định số: 2557/2002/QĐ-BYT ngày 4/7/2002 của của Bộ trởng Bộ Y tế về việc ban hành Qui chế thông tin, quảng cáo thuốc dùng cho ngời và mỹ phẩm

ảnh hởng trực tiếp đến sức khỏe con ngời

Qui chế thông tin, quảng cáo thuốc dùng cho ngời và mỹ phẩm ảnh hởng trực tiếp

đến sức khỏe con ngời (Ban hành kèm QĐ số 2557/2002/QĐ-BYT)

Qui chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của Bệnh viện (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3649/1999/QĐ-BYT ngày 12/11/1999 của Bộ trởng Bộ Y tế)

Chơng III Dân chủ trong quan hệ với ngời bệnh và gia đình ngời bệnh

Bộ luật hình sự

Điều 4 Các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những ngời thuộc quyền quản lý của

mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các qui tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình

Điều 30 Phạt tiền

Điều 36 Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Điều 42 Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thờng thiệt hại hoặc công khai xin lỗi.

Điều 43 Bắt buộc chữa bệnh.

Điều 44 Thời gian bắt buộc chữa bệnh.

Điều 46 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trang 32

Điều 48 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Điều 57 Miễn chấp hành hình phạt:

Điều 59 Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trờng hợp đặc biệt.

Điều 61 Hoãn chấp hành hình phạt tù:

Điều 62 Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù:

Điều 68 áp dụng Bộ luật Hình sự đối với ngời cha thành niên phạm tội:

Điều 74 Tù có thời hạn.

Điều 76 Giảm hình phạt đã tuyên:

Điều 93 Tội giết ngời:

Điều 94 Tội giết con mới đẻ:

Điều 98 Tội vô ý làm chết ngời:

Điều 99 Tội vô ý làm chết ngời do vi phạm qui tắc nghề nghiệp hoặc qui tắc hành

chính:

Điều 101 Tội xúi giục hoặc giúp ngời khác tự sát:

Điều 102 Tội không cứu giúp ngời đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Điều 104 Tội cố ý gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác.

Điều 105 Tội cố ý gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác trong

Điều 108 Tội gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác

Điều 109 Tội vô ý gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác do vi

phạm qui tắc nghề nghiệp hoặc qui tắc hành chính

Điều 111 Tội hiếp dâm.

Điều 112 Tội hiếp dâm trẻ em.

Điều 113 Tội cỡng dâm.

Điều 114 Tội cỡng dâm trẻ em.

Điều 115 Tội giao cấu với trẻ em.

Điều 116 Tội dâm ô với trẻ em.

Điều 117 Tội lây truyền HIV cho ngời khác.

Điều 118 Tội cố ý truyền HIV cho ngời khác.

Điều 120 Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.

Điều 121 Tội làm nhục ngời khác:

Điều 122 Tội vu khống.

Trang 33

Điều 157 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lơng thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,

thuốc phòng bệnh

Điều 167 Tội quảng cáo gian dối.

Điều 182 Tội gây ô nhiễm không khí.

Điều 183 Tội gây ô nhiễm nguồn nớc.

Điều 186 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho ngời.

Điều 201 Tội vi phạm qui định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma

túy khác

Điều 237 Tội vi phạm qui định về quản lý chất phóng xạ.

Điều 242 Tội vi phạm qui định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp

phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác

Điều 243 Tội phá thai trái phép.

Điều 266 Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Điều 284 Tội giả mạo trong công tác.

Điều 285 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 300 Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Điều 307 Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật:

Điều 308 Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài

nhu cầu đó Sự trợ giúp đó là hoạt động giám định.

Hoạt động này ngày càng phát triển và có mặt rộng rãi ở mọi lĩnh vực của đời sống Có thể kể các loại giám định nh: Giám định xây dựng để xem xét chất lợng công trình, giám

định hàng hóa để xác nhận chất lợng hàng hóa thật giả, tốt xấu, giám định tài chính - kế toán (kiểm toán) để xem xét tình trạng tài chính của một cơ sở nào đó v.v

Trong ngành y tế, hoạt động giám định thực chất là hoạt động chẩn đoán, đánh giá kết quả khám chữa bệnh ở mức độ chuyên môn cao do các chuyên gia hàng đầu tiến hành ở Việt Nam có hệ thống giám định y khoa có chức năng giám định thơng tật, giám định bệnh nghề nghiệp, giám định sức khỏe cho các đối tợng thơng bệnh binh, công nhân

Trang 34

viên bị tai nạn lao động hay suy giảm sức khỏe phục vụ cho việc giải quyết chính sách, chế độ cho các đối tợng đợc hởng u đãi của nhà nớc.

Những hoạt động giám định kể trên là những giám định chuyên môn, giám định có tính chất dân sự, cha đợc coi là giám định t pháp

Trong số các loại giám định t pháp, giám định t pháp về y học, giám định pháp y, giám

định pháp y tâm thần là thờng gặp nhất; do đó các thầy thuốc cần có hiểu biết cơ bản về hoạt động này

3.2 Văn bản luật điều chỉnh hoạt động giám định t pháp:

Do giám định t pháp là hoạt động bổ trợ t pháp nên nó phải chịu sự điều chỉnh của các

văn bản luật liên quan ở Việt Nam, giám định t pháp phải tuân thủ các văn bản luật sau:

Điều 7 Ngời giám định t pháp (Pháp lệnh Giám định t pháp) qui định:

Ngời giám định t pháp bao gồm:

1 Giám định viên t pháp

2 Ngời giám định t pháp theo vụ việc

Nh vậy, có thể thấy tất cả các thầy thuốc khi đợc cơ quan hoặc ngời tham gia tố tụng yêu cầu để có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám định t pháp

Những chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của ngời giám định t pháp đợc qui định ở những điều luật sau đây

3.3.1 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Điều 14 Bảo đảm sự vô t của những ngời tiến hành hoặc ngời tham gia tố tụng.

Trang 35

Điều 42 Những trờng hợp phải từ chối hoặc thay đổi ngời tiến hành tố tụng.

Điều 60 Ngời giám định.

Điều 64 Chứng cứ.

Điều 65 Thu thập chứng cứ.

Điều 73 Kết luận giám định.

Điều 98 án phí.

Điều 151 Khám nghiệm tử thi.

Điều 152 Xem xét dấu vết trên thân thể.

Điều 155 Trng cầu giám định.

Điều 156 Việc tiến hành giám định.

Điều 157 Nội dung kết luận giám định.

Điều 158 Quyền của bị can và những ngời tham gia tố tụng đối với kết luận giám định.

Điều 159 Giám định bổ sung hoặc giám định lại.

Điều 193 Sựcó mặt của ngời giám định.

Điều 203 Giải thích quyền và nghĩa vụ của ngời phiên dịch, ngời giám định.

Điều 215 Hỏi ngời giám định.

Điều 311 Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Điều 315 áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với ngời chấp hành hình phạt tù.

3.3.2 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Điều 16 Bảo đảm sự vô t của những ngời tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự.

Điều 40 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Tòa án

Điều 46 Những trờng hợ phải từ chối hoặc thay đổi ngời tiến hành tố tụng.

Điều 58 Quyền, nghĩa vụ của đơng sự.

Điều 67 Ngời giám định.

Điều 68 Quyền, nghĩa vụ của ngời giám định.

Điều 71 Thủ tục từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi ngời giám định,

ngời phiên dịch

Điều 72 Quyết định việc thay đổi ngời giám định, ngời phiên dịch.

Điều 82 Nguồn chứng cứ.

Điều 90 Trng cầu giám định.

Điều 91 Trng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo.

Điều 135 Tiền tạm ứng chi phí giám định, chi phí giám định.

Điều 205 Sự có mặt của ngời giám định.

Trang 36

Điều 214 Giải quyết yêu cầu thay đổi ngời tiến hành tố tụng, ngời giám định, ngời

phiên dịch

Điều 230 Hỏi ngời giám định.

Điều 397 Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với ngời giám định.

3.3.3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính:

Điều 16 (sửa đổi, bổ sung)

1 Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, nếu:

Điều 19

1 Những ngời tham gia tố tụng hành chính gồm đơng sự, ngời đại diện do đơng sự

ủy quyền, ngời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đơng sự, ngời làm chứng, ngời giám định, ngời phiên dịch

Điều 20 (sửa đổi, bổ sung).

Điều 45 (đã sửa đổi, bổ sung).

3 Thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Th ký phiên tòa, ngời giám định, ngời phiên dịch bị thay đổi mà không có ngời thay thế ngay

3.3.4 Pháp lệnh giám định t pháp.

Chơng II: Ngời giám định t pháp

Điều 7 Ngời giám định t pháp:

Ngời giám định t pháp bao gồm:

1 Giám định viên t pháp;

2 Ngời giám định t pháp theo vụ việc

Điều 8 Giám định viên t pháp.

1 Giám định viên t pháp là ngời có đủ tiêu chuẩn qui định tại khoản 2 điều này và không thuộc một trong các trờng hợp qui định tại khoản 3 điều này, đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên t pháp theo qui định của Pháp lệnh này

2 Công dân Việt Nam thờng trú tại Việt Nam có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì đợc

bổ nhiệm giám định viên t pháp:

a Có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn theo ngành

đã học từ năm năm trở lên;

Trang 37

c Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

3 Những ngời sau đây không đợc bổ nhiệm giám định viên t pháp:

a Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà cha đợc xóa án tích;

b Đang bị quản chế hành chính;

c Bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

4 Giám định viên t pháp có thể làm việc trong tổ chức giám định t pháp, tổ chức chuyên môn

Điều 9 Bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên t pháp.

Điều 10 Thẻ giám định viên t pháp.

Điều 11 Ngời giám định t pháp theo vụ việc

Điều 12 Quyền của ngời giám định t pháp.

1 Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành tố tụng trng cầu giám định (sau

đây gọi chung là ngời trng cầu giám định)

2 Lựa chọn phơng pháp cần thiết và phù hợp để tiến hành giám định theo nội dung yêu cầu giám định

3 Sử dụng kết quả xét nghiệm bổ sung hoặc kết luận chuyên môn do tổ chức, cá nhân khác thực hiện nhằm phục vụ cho việc giám định

4 Độc lập đa ra kết luận giám định

5 Từ chối giám định trong trờng hợp đối tợng giám định, các tài liệu liên quan đợc cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận giám định; thời gian không

đủ để thực hiện giám định hoặc có lý do chính đáng khác

6 Đợc bảo đảm an toàn khi thực hiện giám định hoặc khi tham gia tố tụng với t cách

8 Các quyền khác theo qui định của pháp luật tố tụng

Điều 13 Nghĩa vụ của ngời giám định t pháp.

1 Tuân thủ các nguyên tắc thực hiện giám định t pháp

2 Thực hiện giám định theo đúng nội dung yêu cầu giám định

3 Thực hiện giám định theo đúng thời hạn yêu cầu; trong trờng hợp cần thiết phải có thêm thời gian để thực hiện giám định thì phải thông báo kịp thời cho cơ quan trng cầu giám định, ngời trng cầu giám định biết

4 Lập hồ sơ giám định

5 Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và giải thích kết luận giám

định khi có yêu cầu

6 Bảo quản các mẫu vật giám định, tài liệu liên quan đến vụ việc giám định

7 Giữ bí mật về kết quả giám định, thông tin và tài liệu giám định

8 Từ chối giám định trong những trờng hợp qui định tại Điều 37 của Pháp lệnh này

Trang 38

9 Bồi thờng thiệt hại trong trờng hợp cố ý đa ra kết luận giám định sai sự thật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức có liên quan.

10 Các nghĩa vụ khác theo qui định của pháp luật tố tụng

Điều 14 Những hành vi bị nghiêm cấm đối với ngời giám định t pháp.

1 Từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng

2 Cố ý đa ra kết luận giám định sai sự thật

3 Lợi dụng việc thực hiện việc giám định để trục lợi

4 Tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết đợc khi tham gia tố tụng hình sự với t cách là ngời giám định t pháp; tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết đợc khi tiến hành giám định đối với các vụ án khác

3.4 Cơ quan giám định t pháp:

Trong Pháp lệnh giám định t pháp, tại Điều 24 - Trng cầu giám định t pháp, mục 1 qui

định:

“Ngời trng cầu giám định có thể trng cầu cá nhân, tổ chức sau đây:

a Ngời giám định t pháp theo qui định tại Điều 7 của Pháp lệnh này

b.Tổ chức giám định t pháp theo qui định tại chơng III của pháp lệnh này

c Tổ chức chuyên môn có đủ điều kiện về chuyên môn, cơ sở vật chất bảo đảm cho việc thực hiện giám định ”

áp dụng trong ngành y tế, có thể thấy:

Theo đúng luật pháp qui định cũng nh trong thực tế hoạt động có bốn chủ thể tiến hành giám định t pháp sau:

3.4.1 Do các giám định viên đợc bổ nhiệm làm việc tại các cơ quan giám định chuyên

trách hoặc tổ chức chuyên môn tiến hành

3.4.2.Do các thầy thuốc cha bổ nhiệm chức danh giám định viên t pháp nhng có đủ điều

kiện theo qui định của Điều 11 tiến hành

3.4.3 Do tổ chức giám định t pháp tiến hành

(Ví dụ: Các Trung tâm Pháp y các tỉnh, thành phố)

3.4.4 Do các cơ sở y tế có đủ điều kiện chuyên môn, cơ sở vật chất thực hiện (Ví dụ:

các trờng đại học y, các bệnh viện, viện nghiên cứu )

Tại các cơ sở này có thể tiến hành giám định với đội ngũ giám định viên t pháp đợc bổ nhiệm hoặc ngời giám định theo vụ việc

3.5 Các loại giám định t pháp y học (giám định pháp y theo các quan niệm truyền thống):

3.5.1 Giám định mức độ tổn hại sức khỏe (mức độ thơng tật) của ngời bị thơng trong

Trang 39

3.5.2 Giám định tâm thần của ngời bị hại, của các đối tợng cần xác định năng lực hành

vi dân sự, năng lực hành vi hình sự

3.5.3 Giám định đối tợng bị bắt buộc chữa bệnh

3.5.4 Giám định sức khỏe đối tợng miễn/ giảm/ hoãn/ tạm đình chỉ chấp hành hình phạt

tù vì lý do sức khỏe

3.5.5 Giám định nhằm xác định tuổi/ giới tính của đơng sự, của bị hại hoặc bị can để

xác định những chi tiết về tuổi (trẻ em, vị thành niên, thành niên) về giới tính nam/ nữ (lỡng giới, đồng tính, giới tính “giả”) trong những vụ việc mà các yếu tố này có tính quyết định trong phán quyết tố tụng

3.5.6 Giám định mẫu - phụ hệ (huyết thống): cho các đối tợng cần xác định là con của

đúng cha mẹ trong các vụ kiện: thực hiện di chúc, trách nhiệm nuôi con, nghi ngờ nhầm lẫn, tranh chấp con

3.5.7 Giám định sự cố điều trị nhằm xác định trách nhiệm của thầy thuốc, cơ sở y tế có

hay không có lỗi

3.5.8 Giám định bệnh nhân/ hồ sơ y tế khi có sự mâu thuẫn, tranh chấp về các chẩn

đoán khác nhau, trái ngợc nhau của các thầy thuốc, cơ sở y tế

3.5.9 Giám định hồ sơ y tế khi có nghi vấn giả mạo, khai khống, sửa chữa lại làm thay

đổi chứng cứ

3.5.10 Giám định mẫu vật sinh học: dấu vết, mẫu dịch, mẫu máu, mẫu bệnh phẩm các

loại

3.5.11 Giám định ADN

3.5.12 Giám định tử thi những trờng hợp chết không tự nhiên

3.5.13 Giám định hài cốt: Những trờng hợp không rõ căn cớc, nghi vấn

3.5.14 Giám định tội phạm tình dục

3.5.15 Giám định độc chất và kiểm nghiệm độc chất

Trang 40

2 Nhận thức rõ ràng và giải thích đợc cho ngời dân về khái niệm chết não.

3 Nắm vững dấu hiệu biến đổi tử thi sớm (chủ yếu là hoen tử thi và cứng tử thi).

4 Hiểu rõ ý nghĩa việc ứng dụng các biến đổi tử thi để ớc lợng thời gian tử vong.

Sự chết là kết thúc không thể hồi phục hoạt động sống của một cá thể.

Nhng trong thực tế, khi đi vào bản chất sâu xa, sự chết không đơn giản nh một mệnh đề

định nghĩa

1.1 Về mặt sinh học, ranh giới giữa sự sống và không sống không hoàn toàn rõ rệt, mà

điển hình nhất cho hiện tợng này là đời sống của virus Còn trên một cơ thể sinh học nói chung, luôn luôn có sự suy thoái, già và chết đi của các tế bào, của hồng cầu, của một bộ phận mô - cơ quan bị cắt bỏ, bị hoại tử Chính những cái chết bộ phận ấy đã giữ gìn cho sự sống của cả cơ thể Ngợc lại, khi một cơ thể đợc chính thức báo tử lại vẫn còn rất nhiều cơ quan, mô, tạng, tế bào vẫn duy trì sự sống của riêng nó trong một thời gian Đây chính là yếu tố quyết định nhất cho thành tựu về hiến, bảo quản

và ghép mô tạng của y học hiện đại

Ngày đăng: 01/12/2015, 17:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Quan hệ giữa y học và t pháp - Giáo Trình Y Học Tư Pháp
Sơ đồ 1 Quan hệ giữa y học và t pháp (Trang 17)
Bảng tính đơn giản của Patscheider và Harmann (1993) - Giáo Trình Y Học Tư Pháp
Bảng t ính đơn giản của Patscheider và Harmann (1993) (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w