1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU đại CƯƠNG về mỹ học

40 387 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 158,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý niệm về cái vô hạn là tình thần đã vươn tớicái tuyệt đối.Cần phân biệt 2 giá trị khác nhau: Nghệ thuật tôn giáo là nghệ thuật cao cả, vì các đề tài của nó thường gắn liền với sự chuộc

Trang 1

ÐẠI CƯƠNG VỀ MỸ HỌC

KIÊM THÊM

Với những đặc tính, thành phần và ảnh hưởng, cho đến nay, mỹ học đã trở thành

một khoa học, với đầy đủ những giá trịđịch thực Khoa mỹ học hiện đại là khoahọc nghiên cứu các phạm vi, các quy luật biểu hiện tính thẩm mỹ trong nđời sốngcũng như trong nghệ thuật Do sự vận động không nngừng của các quan

hệ thẩm mỹ, do các thành quả sáng tạo nghệ thuật, đã không ngớt phát triển, khaithác không ngùng và đổi mới, cho nên mỹ học đã ảnh hưởng rộng lớn đếnnhiều môn nghệ tuật tương quankhác

Lịch sử của mỹ học cho dến nay đã có những biến chuyển rõ rệt Từ khi, khoa mỹhọc trở thành một môn khoa học độc lập, đã có nhiều quan niệm khác nhau về đối

tượng nghiên cứu của mỹ học Những ýkiến khác nhau nầy khác biệt nhau là dothế giới quan khác nhau và các các tiếpcận đối tượng thẩm mỹ khác nhau mà tạonên

Mỹ học của chủ nghĩa duy

lý Baumgarten coi đối tượng của mỹ học

là tình cảm về cái đẹp Mỹ học ở đây làmột môn khoa học nghiêm cứu biểu cảm

về cái đẹp trong thiên nhiên và trongcuộc sống

Mỹ học của chủ nghĩa kinh nghiệm Bucker coi mỹ học là khoa học chuyên nghiên cứu các cảm giác của con người, các diễn biến tâm lý của con người về cái đẹp và cái cao cả.

Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Kant coi mỹ học là khoa học nghiên cứucác phán đoán thị hiếu về cái đẹp và cái cao cả, về thiên tài và biểu hiện của nghệsĩ

Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hégel thì tập trung nghiên cứu về cáiđẹp trong nghệ thuật và các ngành sáng tạo nghệ thuật khác nhau

Mỹ học của chủ nghĩa duy vật N G Trepnuchesky nghiên cứu cái đẹp, cái cao cả,cái ba, cái hài trong đời sống, cũng như sự tái hiện của nó trong cách ngành nghệthuật

Trang 2

Về sau nầy, chủ nghĩa Cộng sản đưa ra loại nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa,dùng nghệ thuật chỉ là một thứ lợi khí chính trị, đề cao tính đấu tranh giai cấp, phục

vụ chính quyền trong từng giai đoạn, công cụ của chính sách tuyên truyền

Mỹ học thời Cổ đại

Nền mỹ học thời cổ đại với những đại biểu xuắt sắc như Héraclite (540-480tCN),Democrite (460-370tCN) và Aristolte (384-322tCN) , đã quan niệm mỹ học như làthuộc tính của ngoại vật gắn liền với vũ trụ và tư suy của con người trong từng thời

kỳ khác nhau và hoàn cảnh khác nhau

Cái Ðẹp, với họ, là thuộc tính của vũ trụ, con người, của mọi sự vật và mọi độngvật Aristolte đã khái quát quan niệm nầy như sau: “Cái Ðẹp trong bất cứ hình tháinào, kể cả cái Ðẹp của động vật hay đồ vật, đều gồm nhũng thành phần nhất địnhhợp thành; nó không nhũng cần có sự xếp đặt khéo léo và còn phải theo một bố cụcnhất định và kích thước nhất định” (Nghệ thuật thi ca)

Ðây là quan niệm chung của các nhà triêt học duy vật thời Cổ đại, chống lại quanđiểm các nhà triết học duy tâm thời đó, cho rằng cái Ðẹp chỉ là một ý niệm, một tưtưởng nào đó

Theo những nhà triết học nầy, vật chất và vác sự vật bất kỳ nào, muốn trở thành vẻđẹp, phải có một số những biểu hiện như sau:

Các yếu tố khác biệt phải được thống nhất trong đa dạng Về vấn đề nầy, Héraclitenêu lên 3 trường hợp của cái Ðẹp: âm nhạc, hội hoạ và các dạng mâu thuẫn thốngnhất Về hội họa: màu đen, màu trắng, màu đỏ đứng riêng một mình thì không đẹp,nhưng nếu đem trộn lận theo một tỷ lệ cần thiết nào đó, sẽ có thêm nhiều màu, nếusắp xếp các màu theo một tỷ lệ nhất định nào đó Về âm nhạc: Nếu các âm để rờirạc với nhau và khác nhau thì chói tai Cái đẹp trong âm nhạc chỉ xuất hiện khiđược hoà thành một bản nhạc duy nhất Về các mâu thuẫn thống nhất: Heraclitebêu lên ví dụ về cái cung được căng bởi dây cung Dây cung to, dây cung nhỏ, dâycung căng, dây cung chùng chúng đều tạo ra các sắc thái khác nhau và chiềuhướng và khả năng mũi tên được bắn ra cũng khác nhau

Thành thử, hai vấn đề cơ bản được đề ra là: kích thước và tỷ lệ Trong tác phẩm

“Nghệ thuật thi ca” Aristolte viết: Cái Ðẹp phải ở trong trong kích thước và trật tự

nhất định của nó, để tạo thành tính nhất trí và tính hoàn chỉnh.

Khoái cảm: Ngoài 3 quan niệm nói trên, “khoái cảm” của con người trong thưởng

ngoạn nghệ thuật Theo Democrite, điều tốt nhất cho con người là cách sống Phảisống sao để được sảng khoái nhiều và buồn phiền ít Không thể nào đạt được khoáicảm cho bất cứ điều gì, mà cần nhất là phải biết gắn liền khoái cảm với cái Ðẹp.Tóm lại, cái Ðẹp trong mỹ học phải theo một tỷ lệ, một trật tự, một kích thước nhấtđịnh; chúng chỉ có tính chất tương đối

Sau cùng, cái Ðẹp bao giờ cũng gắn liền với sự thực dụng, tức là phải có ích.Socrate (470-399tCN) cho rằng: Tất cả mọi vật đều tốt và đẹp nếu thích ứng tốt;trái lại, nếu vô bổ, thì trở nền xấu và tồi

Mỹ học của Edmund Bucke và Diderot: Ðây là hai nhà mỹ học triết học duy vật

tiêu biểu vào thế kỷ XVII và XVIII

Trang 3

Bucke: Năm 1756, Edmund Bucke xuất bản cuốn “Nghiên cứu triết học về cái cao

cả và cái đep” Dựa trên cơ sở triết học của Locke, Bucke bảo vệ nguyên lý duycảm, thực nghiệm duy vật về cái Ðẹp Ông chủ trương: Cái Ðẹp của mỗi ngườixuất hiện trong cách giao tế của người đó Ðiều kiện của cái Ðẹp bao gồm: (a)

Phải có hình dáng tương đối của đối tượng (b) Sự mịn màng trên bề mặt (c) Sự đa dạng về các bộ phận được phân phối của đồ vật đó (d) Quan hệ giữa các bộ phận phải hoà hợp (e) Cơ cấu phải uyển chuyển (f) Màu sắc thuần khiết, tươi sáng, nhưng không loè loẹt (g) Nếu có một một phần nào cần được nhấn mạnh, tô đậm, thì phải được kết hợp với màu khác, đừng làm nổi bật quá.

Ðiều nầy khẳng định rằng: cái đẹp trước hết là những đặc tính thẩm mỹ vốn có củacác sự vẫt trong thiên nhiên, trong xã hội trong sản xuất vật chất, bồi bổ tinh thần,trong mọi ngành nghệ thuật

Cái đẹp đã làm cho hoạt động hàng ngày của con nbgười được hoàn thiện hơn, mọicông việc được cải tiến và hoàn chỉnh hơn, và cuộc sống càng có giá trị cao hơn.Qua những cố gắng để cải tiến cuộc sống, tăng cường kiến thức, phát triển tìnhcảm, con người dần dà đã nhận thức được quy luật phổ biên của cái đẹp trong vạnvật Từ những nhận định bình thường để tìm ra được những nét đẹp, loại trừ nhữngcái xấu, quả là một quá trình lâu dài để giúp cho xã hội ngày càng xinh đẹp thêm,con người thừa hưởng được nguồn hạnh phúc cao hơn

Trước mọi diễn biến trong cuộc sống, con người đã phân biệt được sự khác nhaugiữa đẹp và xấu, đúng và sai, tiến bộ và lạc hậu, ích lợi và nguy hại Dần dà, mởrộng ra, con người đã biết dùng khái niệm về cái đẹp, để nhận thức được những gìtạo nên vẻ đẹp cho mình và cho xã hội Con người đã hiểu được cái đẹp chính là sựhài hoà, sự tao nhã, sự linh hoạt, sự gia tăng chất lượng và phẩm lượng, là trật tựcần thiết trong tổ chức xã hội Khai triển rộng ra, cái đẹp mang lại sự tiến bộ, vănminh, cách mạng, ích lợi cho cuộc sống

Như vậy, cái đẹp không chỉ là đối tượng riêng của mỹ học, mà còn là một lĩnh vựcrất đa dạng, phong phú cho nhiều ngành khoa học khác

Cái đẹp trong thiên nhiên, trong xã hội và trong nghệ thuật thể hiện qua nhiều hìnhthức khác nhau: đó là những kết cấu hài hoà về vật chất, về màu sắc, ánh sáng, âmthanh, trong ánh mắt, nụ cười, cảm thông, tư tưởng, có khi được phát triển thànhmột tác phẩm nghệ thuật

Cái đẹp hiện ra thiên hình vạn trạng, với tính chất khác nhau Văn hào Leon

Tolstoi viết: Những tài liệu viết về cái đẹp chất lên như núi, tuy nhiên, cái đẹp vẫn

Trang 4

là một câu đố giữa cuộc đời” Kant thì giải thích: Cái đẹp đã phá vỡ những sai lầm,

hủ bại vốn có từ trước Hégel thì khuyên mỗi người đều có thể tìm ra cái đẹp trongtừng cảm giác thưởng ngoạn của mình

Trong khoa mỹ học, có những khác biệt giữa cái đẹp và cái thẩm mỹ Cái đẹp là đốitượng của khoa mỹ học, thì nó chỉ là một bộ phận của cái thẩm mỹ, chứ khônghoàn toàn bao hàm toàn vẹn giá trị thẩm mỹ Cai thẩm mỹ là một khái niệm khoahọc rất rộng Nó bao gồm cả cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài trong cuộc sống,trong tâm hồn, trong nghệ thuật Trong khoa mỹ học, người ta thường phân biệt rathành: thẩm mỹ khách quan, thẩm mỹ chủ quan, thẩm mỹ trong nghệ thuật Tuynhiên, trong bất cứ hình thái nào, cái đẹp và cái thẩm mỹ vẫn có một số nét chung:

Về tinh thần: Cái đẹp tuy là một bộ phận tạo thành của cái thẩm mỹ, tuy nhiên, cái

đẹp và cái thẩm mỹ đều có một số phẩm chất chung Trước hết, cả hai đều mangnhững giá trị về tinh thần Ðó là yếu tố thưởng ngoạn, đánh giá, miêu tả, thưởngthức, chứ không phải là yếu tố thực dụng để ăn, để uống, để ngửi, để nếm Cái đẹptuy vẫn thường gắn vào với những đồ đạc thực dụng, nhưng giá trị chính là yếu tốtinh thần, hiểu biết sâu sắc

Về tình cảm: Cũng như giá trị của thẩm mỹ, cái đẹp mang lại yếu tố tình cảm sâu

sắc lâu dài trong tiềm thức Cái đẹp đi vào sự thưởng ngoạn, đánh giá và sáng tạocủa con người, như những cảm xúc hình thành từ tri giác, biểu tượng, phán đoán,nhất là thông qua sự thâu nhận bằng thị giác và thính giác Khi ngắm nhìn một cảnhđẹp, lắng nghe một âm thành huyền diệu, thì tình cảm thẩm mỹ của con người tràodâng lên, sôi nổi, tha thiết, hưng khởi

Chẳng hạn như tìm hiểu giá trị về thi (Kinh thi) Khổng Tử giải thích: “Thi” có thểtại hứng khởi, việc xem xét, việc đoàn kết, việc căm ghét Gần có thể giúp cho việcthờ cha, xa giúp cho việc thờ vua, lại biết được nhiều tên các loài chim muông, cây

cở (Tử viết: Tiểu tử là mạc học phủ thi! Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ quần,khả dĩ oán Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức vu điểu thú thảo một chi danh

- Luận Ngữ - Dương hoá)

Tính vô tư: Về phương diện nhận định cái đẹp của nghệ thuật, điều cần hấn là giữ

thái dợ vô tư, khách quan, tránh thiên kiến, hay bị chi phối bởi những ý kiến vốnđược phát khởi từ trước, do một nhà phê bình nào hay một thành kiến nào Phảitrung thực trong mọi nhận định nghệ thuật Theo nhà triết học cổ điển ÐứcImmanual Kant (trong cuốn Phê phán năng lực phán đoán” (1790) thì: “Một khiphán đoán về giá trị chan chính cuả cái đẹp, với bất cứ quan điểm nào, phải đượcphát khởi bằng sự phá đoán vô tư, bất vụ lợi Phán đoán về giá trị của cái đẹp làphán đoán theo cái khái niệm không khái niệm” Theo nhà triết học nầy, nghệ thuậtkhông thể nào lệ thuộc hay ràng buộc theo một thứ lợi nhuận nào Giá trị của nghệthuật là tạo ra nguồn mỹ cảm chân chính, tạo sức mạnh tinh thần, nâng cao giá trịnghệ thuật của xã hội

Mọi hình thái mỹ học đều hướng về sự thăng hoa cho cuộc sống Ðó là cái cao cảtrong ý tưởng, trong hành động hay trong chiều hướng phát huy của mình để tiếntới Trái với cái cao cả là cái sa đoạ, thấp hèn, xấu xa; tuy nhiên, sự phân biệt giá trị

Trang 5

chân xác của hai mặt hoàn toàn trái ngược nhau nầy đã không là chuyện dễ dàng, vìmặtt ngoài của sự trang hoàng, tuyên truyền, che đậy,

Cái cao cả có thể hiện ra trước mắt bằng cách hô hào, ca tụng, biểu dương, nhưngcũng có thể ẩn hiện sâu kín, tiềm tàng, và phải tốn một thời gian lâu dài, trải quanhiều thử thách “phải dò cho hết ngọn nguồn, lạch sông” thì mới đánh giá được.Trong thời đại ngày nay, với kỹ thuật tuyên truyền tinh xảo, với thủ đoạn che đậygian trá, con người dễ bị lôi cuốn theo dư luận và tâm lý quần chúng, cho nên phânbiệt giữa cái cao cả và cái thấp hèn, đã không là chuyện dễ Hàng ngày, trên báochương, truyền thanh, truyền hình, chúng ta thường hay nghe hô hào về lý tưởngchiến đấu, hy sinh cho chính nghĩa diệt trừ kẻ ác, sự nghiệp vinh quang của tổquốc, hành động cho cách mạng, hy sinh cá nhân để đẩy mạnh sức mạnh của phongtrào thôi thì không biết bao nhiêu chữ nghĩa tuyên truyền, bịp bợm, xảo trá, kíchthích bản năng của con người, che đậy lý trí phán đoán một cách chính xác, tất cả

đó đều được khoác lên danh từ “cao cả” trong tưởng tượng Tuyên truyền lâu ngàythì thành quen, cho nên tình cảm quần chúng dễ dàng đẩy con người vào sự lừađảo, dối trá

Cái cao cả thường liên quan đến đạo đức cá nhân và nhân nghĩa của xã hội Trongtôn giáo, trong chính trị, người ta thường xuyên đưa ra vấn đề đạo đức trong nhữngmục đích khác nhau; thiện và ác có khi chỉ gần nhau trong gang tấc, thậm chí lẫnlộn với nhau, nếu chỉ hiểu qua danh từ hào nhoáng bề ngoài

Trong tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán”, triết gia Kant phân biệt: Cái làchúng ta thường gọi là “cái cao cả”, thường được hiểu như là một sự vĩ đại tuyệtđối, không có gì có thể so sánh Người ta thường dùng danh từ “lý tưởng thiêngliêng” để ca ngợi Cái cao cả thường được đánh giá bằng những thứ vật chất bênngoài

Quyên tặng tiền nhiều hay ít, bỏ ra bao nhiêu phẩm vật, kể cả hy sinh thân mạng,được tán dương bao nhiêu lần, đăng tải trên bao nhiêu trang quảng cáo đó là hìnhảnh được mang tên là “cao cả” của cách tuyên truyền hiện nay Sau đó, không còn

ai đếm xiả nữa Những kẻ nghèo nàn, thấp cổ bé miệng, thì không mấy ai đề cậpđến “cái cao cả” dù cho họ dốc hết tâm thành và khả năng vốn có của mình

Platon thường nhắc đến hai thứ cao cả, trong nhãn hiệu: Cao cả có tính trường

tồn và cao cả trong khoảnh khắc Cũng có khi người ta lẫn lộn giữa cái cao cả

trường tồn với cao cả khoảnh khắc, vì đánh giá cao cả đòi hỏi phải dùng đếnphương tiện tuyên truyền, hô hào, khuyếch đại, dư luận

Hơn thế nữa, dạng thức của cái cao cả cũng khác nhau và thể hiện trên hành động

khác nhau Nhà triết học Kant cho rằng:Tình cảm được gọi là “cao cả” có nhiều thể loại khác nhau và hình thức khác nhau Có loại mang theo sự khủng khiếp như

hy sinh thân xác, gây ra sự buồn phiền như chịu những thiệt thòi, mất mát; có loại tạo nên sự khâm phục trầm lặng, sau một thời gian suy nghĩ, đánh giá, cân nhắc Thành thử, có những danh từ: cao cả kinh khủng, cao cả thanh cao, cao cả huy hoàng Và trong số đó, thì “cao cả kinh khủng” là trình độ thấp nhất của cái

Trang 6

không hoàn hảo, sự thoái hoá về mặt đạo đức, mặc dù tạo được một sự cao cả theo thể loại nầy đã không phải là chuyện dễ

Trong thế kỷ XX, vô số chủ nghĩa ra đời, và bất cứ thứ chủ nghĩa nào cũng đòi hỏitín đồ phải hy sinh: chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩasiêu nhân, chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa yêu nước Trong những thứ đó, lợi khítuyên truyền thường được đặt ra hàng đầu, để hô hào, lôi cuốn mọi người tin theo

để “trở nên cao cả”, cho học thuyết của mình

Camus qua những nhận xét biến chuyển nầy cho rằng: Họ thường nêu ra hai thứ

“cao cả” khác nhau, để phân biệt và ứng dung tùy trường hợp: một là cái cao cả số

lượng (Mathématique); hai là cao cả động lực (Dynamique).

(a) Cái cao cả bằng số lượng không nhận thức bằng đo lường, đong đếm, mà là độlớn được ước lượng bằng trực giác, bằng trí tưởng tượng (b) Còn cái cao cả bằng

động lực, thì căn cứ theo thế lực, một uy lực là cao cả, lý ra là đáng sợ, nhưng lý trí

và tình cảm mách bảo là không sợ “Sợ sệt là không phán đoán cái cao cả theo độnglực học được”

Ðứng trước những khó khăn trước mắt, con người thường tỏ ra một thái độ cầnthiết để hành động, nhất là tin theo ý chí của mình “Cái cao cả không có trong bất

cứ một khách thể nào của thiên nhiên; mà chỉ có trong tâm trí của mỗi người”.

“Không khó vì ngăn sông cách núi” mà chính do “khó vì ngại núi e sông”

Cao cả thường nói đến nhiều nhất trong phạm vi chính trị, nhất là trong tôn giáo,nơi mà tình cảm của con người dễ bị thu hút bởi khung cảnh “thiêng liêng” bày ratrước mắt mình, với những lời rao giảng thường nhắc đi nhắc lại, cho được lắng sâuvào tiềm thức Sự giao động thường gây ra vọng động

Theo Kant, “tình cảm tôn giáo” như trên không phải là bất cứ lúc nào cũng đượccho là “tình cảm cao cả” cả Nếu tình cảm tôn giáo chỉ là phải phủ phục, cúi đầu,ngoan ngoãn tin theo, với cách sùng kính, áo não, ưu tư, bị khích động khôngngừng, thì không thể nào có được thứ “tình cảm cao cả” được cả Trong trườnghợp nầy, bản năng đã chế ngự niềm tin về tín lý

Ngày nay, với hệ thống truyền thanh, truyền hình, với cung cách thể hiện lắp ghép

để khích động, đã khiến cho khán thính giả trong một phút mềm yếu nào đó, trởthành đệ tử trung kiên, để trở thành kẻ “cao cả hơn người” Ðó chỉ là sự khích độngtrong giây lát Theo Kant, muốn có đưọc thứ tình cảm chân chính về cái cao cả, đòihỏi phải trải qua nhiều thử thách và rèn luyện

Trước những ảnh hưởng tác động khác nhau như thế, đánh giá về cái cao cả trong

mỹ học thường gây nhiều tranh luận Luận điểm của Hégel gây nhiều tranh cãinhất Theo Hégel, có 2 định nghĩa khác nhau về cái cao cả, hiểu theo giá trị đíchthực của nó: (a) Cái cao cả là ưu thế của quan niệm đối với hình thức; (b) Cái cao

cả là biểu hiện về cái vô hạn”.

Ứng dụng quan niệm nầy vào trong phân tích cái cao cả trong lĩnh vực nghệ thuật,Hégel gọi giai đoạn nầy là giai đoạn của nghệ thuật “lãng mạn” Trong nghệ thuậtlãng mạn, tinh thần đã vượt khỏi bề ngoài của hình thức, trở lại tinh thần ở mức độ

Trang 7

cao hơn tinh thần trong nghệ thuật Ý niệm về cái vô hạn là tình thần đã vươn tớicái tuyệt đối.

Cần phân biệt 2 giá trị khác nhau:

Nghệ thuật tôn giáo là nghệ thuật cao cả, vì các đề tài của nó thường gắn liền với

sự chuộc tội, sự tái sinh, trong đó, cái tinh thần đã vượt qua hình thức cảm tính

Nghệ thuật lãng mạn là nghệ thuật cao cả, vì nó là nghệ thuật tâm hồn, nghệ thuật

của tình yêu gắn với sự hy sinh quên mình, sự khắc khổ, sự sám hối, sự cứu rỗi Cảhai thứ nghệ thuật biểu trưng nầy đều chỉ nhắm vào việc kiện toàn giá trị tinh thần

và tình cảm trong hiện tại của mỗi người

Trong triết học Lão tử, Trang Tử coi sự sống cũng như sự chết Vợ Trang Tử chết,ông không than khóc, mà lại vỗ bồn để ca hát Huệ Tử đến viếng lễ, trông thấycảnh tượng như vậy, chê trách Trang Tử là kẻ tệ bạc Trang Tử nói: Sự sống củacon người do nhhững tạp chất trong trời đất hoà quyện lại với nhau mà thành Nó

đế rồi nó cũng phải đi Cũng như bốn mùa thay phiên nhau mà thay đổi Việc gì màphải buồn phiền Trang Tử dặn người nhà: Khi ông chết đi, thì cứ thả xác thân củamình cho trời đất, đừng nên dùng quan quách chôn chất làm gì Những thứ đó hoàntoàn vô nghĩa

Còn Khổng Tử thì chỉ lo nghĩ đến cuộc sống trong hiện tại “Ðang ở trong cuộcsống, thì lo lắng làm gì đến cái chết” Và không còn biết bao nhiêu thứ triết họckhác bàn về kiếp sống mai sau, chuyện đầu thai, hoá kiếp, sinh tử, luân hồi, ngàytận thế, thiên đường, địa ngục; nói chung, đều là những đề tài khuyên dạy conngười nên sống đạo hạnh trong hiện tại, để hoàn thiện trong tương lai “Dục tri tiền

thế nhân, kinh sinh thụ giả thị; dục tri hậu thế quả, kim sinh tác giả thị”.

Trong thời kỳ Cổ đại, những quan niệm đề định mệnh, số mệnh của con người đềuhàm chứa hầu hết lý luận và thực tiễn về cái bi Cái bi là kết quả của sự xung độtgây nên sự thất bại, đã không thể nào tránh khỏi được Những xung đột nầy xẩy ragiữa người và người, giữa con người với số mệnh, giữa con người với những thếlực thần bí Nói chung, tất cả đều đem lại thất bại

Khác với “cái Ðẹp” và “cái cao cả” thường được ca ngợi ý nghĩa tốt đẹp của cuộcsống, bi kịch là đề tài hiện thực nhất trong những biến chuyển và chung đụng hàngngày Các nhà mỹ học thường xem “cái bi” là một hiện tượng thẩm mỹ đặc biệt, chỉtồn tại trong xã hội hàng ngày, trong tiếp xúc, chung đụng; còn bản thân tự nhiên

Trang 8

cua con người thì không hề có cái bi, kể vả thế giới động vật, dù cho phải tranh đấu

để sinh tồn

Cũng như các phạm trù khác trong nghệ thuật, như cái Ðẹp, cái cao cả, cái hài cái

bi trong lịch sữ mỹ học cũng được nhận thức theo nhiều quan điểm khác hẳn nhau.Trong nghệ thuật, cái bi thường được khái quát hoá bằng những bi kịch, để phảnánh lại những đau thương của cuộc sống Trong những pho Thần thoại Hy Lạp, cái

bi thường được nhắc đến qua những tranh đấu, vật lộn không ngừng

Triết lý bàn về cái bi xuất hiện rất sớm, ngay từ khi các tôn giáo thẩm định ý nghĩacủa cuộc sống Trong triết học Cổ đại, nhà triết học Aristolte cho rằng: Bản chấtcủa cái bi, không những bắt chước theo hành động vốn có, mà lại còn bắt chướctheo sự khủng khiếp và nỗi xót thương Khi bàn về ý nghĩa của bi kịch, một hìnhthức tiêu biểu của cái bi trong xã hội, Aristolte đả đưa ra quan niệm của mình trongnhững đặc tính như sau:

1- Bi kịch là một hiện tượng quan trọng trong mọi xã hội, tuy nhiên, còn tùy thuộctheo phản ứng của những con người cụ thể đã xử lý như thế nào trước bi kịch đó?2- Bi kịch chính thống là bi kịch của người có hành động nghiêm túc và caothượng Nhân vật bi kịch là nhân vật tốt nhất, so với những người trong thực tế.3- Trong sự xung đột với cái xấu trong đời sống, những người tốt đó lại gặp nhữngđiều bất hạnh hay bị giết một cách thảm khốc

4- Cái chết của nnhững nhân vật đó thật không uổng phí Họ thường được ngườiđời ca ngợi

5- Cái chết của họ là một tấm gương tiêu biểu giúp cho con người tránh điều ác,làm điều thiện

Tóm lại, theo quan niệm của Aristolte, bi kịch không chỉ là phương tiện thanh lọccảm xúc, nêu lên những nỗi xót thương trong cuộc sống, những khủng khiếp khôngthể nào tránh khỏi được, mà lại còn khích lệ con nguời đấu tranh cho lý tưởng sốngcủa mình Thậm chí, còn phải ra sức hy sinh cho lý tưởng cao thượng đó của mìnhnữa

Với ý nghĩa đó, Aristolte gọi bi kịch là “thiên anh hùng ca đẫm lệ”

Cái hài

Cái bi và cái hài thường được xem như hai mặt đối nghịch nhau, để tạo nên mộtchỉnh thể cân đối trong nghệ thuật Cái bi toàn diện cũng như cái hài toàn diện dễgây ra tâm lý buồn chán, đơn giản và xuôi chiều

Cũng như những giá trị khác của mỹ học (nnư cái đẹp, cái cao cả, cái bi), cái hàitrong nghệ thuật được nghiên cứu rất sớm, có nhiều thể loại kháxc nbhau và cũngtừng tạo được nhiều tác phẩm nổi tiếng suy ra, cái hài dễ lôi cuốn mọi nguời quantâm hơn, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi kỹ thuật sâu xa hơn Nhân vật DonQuichotte của Cerventes, nhân vật A Q của Lỗ Tấn, chỉ cần thoáng nghe qua vàichi tiết đã gây những ấn tượng hiếm có trong cảm quan mọi người

Giá trị cái hài cũng tạo nên những mức độ khác nhau Có loại hài kịch chỉ để muavui trong phút thoáng qua; nhưng cũng có những bài văn trào lộng được ghi nhónmuôn đời Ðây là một thể loại có nhũng đặc tính sâu sắc của nó Các nhà my học

Trang 9

Hy Lạp Cổ đại như Platon, Aristolte coi trọng giá trị của hài kịch, đưa ra nhữngtiêu chuẩn trong sáng tác, đồng thời phê phán gắt gao những người sử dụng thể hàikịch một cách ngây ngô, nhạt nhẻo, vô vị càng về sau, cái hài được phân tách sâusắc nhơn Quan niệm về cái hài của Kant, Hégel, Diderot, Schiller với nhận địnhkhác nhau, tuy nhiên tất cả đã tạo nên một khuynh hướng nghệ thuật sâu sắc.

Cái hài được sử dụng bằng nhiều bút pháp: chuyện cười, thơ trào lộng, tranh khôihài, câu ví von, chuyện Tiếu lâm, biếm họa, cách nói lái, truyện ngụ ngôn, cách đốiđáp chỉ cần vài nét chấm phá đơn giản, nhưng có thể nên ý nghĩa sâu sắc, chấnđộng và gây ấn tượng lâu dài

Có người trở thành nạn nhân của cái hài, tuy nhiên, họ vẫn thấy nhiều nét ý nhị,nghịch ngợm, thoải mái, khó gây ác cảm

Trong văn học sử các nước, khuynh hướng trào phúng (satirique) chiếm một vị tríkhông nhỏ và thường phản ánh tâm lý quần chúng khá bén nhạy nên là nhữ lý luậntràng giang đại hải Nhu thế, khi kiến giải về cái hài, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau

và cách ẩn dụ trong cái hài cũng khác nhau

Trước hết, phản nhận định đối tượng của cái hài Nhà triết học Platon thườngkhuyên nên dùng lối văn trào lộng để nêu ra thói hư tật xấu của từng cá nhân,nhưng trái lại, ông chỉ trích những kẻ thường hay lên tiếng chính quyền, với tầmmắt của kẻ thích chống đối, đả kích, gây thương tổn cho uy tín của quốc gia dântộc Cũng trong thời Cổ đại, nhiều triết gia hay nhà thần học cấm ngặt việc tràolộng các đấng Thần linh, dù là thiện hay là ác, vì xem đó là địa hạt bất khả xâmphạm

Socrate thì khuyên mọi người nên tìm những khuyết điểm, những kẻ đạo đức giả,những chính quyền thối nát, nếu không tham gia hay nễ nang chuyện phê phán thì

có nghĩa là đồng loã với tội ác xã hội Và cũng như Platon, Socrate khuyên nên thểhiện một cách khôn khéo, tạo thời cơ, đúng lúc, đúng đối tượng, để có thể tránhnhững bất mãn, xáo trộn không trúng cách

Suốt trong thời kỳ Trung cổ, những học thuyết và những bài nghiến cứu về cái hàitrở nên hiếm hoi Ðến thòi kỳ Khai Sáng, các học thuyết, các lý luận về cái hàiđược đề cập ngày một nhiều hơn Trong tác phẩm “Human Naturan”, ThomasHopse, khi bàn đế tiếng cười, đã xem đó là vấn đề không thể thiếu trong giao thiệp

và sinh hoạt tinh thần của con người, Ông viết: “Có một thứ tình cảm không códanh xưng, sự biểu hiện của nó chính là Tiếng cười Neu như nói “Cười” phát xuất

ở tính minh mẫn hay khôi hài, e rằng nó không phù hợp với sự thật; mỗi khi ta bắtgặp một người hay một sự vật gì có tính cách khập khểnh, không vững vàng, là cơthể phát ra thành tiếng cười, tuy rằng trong đó không có gì là minh mẫn hay khôihài Khi người ta phát sinh ra tiếng cười, tất nhiên nó phải có cái gì khác hơn nhữngcái thường tình Có khi mình tự cười về hành động của mình, dủ rằng nó không có

gì là kỳ lạ Tình cảm của tiếng cười hiển nhiên là người cười tự phát hiện khả năng,tài cán của mình Khi người ta cười về những nhược điểm của người khác, như vềnhững hiện tượng bên ngoài, lại càng rõ ràng là do khả năng, tài cán của mình Cóthể xác định rằng: tình cảm của nụ cười khi phát hiện ra nhược điểm của người bên

Trang 10

cạnh, hay có khi là thấy được nhược điểm của chính mình trong quá khứ; từ chỗngạc nhiên nghĩ đến ưu thắng của mình, mà đưa đến cảm giác “thắng lợi thình lình”(suđen glory) Người ta thường không thích kẻ khác trêu cười vì bị trêu cười tức là

bị khinh khi ”,

Học thuyết “Sudden glory” của Hopse khái quát một thuộc tính “bất ngờ”, “ngẫunhiên”, trong một chuỗi các yếu tố hài hước Học thuyết nầy được Kant và Hegelkhai triển sâu rộng ra thêm

Quan trọng nhất là tính chất của hài kịch, thường xuyên được diễn trên các sânkhấu bình dân hay cung đình Biết cách trào lộng, cũng là một nghệ thuật, vì theoAristolte, hài là sự tương phải của đẹp và xấu, vì mỗi bên đều có khuyết điểm và ưuđiểm Kant giải thích rằng: Tid26ng cười là kết quả một sự kỳ vọng căng thẳng, độtnhiên thất vọng” Về vấn đề nầy, Kant đã dẫn ra một câu chuyện như sau: Có mộtngười kể chuyện về một người khách Ấn Ðộ đi lang thang trên đường một thị trấn

ở Anh, bất ngờ nhiênn thấy người ta mở nút chai bia, ba bốc và bọt trào ra khỏichai; anh ta bất ngờ reo lên vì kinh ngạc Người ta hỏi vị khách: Việc gì khiến anhcười như vật? Người khách Ấn Ðộ trả lời: Không, chai bia mở ra trào bọt không có

gì là kỳ lạ cả, cái lạ nhất là tại sao họ lại mở bia tại đây! Cái bất ngờ là lời giải thíchcủa người Ấn Ðộ thông minh, nhưng chẳng nhắm vào một mục đích nào cả, cũngnhư cái bọt bia trào ra rồi tẹt xuống; cái chai bia được mở ra tại đây mà không là ởchỗ khác tất cả sự quan tâm căng thẳng, nhưng kết quả chẳng để làm gì?

Thuyết “kỳ vọng tiêu tan tạo ra tiếng cười” theo Kant, điều nầy ảnh hưởng tốt đếnsức khoẻ của con người Hài là sự mâu thuẫn giữa cái thấp hèn và cái cao cả, nhưng

cả hai đều mang tính chất giáo dục

Mỹ học và Khoa học

Thông thường, người ta thường nói đến sự khác biệt và đối lập nhau giữa mỹ thuật

và khoa học Theo họ, nghệ thuật thì cần đến tinh thần tử do, phóng khoáng, giàurung cảm thì mới thực hiện được phong phú; nghệ thuật được nhà phê bình Lalomệnh danh là “trò chơi của trí tưởng tượng”; trong khi đó, thì tinh thần khoa họcđòi hỏi phải theo đúng tính logic tất yếu, đúng phương pháp, thể hện bằng hìnhthức bên ngoài, dễ nhận định và tìm thấy được

Tuy nhiên trong thực tế, có những hoà nhập cả hai tinh thần nghệ thuật và khoa họcvới nhau trong một số liên hệ nào đó Chẳng hạn: thi hào Goethe và nhà kiến trúckiêm họa sĩ danh tiếng Léonard de Vinci thì lại vừa là những nhà nghệ sĩ, cũng vừa

là những nhà khoa học Và trong sự phối hợp nầy đã đưa lại những kết quả vinhquang hơn

Tuy nhiên, trong thực tế, làm thế nào để có thể liên kết đưọc nghệ thuật và khoahọc, trong phương thức thực hiện? Nhà phêbình Denis Huisman giải đáp: Ðó chính

là nguồn vốn chung của hai khả năng nầy vốn có trong mỗi con người

Trong lich sử mỹ thuật của nhân loại, các sử gia đều nhận định: Nghệ thuật cũngnhư khoa học vốn được khai sinh từ vấn đề “tôn giáo”, trực tiếp hay gián tiếp.Những nhà trí thức cổ Hy Lạp và Ai Cập quan tâm sâu sắc trong ý nghĩa về việc

Trang 11

thờ tinh tú, để từ đó nẩy sinh ra khoa “chiêm tinh học” ngày càng mở rộng và có

hệ thống lý luận; người ta cũng đã bắt đầu bằng cách nghiên cứu nguyên nhân củacác hiện tượng trong những kinh điển tôn giáo, cũng giống như cố nắm bắt “thiện ýcủa các đấng thần thánh” đã từng mang lại sinh khí cho nền điêu khắc Hy Lạpcũng như những công trình kiến trúc của các giáo đường thời Trung Ðại Từ đó,kiến thức mỹ thuật và khoa học đã gần lại nhau hơn

Và cũng bằng nhận định về sự liên hệ nầy, quan điểm chung là: Kỹ thuật vốn lànguồn gốc của nghệ thuật và khoa học

Triết gia Auguste Comte khẳng định: Tính thực chứng của nghệ thuật chỉ có thể

rút ra từ bản chất tôn giáo, rời từ bản chất siêu hình học của nó, đả tiến dần đến tinh thần khoa học.

Trong buổi bình minh của nhân loại, vấn đề nầy được thê38 hiện rất rõ nét: Về kỹthuậ, người ta thừa hiệu được rằng: nó thường được coi như một trong những nhân

tố quan trọng nhất và cần thiết nhất trong sáng tạo nghệ thuật hay sự phát hiện khoahọc, vào buổi bình mih của nền khoa học Hy Lạp và Ai Cập

Mỹ học và chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism)

Ðịnh nghĩa: Chủ nghĩa thực dụng được hiểu trên nhiều lãnhb vực khác nhau, từ

triết học, xã hội, chính trị, khoa học và cả văn học William James (1842-1910)được coi là người phát triển thuyết nầy, và John Dewey là người kế thừa nó tại HoaKỳ; ông nầy thích gọi nó bằng “chủ nghĩa công cụ” (instrumentalism) Hai cáchnghĩ nầy có ý nghĩa và nội dung tương tự như nhau và đều thấm đượm việc coi nhẹtrí tuệ và tập trung nhiều về những vấn đề văn hoá, kỹ thuật Trong một chừng mựcnào đó, cả hai danh từ trên đều luôn luôn quy về kinh nghiệm thực tiễn, chứ khônghướng về vấn đề suy tưởng, luận lý hay siêu hình học

Hầu hết các triết gia Thực dụng đều xem các vấn đề siêu hình học đều là phùphiếm, không mấy quan trọng, nếu không muốn nói là vô nghĩa Theo quan điểmcủa họ, chỉ có kết quả thực tế mới tác động tích cực đến cuộc sống của chúng ta; đómới là chân giá trị, còn các giá trị khác đều phải được xem xét lại

Trong quá trình hình thành và phát triển, Charles Sanders Peirce đã sáng lập vàxác định tên gõi Chủ nghĩa Thực dụng; William James truyền bá học thuyết nầybằng các công trình phân tách nền tảng thực tế của nó; John Dewey nhấn mạnh cáckhía cạnh thực nghiệm và đặc tính công cụ của nó; F C S Schiller đã nối kếttrường phái nầy với Chủ nghĩa Nhân đạo (Humanism)

James viết: “Chủ nghĩa thực dụng trước hết chối bỏ mọi thứ định kiến sẵn có, mọi

thứ lý thuyết siêu hình Thái độ năng động và chỉ coi trọng kinh nghiệm ấy, có khi được coi là biểu hiện sự “trẻ trung” của người dân Hoa Kỳ muốn vươn lên về mặt văn hoá, chối bỏ mọi thứ giáo điều, kinh viện Chủ nghĩa nầy cũng nhất quyết chối

bỏ những thứ cấm kỵ và những khuôn mẫu có sẵn, thường làm tê liệt mọi hoạt động trong xã hội tiến bộ”.

Ðiều kiện căn bản: Trước hết là căn bản tư duy Những suy tư về lý luận chỉ được

chấp nhận, khi nó dẫn tới một sự việc có kết quả thực tiễn, hay có một mục tiêu vậtchất cụ thể để hướng đến Sự suy tư nầy chỉ được dùng như đường hướng, và chỉ

Trang 12

đúng khi kèm theo một hành động, mang lại những lợi ích cụ thể Như thế, tất cảđều phải được kiểm nghiệm và được đánh giá đúng theo tiêu chuẩn hiệu quả Ðó làđiều cốt lõi.

John Dewey (1859-1952) còn đi xa hơn nữa khi nói về giáo dục: Người ta chỉ biết

rõ những gì chính mình làm, còn thầy dạy gì đều phải mang ra tranh luận và phân tích lại Tự bản thân của mỗi sáng kiến đều tốt, vì đòi hỏi chúng ta phải đem ra thử nghiệm lại để xem kết quả ra sao, tự biết những sai lầm vấp phải và đánh giá đúng kết quả của nó.

Quan điểm nầy đã mnag lại những kết quả cụ thể trong những thí nghiệm côngnghiệp và công việc nghiên cứu sáng chế Từ đó, phát sinh tinh thần độc lập, sángtạo, và cũng là tinh thần tự do

Trong tư duy: Với chủ nghĩa Thực dụng được thể hiện trong tư duy, văn hoá, cá

nhân chủ nghĩa và tự do chủ nghĩa gắn chặt vào nhau; đây là thứ triết lý được coi là

“đặc biệt Mỹ” Về vấn đề ý thức, con người phải khẳng định tính độc lập của mình,

để xứng đáng với tự do mà mình được hưởng; đó chính là gốc rễ của chủ nghĩa cánhân và trong tự do sáng chế và kinh doanh

Tín ngưỡng: Theo James, trước những thăng trầm của xã hội ngày nay, con người

phải chiến đấu đơn độc cho cá nhân mình: một lần nữa, chính James đã đứng vàohàng ngũ của lý thuyết Thanh Giáo Chiến thắng trong cuộc đấu tranh ấy, văn hoá

sẽ nẩy sinh Ðây là bước đường là những người từng khai phá đất nước Hoa Kỳ đã

đi Họ đã trở thành những người xây dựng, những nhà phát minh, những nhànghiên cứu Họ đang cố gắng in dấu ấn của mình lên môi trường sinh sống, bằngcách sử dụng những khả năng và của cải mà họ đã khám phá, tích luỹ, phục vụ lợiích cho xã hội và cho nhân loại

Sáng tạo: James thường đề cao sức sáng tạo phi thường của con người Theo ông,

con người có bản chất sáng tạo không ngừng Họ tích lũy nhiều kinh nghiệm cánhân trong cuộc sống Ho dần dần xây dựng nên sự tiến bộ; do đó, sự năng độngcủa họ càng ngày càng tạo thêm nhiều của cải mới

Ðạo đức: Con người bẩm sinh đã có đạo đức - điều nầy, William James cũng giống

như Thomas Jefferson ở chỗ: Con người có thể tự mình vươn tới sự hoàn hảo Vìcon người vốn bản thiện, khi các thể chế xã hội đang sống phải để cho chúng tađược tự do hành động Vò con người “tánh bản thiện”, vốn có thể hoàn hảo, chonên phải để con người tự do, đúng theo ý nghĩa của danh từ nầy Ðó là nền tảngchính trị Hoa Kỳ

Tiêu chuẩn Chân lý Thực dụng

Tính hiệu dụng của một ý tưởng là tiêu chuẩn chân lý Thực dụng (the pragmaticcriterion of truth) Sự chân xác của một ý tưởng được kiểm tra qua kết quả của nó

mà thôi Nếu ý tưởng có công hiệu, thì nó là chân xác; còn nếu không mang lại kếtquả gì, thì không quan trọng và hoàn toàn vô nghĩa

Các triết gia Thực dụng đã không quan tâm đến các ý tưởng siêu hình thuần túy, vìchúng không bao hàm kết quả thực tế nào Theo nhận định của William James, bất

cứ một ý tưởng nào cũng phải có “giá trị hiện kim” (cash value), tức là khía cạnh

Trang 13

thực tế của nó, một yếu tố hữu dụng và hữu hiệu Bằng không, tính chính xác của

nó phải bị phủ nhận

Chủ nghĩa Thực dụng về sau lại phân hoá ra thành Thực dụng Tiêu cực (Negative

pragma+tism) và Thực dụng tích cực (Positive pragmatism) Ðại biểu cho chủ

nghĩa Thực dụng tiêu cực là William Ernest Hocking, triết gia nổi tiếng tại Ðại họcđường Harvard (James và Pierce cũng là giáo sư dạy triết ở đại học nầy) Hockingcho rằng: Một số ý tưởng thoạt đầu đề xuất ra có vẻ công hiệu, nhưng về sau thìđược chứng minh là sai lầm Trong một thời kỳ hữu hạn nào đó, một học thuyết tỏ

ra công hiệu, nhưng liệu rằng nó có thể không gặp thất bại không? Chỉ cần một thấtbại, cũng đủ làm sụp đổ tính chân xác của một ý tưởng

Ví dụ: Có những trường hợp, bệnh nhân khỏi được bệnh là nhờ vào yếu tố tâm lý

và lòng tin, buộc chúng ta phải xem xét lạinguyên nhân gây bệnh và hiệu lực củathuốc men

Với những lý giải trên, thuyết Thực dụng Tiêu cực cho rằng: Nếu một học thuyết có

công hiệu, nó chưa thực sự chân xác; nhưng nếu học thuyết ấy không công hiệu, nó không thể được xem là chân xác.

Theo quan điểm Thực dụng, chân lý là sự tương thích của một ý tưởng đối với thựctại - thực tại ở đây mang tính thiết thực và cụ thể, không phải là một dạng thực tạitrừu tượng Hơn thế nữa, chân lý có nhiều dạng khác nhau, không chỉ có một chân

lý mà thôi Các ý tưởng trở thành hiện thực và chúng chỉ được xem là chân lý, khiđược thể hiện qua kết quả và qua hoạt động

Với quan điểm nầy, James cho rằng: “Chân lý xẩy đến với một ý tưởng Nó trở thành hiện thực, được tạo thành hiện thực”.

Mỹ học thực dụng

Nền mỹ học thực dụng được thai nghén từ những năm cuối thế ỷ XIX ở Câu Lạc

Bộ Siêu hình Học ở đại học Harvard (Hoa Kỳ), Câu lạc bộ nầy về thực chất là một

tổ chức học thuật, tư tưởng, mỹ thuật bao gồm nhiều thành phần học hoả, trí thức

và giáo sư triết học, sử học, tâm lý học, pháp luật mà tiêu biểu rõ nét nhất làCharles Sander Peirce , John Dewey và Wiliam James Charles Sander Peirce(1839-1914) được xem như thủy tổ của thuyết Thực dụng của Hoa Kỳ Năm 1872,ông có một bài diễn thuyết ở Câu lạc bộ trình bày “Sự xác định niềm tin” trong đó,

đã xác lập những điểm cơ bản của thuyết Thực dụng Theo ông “ nhiệm vụ của tưduy là xác lập niềm tin; niềm tin dẫn đến hành động; và ý nghĩa của quan niệm là ởhiệu quả của hành động”

Năm 1898, Williams James (1842-1910) đã khai triển thêm tư tưởng thực dụng củaPeirce thành “nguyên lý đầu tiên về chủ nghĩa thực dụng”, xem đó là một phươngpháp cần thiết để giảỉ quyết mọi vấn đề thuộc nhiều phạm vị: tôn giáo, nghệ thuật,triết học James đã nêu rõ những tiêu điểm của “chủ nghĩa thực dụng triệt để” và

“hữu dụng”, xem đó là hình thức điển hình về lý thuyết của kinh nghiệm và cũng làchân lý của chủ nghĩa thực dụng

Sau cùng, dựa trên cơ sổ lý luận của Pierce và James, John Dewey đã ra sức pháttriển thêm chủ nghĩa thực dụng để trở thành một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh và

Trang 14

khai triển trên nhiều địa hạt khác nhau về chính trị, giáo dục, đạo đức, và đặc biệt lả

cả về mặt lỹ học và lý luận văn học nữa Ý nghĩa “thực dụng” (Pragmatism)

(nguyên nghĩa là hành động) từ đó trở thành một trào lưu tư tưởng chính thống củaHoa Kỳ ở thế kỷ XX

Chủ nghĩa thực dụng trong mỹ học mang màu sắc hướng dẫn tư tưởng học thuậttheo một chiều sâu nhiều ý nghĩa thực tiễn Từ trước, Immanuel Kant, quan niệmchủ lưu của lý luận văn học và mỹ học phương Tây là căn cứ vào trí tuệ, ý thức vàtình cảm trong đời sống tinh thần, để quy định bản chất của 3 giá trị chính: Chân,Thiện, Mỹ Những tư tưởng triết học nầy thường xem cái Ðẹp trong thiên nhiên vàtrong cuộc sống luôn luôn gắn bó với cái thật, cái tốt trong tâm linh

Nhưng, chủ nghĩa thực dụng thì đi ngược lại Theo Dewey “Kẻ thù của thẩm mỹkhông phải là thực tiễn”, kinh nghiệm chẳng qua là sự nối tiếp và mở rộng kinhnghiệm của đời sống Với ông, nhiệm vụ của mỹ học, của triết lý nghệ thuật là khôiphục quan hệ mở rộng giữa tác phẩm nghệ thuật – hình thức tập trung cao độ củakinh nghiệm

Dewey cho rằng: “Muốn lý giải ý nghĩa của kinh nghiệm thẩm mỹ và nghệ thuật, điều cần thiết là tìm hiểu sâu về giá trị tinh thần và giáo dục Phảỉ khởi đầu tìm hiểu cái Ðẹp mà từ trước chưa được khai phá”.

Dewey đưa ra những ví dụ cụ thể: Một cầu thủ trên sân chơi đang hăng say, tự tin

và uyển chuyển chuyền bóng; một người làm vườn đang vun xới cây trồng chờngày gặt hái; một người thợ đang mải miết công trình cấu tạo đồ vật tất cả nhữngđiều nầy đều là hành động tiến hành nghệ thuật cả Với chủ nghĩa thực dụng, nghệthuật đem lại nguồn vui, sức sống và niềm tin Ðó chính là giá trị cao nhất trong bất

cứ hình thái nghệ thuật nào

Theo Dewey, cho dù là kinh nghiệm thô thiển, bình thường đi chăng nữa, chỉ cần làtập trung vào kinh nghiệm đích thức của cá nhân mình vốn có, thì có thể hiểu đượcbản chất của cái Ðẹp (trích “Nghệ thuật tức kinh nghiệm”)

Trong khi phân tách những công trình thực hiện về nghệ thuật, Dewey kịch liệt phê

phán những lý thuyết “tách rời kinh nghiệm thẩm mỹ và kinh nghiệm đời sống”;

ông lên án những người chỉ chú tâm vào những “công trình nghệ thuật cao siêu, bậcthầy” mà bỏ quên hẳn những việc làm nhỏ bé của con người bình thường, vì với họ,

đó cũng là thứ nghệ thuật sống của bản thân mình Theo ông, những tác phẩm được

tán dương như vậy, thì “chỉ nên đưa vào những Viện Bác Cổ”, chứ không phải là

nghệ thuật đúng nghĩa

Ông viết: “Những thứ được xem như là châu báu, hiếm hoi dưới con mắt của những “nghệ sĩ tài hoa”, đã thoát ly hẳn quảng đại quần chúng, cao quá không ai với tới, một thứ thời thượng Với quần chúng, những thứ đó trở nên nhạt nhẽo, kỳ quái là khác Ðó không phải là sự sống thực sự mà họ chứng kiến hàng ngày”.

Dewey chỉ trích triệt để quan điểm “quý tộc” và “duy mỹ”, mà từ trước đến nay,nghệ thuật chỉ có thể phục vụ cho một lớp người thời thượng, kiểu cách, hay chỉ hệlụy vào sách vở, lý luận cổ điển

Trang 15

Giải thích về nền nghệ thuật hiện đại, Dewey viết: Trong thời đại công nghiệphóa và cơ khí hóa như hiện nay, liệu những loại nghệ sĩ nầy có thể chạy theo máymóc, để sản xuất hàng loạt hay không? Và khi đó, giá trị nghệ thuật còn có ý nghĩa

gì hay không? Thành thử, phải hiểu nghệ thuật theo ý nghĩa “giá trị cuộc sống bìnhthường”, với biểu cảm của mỗi người

Trong tác phẩm “Truy tìm nghệ thuật”, Dewey viết: “Nghệ thuật là sản phẩm của

nhu cầu và kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của con người, Con người ngày nay thường phải sống trong thế giới đầy rẫy những nguy nan; vì muốn tìm sự

an toàn, họ phải tìm đến nghệ thuật; nhờ nghệ thuật mà lợi dụng sức mạnh của thiên nhiên, tạo ra những sản phẩm dùng trong cuộc sống hàng ngày Ðó mới chính là nghệ thuật chân chính”.

Trong thời gian về hưu, Dewey có tham gia diễn giảng tại Ðại hoc Harward về chủnghĩa thực dụng trong lịch sử Bàn về lịch sử mỹ học, ông giải thích theo quanđiểm của mình như sau: Trước hết, từ góc độ lịch sử, có những quan hệ giữa nghệthuật và kinh nghiệm Chẳng hạn: Những động tác “vũ đạo” và “kịch câm” là cộinguồn của nghệ thuật kịch, thì nó phát triển dần, với tư cách là một bộ phận củanghi thức tôn giáo và hoạt động chúc tụnh nhau Về âm nhạc: nó tồn tại rộng rãitrong khi ngón tay búng trên những sợi dây căng thẳng, hay gõ mạnh trên da thú bịtcăng, hay thổi trong thanh quản Về trang trí: Ngay trong thời kỳ bán khai, conngười còn sống trong những hang động, thì ngay chỗ ở của họ

Chủ nghĩa Công cụ (Instrumentalism)

Ðối với chủ nghĩa Thực dụng, tên tuổi của John Dewey gắn liền với chủ nghĩaCông cụ, hay đôi khi còn được gọi là chủ nghĩa Thực nghiệm

(Experimentalism) Theo Dewey, một ý tưởng hay một học thuyết chỉ được xem

như là những công cụ trí tuệ, chứ không là bản thân chân lý được Tri thức và ýtưởng là các “công cụ tư duy”, được lý trí vận dụng để giải quyết hiệu quả các vấn

đề cụ thể trong cuộc sống thực tế của chúng ta

William James đã giải thích “chủ nghĩa Công cụ” của Dewey như sau: Các học

thuyết là những khí cụ, không phải là câu trả lời cho những điều thần bí mà chúng

ta trông đợi Bất kỳ ý tưởng nào chúng ta có thể vận dụng được, bất kỳ ý tưởng nào giúp ta liên kết các lĩnh vực kinh nghiệm một cách hữu hiệu, giúp ta hành động một cách an toàn hơn, đơn giản hơn, ít tốn kém hơn thì đều là chân xác, theo ý nghĩa công cụ”.

TRIẾT THUYẾT MỸ HỌC

Những n hân vật tiên phong

Mỹ học được trình bày lần đầu tiên trong nền triết học Hy Lạp thời cổ Những tưtưởng thẩm mỹ quan của Héraclite và Hésiode tuy được trình bày rải rác nhiều nơi,tuy nhiên cũng đã đưa ra một bsố khái niệm quan trọng

Tiếp theo là ba nhà triết học Hy Lạp lờn hợp thành nền tảng đầu tiên của mỹ họcchính là: Socrate, Platon và Aristote Các nhà sử học nêu ra hình ảnh đó như sau:Socrate là tiếng chuông báo hiệu trước; Aristote là người kế thừa; Platon lả “vịThượng đế” thực thụ của muỹ học trong giai đoạn đó Thậm chí những nhà mỹ học

Trang 16

nổi tiếng về sau đó là Plotin và thánh Augustin chỉ làm cộng việc khai triển thêm tưtưởng của Platon mà thôi Họ chiếm ngự vai trò mỹ học thời đại Phục Hưng; Kant

là người tổng hợp khéo léo các tư tưởng trên để phân chia thêm nhiều chi nhánh

Ba nhà triết học có công khai triển mỹ học thời Ánh Sáng là: Hegel, Schelling vàSchopenhauer

Socrate (470-399)

Socrate thường đưa ra nhiều ẫn dụ về mỹ học khi đối thoại với càc đồ đệ của mình.Xénophon đã ghi chép lại trong thiên đối thoại “Những người đáng nhớ” và “Bữatiệc”, khi hướng dẫn cho nhà điêu khắc Cliton: “Trong nghệ thuật, cách biểu hiện

đáng yêu nhất của người mẫu là cách thể hiện vẻ đẹp thật sự của tâm hồn Vẻ đẹp

đó phác hoạ qua bằng cử chỉ, để đạt đến đỉnh cao nhất là vẻ đẹp của tinh thần Nếu thiếu đi, hình thể chẳng khác gì là “ngôi mộ”.

Ðây là cơ sở giáo dục đầu tiên về mỹ học Hy Lạp cổ thời

Cũng theo lập luận nầy, trong “Phédon” có đoạn dẫn giải: Mỹ học phân chia làm

hai loại: một loại thuộc vẻ đẹp đầu tiên, mà chỉ sự hiện hữu của nó cũng khiến cho

cảnh vật trở nên xinh đẹp; ta gọi là là “vẻ đẹp truyền cảm” Một loại thứ 2: Cái đẹp

không do những gợi ý từ bên ngoài hay những hướng dẫn của những nhà mỹ học

rành nghề, mà chính là “Vẻ Ðẹp tự nó” Ðây là điểm quan trọng nhất và bao trùm

nhất Cũng giống như các môn học khác: số học, hình học, thiên văn học, hoá học môn nào cũng có những sổ trường, tuy nhiên, cao nhất và bền vững nhất chíng là

“khoa học” Ðó là tinh thần tiến bộ của nhân loại

Ngày nay chúng ta cũng chỉ học được khái niệm mỹ học của Socrate qua các mẫuđối thoại ngắn ngủi đó Nhưng Socrate không còn nữa

Platon (427-347)

Có thể hiểu được quan điểm mỹ học của Platon qua phép biện chứng của ông.Cũng trong câu chuyện “Bữa tiệc” của Socrate kể trên, Platon đã tiếp nối bằngquan điểm mỹ thuật của mình như sau: Diotine là tên của nữ tiên tri, có một nền sởhọc vô cùng tận Chính bà đã dạy cho tôi (Platon) biết rằng: Yêu thích, ham muốnbao giờ cũng chứa mâu thuẫn: con người thường hay ham muốn cái mà người takhông có và thích cái mà người ta không có; tình yêu tuyệt vọng mang đầy hyvọng; tình yêu đã chết nhưng rồi cũng hồi sinh Như thế, tình yêu đã mang lại chochúng ta nắm bắt được Vẻ Ðẹp lý tưởng

Tuy nhiên, đạt đến Vẻ Ðẹp đó không phải là chuyện dễ Phải chịu đựng, thận trọngtrong suốt ngày đêm, như nhà tu khổ hạnh Phải hiểu thấu đáo giữa 2 mặt: chủ thểyêu và đối tượng được yêu, sự gắn bó cá nhân và sự ham thích Phải bỏ cái tầmthường, nắm bắt cái cao thượng Nghệ thuật cũng thế Và sau cùng, nghệ thuật siêuđẳng được thành tựu là “vị thế thứ 3” (Tertium quid), vượt lên trên cả hai mặt kểtrên

Platon đưa ra ví dụ: Khi bắt đầu yêu, người ta yêu thích thân thể đẹp; từ đó, tìnhyêu nẩy sinh để đồng hoá với dáng điệu, giọng nói, cử chỉ, ứng xử Sau cùng là tìnhyêu đam mê đến mù quáng

Ðại Cương

Trang 17

Vào thời đại Phục hưng trong lịch sử nhân loại đã có những thay đổi không ngừng,trên nhiều lãnh vực: khoa học kỹ thuật, chính trị, xã hội, văn hoá Từ chủ nghĩaGiáo điều, kinh viện vốn đã từng chế ngự trước đây, đã chuyển sang chủ nghĩa phêphán; từ một quan niệm khách quan đến một thái độ tương đối chủ nghĩa, thậm chíchủ quan chủ nghĩa, Mỹ học đã tiến tiển không ngừng, theo chiều hướng từ bỏ bản

thể học, chuyển sang tâm lý học Ðó là một trong những thay đổi của “cuộc cách

mạng Copernic”

Những điều trên đây có thể rút ra từ nguồn gốc, ý nghĩ và tầm quan trọng trong họcthuyết Kant, qua bản tổng kết di sản của nó, để đánh giá trở lại tiến trình của Mỹhọc từ thế kỷ 18 trở về sau

Ðường hướng dung hợp

“Vào ngay thế kỷ XVII, để thoát khỏi nền học kinh viện, những cuộc vận động triếthọc nhóm lên không ngừng Ðường hướng của họ tuy khác nhau, nhưng chung quythì vẫn theo đuổi một tham vọng lớn: chuyển đổi tư duy bản thân

Ðáng chú ý nhất là hai trào lưu lớn đã gây ảnh hưởng mạnh: chủ nghĩa duy

lý (intellectuelle) của Leibniz và Baumgarten và chủ nghĩ duy cảm (sensualisme)

của Burke Giữa hai cuộc vận động nầy, đã có một cuộc dung hòa khá tế nhị: chủnghĩa duy tâm phê phán của Immanuel Kant” Những điều trên đây trích ra từ bảntổng kết của phê ình ia Victor Basch trong tác phẩm vĩ đại nhan đề “Tiểu luận phêphán về Mỹ học của Kant”

Theo phân tách của Basch trong Tiểu luận nói trên, con đường dung hợp của Kantcòn tiến xa hơn nhiều Lý do là vì trong giai đoạn nầy đã mọc lên một lúc 8 trườngphái triết học và văn học khác nhau: Trường phái Descartes và văn học cổ điển ởthế kỷ Louis Lớn; tư tưởng của Locke, các xu hướng tình cảm chủ nghĩa của cácnhà văn học cuối thế kỷ, thuyết Leibniz với Shaftesbury, Crousaz, mỹ học “cảm

xúc” của tu viện trưởng Dubois; trường phái tâm lý học Anh của Addison,

Hutcheson; phái Bách Khoa Thư của Diderot; trường phái Ðức với Kônig,Gottsched, Lessing

Descartes (1596-1650)

Trước tiên, Descartes được xem là người khởi xướng nhị nguyên Siêu Hình luận(Metaphysical Dualism) có ảnh hưởng sâu sắc trong những thế kỷ tiếp nối sau đó.Descartes nnhận định rằng: Thực tại bao giờ cũng bao gồm 2 yếu tố cấu thành: tinhthần và vật chất Descartes chấp nhận chủ nghĩa hoài nghi của Montaigne Ôngluôn luôn coi những tác phẩm nghệ thuật như những hành động tự do, trong đó,tinh thần được khôi phục cho chính nó, nhờ nắm chắc được hướng riêng của nó, cóthể lao vào những sự thực hiện mới đến vộ tận ” Trong suốt đời, Descartes luônluôn bảo vệ một thứ “triết học về nghệ thuật”, lên án mạnh mẽ tu tưởng hàn lâm,kinh viện, chủ nghĩa cổ điển của Pháp

Ông luôn luôn đề cao sự tự do của người nghệ sĩ và sự phán đoán vô tư của nguờithưởng ngoạn Chính ông là người báo trước nhiều điểm quan trọng về “thuyếttương đối” của Kant

Trang 18

Harmensz Van Rijin Rembrandt (1606-1669)

Trong khuynh hướng lãng mạn và tả thực của ngành hội họa phương Tây (đặc biệt

là tại Hà Lan), Rembrandt đứng vào hàng đầu, với tất cả những giá trị kinh điển của tranh ông, với sắc thái khác nhau Ngoài ra, kỹ thuật “khắc acid” của Rembrandt vẫn chiếm hàng đầu “tiền bất cổ nhân, hậu bất lai giả”.

Tên thật của ông là Rembrandt Harmensz Van Rijin là họa sĩ, nghệ sĩ khắc acid,nhà hình họa Hà Lan, nghệ sĩ được tôn vinh làvĩ đại nhất của đất nước nầy Ôngsinh ở Leiden, học tiếng La-tinh ở đây, ghi danh ở một trường Đại học Nhân vănchừng vài tháng thì bỏ đi (1620) để học hội họa với Jacob Van Swanenburgh trong

3 năm nhưng không thu hoạch kiến thức gì mấy trong ngành nầy Năm 1624Rembrandt lại theo học với Pieter Lastman ở Amsterdam, nhưng rồi cũng bỏ, đểbắt đầu quyết định cho đường hướng riêng của mình trong tìm tòi, nghiên cứukhông ngừng Ông chú trọng nhiều về các đề tài tôn giáo và thần thoại, cách thựchiện 2 thể tài đó, với ánh sáng và màu sắc rực rỡ

Bức họa đầu tiên theo phong cách nầy là "Ném đá Thánh Stephane” (1625) Sau đó

có tìm đến học hiểu với Jacob Pynas về lãnh vực nầy, nhưng cũng không thâu thái

gì mấy

Cuối cùng, Rembrandt hoạt động nghệ thuật với tư cách một họa sư độc lập ởLeiden Một thời, ông mở xưởng vẽ chung với Jan Lieviens ở Leiden Những tácphẩm của ông trong thời kỳ nầy là loại tranh có nhân vật trong Thánh kinh Năm

1631, ong quyết định đến Amsterdam để nghiên cứu và sáng tác Ông cũng chuyên

về loại vẽ chân dung, vì theo ông, đó là nền tảng để thực hiện các chủ đề khác.Người mẫu của ông là Nicolaes Ruts, một thương gia giàu có tại Amsterdam Ðây

là thời kỳ bận rộn nhất trong đời ông và ông nhanh chóng trở thành họa sĩ chândung hàng đầu của thành phố nầy trong khoảng thời gian 1632-1633

Bức tranh quan trọng nhất minh chứng rõ tài năng bột phát của ông trong giai đoạn

nầy là "Bài học giải phẫu của giáo sư Tulp", hoạ phẩm mang lại một sinh khí hoàn

toàn mới lạ cho thể loại chân dung Năng lực lớn lao cua Rembrandt trong nhữngnăm đầu tại Amsterdam cũng thể hiện trong loại tranh tôn giáo Công trình quan

trọng nhất mà ông được giao cho trong thập niên 1630 là 5 bức tranh mô tả "Khổ nạn của Chúa".

Khuynh hướng Baroque của tranh ông trong thời kỳ nầy còn được biểu hiện mạnh

mẽ hơn trong bức tranh "Đám mù mắt Samson" (1636) Ông được giới thiệu bứctranh nầy với nhà ngoại giao Constantin Huygens, và do đó, ông được giới thiệuvới Phó vương Frederich Henri (1584-1647), đã giao cho ông vẽ 5 bức tranh nóitrên Thập niên 1630 là những năm thành công nhất về mặt cá nhân và nghề nghiệpcủa ông Năm 1634, ông thành hôn với Saskia van Uylenburch, em họ của một nhàbuôn tranh có quan hệ với ông Nhưng rồi hạnh phúc cũng tan biến nhanh: nàngSaskia qua đời, Những đứa con của họ lần lượt mang trọng bệnh và chết, ngoại trừ

bé Titus

Cuộc sống sa sút dần, trong khi đó thì tranh chân dung của Rembrandt đã khôngcòn ăn khách nữa, mà khách hàng lại đổ xô thuê hai đệ tử của ông là Bol và Flinck,

Trang 19

với phong cách mới lạ và lộng lẫy của họ Rembrandt lại gặp những tai ương khác

về kiện tụng với người vú nuôi của cậu Titus là Geertge Dicx Năm 1656, ông lạigặp những khó khăn khác về tài chánh đến nỗi phải đem bán bộ sưu tập tranh quýgiá của mình gom góp trong mấy chục năm qua Trong thời gian nầy, ông còngiành thì giờ để sáng tác thêm một số họa phẩm giá trị khác: "Đại biểu của nghiệp

đoàn nhà buôn vải" (1661) và "Cuộc âm mưu của Claudius Civilis" (1662)

Những năm sau cùng của đời mình, Rembrandt càng gặp nhiều tai họa khác, tuynhiên nghệ thuật hội họa của ông không suy giảm chút nào Trái lại tác phẩm củaông càng tỏ ra thấu đáo nhân tình và lòng trắc ẩn; các chân dung tự họa của ôngcho thấy ông đương đầu khó khăn với tâm hồn cao thượng Khi chết, ông còn để lạibức tranh dang dở "Simon với Chúa hài đồng ở đền thờ" Bức tranh được coi là thực

chứng của ông nhất trong giai đoạn nầy là "Đứa con hoang tàng trở về" mà

Kenneth Clark cho là "Bức tranh vĩ đại chưa từng có"

Trong nghệ thuật trang trí và biểu cảm, Rembrandt thành công xuất sắc khi thể hiện

về sâu cảm xúc và phạm vi sáng tác của mình Ông luôn luôn có những sáng tạohoàn toàn mới lạ rong kỹ thuật diễn đạt của mình, với những dụng cụ thô sơ, nhưngthành công thì không mấy ai kỳ kịp được

Trong quá trình nghiên cứu sáng tác, ông luôn luôn chú trọng về mặt trau chuốt mặttranh, chú trọng trong từng chi tiết thể hiện Qua những sáng kiến khám phá rađược, họa pháp của Rembrandt càng ngày càng phóng khoáng hơn, mở đường cho

kỹ thuật trang trí mới của thế kỷ 19 và 20

Khi đề cập về thiên tài nầy, nhà phê bình nghệ thuậr Houbranken đã viết: Trongnhững năm sau cùng của đời nghệ thuật của mình, ông tập trung sáng tác đến độnhanh bất ngờ, đồng thời cũng tạo ra những đột phá kỳ lạ không ngờ đến được.Trong những trường phái hội họa Hà Lan, Rembrandt cách biệt với tất cả các họa sĩkhác, đồng thời, không chỉ do phẩm chất tranh của ông trong thời kỳ nầy, khôngchỉ do phẩm chất trong tranh của ông mà còn do phạm vi rộng lớn của phương thứcthực hiện nữa Mặc dù loại tranh chân dung và tôn giáo chiếm phần lớn nhất trongcác thể loại tranh của Rembrandt, tuy nhiên, chính ông cũng đã đóng góp nhiều cácthể loại khác, trong đó loại tranh tĩnh vật đạt một giá trị cao và tiêu biểu cho giaiđoạn nầy

Ngoài ra, về phương diện kỹ thuật Rembrandt là hoạ sĩ chuyên khắc acid và cũng làhọa viên tuyệt diệu Ông được mọi người coi là họa sĩ chuyên khắc acid vĩ đại nhất

từ trước đến nay, có khả năng diễn tả những cảnh sống động của những vùng thiênnhiên bát ngát của Hoà Lan, khung cảnh khoáng đảng vói nét bút khoái hoạt nhất.Những hình họa của ông phần lớn là tác phẩm độc lập hơn là loại khảo họa để vẽtranh và thường vẽ bằng nét lớn với bút sậy là sở trường không mấy ai bì kịp được.Rembrandt cũng đã ra cônn đào tạo một số tài danh hội họa đường thời ở Hoà Lancũng như những lân bang khác Gerald Dou là môn đồ đầu tiên của ông, danh tiếngvang lừng khắp nơi và thể hiện đầy đủ những kỹ thuật khắc họa tinh vi mà chínhRembrandt đã truyền thụ lại Aert de Gelder cũng là môn đồ khác, chuyên về tranh

vẽ thiên nhiên và trường phái ấn tượng sâu sắc Ngoài ra, còn có những họa sĩ

Trang 20

thành danh khác được Rembrandt đào tạo như trường hợp Carel Fabritius, Philips

de Koninck, Nicolas Maes Tuy nhiên, những hoạ sĩ nầy dần dà đã bỏ những chuẩnmực chính xác của thầy mình, để có thể thích nghi với thị hiếu dễ dãi hơn.Rembrandt cũng biên khảo nhiều tài liệu về kỹ thuật hội họa khắc bằng acid, màsau nầy các bộ Bách Khoa Hội họa dùng làm đề tài để truyền đạt lại

Tiếng tăm của Rembrandt vang lừng chẳng những tại Hoà Lan, mà khắp Âu Châu.Sau khi qua đời, Rembrandt vẫn được nhiều người ngưỡng mộ Hầu hết tranh ôngđược bán với giá cao và nhiều nhà sưu tầm hội họa vẫn không ngừng tìm kiếm vớibất cứ giá nào, tuy số lượng tranh có giới hạn và thực hiện khiêm tốn Tính chấtlãng mạn trong tranh Rembrandt đã trở thành “thể loại kinh điển” tại những trườngHội họa sau nầy

Kỹ thuật sử dụng sáng tối của ông thường được coi là vô song, điển hình cho nghệthuật trang trí sau nầy Trong giai đoạn phát triển cao của trường phái lãng mạn,tranh của Rembrandt được xem là kiểu mẫu nhất, kể cả những người phê bình “tínhthông tục” đến mức tả chân cao nhất của ông

Ðánh giá tài năng của Rembrandt vẫn là cuộc tranh luận hiện nay Nhà phê bình nổitiếng Delacroix (1851) đã viết về ông như sau: Trong một lãnh vực nào đó (tả chân

và lãng mạn) tài năng của Rembrandt vẫn cao hơn Raphael; loại tranh nầy đã khiến cho giới phê bình Hàn lâm, cổ điển phải dựng tóc gáy.

Immanuel Kant (1724-1804)

Tiểu sử: Ông là nhà triết học Ðức, đại diện tiêu biểu cho triết học cổ điển, người

sáng lập ra triết học phê phán Sinh năm 1724, trong một gia đình quý tộc Phổ tạiKenixbec; sau đó theo học trường Ðại học Tổng hợp Kenixbec Ông được thụhưởng một nền giáo dục Cơ Ðốc Giáo khá nghiệt ngã, và nó trở thành một nhân tốquyết định ảnh hưởng đến toàn bộ tư tưởng triết học của ông

Cuộc đời của Kant là cuộc đòi bình thản của một nhà học giả uyên bác, không mấykhi ra khỏi thành phố nơi sinh sống của mình, làm nghề dạy học (môn siêu hìnhhọc và các môn tự nhiên khác), nghiên cứu không ngừng và suy nghĩ không ngùng

về những vấn đề vũ trụ, nhân sinh và mỹ thuật

Mãi cho đến năm 57 tuổi, ông mới trình bày hệ thống tư tưởng đợc đáo của mìnhtrong cuốn “Phê phán lý tính thuần túy” (Die Kritik ser reinen Vernunft –1781) Làmột trong những học giả uyên bác nhất đương thời, ông để lại nhiều tác phẩm nổitiếng

Ngày đăng: 29/11/2015, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w