Chi ngân sách nhà nước với thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Phúc lợi vật chất được đo bằng giá trị hàng hoá và dich vụ mà nền kinh
tế sản xuất ra Nghiên cứu tăng trưởng kinh tế là nghiên cứu về khả năng củacác nền kinh tế sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ
Những câu hỏi thường được đặt ra như: vì sao một số nền kinh tế giàu
có về vật chất trong khi các nền kinh tế khác lại nghèo? Vì sao một số nềnkinh tế lại nhanh chóng giàu lên trong khi các nền kinh tế khác vẫn cứ nghèo.Chẳng hạn những người dân trung lưu ở các nước giàu như Mỹ, Nhật lại cómức sống cao hơn những người dân trung lưu ở các nước nghèo Mức chênhlệch cuộc sống Người dân ở nước giàu tiện nghi nhiều cho cuộc sống, đượcchăm sóc y tế tốt hơn và có tuổi thọ cao hơn
Xét theo thời gian, ngay cả trong 1 nước mức sống cũng thay đổi rấtnhiều Và tất cả là do yếu tố tăng trưởng kinh tế tác động lên
Nghĩa là vấn đề tăng trưởng kinh tế là một vấn đề quan trọng tác độnglên cuộc sống của người dân Nó có vai trò quan trọng trong việc thực hiệncác chính sách của nhà nước
Trang 2I TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - MỘT MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ QUAN TRỌNG
1 Khái quát chung về tăng trưởng kinh tế
Mục tiêp phát triển kinh tế của một quốc gia luôn là mục tiêu quantrọng hàng đầu Hiện nay, lại có một thực tế rằng tỷ lệ tăng trưởng của cácnước cũng rất khác nhau Tại một số nước Đông Á như Singapor hay HànQuốc, thu nhập bình quân đầu người đã tăng 7% mỗi năm trong mấy thập kỷqua Trái lại, tại một số nước như Etiopia và Nigiêria, thu nhập bình quânkhông thay đổi trong thời gian dài
Vậy đâu là nguyên nhân của sự khác biệt ấy
Để đánh giá thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia, người ta sử dụngmột trong những thước đo quan trọng nhất đó là tổng sản phẩm trong nước(GDP) Qui mô GDP thực tế là chỉ tiêu tốt nhất để phản ánh sự thịnh vượngcủa nền kinh tế và mức tăng trưởng của GDP thực tế là chỉ tiêu tốt nhất vềtiến bộ kinh tế
Khi một nước có tăng trưởng kinh tế, thì dân cư trong nước nhìn chung
sẽ có cuộc sống sung túc hơn Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự giatăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian Nghiên cứu tăngtrưởng kinh tế là nghiên cứu về khả năng của các nền kinh tế sản xuất ra hànghoá - dịch vụ
Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi củamức sản lượng quốc dân:
g = x 100%
Trong đó: gt là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t
Y là GDP thực tế của thời kỳ tThước đo trên có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số tăng lên rất nhanhtrong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm Do đó các nhà kinh tế đã xâydựng một định nghĩa khác có thể thích hợp hơn về tăng trưởng kinh tế theomức sản lượng bình quân đầu người Theo đó, tăng trưởng kinh tế tính bằng
Trang 3phần trăm thay đổi của GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ nghiêncứu so với kì trước - thông thường tính cho 1 năm
gpct = x 100%
gpct là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người của thời kì t
Y là GDP thực tế BQ đầu người
2 Các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế
Thực tế cho thấy có sự khác biệt rất lớn trong tỉ lệ tăng trưởng, vị tríxếp hạng của các nước theo thu nhập thay đổi mạnh mẽ theo thời gian Nhưchúng ta đã biết Nhật - đất nước chịu hậu quả nặng nề sau chiến tranh thế giớithứ II- đã vươn lên trên nhiều nước khác Một nước tụt lại phía sau là Anh.Vào những năm 1870, Anh là nước giàu nhất thế giới và thu nhập bình quânđầu người cao hơn Mỹ khoảng 20%
Nhưng điều gì lý giải cho sự thay đổi ấy? Vì sao một số nước tăngtrưởng rất nhanh trong khi một số khác lại tụt hậu?
Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng: tăng trưởng kinh tế đượcquyết định bởi các yếu tố sau:
a) Mục tiêu của tăng trưởng kinh tế
Chúng ta không có gì phải nghi ngờ về tầm quan trọng của sự tăngtrưởng với tư cách là một mục tiêu chính sách của mọi quốc gia Sự tăngtrưởng tạo điều kiện để nâng cao mức sống và đẩy mạnh an ninh quốc gia Nókích thích kinh doanh táo bạo, khuyến khích sự đổi mới và mang lại một sựkhích lệ thường xuyên đối với hiệu quả kĩ thuật và quản lý Hơn nữa một nềnkinh tế đang tăng trưởng tạo thuận lợi cho tính năng động về mặt kinh tế và
Trang 4Tuy nhiên trong quá trình phát triển đến nay, các tiến bộ khoa học côngnghệ đã chứng tỏ sự ngần ngại trên là không cần thiết và con người có khảnăng khắc phục điều đó.
b) Năng suất - yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tăng trưởng
Ta đã thấy được tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế và hoạt động
đó là mục tiêu của các chính phủ Nhưng một câu hỏi đặt ra là vậy điều gìquyết định tăng trưởng
Lời giải thích có thể gói gọn trong 1 từ duy nhất "Năng suất"
Thuật ngữ "năng suất" phản ánh lượng hàng hoá - dịch vụ mà một côngnhân sản xuất ra trong mỗi giờ lao động Năng suất cũng đóng vai trò quyếtđịnh mức sống của một nước
Hãy nhớ rằng tổng sản lượng trong 1 nước phản ánh đồng thời tổng thunhập của tất cả các thành phần trong nền kinh tế và tổng chi tiêu cho sảnlượng hàng hoá - dịch vụ của nền kinh tế
Đất nước chỉ có thể hưởng thụ cuộc sống tốt đẹp hơn khi nó sản xuấtđược lượng hàng hoá - dịch vụ lớn hơn Người Mỹ sống sung túc hơn ngườiNigiêria vì công nhân Mĩ có năng suất cao hơn công nhân Nigiêria Nghĩa làmức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụcủa nước đó
c) Các nguồn lực của tăng trưởng kinh tế
Sau khi đã nghiên cứu mục tiêu của tăng trưởng và yếu tố năng suất,người ta lại đặt ra một câu hỏi: Vì sao một số nền kinh tế lại có khả năng sảnxuất ra nhiều hàng hoá - dịch vụ hơn các nền kinh tế khác?
Để trả lời được câu hỏi đó ta cần xem xét về các nguồn lực của tăngtrưởng Nguồn lực hay chính là các nhân tố quyết định tăng trưởng, gồm:nguồn nhân lực, tích lũy tư bản, tài nguyên thiên nhiên và tri thức công nghệ.Các nhân tố này cũng tồn tại và quyết định năng suất của các nền kinh tế hiệnthực nhưng phức tạp hơn
Trang 5Vốn nhân lực là yếu tố đầu tiên quyết định đến tăng trưởng kinh tế củamột nước.
Nhiều nhà kinh tế cho rằng chất lượng đầu vào lao động - kỹ năng, kiếnthức và kỷ luật của lực lượng lao động - là yếu tố quan trọng nhất của tăngtrưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác của sản xuất như tư bản hiện vật,nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay được trong nền kinh tếthế giới Một nước có thể nhập khẩu các thiết bị thông tin viễn thông, máytính, máy phát điện, các loại máy móc hiện đại nhất Nhưng những hãng tưbản này chỉ có thể được sử dụng một cách hiệu quả nhất nếu như người côngnhân có kỹ năng và được đào tạo, có trình độ văn hoá, kỷ luật lao động caolàm cho năng suất lao động tăng, và người quản lý có tri thức và khả năngquản lý những quy trình công nghệ hiện đại một cách có hiệu quả
Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụ laođộng hơn khối lượng trang thiết bị và cơ sở vật chất dùng trong quá trình sảnxuất ra hàng hoá và dịch vụ được gọi là tư bản hiện vật hay viết gọn là tư bản
Ví như khi người thợ mộc làm việc, anh ta có cưa, bào, đục, máy tiện… Việc
có nhiều công cụ hơn cho phép người thợ làm việc nhanh và chính xác hơn.Nghĩa là trong một tuần người thợ mộc với dụng cụ thô sơ sẽ làm ra ít sảnphẩm hơn so với người có công cụ tinh vi, chuyên cho nghề mộc Tư bản hiệnvật biểu thị yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà trước đó đã từng là đầu
ra của nó Tư bản hiện vật là nhân tố sản xuất được dùng để sản xuất ra tất cảcác loại hàng hoá và dịch vụ, trong đó có bản thân tư bản
Bản thân tư bản hiện vật của một nước tăng trưởng theo thời giannhưng tăng nhanh hoặc chậm phụ thuộc vào quá trình tích luỹ tư bản Nhưngnhư chúng ta biết tích luỹ tư bản cần có sự hy sinh tiêu dùng hiện tại trongnhiều năm Nhưng nó tăng trưởng nhanh có xu hướng đầu tư mạnh vào hànghoá tư bản mới, ở những nước tăng trưởng nhanh nhất, 10 20 % thu nhậpdành cho tích luỹ tư bản - yếu tố tác động đến tăng trưởng Khi bàn đến tưbản chúng ta không chỉ đề cập đến nhà xưởng, máy móc Nhiều đầu tư do
Trang 6chính phủ tiến hành và đặt nền móng cho sự phát triển của khu vực tư nhân.Những đầu tư này được gọi là tư bản cố định xã hội và bao gồm dự án lớnnhư mở đường cho các hoạt động thương mại Đường sá và các dự án về nước
và thuỷ lợi, các biện pháp yếu tố cộng đồng là những ví dụ quan trọng Tất cảnhững dự án này gồm những khoản đầu tư lớn thường không thể chia nhỏđược hay đầu tư trọn gói và nhiều khi có lợi tức tăng dần theo quy mô Và cáckhoản đầu tư này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế - chính phủ phải thamgia vào để đảm bảo những đầu tư cơ sở hạ tầng hay tư bản xã hội được thựchiện
Tài nguyên thiên nhiên một trong những yếu tố sản xuất quan trọng củanền kinh tế Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
do thiên nhiên mang lại như đất đai, sông ngòi và khoáng sản Có 2 loại tàinguyên thiên nhiên: loại tái tạo được và loại không tái tạo được Dầu mỏ là tàinguyên thiên nhiên thuộc loại không tái tạo được; rừng cây là ví dụ về tàinguyên tái tạo được
Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ra một số khác biệt vềmức sống trên thế giới Sự thành công có ý nghĩa lịch sử của Mỹ bắt nguồn từcung đất đai mênh mông, thích hợp cho ngành nông nghiệp Ngày nay một sốnước ở vùng Trung Đông như Cô-oét và Ả rập Xêút rất giàu chỉ vì họ sốngtrên những giếng dầu lớn nhất thế giới
Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng, nhưng đókhông nhất thiết là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao trongviệc sản xuất hàng hoá và dịch vụ Ví dụ, Nhật là một trong những quốc giagiàu nhất thế giới mặc dù không có tài nguyên thiên nhiên Thương mại quốc
tế là nguyên nhân thành công của nước Nhật Nhật nhập khẩu rất nhiều tàinguyên thiên nhiên cần thiết, chẳng hạn dầu mỏ, rồi xuất khẩu hàng côngnghiệp sang các nước có nhiều tài nguyên
Cùng với ba nhân tố sản xuất đã thảo luận ở trên, tăng trưởng kinh tếcòn phụ thuộc vào nhân tố hết sức quan trọng là tri thức công nghệ Trong
Trang 7lịch sử, tăng trưởng của các nước trên thế giới có hình mẫu khác nhau khôngphải là quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng đem lại mộtbước tiến xa về khả năng sản xuất của các nước châu Âu, Mỹ, Nhật và cácnước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapor…
Nhân tố cuối cùng quyết định năng suất là tiến bộ công nghệ Cách đâymột thế kỷ, đa số người Mỹ là nông dân, bởi vì kỹ thuật trồng trọt hồi ấy đòihỏi nhiều lao động để làm ra lượng lương thực cần thiết cho mọi người Ngàynay nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật trồng trọt, chỉ một phần nhỏ dân số làmviệc trong nông nghiệp cũng đủ nuôi sống toàn xã hội Sự thay đổi về côngnghệ như thế cho phép chuyển lao động sang các ngành sản xuất ra hàng hoá
và dịch vụ khác
Thay đổi công nghệ là những thay đổi trong quá trình sản xuất hoặc đưa
ra những sản phẩm mới sao cho có thể tạo ra được sản lượng nhiều hơn và cảitiến hơn cùng với một lượng đầu vào Những phát minh đã làm năng suất tăngnhanh là động cơ hơi nước, máy phát điện, bóng đèn, động cơ đốt trong, vàmáy bay phản lực hạng nặng chở khách Những thay đổi công nghệ cơ bản lànhững phát minh ra sản phẩm mới như điện thoại, máy thu thanh, máy bay,máy ảnh, vô tuyến truyền hình và máy tính Những phát minh này là nhữngphát minh nổ bật nhất trong kỷ nguyên hiện đại đang diễn ra trong ngành điện
và tin học mà một máy tính xách tay nhỏ bé ngày nay có công suất vượt xamáy tính nhanh nhất của những năm 1960 Những phát minh này là những ví
dụ đặc sắc nhất về thay đổi công nghệ Tuy nhiên thay đổi công nghệ trênthực tế là một quá trình liên tục bao gồm những cải tiến lớn, nhỏ Những cảitiến nhỏ là bộ phận của sự tiến bộ đều đặn của nền kinh tế
Tiến bộ công nghệ có tầm quan trọng lớn trong việc nâng cao mứcsống, các nhà kinh tế từ lâu đã suy nghĩ làm thế nào để khuyến khích tiến bộcông nghệ Rõ ràng rằng thay đổi công nghệ khhông phải là quá trình cơ họcđơn giản của việc đi tìm những sản phẩm và quá trình sản xuất tốt hơn Thay
vì thế, sáng kiến nhanh đòi hỏi phải nuôi dưỡng một tinh thần kinh doanh
Trang 8Trên đây là 4 nguồn của tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên các nhân tố đó
có thể khác nhau rất nhiều giữa các nước và một số nước có thể kết hợpchúng hiệu quả hơn các nước khác
Trang 93 Vấn đề về chi ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính thống nhất, ngân sách nhà nước là khâu tàichính tập trung giữ vị trí chủ đạo Ngân sách nhà nước cũng là khâu tài chínhđược hình thành sớm nhất, nó ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự rađời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền
tệ Cho đến nay thật ngữ "ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trongđời sống kinh tế xã hội của mọi quốc gia Ngân sách nhà nước là bảng liệt kêcác khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà nước Nó
có vai trò rất quan trọng trong mọi mô hình, là công cụ điều chỉnh vĩ mô nềnkinh tế xã hội và là vai trò quan trọng của ngân sách nhà nước trong cơ chế thịtrường
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối sử dụng quỹ ngân sáchnhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụcủa nhà nước
Thực chất chi ngân sách nhà nước chính là việc cung cấp các phươngtiện tài chính cho các nhiệm vụ của nhà nước Song việc cung cấp này cónhững đặc thù riêng
Thứ nhất chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với những nhiệm vụkinh tế, chính trị, xã hội mà chính phủ phải đảm nhận trước mỗi quốc gia.Mức độ phạm vi chi tiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào tính chất nhiệm
vụ của Chính phủ trong mỗi thời kỳ
Thứ hai là tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước được thểhiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệuquả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao Chính vì vậy, trong công tác quản
lý tài chính, một yêu cầu đặt ra là: Khi xem xét, đánh giá về các khoản chingân sách nhà nước, cần sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu định tính và các chỉtiêu định lượng, đồng thời phải có quan điểm toàn diện và đánh giá tác dụng,ảnh hưởng của các khoản chi ở tầm vĩ mô
Trang 10Thứ ba là xét về mặt tính chất phần lớn các khoản chi ngân sách nhànước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính baocấp Chính vì vậy các nhà quản lý tài chính cần phải có sự phân tích, tính toáncẩn thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu để tránhđược những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhànước.
Tuỳ theo yêu cầu của việc phân tích, đánh giá và quản lý ngân sáchtrong từng thời kỳ người ta có thể phân chia các khoản chi ngân sách nhànước theo nhiều tiêu thức khác nhau
Trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung ởnước ta trước đây, nộ dung các khoản chi ngân sách nhà nước được phân loạidựa trên các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Đây là cách phân loại chủyếu thời kỳ này
Theo chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, nội dung chi tiêu ngân sáchnhà nước bao gồm, chi kiến thiết kinh tế, chi văn hoá- xã hội, chi quản lýhành chính, chi an ninh quốc phòng và các khoản chi khác Trong các nềnkinh tế thị trường và ở nước ta hiện nay, cách phân loại nội dung chi tiêu ngânsách nhà nước theo tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng phổbiến Đây cũng là cách phân loại quan trọng nhất, nó trình bày nội dung chitiêu của chính phủ để qua đó người ta có thể nhận rõ và phân tích, đánh giánhững chính sách, chương trình của chính phủ thông qua các kinh phí để thựchiện các chương trình, chính sách đó
Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước được chia ra làm thành 2phần chính Đó là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
Chi thường xuyên là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và
có tính chất thường xuyên để tài trợ cho hoạt động của các cơ quan nhà nướcnhằm duy trì đời sống quốc gia Về nguyên tắc các khoản chi này phải đượctài trợ bằng các khoản thu không mang tính hoàn hảo trả (thu trong cân đối)của ngân sách nhà nước
Trang 11Chi thường có bao gồm có ba vấn đề chính đó là chi về chủ quyền quốcgia, chi liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan nhànước và chi phí cho sự can thiệp của nhà nước Chi quốc gia tức là các chi phí
mà các chi phí mà các cơ quan nhà nước cần phải thực hiện để bảo vệ chủquyền quốc gia, nhất là trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao,thông tin đai chúng…
Chi liên quan đến điều hành của cơ quannn để thực hiện những nhiệm
vụ được giao phó chi do sự can thiệp của nhà nước để nhằm mục đích hỗ trợ
và phát triển các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội để cải thiện đời sống nhândân Những chi pihí này thuộc loại chi phí chuyển nhượng như: trợ cấp chocác cơ quan nhà nước để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, trợ cấp cho cácđối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ quỹ BHXH, trả lãi, nợ của Chính phủ…
Còn chi đầu tư phát triển là tất cả các chi phí làm tăng thêm tài sản quốcgia, gồm có chi mua sắm máy móc, thiết bị và dụng cụ
Chi xây dựng mới và tư bổ công sở, đường sá, kiến thiết đô thị
Chi cho việc thành lập các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn vào cáccông ty, góp vốn vào các đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh
Cácchi phí chuyển nhượng đầu tư và những chi phí đầu tư liên quan đến
sự tài trợ của nhà nước dưới hình thức cho vay ưu đãi hoặc trợ cấp cho nhữngpháp nhân kinh tế công hay tư để thực hiện các nhiệm vụ đồng loại với cácnghiệp vụ nêu trên, nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế của nhànước
II VẤN ĐỀ NSNN ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Để bắt đầu nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế dài hạn, chúng ta cần nhìnvào thực tế của một số nền kinh tế trên thế giới
Ở Nhật vào thời kỳ 1890 thu nhập thực tế bình quân đầu người là 1196
đô la, đến 1997 là 23400 đô la ta nhận thấy tỉ lệ tăng trưởng hàng năm là 2,82
Ở Brazin năm 1900 có mức thu nhập thực tế bình quân đầu người đầu
kỳ là 619 đô la, năm 1997 là 23400 có tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 2,41