Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Với mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống về sự phát triển của chế định quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế và sự phát triển của những quy định đối với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THÔ
KHOA LUẬT
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠMTỘI
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT CHUYÊN NGÀNH LUẬT TƯ PHÁP NIÊN KHÓA 1999 - 2003
SV thực hiện: LÂM TỐ TRANG Giáo viên hướng dẫn: Ths PHẠM VĂN BEO
MSSV: 5992717 Giảng viên Bộ môn Luật Tư pháp
Cần Thơ - 7/2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật niên khóa 1999 - 2003 về đề tài “Pháp
luật hình sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội” được hoàn thành
dưới sự giúp đỡ, động viên từ nhiều phía Trước tiên, tác giả xin trân trọng gửi lời
cảm ơn đến Thầy PHẠM VĂN BEO, người đã luôn tận tình trao đổi, hướng dẫn
tác giả trong suốt quá trình làm luận văn, đồng thời đã cung cấp cho tác giả những kiến thức nền, những tài liệu cơ bản định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô, các anh chị và các bạn sinh viên trong Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ tác giả trong thời gian thực hiện đề tài này
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU - 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ QUYỀN TRẺ EM - 4
1.1 Khái niệm về trẻ em và người chưa thành niên - 4
1.1.1 Khái niệm về trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật quốc tế - 4
1.1.2 Khái niệm về trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam - 5
1.1.3 Người chưa thành niên - Đối tượng bảo vệ đặc biệt của pháp luật - 6
1.2 Khái niệm về quyền trẻ em - 8
1.2.1 Khái niệm về quyền trẻ em - 8
1.2.2 Quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế - 9
1.2.3 Các quyền cơ bản của trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam -16
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI -23
2.1 Từ nguồn gốc đến trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 -23
2.1.1 Thời kỳ phong kiến -23
2.1.2 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược -26
2.2 Từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 -28
2.2.1 Từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến năm 1954 -28
2.2.2 Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975) -29
2.2.3 Từ khi đất nước thống nhất năm 1975 cho đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 -30
2.3 Từ khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999 -32
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 42.4 Những quy định về người chưa thành niên phạm tội trong luật hình
sự Việt Nam hiện hành -33
2.4.1 Đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội -34
2.4.2 Các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội -37
2.5 Những điểm mới của Bộ luật Hình sự hiện hành so với Bộ luật Hình sự năm 1985 -42
2.5.1 Vừa mở rộng vừa thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội -42
2.5.2 Thay đổi các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội -44
2.5.3 Bổ sung hình phạt tiền áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội -45
2.5.4 Giảm mức hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội -46
CHƯƠNG 3: HÀI HÒA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VỚI CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ QUYỀN TRẺ EM -48
3.1 Một số nét tổng quát về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau đổi mới -48
3.2 Tình hình tội phạm chưa thành niên ở Việt Nam -49
3.2.1 Tình hình tội phạm chưa thành niên ở Việt Nam -49
3.2.2 Tình hình tội phạm chưa thành niên trên địa bàn Hà Nội -54
3.3 Hài hòa pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội với Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em -64
KẾT LUẬN -68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -70
LỜI NÓI ĐẦU
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 51 Lý do lựa chọn đề tài
Người chưa thành niên nói chung và trẻ em nói riêng - thế hệ tương lai của đất nước - là đối tượng được quan tâm, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ đặc biệt Điều này đã được thể hiện một cách nhất quán và rõ ràng trong đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay Bằng chứng là việc nước ta là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới phê chuần Công ước về quyền trẻ em, được thông qua ngày 20-11-1989 theo Nghị quyết 44/25 của Đại hội đồng Liên hợp quốc Đây là điều ước quốc tế đầu tiên xác định về mặt pháp lý quyền của trẻ em một cách toàn diện và đầy đủ nhất
Hiện nay, vấn đề trẻ em - người chưa thành niên đang đặt ra những yêu cầu mới, có những yêu cầu bức xúc đòi hỏi sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục của toàn
xã hội Chúng ta biết rằng, có không ít trẻ em mới hôm qua còn là những đứa trẻ
vô tư, trong trắng, tâm hồn chưa hề vẩn đục mà hôm nay đã sa vào con đường phạm tội Đặc biệt, trong những năm gần đây, sau khi thực hiện chính sách chuyển đổi kinh tế, đã nổi lên một số tác động về mặt xã hội trong quá trình chuyển đổi, trong đó có hiện tượng người chưa thành niên làm trái pháp luật Và tình hình người chưa thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng về số vụ và tính chất nghiêm trọng như những hành vi cướp của, giết người, đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng ngày càng phổ biến, trong đó nổi lên một số tội phạm mới
mà trước đây hầu như không thấy như tội chống người thi hành công vụ - một tội phạm thể hiện rất rõ ý thức coi thường pháp luật và kỷ cương của Nhà nước Vậy, chúng ta phải giải quyết vấn đề này ra sao và pháp luật hình sự đã có những quy định gì? Trong điều kiện xây dụng Nhà nước pháp quyền hiện nay, những quy định đó có phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm luật được thừa nhận chung trong pháp luật quốc tế hay không? Bởi vì làm hài hòa hệ thống pháp luật quốc qua về tư pháp với người chưa thành niên và Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em vì lợi ích tốt nhất của trẻ em đã được khuyến nghị và nhấn mạnh trong Tuyên bố Hà Nội được thông qua tại Hội nghị tư vấn khu vực Đông Á và Thái Bình Dương về Công ước về quyền trẻ em do UNICEF tổ chức tại Việt Nam trong tháng 4-1995
Vì những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật hình sự Việt
Nam về người chưa thành niên phạm tội” làm luận văn tốt nghiệp của mình với
hi vọng có thêm tài liệu phục vụ công tác rất nhân đạo này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 62 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống về sự phát triển của chế định quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế và sự phát triển của những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời tác giả đi sâu phân tích, tìm hiểu tình hình tội phạm chưa thành niên trong những năm gần đây ở Việt Nam, qua đó, đề xuất những kiến nghị liên quan đến những quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về người chưa thành niên phạm tội nhằm đáp ứng một cách cao nhất yêu cầu bảo vệ đặc biệt trẻ em, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta, phù hợp với tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống có hiệu quả người chưa thành niên phạm tội trong tình hình mới
Do trình độ và thời gian có hạn nên khi bàn về quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế, tác giả chỉ đề cập đến một văn kiện pháp lý cơ bản nhất: Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 Bên cạnh đó, khi tìm hiểu về tình hình tội phạm chưa thành niên ở Việt Nam trong những năm gần đây, tác giả chỉ giới thiệu một cách tổng quát về thực trạng tội phạm chưa thành niên ở Việt Nam, trong đó
có tập trung phân tích thực trạng tội phạm chưa thành niên trên địa bàn Hà Nội và xem đó là ví dụ điển hình
Qua luận văn của mình, tác giả mong muốn cung cấp một cái nhìn tổng quan nhất về pháp luật quốc tế có liên quan đến quyền trẻ em, về pháp luật hình sự Việt Nam từ nguồn gốc đến nay có liên quan đến người chưa thành niên phạm tội,
về tình hình tội phạm chưa thành niên hiện nay ở Việt Nam Vì vậy, hy vọng với
sự cố gắng của tác giả, trong chừng mực nào đó, luận văn này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung - một công tác mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chú trọng
3 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là những quy luật, phạm trù đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đúc kết Đó là học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm được dùng là cơ sở định hướng lý luận của việc nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra, nội dung nghiên cứu của luận văn được dựa trên những phương pháp nhận thức quen thuộc như phương pháp phân
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7tích luật viết, tham khảo, sưu tầm tài liệu, thống kê số liệu, tổng hợp, đối chiếu, so sánh
4 Cơ cấu của luận văn
Bên cạnh Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
“Pháp luật hình sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội” gồm có ba
chương:
- Chương I: Những vấn đề chung về người chưa thành niên và quyền trẻ em
- Chương II: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội
- Chương III: Hài hòa pháp luật hình sự Việt Nam về người chưa thành niên phạm tội với Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Do thời gian và khả năng có hạn, kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực nghiên cứu còn nhiều hạn chế, do đó, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để sau này sẽ nghiên cứu vấn đề toàn diện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, ngày 14 tháng 7 năm 2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ QUYỀN TRẺ EM
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TRẺ EM VÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1.1 Khái niệm về trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật quốc tế
1.1.1.1 Khái niệm về trẻ em
Theo Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (sau đây sẽ gọi tắt là
Công ước 1989), "trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp
áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn"
Ở đây, Công ước 1989 chỉ phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên và mốc tuổi ranh giới để xác định là 18 tuổi Tuy nhiên, các quy định của Công ước chỉ mang tính định hướng, hướng dẫn nên Công ước để ngỏ cho các quốc gia thành viên có thể quy định tuổi thành niên sớm hơn căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia cũng như tập quán xã hội ở quốc gia đó
Như vậy, ta có thể khái quát Điều 1 của Công ước 1989 như sau:
- Độ tuổi thành niên chuẩn theo quy định của Công ước là 18 tuổi, vậy trẻ
em là người dưới 18 tuổi
- Nếu độ tuổi thành niên theo quy định của một quốc gia nào đó nhỏ hơn 18 tuổi thì mốc giới hạn tuổi trẻ em của quốc gia đó nhỏ hơn 18 tuổi
1.1.1.2 Khái niệm về người chưa thành niên
Như đã phân tích ở trên, Công ước 1989 chỉ xác lập khái niệm trẻ em, không xác lập một cách chính xác khái niệm người chưa thành niên Theo cách hiểu thông thường, người chưa thành niên là người chưa đạt đến độ tuổi thành niên theo luật định Vậy, Công ước đã đồng nhất hai khái niệm: trẻ em và người chưa thành niên
Theo những quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên năm 1985 (sau đây sẽ gọi là Quy tắc Bắc
Kinh), người chưa thành niên là trẻ em hoặc người ít tuổi (tùy theo từng hệ thống
pháp luật) Như vậy, có hai nhóm đối tượng người chưa thành niên như sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9- Trẻ em
- Người ít tuổi
Nhưng, thế nào là trẻ em? Thế nào là người ít tuổi?
Như đã đề cập ở trên, độ tuổi trẻ em được xác định trong Công ước 1989 chỉ mang tính chất hướng dẫn, định hướng trên cơ sở tôn trọng tuyệt đối hệ thống pháp luật, văn hoá, chính trị, xã hội và kinh tế của các quốc gia thành viên Căn cứ vào pháp luật của mỗi quốc gia sẽ có quy định cụ thể về giới hạn độ tuổi trẻ em và
độ tuổi đó thường nhỏ hơn độ tuổi thành niên (18 tuổi) Nghĩa là trên thực tế có một lớp tuổi trung gian giữa trẻ em và người chưa thành niên, và nhóm người đó, theo Quy tắc Bắc Kinh, là người ít tuổi
Từ những phân tích trên, ta thấy rằng người chưa thành niên theo Quy tắc Bắc Kinh bao hàm cả trẻ em, trong khi đó, Công ước 1989 thì lại đồng nhất hai khái niệm kể trên Như vậy, việc phân biệt hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên chỉ mang tính chất tương đối vì hệ thống pháp luật của các quốc gia rất khác biệt nhau Và việc phân biệt kể trên xét đến cùng chỉ mang ý nghĩa thống nhất khi sử dụng các thuật ngữ
1.1.2 Khái niệm về trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam
Ở nước ta, khái niệm trẻ em được sử dụng trong Hiến pháp, trong Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Giáo dục Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt
Nam dưới 16 tuổi"
Khái niệm người chưa thành niên được sử dụng trong Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
Điều 20 Bộ Luật Dân sự quy định: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người
thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên"
Theo Bộ luật Lao động, "Người lao động chưa thành niên là người lao
động dưới 18 tuổi" (khoản 1 Điều 119)
Ngoài ra, Quy chế về buộc phải chịu thử thách đối với người chưa thành niên phạm tội (ban hành kèm theo Nghị định số 141 HĐBT ngày 13-11-1986 của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) xác định người chưa thành niên là người
"từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi" (Điều 1)
Như vậy, trong pháp luật Việt Nam:
- Người thành niên là người từ 18 tuổi trở lên
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10- Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi
- Trẻ em là người dưới 16 tuổi
Vậy, ở đây, khái niệm người chưa thành niên đã bao hàm trong đó khái niệm trẻ em
1.1.3 Người chưa thành niên - Đối tượng bảo vệc đặc biệt của pháp luật
Trẻ em là thời kỳ đang phát triển về mọi mặt của con người Ở lứa tuổi chưa thành niên, họ đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể lực và tinh thần Đây là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn Họ không còn thỏa mãn với vai trò thụ động của những người đang được dạy dỗ, nhưng mặt khác, họ lại chưa phải là người lớn - những người đang có vị trí và trách nhiệm nhất định đối với xã hội Sự vươn lên vị trí độc lập diễn ra rất tự phát - đó là xu hướng chung của nhóm lứa tuổi này Đối với người chưa thành niên, những áp đặt của người lớn, sự chỉ bảo cặn kẽ, việc kiểm tra, giám sát đã trở thành "xiềng xích" và cần phải phá bỏ Nhưng họ có khả năng kiềm chế chưa cao, hành động thường bộc phát, không làm chủ được bản thân, dễ bị kích động, lôi kéo vào những hành động không lành mạnh dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật
Người chưa thành niên, do tuổi đời còn ít, họ còn thiếu kinh nghiệm sống,
tư duy nông cạn, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, mơ hồ, thiếu chính xác và thiếu hệ thống Sự hiểu biết của các mặt của cuộc sống xã hội chưa đủ để có thể lựa chọn và quyết định sự xử sự phù hợp với chuẩn mực xã hội Thực tế cho thấy người chưa thành niên thường không đánh giá được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật của mình thực hiện và không thấy hết được hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội Phần lớn người chưa thành niên có
ý thức và thói quen của sự đối chiếu so sánh những hành vi của mình với các quy phạm pháp luật, với các nguyên tắc chung của cuộc sống xã hội
Ở lứa tuổi chưa thành niên, con người chịu sự chi phối, tác động mạnh mẽ của môi trường xã hội Quá trình hình thành nhân cách cũng như các phẩm chất thuộc về nhân thân của họ chịu sự chi phối có tính chất quyết định của môi trường giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội Họ dễ tiếp thu những thói hư tật xấu, bị tha hóa về nhân cách, dễ trở thành thanh, thiếu niên hư, vi phạm pháp luật Ví dụ, qua điều tra 550 trẻ tại Trường Giáo dưỡng số II Ninh Bình, gần 20% những đứa trẻ được tập trung giáo dục tại Trường Giáo dưỡng số II Ninh Bình là
có những người thân trong gia đình của mình từng phạm tội, có tiền án, đã và đang
ở trong trại cải tạo Trong khi đó, trên số liệu đối chứng tại Trường Marie Curie, thì không có một học sinh nào có bố, mẹ hoặc anh chị em đã và đang đi tù và đi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11cải tạo Đặc biệt, có 23,93% số trẻ em phạm pháp có bố mẹ thường xuyên sử dụng ma túy, hiện tượng này ở trẻ em Trường Marie Curie là không có1 (xem bảng 1) Tuy nhiên, nếu sống trong một môi trường lành mạnh thì người chưa thành niên sẽ có những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, trở thành công dân tốt trong xã hội
Bảng 1: Tỷ lệ phần trăm (%) các thành viên trong gia đình từng phạm tội,
có tiền án, đã và đang ở trong trại cải tạo
Trẻ ở Trường Giáo dưỡng số II
Do những đặc điểm tâm sinh lý đặc thù nói trên nên người chưa thành niên luôn là đối tượng bảo vệ đặc biệt của pháp luật Trên phạm vi quốc tế đã sớm hình thành các cơ quan chuyên môn, các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ có chức năng bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên trên toàn thế giới thông qua hoạt động của tổ chức mình Trong phạm vi quốc gia, có những cơ quan Nhà nước chuyên trách để bảo vệ, chăm sóc trẻ em Ngoài ra, trong từng ngành luật của hệ thống pháp luật quốc gia luôn có những chương, những điều khoản đưa ra những quy định riêng đặc biệt áp dụng đối với trẻ em hoặc người chưa thành niên Cụ thể
1
Xem: Trẻ em, văn hóa, gia đình - Kỷ yếu hội thảo Việt - Pháp về tâm lý học Hà Nội 17 - 18
tháng 4 năm 2000, Odette Lascarret, Lê Khanh, H.Ricaud (chủ biên), Văn Thị Kim Cúc,
Nguyễn Minh Đức dịch, NXB Thế giới, Hà Nội, 2001, tr 69
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12trng pháp luật Việt Nam, Bộ luật Lao động đã dành một chương quy định riêng đối với lao động chưa thành niên (Chương XI) Cũng vậy, Bộ luật tố tụng hình sự dành Chương XXXI để quy định thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Đặc biệt, luật hình sự Việt Nam không coi người chưa thành niên là người có năng lực trách nhiệm hình sự như người đã thành niên (xem Chương II, mục 2.4.1) Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội
1.2 KHÁI NIỆM VỀ QUYỀN TRẺ EM
1.2.1 Khái niệm về quyền trẻ em
"Quyền" theo Tự điển tiếng Việt2 được hiểu là điều mà pháp luật và xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi Vậy, theo cách hiểu thông thường, quyền trẻ em là những gì trẻ em được hưởng, được làm, được đòi hỏi
Tuy nhiên, khi đi sâu nghiên cứu khái niệm quyền trẻ em trong lịch sử pháp luật quốc tế, ta nhất thiết phải đề cập đến khái niệm quyền con người bởi vì quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con người Khái niệm quyền trẻ em là một khái niệm không thể tách khỏi khái niệm quyền con người, nó được xây dựng trên nền tảng nhân quyền - các quyền cơ bản nhất mà con người phải có
Quyền con người xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển gắn với quá trình tiến hoá của lịch sử xã hội loài người Cuộc Cách mạng tư sản nổ ra ở phương Tây
đã cống hiến cho nhân loại một trong những giá trị nhân văn là chế định quyền con
người với những mốc lớn ghi nhận về mặt pháp lý nguyên tắc này là Tuyên ngôn
Độc lập năm 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ Tuyên ngôn 1776 đã xác lập
nên một khái niệm cơ bản nhất về nhân quyền, đó chính là những quyền do Đấng tạo hóa ban cho nên không thể bị tước đoạt, trong đó có các quyền được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc
Tiếp theo đó là sự ra đời của bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền
của Pháp năm 1789 Một lần nữa, các quyền sống - tự do và mưu cầu hạnh phúc lại được khẳng định trong Tuyên ngôn 1789 Đây là những quyền tự nhiên không
2
Tự điển tiếng Việt, Trung tâm tự điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13thể bị tước đoạt và thiêng liêng của con người Nó hoàn toàn bình đẳng cho tất cả mọi người (Điều 1)
Dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 10-12-1948 Đại Hội đồng Liên
hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền, đã nâng tầm vóc của
vấn đề nhân quyền lên một bước mới Đây là những quyền cơ bản nhất mà con người phải có, là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là tập hợp những quyền tự nhiên, do tạo hóa ban cho, nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật (mặc nhiên tồn tại trong mỗi cá nhân trong xã hội mà không do pháp luật quy định)
Trẻ em cũng là một con người, vì vậy, các em cũng có đầy đủ những quyền nói trên Nhưng, "trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời" (Lời nói đầu, Công ước 1989) Để trẻ em có thể phát triển đầy đủ và hài hòa về nhân cách, hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia cần phải quy định những quyền mà trẻ em được hưởng, được làm, được đòi hỏi
Vậy, qua những phân tích trên, ta có thể rút ra được khái niệm chung nhất
về quyền trẻ em như sau: Quyền trẻ em là tập hợp các quyền mà pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia quy định cho trẻ em được hưởng, được làm và được đòi hỏi bao gồm quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ và quyền được tham gia trong chừng mực vào các hoạt động xã hội (xem Chương I, mục 1.2.2.2)
1.2.2 Quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế
1.2.2.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển
Như đã đề cập ở trên, quyền trẻ em là một bộ phận của quyền con người Vì vậy, lịch sử hình thành và phát triển quyền trẻ em luôn gắn với lịch sử hình thành
và phát triển quyền con người Tuy nhiên, sự phát triển của quyền trẻ em diễn ra ở mức độ chậm hơn do ý thức hệ của xã hội lúc đó có lúc đã không nhìn nhận quyền trẻ em là một bộ phận của nhân quyền
Quyền con người là một hiện tượng lịch sử xã hội, có quá trình phát triển lâu dài Nó là sản phẩm phát triển văn hóa xã hội của một kết cấu kinh tế - xã hội nhất định Dưới chế độ cộng sản nguyên thủy, tế bào cơ sở của xã hội không phải
là gia đình mà là thị tộc Những người trong cùng một thị tộc cùng chung sống, cùng lao động và cùng hưởng thụ những thành quả lao động chung Do vậy, không
ai có một đặc quyền, đặc lợi nào đối với người khác trong một thị tộc Không có khái niệm tư hữu, không có giai cấp đối kháng, mọi người sinh ra đều có quyền ngang nhau về mọi mặt, và đây là tập hợp những quyền tự nhiên của mỗi cá nhân sống trong cộng đồng Do vậy, tư tưởng về quyền con người chưa có điều kiện xuất hiện trong xã hội cộng sản nguyên thủy, nên cũng chưa có khái niệm về quyền trẻ em
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất đã tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy và đòi hỏi sự phân công lao động
tự nhiên phải được thay thế bằng sự phân công lao động xã hội Trải qua ba lần phân công lao động xã hội, chế độ tư hữu đã xuất hiện dẫn đến mức độ phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ đã tồn tại hai giai cấp cơ bản đối kháng nhau, đó là giai cấp chủ nô và nô lệ Thời kỳ này, chỉ có giai cấp chủ nô mới được xem là con người, còn nô lệ chỉ là một thứ hàng hóa, một công
cụ lao động biết nói và là tài sản của chủ nô Những đứa trẻ do nô lệ sinh ra cũng
là nô lệ và là tài sản (hay hoa màu) mà giai cấp chủ nô mặc nhiên có được Khi xã hội loài người chuyển sang một hình thái kinh tế - xã hội mới là chế độ phong kiến, mâu thuẫn giai cấp trở nên sâu sắc hơn, con người vẫn bị cai trị một cách tàn bạo và hà khắc Trong suốt hai thời kỳ này, khi mà mức độ người bóc lột người ngày càng cao thì những tư tưởng về quyền con người bắt đầu nhem nhúm xuất hiện, điều đó thể hiện qua hàng loạt các cuộc đấu tranh chống đối lại giai cấp thống trị đòi quyền được sống vá quyền mưu cầu hạnh phúc Nhưng lúc này vẫn chưa có khái niệm và chế định cụ thể về quyền con người, khái niệm về quyền trẻ
em vẫn chưa ra đời mà chỉ tồn tại khái niệm về quyền đối với trẻ em Đó là một tập hợp các quyền của các bậc cha mẹ, của những người lớn đối với trẻ em Thời
kỳ này, trẻ em lệ thuộc hoàn toàn vào cha mẹ, là tài sản của cha mẹ và địa vị của trẻ em trong xã hội chưa được xác định Thực tế này đã tồn tại rất lâu trong lịch sử của xã hội loài người
Nếu như trong xã hội chiếm hữu nô lệ, nô lệ là kẻ vô quyền, thì trong xã hội phong kiến không thể nói đến tự do của con người bởi vì "trên thực tế, địa vị của người nông dân chỉ khác rất ít địa vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu" (Lênin) Do vậy, nhu cầu được giải phóng ngày càng trở nên bức bách Và chủ nghĩa tư bản đã thay thế chủ nghĩa phong kiến Với ngọn cờ "tự do, bình đẳng, bác ái", "sống và mưu cầu hạnh phúc", giai cấp tư sản đã xác lập nên một nấc thang mới và quan trọng trong lịch sử phát triển nhân quyền Chế độ tư bản chủ nghĩa ra đời là một bước ngoặt lịch sử đánh dấu sự nở rộ của luật pháp quốc tế về quyền con người Thế nhưng cho đến sau chiến tranh thế giới lần I (1914 - 1918) trong pháp luật quốc tế vẫn chưa có một văn kiện nào chính thức đề cập đến trẻ em như một chủ thể hưởng quyền Ngay trong văn kiện đầu tiên về quyền con người, đó là
bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của nước Pháp năm 1789 thì quyền trẻ
em vẫn chưa được đặt ra Mặc dù các tư tưởng về sự cần thiết phải bảo vệ trẻ em
đã bắt đầu xuất hiện nhưng khái niệm về quyền trẻ em vẫn chưa được nhìn nhận
Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914 - 1918) diễn ra đã đem lại những hậu quả thảm khốc cho các nước trên thế giới Và hơn ai hết, trẻ em là nạn nhân trực tiếp gánh chịu những hậu quả của cuộc chiến Lúc này, vấn đề phải bảo vệ trẻ em mới trở thành mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, thể hiện ở việc hình thành nên các tổ chức quốc tế chuyên trách bảo vệ trẻ em có thể kể như: Quỹ cứu trợ trẻ em của Anh vào năm 1919 (do bà Eglantyle Jebb thành lập), tổ chức Radda Barnen của Thụy Điển (1919) Đặc biệt với sự ra đời của Công ước quốc tế về trấn áp tội
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15buôn bán phụ nữ và trẻ em (1921) đã xác định rõ trẻ em là một đối tượng bảo vệ của luật pháp quốc tế thoát khỏi sự tấn công của các tổ chức tội phạm quốc tế Có thể nói đây là văn kiện quốc tế đầu tiên nhìn nhận trẻ em là một đối tượng cần được quan tâm đặc biệt của cộng đồng quốc tế, mặc dù Công ước 1921 vẫn chưa xác lập nên các quyền cơ bản của trẻ em
Khái niệm về quyền trẻ em chính thức được khẳng định và thừa nhận trong
cộng đồng quốc tế tại Tuyên ngôn Genève về quyền trẻ em, được Hội Quốc liên
thông qua năm 1924 Những điểm cơ bản của Tuyên ngôn được ghi nhận như sau:
1 Trẻ em phải được bảo vệ mà không có sự phân biệt chủng tộc, quốc tịch hay nòi giống
2 Trẻ em phải được chăm sóc với sự tôn trọng
3 Trẻ em phải được tạo điều kiện để phát triển bình thường về các mặt thể chất, tinh thần và trí tuệ
4 Trẻ em đói phải được ăn, ốm đau phải được chữa bệnh, khuyết tật về thể chất hay trí tuệ phải được giúp đỡ, hư hỏng phải được dìu dắt sửa chữa, mồ côi và không thừa nhận phải được thu nhận, cưu mang
5 Trẻ em phải được ưu tiên cứu giúp khi xảy ra hỏa hoạn
6 Trẻ em phải được hưởng đầy đủ các phúc lợi xã hội và an toàn xã hội, được tạo nghề để có công ăn việc làm và phải được bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột
7 Trẻ em phải được nuôi dạy theo tinh thần là đem những tài năng của mình để phục vụ loài người
Có thể nói Tuyên ngôn Genève đã đặt dấu chấm hết cho suốt một thời kỳ của lịch sử mà con người chưa nhìn nhận trẻ em là một chủ thể hưởng quyền Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, với sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc, ngay trong bản Hiến chương của tổ chức này đã long trọng khẳng định: “Khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” (khoản 3 Điều 1) Trên nền tảng đó, năm 1948 Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền ra đời, Tuyên ngôn khẳng định con người sinh ra đã có những quyền mặc nhiên, những quyền không ai có thể tước bỏ được Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền đã chính thức xác lập địa vị của trẻ em trong cộng đồng quốc tế: “Trẻ em được đảm bảo sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” (khoản 2 Điều 25)
Là một sự phát triển lên tầm vóc cao hơn của Tuyên ngôn Genève, là một bước nối tiếp Tuyên ngôn Nhân quyền 1948, ngày 20-11-1959, Liên hợp quốc đã
thông qua một văn kiện quốc tế khác về quyền trẻ em là Tuyên ngôn về quyền trẻ
em năm 1959 Tinh thần nổi bật của Tuyên ngôn là “loài người phải cho trẻ em tất
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16cả những gì tốt đẹp nhất mà mình có” Ngay trong Lời nói đầu, Tuyên ngôn 1959
đã khẳng định tư tưởng quan trọng nhất làm nền tảng cho sự phát triển sau này của toàn bộ chế định pháp lý về quyền trẻ em, đó là: “Trẻ em, do chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực, cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự bảo vệ về pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh” Gia đình có nghĩa vụ hàng đầu và Nhà nước có trách nhiệm trong việc thực hiện các quyền trẻ em Nội dung của Tuyên ngôn 1959 đầy đủ và tiến bộ hơn, gồm 10 nguyên tắc cơ bản:
1 Trẻ em phải được hưởng tất cả các quyền nêu ra trong Tuyên ngôn mà không có sự phân biệt đối xử nào
2 Trẻ em phải được bảo vệ đặc biệt, được pháp luật tạo điều kiện và cơ hội phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức, tinh thần và xã hội Quyền lợi tốt nhất của trẻ em phải được xem xét cẩn thận
3 Trẻ em được có họ tên và quốc tịch sau khi sinh ra
4 Trẻ em được hưởng an toàn xã hội, được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt trước cũng như sau khi ra đời, được nuôi nấng, có nơi ăn, chốn ở, vui chơi, giải trí
và xã hội để trở thành thành viên hữu ích của xã hội Trẻ em có quyền được vui chơi giải trí
8 Trẻ em là đối tượng ưu tiên hàng đầu, được bảo vệ và cứu trợ trong mọi trường hợp
9 Trẻ em phải được bảo vệ chống lại mọi hình thức bị bỏ rơi, bị đối xử tàn
tệ, bị bóc lột và bị buôn đi bán lại Trẻ em không phải lao động khi chưa đến tuổi
và không phải làm những việc gây tác hại đến sự phát triển các mặt liên quan đến học tập
10 Trẻ em được bảo vệ chống lại mọi sự phân biệt, được nuôi trong tinh thần hiểu biết, khoan dung, hữu nghị giữa các dân tộc, hòa bình và đoàn kết anh
em, được phát triển tài năng để phục vụ loài người
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Tuyên ngôn 1959 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó là tạo ra những nguyên tắc mang chất chủ đạo cho hàng loạt các điều ước quốc tế có liên quan đến quyền trẻ em ra đời sau đó, mở ra một trang mới trong lịch sử luật pháp quốc tế về việc nhìn nhận quyền trẻ em là một khái niệm mang tính chất toàn cầu Tuy nhiên, Tuyên ngôn không có giá trị pháp lý ràng buộc các nước thực hiện mà chỉ mang tính chất khuyến nghị, có giá trị về các mặt chính trị và đạo đức
Có thể nói đỉnh cao của nền lập pháp quốc tế trong việc xây dựng và hoàn
chỉnh chế định về quyền trẻ em là sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về quyền
trẻ em năm 1989 Đây là Công ước đầu tiên đề cập toàn diện các quyền trẻ em
theo hướng tiến bộ, trên cơ sở thừa nhận là trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo
vệ và giúp đỡ đặc biệt Công ước này được soạn thảo từ năm 1979, theo đề xuất của Ba Lan là: Cộng đồng quốc tế phải có một văn kiện đầy đủ hoàn chỉnh mang tính chất pháp lý ràng buộc riêng về trẻ em và quyền trẻ em Công ước được soạn thảo căn bản dựa trên Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959; Công ước quốc tế
về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Sau 10 năm soạn thảo, qua nhiều lần tu chỉnh với sự đóng góp tích cực, hiệu quả của nhiều nước và các tổ chức quốc tế, ngày 20-11-
1989, Công ước được Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính thức thông qua vào ngày 26-1-1990, 30 ngày sau được 20 quốc gia phê chuẩn Kể từ đây, các quốc gia đã
có một nền tảng pháp lý vững chắc để bổ sung và hoàn thiện pháp luật trẻ em của quốc gia mình Đến nay, đã có khoảng gần 160 nước ký và 117 nước trong số này trở thành quốc gia thành viên qua việc gia nhập hoặc phê chuẩn
1.2.2.2 Những quyền cơ bản của trẻ em trong Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Công ước 1989 gồm Lời nói đầu, 3 phần với 54 điều
- Lời nói đầu nhắc lại các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, các Công ước quốc tế về quyền con người, và khẳng định rằng trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Ở nhiều nơi trên thế giới trẻ em phải sống trong những điều kiện khó khăn khác thường Chăm sóc, bảo vệ và phát triển hài hòa các quyền trẻ em có một tầm quan trọng đặc biệt trong truyền thống và giá trị văn hóa của mỗi dân tộc Công ước khẳng định tầm quan trọng của hợp tác quốc tế đối với việc cải thiện điều kiện sinh hoạt của trẻ em ở tất cả các nước, đặc biệt ở các nước đang phát triển
- Phần I, Công ước gồm 41 điều (từ Điều 1 đến Điều 41) xác định khái niệm về trẻ em và quyền trẻ em, trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ quyền trẻ em, nội dung các quyền trẻ em
- Phần II, Công ước gồm 4 điều (từ Điều 42 đến Điều 45) xác định việc thành lập Ủy ban về quyền trẻ em do các quốc gia thành viên bầu ra, quyền hạn và trách nhiệm của Ủy ban, quan hệ giữa Ủy ban với Tổng thư ký Liên hợp quốc, Đại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18Hội đồng Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế xã hội và các cơ quan của Liên hợp quốc
- Phần III, Công ước gồm 9 điều (từ Điều 46 đến Điều 54) quy định về giá trị, thời hiệu, thủ tục phê chuẩn hoặc gia nhập, trình tự sửa đổi, bổ sung, bảo lưu của Công ước về quyền trẻ em
Theo Công ước 1989, trẻ em có 4 nhóm quyền cơ bản sau:
w Quyền được sống còn
Tất cả mọi trẻ em đều có quyền cố hữu được sống và các quốc gia thành viên phải bảo đảm đến mức tối đa có thể được sự sống còn và phát triển của trẻ em (Điều 6) Để bảo đảm được những quyền đó, trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi ra đời và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch… (Điều 7)
Quyền được sống còn còn bao gồm quyền của trẻ em được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất Do vậy, các quốc gia thành viên phải bảo đảm việc cung cấp sự giúp đỡ y tế và chăm sóc sức khỏe cần thiết cho tất cả trẻ em, nhấn mạnh việc phát triển công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu; phải xóa bỏ những tập tục lạc hậu có hại cho sức khỏe của trẻ em nhằm bảo đảm cho trẻ em được hưởng ở mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe và các phương tiện chữa bệnh và phục hồi sức khỏe (Điều 24)
Ngoài ra, để bảo đảm cho nhu cầu tồn tại của trẻ em, tất cả trẻ em còn có quyền được hưởng các loại phúc lợi xã hội, an toàn xã hội, bao gồm cả bảo hiểm
xã hội (Điều 26)
w Quyền được phát triển
Điều 27 Công ước quy định: “Mọi trẻ em được hưởng mức sống đủ để có thể phát triển về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội” Để bảo đảm về những quyền lợi đó, “cha mẹ hoặc cha hay mẹ và những người khác chịu trách nhiệm về trẻ em có trách nhiệm hàng đầu trong việc bảo đảm, theo năng lực và khả năng tài chính của mình, các điều kiện sống cần thiết cho sự phát triển của trẻ em” (khoản
2 Điều 27) Về phía Nhà nước, họ phải gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho các bậc cha mẹ và những người khác chịu trách nhiệm về trẻ em thực hiện quyền này,
đó có thể là sự giúp đỡ về mặt vật chất, đặc biệt là về dinh dưỡng, quần áo và nhà
ở
Nhằm bảo đảm phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về tinh thần và thể chất của trẻ em (Điều 29), vấn đề giáo dục phải được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia Điều 28 Công ước 1989 quy định: Trẻ em có quyền được học hành, thi hành giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có, không mất tiền cho tất cả mọi người; có biện pháp khuyến khích trẻ em đi học đều đặn, hạ thấp tỷ lệ bỏ học
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19(Điều 28) Mục tiêu của giáo dục là nhằm hướng đến việc tôn trọng quyền con người ở mọi lứa trẻ, phát triển sự tôn trọng đối với cha mẹ, tôn trọng bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, tôn trọng các giá trị quốc gia của đất nước để chuẩn bị cho trẻ em sống một cuộc sống có trách nhiệm trong xã hội, trở thành công dân có ích của xã hội (Điều 29)
Để phát triển về mặt tinh thần, trẻ em có quyền được nghỉ ngơi và tiêu khiển, được vui chơi và tham gia các hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, được
tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật (Điều 31) Ngoài ra, trẻ em còn được tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo (Điều 14)
w Quyền được bảo vệ
Điều 16 Công ước 1989 quy định: Trẻ em có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp hay việc riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín của em cũng như những sự công kích bất hợp pháp vào danh dự
và thanh danh của em
Quyền được bảo vệ bao gồm cả quyền không bị tra tấn, đánh đạp và lạm dụng trong trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ Quyền được bảo
vệ còn bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán Cụ thể Công ước 1989 quy định như sau:
- Trong trường hợp trẻ em bị cha mẹ xúc phạm hay sao nhãng thì việc cách
ly trẻ em khỏi cha mẹ sẽ được xem xét để bảo đảm cho những lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 9)
- “Các quốc gia thành viên phải tiến hành những biện pháp chống lại việc mang trẻ em ra nước ngoài bất hợp pháp và không đưa trở về” (khoản 1 Điều 11) bằng cách ký các hiệp ước song phương hay đa phương thích hợp để ngăn ngừa việc bắt cóc, bán hay buôn trẻ em vì bất kỳ mục đích gì hay dưới bất kỳ hình thức nào (Điều 35)
- “Các quốc gia thành viên phải thực hiện mọi biện pháp pháp chế, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể xác hoặc tinh thần, gây tổn thương hay xúc phạm, bỏ mặc hoặc sao nhãng trong việc chăm sóc, ngược đãi hoặc bóc lột, kể cả sự xâm phạm về tình dục” (Điều 19 khoản 1)
- Trong trường hợp trẻ em, tạm thời hay vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đình của mình thì trẻ em đó được quyền hưởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước (Điều 20)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20- Trẻ em tị nạn dù có cha, mẹ hay bất cứ một người nào khác đi cùng hay không đi cùng sẽ nhận được sự bảo vệ và giúp đỡ nhân đạo thích đáng trong việc hưởng các quyền thích hợp nêu trong Công ước (Điều 22)
- Trẻ em bị khuyết tật về tinh thần hay thể chất được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và tử tế trong những điều kiện bảo đảm nhân phẩm, thúc đẩy khả năng tự lực và tạo điều kiện cho trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng (Điều 23)
- Trẻ em còn có quyền được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế và khỏi bất
kỳ công việc gì có thể gây nguy hiểm hoặc ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ
em, hoặc có hại đối với sức khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay xã hội của trẻ em (Điều 32) Trẻ em được quyền bảo vệ chống lại mọi hình thức bóc lột cũng như lạm dụng về tình dục (Điều 34) Ngoài ra, trẻ em còn được bảo vệ chống mọi hình thức bóc lột khác gây hại về bất kỳ phương diện nào cho phúc lợi của trẻ (Điều 36)
- Các quốc gia thành viên phải bảo vệ trẻ em chống lại việc sử dụng bất hợp pháp các chất ma túy và an thần như đã được nêu trong các hiệp ước quốc tế hữu quan, và để ngăn ngừa việc sử dụng trẻ em vào việc sản xuất và buôn bán bất hợp pháp những chất đó (Điều 33)
- Các quốc gia thành viên bảo đảm không áp dụng án tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng phóng thích đối với những hành động phạm pháp do những người dưới 18 tuổi gây ra Sự bắt bớ, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành theo luật pháp và chỉ được dùng đến như một biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất (Điều 37)
- Các quốc gia thành viên phải hết sức tránh việc tuyển mộ vào quân đội những trẻ em chưa đến 15 tuổi Nếu bắt buộc phải tuyển mộ những trẻ em này thì phải cố gắng dành ưu tiên tuyển mộ những người nhiều tuổi nhất trong số đó (Điều 38)
- Các quốc gia thành viên phải quy định bằng các đạo luật hay thể chế áp dụng riêng đối với trẻ em phạm tội hình sự, trong đó quy định một hạn tuổi tối thiểu mà dưới hạn tuổi đó được coi là không có khả năng phạm tội hình sự (Điều 40)
w Quyền được tham gia
“ Trẻ em có quyền tự do bày tỏ ý kiến; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, nhận và phổ biến mọi loại thông tin và tư tưởng, không kể biên giới hoặc qua truyền miệng, bản viết tay hay bản in, dưới hình thức nghệ thuật hoặc bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác mà trẻ em lực chọn ”(khoản 1 Điều 13) Trẻ
em được quyền tự do bày tỏ những quan điểm riêng của mình về tất cả mọi vấn đề
có liên quan đến mình (Điều 12) Trẻ em có quyền tự do kết giao và tự do hội họp hòa bình (Điều 15) Trẻ em có quyền tiếp xúc với các nguồn thông tin và tư liệu từ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21nhiều quốc gia khác nhau Nhằm mục đích cổ vũ cho lợi ích xã hội, tinh thần và đạo đức cũng như sức khỏe về thể chất và tinh thần của trẻ em, Công ước khuyến khích các quốc gia thành viên hợp tác quốc tế trong việc sản xuất, trao đổi, phổ biến thông tin, tư liệu, khuyến khích việc xuất bản và phổ biến sách cho trẻ em… (Điều 17)
Thông qua các quyền của mình, trẻ em có thể tự biểu hiện mình trong mọi mặt của hoạt động xã hội Công ước 1989 đã chính thức xác lập nên một tập hợp các các nghĩa vụ ràng buộc bằng những cam kết, bảo đảm của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ quyền trẻ em
1.2.3 Các quyền cơ bản của trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam
1.2.3.1 Sơ lược về việc Việt Nam ký kết và phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quãng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” long trọng tuyên bố sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng đồng bào
cả nước và nhân dân thế giới Bản Tuyên ngôn bắt đầu bằng lời khẳng định: “Tất
cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
và quyền được mưu cầu hạnh phúc” Điều thứ 14 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 khẳng định: “ Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” Tất cả Tuyên ngôn và Hiến pháp đã sớm bộc lộ tư tưởng trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta, đó là luôn dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất
Thật vậy, ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những nhiệm vụ cách mạng hàng đầu Như đồng chí Trường Chinh đã nói tại hội nghị kiểm điểm 10 năm thi hành Chỉ thị số 197/CT-TW của Trung ương Đảng về công tác thiếu niên nhi đồng, họp ngày 31-5-1941: “Một thế hệ không hoàn thành nổi, phải có nhiều thế hệ nối tiếp nhau làm thì mới đạt được mục đích Lớp người này già đi, lớp người kia lớn lên, nối gót nhau, kế tục sự nghiệp cách mạnh của Đảng và Bác Hồ cho đến thắng lợi hoàn toàn” Trẻ em ngày nay là lớp người sẽ lớn lên và kế tục sự nghiệp vĩ đại ấy Cho nên cần đặc biệt quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo các em Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng khẳng định trong một bài đăng trên báo Nhân dân năm 1969: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công việc đó phải làm kiên trì, bền bỉ” Trên tinh thần đó, ngày 14-11-1979 Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Pháp lệnh được xem như một văn bản pháp quy đầu tiên đề cập đến quyền trẻ em một cách
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22đầy đủ nhất trong lịch sử lập pháp Việt Nam cho tới thời điểm đó Pháp lệnh, một mặt, đã pháp điển hóa, cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
về bảo vệ trẻ em: “Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người sẽ tiếp tục sự nghiệp của tổ tiên, gánh vác mọi công việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” (Lời nói đầu, Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em); mặt khác, Pháp lệnh đã tập hợp tất cả các văn bản
đề cập đến quyền trẻ em đã có từ trước để hình thành nên một văn bản pháp luật hoàn chỉnh về quyền trẻ em trên nguyên tắc: “bảo đảm sự phát triển toàn diện và cân đối của trẻ em, bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em được tôn trọng và thực hiện” (Lời nói đầu, Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em)
Thật vậy, vấn đề trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, ngay sau khi Công ước 1989 ra đời, ngày 20-2-1990 Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà không cần bảo lưu bất kỳ một điều khoản nào trong Công ước
Sau khi phê chuẩn Công ước 1989, Việt Nam bắt đầu quá trình nội luật hóa các quy định của Công ước Ngày 12-8-1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Có thể xem đây là luật nguồn của tất cả các ngành luật khác trong việc xây dựng các quy phạm có liên quan đến quyền trẻ em Các quy định của Luật này tiếp tục được cụ thể hóa, chi tiết hóa trong các văn bản pháp luật của các ngành luật khác nhau
1.2.3.2 Các quyền cơ bản của trẻ em và người chưa thành niên trong pháp luật Việt Nam
w Trong Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp
1946 đã khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều thứ 7) Và điều này luôn được quy định trong tất cả các Hiến pháp sau này của nước ta: Hiến pháp 1959 (Điều 22), Hiến pháp 1980 (Điều 55), Hiến pháp
1992 (Điều 52) Trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung cũng là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên các em được hưởng mọi quyền do pháp luật quy định như: quyền sở hữu (Điều 58 Hiến pháp 1992), quyền được học tập (Điều 59 Hiến pháp 1992), vui chơi, giải trí, quyền được bảo vệ sức khỏe (Điều 61 Hiến pháp 1992), quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71 Hiến pháp 1992)…
Hiến pháp 1992 được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các định hướng theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” (Điều 65 Hiến pháp 1992) Trách nhiệm chăm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23sóc và giáo dục các em thuộc về gia đình bởi vì gia đình là tế bào của xã hội Hiến pháp quy định cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt, không được phân biệt đối xử giữa các con (Điều 64 Hiến pháp 1992) Nhà nước và
xã hội có trách nhiệm tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho các em thực hiện các quyền của mình, đặc biệt đối với những em có hoàn cảnh đặc biệt như: trẻ tàn tật, trẻ mồ côi được nhà nước và xã hội giúp đỡ, được tạo điều kiện để học văn hóa, học nghề phù hợp (Điều 59, Điều 67 Hiến pháp 1992) Vậy, các quyền hiến định của các em bao gồm quyền được chăm sóc, quyền được nuôi dưỡng, quyền được học tập và phát triển
w Trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Như đã trình bày ở trên, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là luật nguồn của tất cả các ngành luật khác trong việc xây dựng các quy phạm có liên quan đến quyền trẻ em Vì vậy, tìm hiểu các quyền cơ bản của trẻ em trong Luật này là cần thiết Nhưng ở đây, không đề cập đến các quyền của người chưa thành niên bởi vì không giống như Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, nước ta không đồng nhất khái niệm trẻ em và người chưa thành niên (xem Chương I, mục 1.1) Tuy nhiên, các quyền cơ bản của trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vẫn được xây dựng trên cơ sở quán triệt tinh thần của Công ước 1999
Theo Chương II Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, các quyền cơ bản của trẻ em bao gồm:
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch (Điều 5)
- Quyền được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức (Điều 6)
- Quyền được sống chung với cha mẹ, quyền được nhận làm con nuôi (Điều 7)
- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự (Điều 8)
- Quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe (Điều 9)
w Trong Bộ luật Dân sự (sau đây gọi tắt là BLDS)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24“Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt” ( Lời nói đầu, Công ước 1989) Vì vậy, pháp luật dân sự Việt Nam không coi trẻ em và người chưa thành niên là những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (xem bảng 2) Trong một số giao dịch dân sự nhất định, tùy theo độ tuổi theo quy định của pháp luật, các em phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật đó là cha, mẹ đối với con chưa thành niên (khoản 1 Điều 150 BLDS) Nếu người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên, khi có yêu cầu sẽ phát sinh việc giám hộ (điểm a khoản 2 Điều 67 BLDS) Những điều kiện của cá nhân làm người giám hộ phải tuân theo quy định của Đều
69 BLDS
Bảng 2: Từ Điều 22, 23 BLDS ta có thể khái quát năng lực hành vi dân sự
của người chưa thành niên như sau:
Người chưa đủ 6
tuổi
Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
- Không có năng lực
hành vi dân sự
- Mọi giao dịch dân
sự do người đại diện
theo pháp luật xác
lập, thực hiện
- Năng lực hành vi dân sự hạn chế
- Được quyền xác lập, thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
- Khi xác lập thực hiện các giao dịch dân sự khác phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
- Năng lực hành vi dân sự hạn chế
- Được quyền tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nếu có tài sản riêng
đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ (trừ những giao dịch dân sự mà pháp luật quy định người chưa thành niên không được tham gia)
-Nếu không có tài sản riêng, việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25(giống như người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi)
Theo Điều 16 BLDS, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi ngời đó chết Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân lại gắn với quyền dân
sự của cá nhân đó Trẻ em, người chưa thành niên cũng là một cá nhân trong xã hội nên họ cũng được hưởng những quyền dân sự do pháp luật quy định, bao gồm:
- Quyền nhân thân (Chương II, mục 2 BLDS): quyền đối với họ, tên ( Điều 28), quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 32), quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 33), quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 37), quyền nhận cha, mẹ (Điều 39), quyền được nhận làm con nuôi (Điều 40), quyền đối với quốc tịch (Điều 41), quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 43)… Ngoài ra, trẻ còn có quyền được khai sinh Điều 55 BLDS quy định: “Mọi người khi sinh ra đều có quyền được khai sinh không phân biệt sinh trong giá thú hoặc ngoài giá thú” Đây là quyền bình đẳng đối với mọi trẻ em, ngay cả đối với những trẻ có hoàn cảnh ra đời đặc biệt như trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi (Điều 56 BLDS)
- Quyền về tài sản gồm:
+ Quyền có tài sản riêng:
Người chưa thành niên có quyền sở hữu đối với tài sản của mình theo những căn cứ xác lập quyền sở hữu tại Điều 176 BLDS:
ú Do lao động, hoạt động sản xuất (theo quy định của pháp luật lao động)
ú Được chuyển giao quyền sở hữu theo quyết định của Tòa án (Ví dụ: quyết định của Tòa án về việc cấp dưỡng cho trẻ)
ú Thu hoa lợi, lợi tức
ú Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến
ú Được thừa kế tài sản
ú Xác lập quyền sở hữu đối với vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên theo quy định của pháp luật
+ Quyền sử dụng đất đai: Ngoài tài sản riêng, người chưa thành niên
có thể có tài sản chung cùng với các thành viên khác trong hộ gia đình Theo Điều
118 BLDS, “tài sản chung của hộ gia đình gồm tài sản do các thành viên cùng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình cũng là tài sản chung của hộ”
- Quyền thừa kế:
Quyền thừa kế là bình đẳng đối với mọi trẻ em và người chưa thành niên, thể hiện ở Điều 679 BLDS: Ở hàng thừa kế thứ nhất, pháp luật dân sự không có sự phân biệt giữa con đẻ và con nuôi trong việc hưởng thừa kế theo pháp luật từ cha
mẹ chúng, không phân biệt giữa con trong giá thú và con ngoài giá thú, trừ trường hợp thừa kế di sản giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế phải theo quy định của pháp luật (Điều 682 BLDS) Các quy phạm về thừa kế còn hướng đến việc bảo vệ trẻ
em ngay từ khi trẻ chưa sinh ra đời Điều 688 khoản 1 BLDS quy định: “Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra, thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, thì được hưởng”
Đối với việc thừa kế theo di chúc, BLDS đã xác định rõ con chưa thành niên là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Điều 672 BLDS quy định: Con chưa thành niên vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần
ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phàn ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối hưởng di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều 645 hoặc Điều 646 khoản 1 của BLDS
w Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sau đây gọi tắt là BLHS)
Các quy định của pháp luật hình sự nước ta luôn hướng đến việc bảo vệ trẻ
em và người chưa thành niên Đó là sự bảo vệ trẻ em, người chưa thành niên chống lại các hình thức xâm hại của tội phạm, đồng thời thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo đặc biệt của Nhà nước ta khi xử lý các trường hợp người chưa thành niên phạm tội (xem Chương II, mục 2.4) Nhưng ở đây chỉ tập trung phân tích các quy định pháp luật hình sự áp dụng đối với những tội phạm xâm hại trẻ em, người chưa thành niên
Điều 48 khoản 1 BLHS quy định: Phạm tội đối với trẻ em là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Ngay trong các điều luật trong Phần các tội phạm cũng đã xác định rõ xâm phạm trẻ em, người chưa thành niên là những tình tiết định khung tăng nặng, thường ở khung có mức hình phạt cao nhất
Cụ thể:
- Giết trẻ em là tình tiết định khung tăng nặng của tội giết người với khung hình phạt từ mười hai đến hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm c khoản 1 Điều 93 BLHS)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27- Đe dọa giết trẻ em là tình tiết định khung tăng nặng của tội đe dọa giết người (điểm c khoản 2 Điều 103 BLHS)
- Hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là tình tiết định khung tăng nặng của tội hiếp dâm (khoản 4 Điều 111 BLHS) Đặc biệt, mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi mặc dù trẻ em đó đồng ý đều phạm tội hiếp dâm trẻ em và là tình tiết định tội của tội hiếp dâm trẻ em (khoản 4 Điều 112 BLHS)
Ngoài ra, đối tượng xâm phạm là trẻ em, người chưa thành niên là tình tiết định khung tăng nặng của các tội như:
- Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của trẻ em, người chưa thành niên: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 109), tội hành hạ người khác (Điều 110), tội lây truyền HIV cho ngời khác (Điều 117), tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118)
- Các tội xâm phạm sở hữu: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134)
- Các tội phạm về ma túy: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194), tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198), tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200)
- Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng: Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 253), tội chứa mại dâm ( Điều 254), tội môi giới mại dâm (Điều 255),v.v
Bên cạnh đó, BLHS còn quy định một số tội phạm đặc biệt mà đối tượng tấn công của tội phạm là trẻ em, người chưa thành niên, chủ yếu là những tình tiết định khung tăng nặng được tách ra độc lập khỏi các điều luật Cụ thể: Tội hiếp dâm tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm (Điều 111) và tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112); Tội cưỡng dâm tách thành hai tội: Tội cưỡng dâm (Điều 113) và tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114) Ngoài ra, đối tượng xâm hại là trẻ em, người chưa thành niên còn được BLHS quy định trong các điều luật:
- Điều 94: Tội giết con mới đẻ
- Điều 115: Tội giao cấu với trẻ em
- Điều 116: Tội dâm ô đối với trẻ em
- Điều 120: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
- Điều 148: Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn
- Điều 151: Tội ngược đãi hoặc hành hạ con, cháu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28- Điều 152: Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Đây là một tội phạm mới được quy định trong BLHS năm 1999 nhằm xác định trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái
- Điều 228: Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em
- Điều 252: Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp
- Điều 256: Tội mua dâm người chưa thành niên
Ở nước ta, các quyền cơ bản của trẻ em và người chưa thành niên còn được quy định trong các ngành luật khác như trong Bộ luật Lao động, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm
1991, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 … Nhưng ở đây không có điều kiện để phân tích hết các Bộ luật, Luật, Pháp lệnh kể trên
Từng ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam có những cách thức, những quy định đặc trưng để bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên trong ngành luật mình Như vậy, sau khi phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Việt Nam đã có một hành lang pháp lý vững chắc nhằm bảo đảm được quyền của trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung trong mọi mặt của đời sống xã hội
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào khi ra đời cũng có một quá trình phát triển nhất định Nghĩa là, cái hiện hữu bao giờ cũng là kết quả của một quá trình lâu dài tiếp thu, kế thừa và phát triển trên cơ sở những cái đã xuất hiện và tồn tại trước đó Một đất nước Việt Nam phồn vinh như ngày nay không phải tự nhiên mà
có, đó là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài kể từ khi Vua Hùng dựng nước, qua hàng ngàn năm chống xâm lược phương Bắc, mấy mươi năm chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, tiếp theo xây dựng và bảo vệ đất nước sau khi độc lập, phát triển đất nước theo con đường đổi mới Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành nói chung, những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng, cũng thế, không phải ra đời một cách tự nhiên, nó được xây dựng và ra đời trên một nền móng được hình thành trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc
2.1 TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
2.1.1 Thời kỳ phong kiến
2.1.1.1 Trước thế kỷ XV
Thời kỳ này bắt đầu từ khi hình thành tổ chức Nhà nước đầu tiên, Nhà nước Văn Lang, tiếp theo là sự ra đời của Nhà nước Âu Lạc Sau đó, Triệu Đà bị nhà Hán đánh bại, nước ta là thuộc địa của nước Trung Hoa phong kiến cho đến đầu thế kỷ thứ X sau công nguyên
Vào thế kỷ thứ X sau khi đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền - người anh hùng dân tộc đã xưng vương (năm 939) và như vậy, việc
ra đời Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập đầu tiên đã chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn nghìn năm bị bọn phong kiến Trung Hoa đô hộ Nhưng sau khi Ngô Quyền qua đời, chính quyền Trung ương của Nhà nước phong kiến Việt Nam tan rã do các cuộc nổi loạn cát cứ của 12 lãnh chúa phong kiến địa phương và nước ta bị rơi vào nạn mà sử sách thường gọi là “loạn 12 sứ quân” suốt hơn 20 năm trời (944 - 967) Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp được nạn cát cứ, thống nhất giang sơn về một mối và nhà Đinh lên nắm quyền lực Nhà nước (968 - 980), rồi tiếp theo là nhà tiền Lê (980 - 1009) Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30nên hoạt động lập pháp dưới các triều đại đầu tiên này của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập vẫn chưa được chú trọng
Về hệ thống pháp luật hình sự thì dưới các triều Ngô, Đinh và tiền Lê không hề thấy có nguồn tài liệu nào nói đến các di tích văn hóa pháp lý hoặc việc soạn thảo hay ban hành văn bản pháp luật nào của Nhà nước phong kiến trong giai đoạn này (936 - 1009) Vì chưa có hệ thống pháp luật hình sự nên giai đoạn trước thế kỷ XV, Nhà nước ta vẫn chưa có các quy phạm pháp luật trong việc xử lý người phạm tội chưa thành niên
2.1.1.2 Thời kỳ nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ
Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, lập nên nhà Lý Dưới triều đại này, công việc soạn thảo và ban bố pháp luật đã được những người cầm quyền phong kiến quan tâm đúng mức Chẳng hạn, vào năm 1042, vua Lý Thái Tông đã ban hành bộ Hình thư (3 tập) - Bộ luật viết đầu tiên của Việt Nam, nhưng rất tiếc là di tích văn hóa pháp lý đầu tiên này của nước
ta không còn giữ được cho đến ngày nay Tuy nhiên, sử sách có ghi lại một số chiếu do các Vua Lý ban trong thời gian trị vì đất nước Nghiên cứu các chiếu này,
ta thấy lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, dưới thời kỳ nhà Lý
đã có quy định về tha miễn hình phạt Năm 1042, Lý Thái Tông xuống chiếu cho
“những người từ 70 tuổi trở lên, 80 tuổi trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những người ốm yếu cho đến các thân thuộc nhà Vua từ hạng Đại công trở lên phạm tội thì cho chuộc bằng tiền, nếu phạm tội thập ác thì không được theo
lệ này ”3
Tuy quy định còn rất ít nhưng pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lý cũng đã bắt đầu chú ý đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội, thể hiện ở việc tha miễn hình phạt cho người trẻ tuổi, người chưa thành niên …
Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh và được sự ủng
hộ của Trần Thủ Độ, ông đã lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại nhà Trần Về mặt lập pháp, có hai Bộ luật được ban hành dưới đời vua Trần Thái Tông và Trần Dụ Tông Cũng như Bộ hình thư thời Lý, hai Bộ luật nhà Trần cũng đã bị mất, cho nên, chúng ta không thể biết về từng điều khoản của hai Bộ luật đó
Đến thời kỳ nhà Hồ, để khôi phục kỷ cương và củng cố uy quyền của Nhà nước phong kiến, chế tài hình sự được áp dụng đã mang tính chất hà khắc nặng nề hơn các triều đại trước rất nhiều
Nhưng nhìn chung, pháp luật hình sự dưới những triều đại này chưa có những quy định riêng, cụ thể trong việc xử lý người phạm tội là trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung
3 Xem: Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, t.I, tr 263
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 312.1.1.3 Thời kỳ nhà Lê sơ, nhà Nguyễn
Từ năm 1918, cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Lê Lợi lãnh đạo với sự giúp sức của người anh hùng dân tộc Ngưyễn Trãi, đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác; năm 1428, đã đánh đuổi được quân xâm lược, giành lại độc lập cho Tổ quốc
Vấn đề xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng đã được nhà Lê quan tâm Chính triều đại Lê Thánh Tông đã cho ra đời Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng vào năm 1483 và Hồng Đức thiện chính thư - một văn bản pháp luật có chứa đựng một số quy phạm pháp luật hình
sự
Bộ Luật Hồng Đức (còn gọi là Lê triều hình luật) - một công trình pháp điển hóa lớn nhất của Việt Nam thời trung cổ - là một trong hai Bộ luật lớn nhất của chế độ phong kiến Việt Nam4 đã được biên soạn rất công phu và được áp dụng vào công quyền Việt Nam suốt mấy thế kỷ Có thể nói đây là một Bộ luật đầy đủ
và hoàn chỉnh của nền cổ luật Việt Nam, làm rạng danh cho nền văn hiến Việt Nam
Trong Bộ luật Hồng Đức, lần đầu tiên pháp luật hình sự Việt Nam quy định việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào nhân thân người phạm tội, trong đó có chú ý đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Theo Điều 10 Bộ luật Hồng Đức, “từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở xuống và những kẻ phế tật (…) phạm tội lưu đồ trở xuống, được chuộc bằng tiền … 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống và những kẻ bịnh nặng (…) phạm tội phản nghịch, giết người, đáng lẽ phải xử tử thì trong trường hợp nầy phải tâu lên vua để vua quyết định Những người nầy phạm tội trộm, đánh người bị thương thì cũng cho chuộc tội, việc này thì không buộc tội, 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống, dù phạm tử tội cũng không áp dụng hình phạt …” Điều luật giảm nhẹ hình phạt cho trẻ em , người già cả và người tàn tật được áp dụng đối với cả người phạm tội mà trong thời gian phạm tội vẫn còn nhỏ, còn trẻ hoặc chưa bị tàn tật, nhưng tại thời điểm tội phạm bị phát giác thì người đó đã thành niên, đã già cả hoặc đã bị tàn tật (Điều
17 Bộ luật Hồng Đức)
Ngoài ra, ở quyển 3, chương hộ hôn gia đình quy định, nếu trẻ con và phụ
nữ chứa chấp dân đinh lậu thì chỉ bị đánh trượng hay tội biếm, khỏi phái đóng tiền khóa dịch (Điều 285 Bộ luật Hồng Đức)
Ở chương đoán ngục (chương xử án), Bộ luật Hồng Đức cho phép những người từ 15 tuổi trở xuống khỏi phải tra khảo mà chí căn cứ vào lời khai của những người làm chứng để định tội (Điều 665 Bộ luật Hồng Đức)
4
Ý nói đến hai Bộ Luật: Hồng Đức và Gia Long
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Tuy quy định không nhiều và rải rác nhưng pháp luật hình sự thời kỳ nhà
Lê sơ cũng đã lưu ý đến việc bảo vệ người phạm tội là người chưa thành niên Đây
là một quy định rất tiến bộ của pháp luật hình sự phong kiến Việt Nam Chính vì thế, nó đã được các nhà làm luật quan tâm khi hoàn thiện pháp luật hình sự hiện hành về người chưa thành niên phạm tội của Nhà nước ta
Bước sang thế kỷ XVI, những mâu thuẫn bên trong của chế độ nhà Lê bắt đầu bộc lộ gay gắt, dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt và những cuộc xung đột giữa các tập đoàn phong kiến đối lập
Năm 1802, sau khi đánh bại hoàn toàn lực lượng của triều đại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu Gia Long, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay) Sau khi lên ngôi hoàng đế, Vua Gia Long giao cho Tiền quân Bắc thành tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757 – 1817) là Tổng tài soạn thảo Bộ luật có tên Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) Đây là bộ luật lớn thứ hai của chế độ phong kiến Việt Nam Bộ luật Gia Long được biên soạn trong một thời gian dài, đến năm
1811 thì hoàn tất và năm 1812 được khắc in lần đầu ở Trung Quốc, có hiệu lực từ năm 1813 trên phạm vi toàn quốc
Cũng như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long quy định: đối với trẻ em 15 tuổi trở xuống, nếu có phạm tội thì quan ti không được dùng hình phạt tra khảo, chỉ căn cứ vào bằng cớ mà định tội (Điều 10 Bộ luật Gia Long) Ngoài ra, luật Gia Long còn quy định tha chết cho con trai từ 15 tuổi trở xuống nếu họ phạm tội mưu phản đại nghịch (Điều 223 Tổng mục - Bộ luật Gia Long) Đặc biệt đối với trẻ em
7 tuổi trở xuống “dù có phạm tội chết cũng không chịu hình phạt nào” (Điều 21
Bộ luật Gia Long)
Nhìn chung, những quy định của pháp luật hình sự trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội thời kỳ nhà Nguyễn cũng như thời kỳ nhà Lê sơ tuy còn
ít, riêng lẻ, tản mạn nhưng đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung khi họ phạm tội và ngay cả khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại Những quy phạm này chính là cơ sở ban đầu cho các nhà lập pháp hình sự nước ta quan tâm đến việc đưa ra những quy định riêng để xử lý người chưa thành niên phạm tội trong các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam sau này
2.1.2 Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược
Sau khi cùng Anh, Mỹ buộc triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) ký Hiệp ước Thiên Tân (27-6-1858), thực dân Pháp kéo quân viễn chinh từ Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam Ngày 1-9-1858, Pháp tấn công, mở đầu cho thời kỳ xâm lược và thống trị của chúng ở Việt Nam
Thực dân Pháp đã thực hiện chính sách “chia để trị”, chia đất nước Việt Nam thành ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau Nam kỳ là đất thuộc địa, không còn quan hệ phụ thuộc vào triều đình Huế; Bắc kỳ là đất “nửa bảo hộ” đặt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33dưới quyền cai trị của một viên thống sứ người Pháp; ở Trung kỳ, triều đình bù nhìn vẫn còn được duy trì với danh hiệu “Chính phủ Nam triều”, nhưng quyền thực tế nằm trong tay viên khâm sứ người Pháp là Chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung kỳ
w Ở Nam kỳ, theo Điều 11 Sắc luật ngày 25-7-1884, Bộ luật Gia Long được
áp dụng đối với người phạm tội là người bản xứ Trong Sắc luật 16-3-1890, thực dân Pháp quy định từ thời điểm này, các Tòa án ở Nam kỳ phải áp dụng Bộ luật hình sự của Pháp thay cho Bộ luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp pháp luật hình
sự của Pháp chưa dự liệu được
Sắc luật ngày 31-12-1912 của Toàn quyền Đông Dương đã sửa đổi 56 điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cải (Code pénal modifié) và cho áp dụng tại Nam kỳ
Hình luật canh cải gồm lời nói đầu, 4 quyển với 484 điều, trong đó quyển hai quy định về những nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm, người phạm tội là người già và chưa đến tuổi thành niên Đây là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam5 quy định một cách có hệ thống về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên Tuy Bộ luật không quy định độ tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự nhưng đã có quy định giảm nhẹ hình phạt cho những người phạm tội dưới 16 tuổi: “nếu là tội xử tử, tù khổ sai chung thân hay lưu đầy, thì nó sẽ bị tù từ 10 năm tới 20 năm” (Điều 67 Hình luật canh cải) Đây là quy định tiến bộ của Bộ luật Hình sự Pháp đã được các nhà lập pháp nước ta sau này tham khảo khi xây dựng pháp luật hình sự Việt Nam
w Ở Bắc kỳ, Nghị định ngày 2-12-1921 của Toàn quyền Đông Dương đã cho áp dụng Luật hình An Nam
Luật hình An Nam gồm 40 chương với 233 điều Trong 9 chương đầu, quy định những vấn đề chung về các loại hình phạt, trọng tội, khinh tội, tội vi cảnh, tái phạm, phạm tội chưa đạt, đồng phạm… Những chương sau quy định các loại tội phạm cụ thể
Luật hình An Nam không có gì khác biệt lớn so với Hình luật canh cải về mặt nội dung, mà chủ yếu khác nhau về mặt hình thức Điều đó có nghĩa là vấn đề
áp dụng pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Bắc kỳ tương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34phạt bổ sung, đồng phạm, tái phạm, phạm nhiều tội, những tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên dưới
16 tuổi, người già, người tàn tật… Các chương sau quy định về các tội phạm cụ thể
Tiến hơn một bước so với Hình luật canh cải, Hoàng Việt hình luật đã có quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội tại Điều 84: “Phàm người phạm tội mà khi sự phát mới đầy 10 tuổi trở xuống, …, thời khỏi phải chịu tội về mặt hình, …”
Có thể nói, sau thời kỳ phong kiến, đây là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên ở Việt Nam quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội nhằm hướng đến việc bảo vệ trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung - những người mà chưa trưởng thành cả về thể chất lẫn tinh thần Điều đó thể hiện
sự tiến bộ của pháp luật hình sự nước ta lúc bấy giờ
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy, pháp luật hình sự thời kỳ thực dân Pháp xâm lược chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật hình sự Pháp; nó thật sự là công cụ để thực dân Pháp và bọn tay sai duy trì chế độ thực dân xâm lược và đàn
áp dã man nhân dân ta Tuy nhiên, bên cạnh đó, xét về mặt khoa học pháp lý, một
số chế định của pháp luật hình sự trong giai đoạn này như: chủ thể của tội phạm, phân loại tội phạm, đồng phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự,v.v…, trong đó quy định về chủ thể của tội phạm luôn bảo vệ những người nhỏ tuổi, người chưa thành niên - những người mà tâm sinh lý chưa ổn định, cần sự bảo vệ đặc biệt của pháp luật - cần được nghiên cứu để rút ra những giá trị hợp lý phục vụ hoạt động lập pháp hình sự hiện nay
2.2 TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985
2.2.1 Từ Cách mạng Tháng tám năm 1945 đến năm 1954
2.2.1.1 Thời kỳ sau Cách mạng Tháng tám
Sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất Nền kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm và Đảng ta xác định giữ vững chính quyền
là nhiệm vụ hàng đầu Chính vì vậy, ngay từ khi mới hình thành, pháp luật hình sự của chính quyền nhân dân đã tập trung thực hiện các nhiệm vụ đó
Một số các văn bản pháp luật hình sự thời kỳ đó là: Sắc lệnh số 6-SL ngày 5-9-1945 “cấm nhân dân Việt Nam không được đăng lính, bán thực phẩm, dẫn đường, liên lạc, làm tay sai cho Pháp”; Sắc lệnh số 7-SL ngày 5-9-1945 “cấm đầu
cơ, tích trữ thóc, gạo” và tiếp theo đó ban hành Sắc lệnh số 45-SL ngày 9-10-1945
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35“cấm hẳn việc xuất cảng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm thuộc về ngũ cốc”; Sắc lệnh số 223-SL trừng trị các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, phù lạm hoặc biển thủ công quỹ
Tuy nhiên, do tình hình hết sức khẩn trương không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết nói riêng, nên ngày 10-10-1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật” và Bộ “hình luật pháp tu chính” với điều kiện “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”
Như vậy, sau Cách mạng Tháng tám thành công, Nhà nước công nông non trẻ đã tiến hành tích cực hoạt động lập pháp nói chung và hoạt động lập pháp hình
sự nói riêng Tuy nhiên, do phải đương đầu với cuộc kháng chiến nên ta chưa có điều kiện ban hành những quy định riêng áp dụng đối với người phạm tội chưa thành niên Vấn đề độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên, hình phạt áp dụng đối với họ… chủ yếu theo những quy định cũ
2.2.1.2 Thời kỳ toàn quốc kháng chiến
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chống thực dân Pháp xâm lược
Vì vậy, pháp luật thời kỳ này, trong đó có pháp luật hình sự chủ yếu phục
vụ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn tay sai
Có thể kể đến các văn bản pháp luật thời ký này là: Sắc lệnh số 200-SL ngày 8-7-1948, Sắc lệnh số 93-SL ngày 22-5-1950, Sắc lệnh số 106-SL ngày 15-6-
1950 quy định nghĩa vụ kháng chiến; Sắc lệnh số 133-SL ngày 20-1-1953 trừng trị những tội phạm đến an toàn Nhà nước, đối nội và đối ngoại; Sắc lệnh số 95-SL ngày 13-8-1949 về bí mật kinh tế, Sắc lệnh số 128-SL ngày 17-7-1950 về bí mật công văn, thư tín
Nhìn chung, số lượng văn bản pháp luật hình sự được ban hành trong thời
kỳ này tương đối lớn với nội dung ngày càng phong phú nhưng chủ yếu đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chứ chưa lưu ý đến việc ban hành các quy phạm pháp luật hình sự nhằm bảo vệ người phạm tội là trẻ em, người chưa thành niên - những người chủ tương lai của đất nước
2.2.2 Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị bọn đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Tình hình đó đã hình thành ở nước ta hai khu vực có chế độ chính trị và
xã hội khác nhau Ở miền Bắc, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước; ở miền Nam, tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà Pháp luật hình sự trong thời kỳ này phải phục vụ thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng đó
Để đáp ứng yêu cầu đó, ở miền Bắc đã ban hành một số các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đáng chú ý sau: Pháp lệnh ngày 30-10-1967 trừng trị các tội phản cách mạng, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản
xã hội chủ nghĩa, Pháp lệnh ngày 21-10-1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân
Tuy nhiên, để bảo đảm quyết định hình phạt được chính xác, Bản tổng kết
về thảo luận báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân năm 1959 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “Trước hết, chúng ta cần căn cứ vào những tính chất và mức độ nguy hại của phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng, phạm pháp nhẹ Chúng ta cũng cần căn cứ vào người phạm pháp (tuổi, bản chất, có tiền án hay không, khả năng cải tạo, thành tích…) và trường hợp tăng hoặc giảm tội…”6 Chính vì vậy mà Chỉ thị số 46-TH ngày 14-1-1969 của Tòa án nhân dân tối cao về việc tăng cường và phát huy hơn nữa tác dụng của công tác Tòa án trong công tác bảo vệ trật tự trị an, bảo vệ tài sản của Nhà nước và quản lý thị trường đã quy định
về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự cuả người chưa thành niên: “Nói chung, đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi, thì không đưa ra Tòa án xét xử; từ 14 tuổi đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa ra xét xử thì có châm chước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng đối với loại từ 14 tuổi đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng”7 Điều đó có nghĩa là pháp luật hình sự thời kỳ này ở miền Bắc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên dưới 14 tuổi, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người từ 18 tuổi trở lên, và chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ
14 tuổi đến 16 tuổi nếu họ phạm tội nghiêm trọng Đây là một quy định tiến bộ của Nhà nước ta kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay, mở màn cho việc hình thành các quy phạm pháp luật hình sự có tính tập trung, hệ thống và chi tiết trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội sau này Chính vì vậy mà quy định này về sau đã được các nhà lập pháp nước ta tiếp thu, đặc biệt đã được chính thức ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999
Ở miền Nam, do phải đương đầu với cuộc chiến tranh rất ác liệt, nên các nhà lập pháp chính quyền cách mạng không có điều kiện ban hành nhiều các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự nói riêng, nhưng các văn bản quy phạm pháp luật hình sự được ban hành chủ yếu đáp ứng các yêu cầu của cách mạng, góp phần phục vụ giải phóng miền Nam, thống
Trang 37nhất đất nước, chứ chưa chú ý nhiều đến việc ban hành các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên
2.2.3 Từ khi đất nước thống nhất năm 1975 cho đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985
Với đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, nước nhà được thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng cả nước bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
Cùng với sự thống nhất nước nhà, vấn đề thống nhất pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng trong cả nước cũngđã được giải quyết Pháp luật hình
sự trong giai đoạn này đã bám sát và phục vụ kịp thời các yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Song song với sự tồn tại của ba Pháp lệnh (Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân cùng năm 1970) được xem là có hiệu lực cao nhất của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954 - 1975), sự ra đời của Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ ngày 20-5-1981 và Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30-6-1982) là một sự kiện pháp lý quan trọng, nó đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp luật hình sự của Nhà nước ta
Ngoài ra, trong thời kỳ này, chúng ta cũng đạt độ tiến bộ quan trọng trong việc nhận thức về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giúp cho các Tòa án tránh được sự tùy tiện khi áp dụng các tình tiết này trong thực tiễn xét
xử Mặc dù, chưa có văn bản quy phạm pháp luật hình sự nào quy định những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng sự ra đời của Công văn số 38
- NCPL ngày 16-1-1976 của Tòa án nhân dân tối cao đã đánh dấu một bước tiến
bộ rõ rệt về việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong công tác xét xử
Pháp luật hình sự thời kỳ này đã xem phạm tội đối với trẻ em, là những người cần chú ý bảo vệ về lý do đạo đức, nhân đạo, là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự Xúi giục, lôi kéo người người chưa thành niên phạm tội cũng là một tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự vì đây là một tội ác đối với lớp người còn non trẻ, trong trắng, đưa họ vào con đường lưu manh hóa, trụy lạc hóa
Bên cạnh chống việc tội phạm xâm hại đến trẻ em, người chưa thành niên, pháp luật hình sự thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 còn bảo vệ người phạm tội là người chưa thành niên: người phạm tội là người chưa thành niên
là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân tội phạm Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, Công văn số 37 - NCPL
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38ngày 16-1-1976 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn: “Đối với những trường hợp người chưa thành niên từ 13 tuổi đến 14 tuổi có những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến tính mệnh sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự hoặc xâm phạm nghiêm trọng đến tài sản có tính chất hủy hoại… thì cá biệt có thể xử phạt về hình sự nếu người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự”
Đối với người chưa thành niên phạm tội thuộc lứa tuổi 14 và 15 tuổi, chỉ xử phạt về hình sự trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng
Đối với người chưa thành niên phạm tội thuộc lứa tuổi 16 và 17 tuổi, phải coi có trách nhiệm hình sự về mọi hành vi phạm tội”8
Tuy quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên trong thời kỳ này có sự khác biệt so với Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự 1999 nhưng đây cũng là một quy định tiến bộ của Nhà nước ta trong hoạt động lập pháp hình sự thời kỳ đó Quy định này đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của nước ta tham khảo để rút ra những giá trị hợp lý phục vụ cho việc ban hành các quy phạm pháp luật hình sự riêng biệt và cụ thể trong việc
xử lý người phạm tội là người chưa thành niên trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và
Bộ luật Hình sự năm 1999
Từ những phân tích ở trên, ta có thể thấy rằng trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, chúng ta chưa có một văn bản luật nào về hình sự đầy đủ và hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức để quy định về tội phạm, hình phạt, việc quyết định hình phạt, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án, thời hiệu chấp hành hình phạt, các tội phạm cụ thể và hình phạt áp dụng đối với tội phạm đó…, những quy định này nếu có thì chỉ nằm trong các văn bản dưới luật mà giá trị pháp lý cao nhất là những Pháp lệnh do
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành vào năm 1967 - 1 970 và đầu thập kỷ 80 Chính vì vậy mà thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, chúng ta chưa có một hệ thống các quy định riêng trong một văn bản luật hoàn chỉnh để xử
lý người phạm tội là người chưa thành niên, chúng ta chỉ mới bắt đầu chú ý đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong những văn bản pháp luật do Toà án nhân dân tối cao ban hành như: công văn, chỉ thị… Tuy vậy, nhưng đây rõ ràng là những quy định tiến bộ của Nhà nước ta lúc đó làm tiền
đề cho việc xây dựng nên những quy định pháp luật hình sự chi tiết, hệ thống đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999
8
Xem: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 1979, t.II, tr.39, 43
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 392.3 TỪ KHI BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 RA ĐỜI ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, nhân dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã giành được những thành tựu quan trọng trên một
số lĩnh vực, cải biến được một phần cơ cấu của nền kinh tế - xã hội, tạo ra cơ sở đầu tiên cho sự phát triển mới
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải những khó khăn và khuyết điểm nghiêm trọng trong lĩnh vực xây dựng và quản lý kinh tế: nền kinh tế quan liêu, bao cấp không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân Pháp chế xã hội chủ nghĩa chậm được tăng cường, pháp luật kỷ cương bị buông lỏng Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, việc ban hành
Bộ luật Hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 27-6-1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, đã thông qua
Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi là BLHS 1985)
Như vậy, trong lịch sử pháp luật hình sự của Nhà nước ta kể từ năm 1945,
Bộ luật Hình sự năm 1985 là văn bản pháp điển hoá đầy đủ (tổng hợp) đầu tiên được thể hiện dưới hình thức Bộ luật là hình thức lập pháp cao của thế giới nói chung Bằng hình thức thể hiện đó, Bộ luật Hình sự đã trình bày một cách có hệ thống, toàn diện - đương nhiên trong điều kiện lúc bấy giờ, về một lĩnh vực quan
hệ xã hội thường được xem là một trong những loại phức tạp nhất
Lần đầu tiên, ở nước ta đã có một quy định pháp luật rõ ràng và đầy đủ về
cơ sở của trách nhiệm hình sự Vì vậy, ta có thể bỏ được nguyên tắc tổng hợp, khẳng định nguyên tắc “chỉ một người phạm một tội do pháp luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”
Lần đầu tiên, pháp luật hình sự của nước ta quy định một hệ thống hình phạt tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh thể hiện chính sách trừng trị của Đảng và Nhà nước ta đối với những người phạm tội Đó là quan điểm về sự kết hợp trừng trị và giáo dục, thuyết phục, lấy giáo dục làm trọng
Đặc biêt, lần đầu tiên, pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định riêng, hệ thống về việc xử lý người chưa thành niên phạm tội: vấn đề trách nhiệm hình sự người chưa thành niên đã được quy định trong một chương riêng của Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1985 - Chương VII - Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội gồm 11 điều quy định về áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, những nguyên tắc cơ bản về xử lý những hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các biện
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 40pháp tư pháp và hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, tổng hợp hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án
Trên tinh thần lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật Hình sự năm 1985 được tiến hành theo những nguyên tắc đặc biệt, chỉ đưa những người này ra xét xử và áp dụng hình phạt đối với họ trong những trường hợp thật cần thiết, đồng thời mức án áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người phạm tội
Bộ luật khi mới được ban hành vào năm 1985 Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội (Chương VII) vẫn được giữ nguyên Điều đó có thể nói rằng cho đến thời điểm đó Bộ luật Hình sự năm 1985 được xem như một văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách có hệ thống, toàn diện, đầy đủ và chặt chẽ nhất vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội là người chưa thành niên nhằm đáp ứng một cách cao nhất yêu cầu bảo
vệ đặc biệt trẻ em nói riêng, người chưa thành niên nói chung, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta, phù hợp với tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, thông qua đó đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống
có hiệu quả người phạm tội chưa thành niên
2.4 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986), sự nghiệp đổi mới do đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu trên nhièu lĩnh vực Cùng với sự nghiệp đổi mới mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã khởi xướng là con đường mới, đúng đắn, tất yếu và có tính quy luật cho sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XXI mà Đại hội Đảng lần thứ VIII (từ 28-6 đến 1-7-1996) đã chỉ ra - “xây dựng Nhà nứớc pháp quyền Việt Nam”9, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1985 của nước ta là rất cần thiết vì những lý do sau:
- Nhà nước pháp quyền bao giờ cũng coi các quyền và tự do của con người
là những giá trị xã hội cao quý nhất, đồng thời là các khách thể hàng đầu được ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ bằng pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự