MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề bảo vệ con người tạo dựng một xã hội trong sạch và lành mạnh đảm bảo cho sự phát triển của xã hội, của đất nước là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt bảo vệ con người gắn với việc bảo vệ sức khoẻ và tính mạng được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển do công cuộc đổi mới cũng như hội nhập quốc tế, giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới thì tình hình tội phạm ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp. Theo đó quyền con người luôn được pháp luật bảo hộ, nhất là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Chính vì thế mà các cơ quan bảo vệ pháp luật đã luôn tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người và đặc biệt là các hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác và được quy định rất sớm trong pháp luật hình sự ở nước ta Cùng với tình hình đổi mới và đi lên chung của đất nước, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An - là một trong những trung tâm văn hoá chính trị của khu vực miền Trung, đạt được nhiều thành tựu to lớn, ngày càng khẳng định được vị trí của mình, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên kéo theo đó cũng nảy sinh sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự tha hoá về đạo đức, lối sống, sự xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm như về trộm cắp, cướp giật, ma tuý, mại dâm, các tội xâm phạm sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của người khác, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác có chiều hướng gia tăng, xâm phạm trực tiếp tới khách thể được Pháp luật hình sự bảo vệ đó là tính mạng sức khoẻ của con người. Hậu quả mà tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người bị hại, ảnh hưởng tới tình hình trật tự, an ninh của xã hội. Bên cạnh đó thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác còn có nhiều vướng mắc, nhiều vụ án rất khó trong việc điều tra,truy tố dễ dẫn đến hiện tượng oan sai, bỏ lọt tội phạm. Quy định của pháp luật hình sự, xét xử về loại tội này còn chưa thống nhất, còn nhiều bất cập. Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn nghiên cứu đề tài "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt nam từ thực tiễn Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ luật học.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG VĂN SƠN
TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VINH,
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 8 1.2 Sự cần thiết và ý nghĩa việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác 12 1.3 Những quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác trong Luật hình sự một số nước trên thế giới 15
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC 18
2.1 Quá trình phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong luật hình sự Việt Nam 182.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 26
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC 58
3.1 Thực tiễn việc áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở thành phố Vinh,tỉnh Nghệ An 58 3.2 Các giải pháp nhằm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 68
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XHCN BLHS BLTTHS CTTP CYGTT HĐTP TAND THTT TNHS VKSND VKSNDTC
:Xã hội chủ nghĩa : Bộ luật Hình sự : Bộ luật Tố tụng hình sự : Cấu thành tội phạm : Cố ý gây thương tích : Hội đồng thẩm phán : Tòa án nhân dân : Tiến hành tố tụng : Trách nhiệm hình sự : Viện kiểm sát nhân dân : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số liệu, tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác với tội phạm nói chung 60 Bảng 3.2: Số liệu, tỷ lệ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác với các tội về trật tự trị an nói chung 60Bảng 3.3: Kết quả truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác theo từng khoản cụ thể 63 Bảng 3.4: Hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo bị xét xử về tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 65
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề bảo vệ con người tạo dựng một xã hội trong sạch và lành mạnh đảm bảo cho sự phát triển của xã hội, của đất nước là nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt bảo vệ con người gắn với việc bảo vệ sức khoẻ và tính mạng được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển do công cuộc đổi mới cũng như hội nhập quốc tế, giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới thì tình hình tội phạm ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp Theo đó quyền con người luôn được pháp luật bảo hộ, nhất là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Mọi người
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Chính vì thế mà các cơ quan bảo vệ pháp luật đã luôn tích cực đấu tranh ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người và đặc biệt là các hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác và được quy định rất sớm trong pháp luật hình sự ở nước ta
Cùng với tình hình đổi mới và đi lên chung của đất nước, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An - là một trong những trung tâm văn hoá chính trị của khu vực miền Trung, đạt được nhiều thành tựu to lớn, ngày càng khẳng định được
vị trí của mình, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên kéo theo đó cũng nảy sinh sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự tha hoá
về đạo đức, lối sống, sự xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội cũng như các loại tội phạm như về trộm cắp, cướp giật, ma tuý, mại dâm, các tội xâm phạm sức khoẻ, danh dự nhân phẩm của người khác, trong đó có tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác có chiều hướng gia tăng, xâm phạm trực tiếp tới khách thể được Pháp luật hình sự bảo vệ đó là tính mạng sức khoẻ của con người Hậu quả mà tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
Trang 6hại cho sức khỏe của người khác là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người bị hại, ảnh hưởng tới tình hình trật tự, an ninh của xã hội Bên cạnh đó thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác còn có nhiều vướng mắc, nhiều vụ án rất khó trong việc điều tra,truy tố dễ dẫn đến hiện tượng oan sai, bỏ lọt tội phạm Quy định của pháp luật hình sự, xét xử về loại tội này còn chưa thống nhất, còn nhiều bất cập
Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng
mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn
nghiên cứu đề tài "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của
người khác theo pháp luật hình sự Việt nam từ thực tiễn Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác không phải là vấn đề mới mẻ, đã có khá nhiều sách, công trình nghiên cứu, các bài viết đăng trên các tạp chí pháp lý đề cập đến loại tội phạm này Tuy nhiên, hiện nay tội phạm này là một trong các vấn đề nóng trong xã hội, diễn biến với tính chất ngày càng phức tạp nên đã được nhiều nhà khoa học Luật gia đề cập, nghiên cứu ở nhiều hình thức, mức độ, khía cạnh khác nhau nhưng các công trình nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận ở các góc độ khái quát chung nhất hoặc dưới góc độ so sánh tội phạm này với các loại tội phạm khác trong cùng chương hoặc các công trình nghiên cứu đó nghiên cứu tại thời điểm áp dụng BLHS cũ,
đã gần hết hiệu lực, phạm vi bài viết thuộc các địa phương khác nhau như:
Trong các giáo trình luật hình sự như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội năm 2008; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần
Trang 7hình sự Việt Nam phần các tội phạm cụ thể của Khoa luật Đại học quốc gia
Hà Nội năm 2005; Trong các công trình nghiên cứu khoa học về luật hình sự; Các tập bình luận khoa học về luật hình sự
Các công trình nghiên cứu đối với tội danh này như các bài viết trong các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ của một số tác giả: Luận văn thạc sỹ Luật học về
“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” của tác giả Tô
Ngọc Đường - Học viện khoa học xã hội, năm 2011; Luận án tiến sĩ luật học “
Đấu tranh phòng, chống tội CYGTT trên địa bàn tỉnh Thái Bình” của tác giả
Phạm Thị Mỹ Hương - Học viện khoa học xã hội năm 2016; Luận văn thạc sỹ
Luật học về “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” của tác giả Trần Cẩm Thanh - Học viện khoa học xã hội, năm 2016 và “Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn
Thị Hoà - Viện khoa học xã hội, năm 2016
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn rất nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, như Tạp chí Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tạp chí Tòa án nhân dân, trên rất nhiều số đã đề cập đến loại tội này trên nhiều
góc độ, khía cạnh khác nhau như bài viết của tác giả: Nguyễn Văn Dũng, Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 1/2018; Đỗ Đức Hồng Hà, Các quan điểm chung quanh quy định về chuẩn bị tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7 (335)/2017; Nguyễn Thanh Bình “ Một số giải pháp, kiến nghị nhằm phòng, chống tội cố ý gây thương tích trên địa bàn huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang”, tạp chí kiểm sát số 7 (4/2010); bài viết của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà “Các quan điểm chung quanh
Trang 8quy định về chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”, tạp chí nghiên cứu lập pháp số 07 (4/2017); hay bài viết
của Đại tá, PGS.TS Bùi Văn Thịnh và ThS Vũ Bá Xiêm “Một số quy định của
pháp luật liên quan đến việc xác định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo Điều 104 BLHS”, tạp chí TAND kỳ II số 18
(9/2014); Nguyễn Anh Tuấn, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7 (321)/2007; Trần
Nguyên Quân, Một số vấn đề cần chú ý khi áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng của tội cố ý gây thương tích, Tạp chí Kiểm sát số 1/2014; Nguyễn Nông, Phân biệt tội "giết người" với tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" trong trường hợp dẫn đến chết người, Tạp
chí Kiểm sát, số 21/2005…
Các công trình nghiên cứu trên đã đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, đánh giá, nhận xét những điểm mà nhà làm luật đã làm được trong thời gian vừa qua để từ
đó có thể đi đến việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng; đánh giá những bất cập, hạn chế mà cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm được; hay những quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc áp dụng pháp luật,… Tuy nhiên, mỗi vùng miền lại có những đặc thù về kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến tình hình tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở mỗi nơi là khác nhau Đặc biệt thành phố Vinh, Nghệ An – thành phố có vị trí quan trọng ở miền Trung sẽ mang đến góc nhìn mới mẻ hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến việc nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định của
Trang 9khác theo luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng quy định này trong thực tiễn trên địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An, từ đó xác định những bất cập để đưa
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định Bộ luật hình sự năm 2015 về tội phạm này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả luận văn đặt cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phân tích làm rõ vấn đề lý luận chung của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
- Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong luật Hình sự Việt Nam từ thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 cho đến nay, làm rõ khái niệm, quy định của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong
bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi
- Nghiên cứu thực tiễn xử lý tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định của BLHS năm 1999 trên địa thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong thời gian 05 năm (từ năm 2013 đến 2017) Từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng truy tố loại tội phạm này trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung và thực tiễn áp dụng về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cụ thể: khái niệm, ý nghĩa của việc quy định tội phạm này, các dấu hiệu pháp lý, cũng như thực tiễn áp dụng đối với tội cố ý gây thương
Trang 10tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của pháp luật Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung đề tài thực hiện trong phạm vi của chuyên ngành luật hình sự
và tố tụng hình sự về tội cố ý gây thưng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác quy định tại Điều 104 BLHS 1999 và Điều 134 BLHS 2015, sửa đổi
Đề tài tập trung nghiên cứu các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ
An từ năm (2013-2017)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn giải quyết các nội dung khoa học của đề tài dựa trên quan điểm của chũ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp khảo sát, thực tiễn; phương pháp thống kê số liệu tổng kết hàng năm trong các báo cáo của Viện kiểm sát và các tài liệu vụ án hình sự trong thực tiễn để hoàn thành các nhiệm vụ mà luận văn đã đặt ra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần hoàn thiện nội dung quy định của Điều 104 BLHS năm
1999 (về nhóm các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác) Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng ở Việt Nam; giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Nâng cao chất lượng truy tố loại tội này nói
Trang 116.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa quan trọng về cả lý luận và thực tiễn, đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cụ thể trong việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
Luận văn có thể là một trong những tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nhà nghiên cứu, học sinh, sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp tại các cơ sở đào tạo luật Trang bị kiến thức cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm, đặc điểm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ an
Trang 12Chương 1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI SỨC KHOẺ CHO NGƯỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT
tội phạm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [17, tr.13] mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử
lý hình sự
Cho đến nay, trong Bộ luật Hình sự Việt Nam chưa có một định nghĩa cụ thể về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tuỳ vào góc độ tiếp cận mà có nhiều cách hiểu khác nhau
Trang 13Có định nghĩa cho rằng: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe cho người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”, có định nghĩa cho rằng: “Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe” [4, tr.137]
Tuy nhiên, từ khái niệm chung về tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thì có thể hiểu khái niệm về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác Sức khoẻ ở đây theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là: Trạng thái đầy đủ về vật chất, tâm thần mà không chỉ có nghĩa
là không có bênh hay thương tật; cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có hiệu quả
Tội cố ý gây thương tích là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương, xâm phạm vào tính mạng, sức khoẻ của con người được pháp luật Việt Nam bảo hộ Hành vi cố ý gây thương tích bị coi là tội phạm và tội phạm đó được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 Theo Điều luật này thì tội
cố ý gây thương tích (CYGTT) được hiểu là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác chính là hành vi cố ý như: đâm, chém, đấm, đá, đầu độc xâm hại đến sức khoẻ của con người làm cho người
đó bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ làm mất đi một phần hay toàn bộ sức lực sẵn có của chính người đó, ảnh hưởng tới một phần hay nhiều bộ phận trên cơ thể con người như bàn tay, bàn chân, thân thể, mặt để lại những
Trang 14trạng thái bất thường hay thương tật hoặc làm giảm đi một phần chức năng hoạt động của một số bộ phận trên cơ thể khiến cho họ khó khăn trong hoạt động hơn khi chưa có những thương tích nhất định Xét về góc độ nào đó thì hành vi này cũng giống hành vi của tội giết người, nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm thấp hơn nên nó chỉ làm cho nạn nhân bị thương hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không làm cho nạn nhân bị chết
Hành vi của người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được thực hiện do lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức được
rõ hành vi của mình nhất định sẽ gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cho người khác nhưng vẫn ý thức để mặc cho hậu quả đó xẩy ra Hậu quả của hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cho nạn nhân Thương tích ở đây là căn cứ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự, xác định có tội hay không có tội, thương tích đó phải được đánh giá một cách chính xác, cụ thể thông qua hoạt động giám định của Hội đồng giám định y khoa Hành vi gây thương tích có thể được thực hiện với sự hỗ trợ của công cụ, phương tiện hoặc dùng sự tác động bằng thực thể, và phải có thương tích trên thực tế thì người thực hiện hành vi mới có khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự Hậu quả của tội phạm này là gây thương tích hoặc tổn thương đến sức khoẻ cho người khác ở mức độ đáng kể theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 là có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% và nó thuộc một trong các trường hợp sau:
- Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều
người (điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân (điểm b khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người
(điểm c khoản 1 Điều 104 BLHS);
Trang 15- Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau
hoặc người khác không có khả năng tự vệ (điểm d khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo
của mình (điểm đ khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội có tổ chức (điểm e khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục (điểm g khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê (điểm h khoản 1 Điều
104 BLHS);
- Phạm tội có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm i khoản 1 Điều 104 BLHS);
- Phạm tội để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của
nạn nhân (điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS)
- Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (khoản 3 Điều 104 BLHS)
Trường hợp này xét về mặt chủ quan thì người phạm tội chỉ muốn gây thương tích, hoặc để mặc cho nạn nhân bị thương, bị tổn hại đến sức khoẻ chứ không mong muốn cho nạn nhân chết Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội không nhận thức được hoặc chưa nhận thức được có thể xẩy ra hậu quả chết người Trong trường hợp này, người phạm tội chỉ cố ý đối với việc gây thương tích, không cố ý giết chết người
Trên cơ sở các quan điểm trên cũng như các quy định của BLHS hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác như sau: “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác làm cho người đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực, gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện”
Trang 161.2 Sự cần thiết và ý nghĩa việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác
Kể từ sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, tình hình đất nước ta đã
có những thay đổi lớn về mọi mặt Việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mà nội dung cơ bản là ghi nhận
và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam đã mang lại những chuyển biến lớn, tích cực về kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước Bên cạnh đó, tình hình tội phạm nhìn chung, vẫn diễn biến hết sức phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Số lượng tội phạm luôn có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô và tính chất, nhất là tội phạm xâm phạm về tính mạng sức khoẻ danh dự nhân phẩm con người Điều này đã làm cho vấn đề về quyền con người, về việc bảo vệ tính mạng sức khoẻ của con người càng trở nên quan trong hơn bao giờ hết Vì thế những quy định BLHS về quyền con người trở nên bất cập không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thể hiện ở một số điểm chủ yếu như sau:
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đã mang lại những lợi ích to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhất là vấn đề về xâm phạm về tính mạng sức khoẻ của con người Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn đang ở thời kỳ tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển một cách lành mạnh Một số quy định của Bộ luật về tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ danh
Trang 17dụng một cách chung chung nên công tác đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm tỏ ra không mấy hiệu quả
Bên cạnh đó, nhằm thể thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng và nhà nước về vấn đề con người và hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử
lý người phạm tội Đồng thời, để có biện pháp ngăn chặn đối với những người
có hành vi coi thường tính mạng sức khoẻ con người thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác
Đặc biệt, sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân Theo đó, thì BLHS cần ghi nhận điều luật quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc xâm phạm đến tính mạng sức khoẻ của người khác một cách cụ thể và rõ ràng hơn theo hướng bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tạo điều kiện thuận lợi để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng
Kể từ khi chưa có quy định về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong BLHS một cách cụ thể cho đến khi BLHS năm 1985 của nước ta ra đời còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp, việc định tội, định khung cũng như cách thiết kế khung hình phạt cũng như khoảng cách khung hình phạt tội phạm này nên ít nhiều đã có những bất cập việc hướng dẫn thi hành và áp dụng loại tội này trên thực tế.Những hạn chế, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực và hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tính mạng sức khoẻ của con người; chưa thực sự tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội
Trang 18nhập quốc tế của đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền của người dân Do đó, việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là rất cần thiết và mang lại những
ý nghĩa nhất định sau:
Việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác trong bộ luật hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội Trên cơ sở của việc xác định đúng tội phạm, chính xác về hành vi của người phạm tội, các cơ quan thực hành quyền công tố, cơ quan tiến hành tố tụng có thể truy tố, đưa ra quyết định đúng đắn, chính xác, tương xứng với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện
Trên cơ sở tội danh đã được quy định trong Bộ luật hình sự giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng tội phạm, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, loại trừ việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết án oan sai, vô căn cứ đối với những người có hành vi không nguy hiểm cho
xã hội, không trái pháp luật hình sự và tạo tiền đề pháp lý cho việc quyết định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội
Dựa vào quy định của Bộ luật hình sự để làm cơ sở áp dụng chính xác các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thời hạn điều tra, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và việc ra các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo có căn cứ và đúng pháp luật, sẽ góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bên cạnh đó giúp các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án tuân thủ chính xác các quy định của đạo luật hình sự,
áp dụng điều, khoản, điểm của điều luật hoặc tổng hợp các điều luật bao quát được hành vi phạm tội đã thực hiện Xác định đúng chính xác và đầy đủ đạo luật hình sự phản ánh được sự đánh giá pháp lý của Nhà nước đối với tội phạm
đã thực hiện
Trang 19Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác, khi xảy ra hành vi phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào quy định của Luật hình sự để truy tố đúng người đúng tội từ đó thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt
để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, từ đó góp phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng như hỗ trợ cho việc củng cố
1.3.1 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1979, sửa đổi năm 1997
Tại Điều 14 của BLHS Trung Quốc (1997) đã định nghĩa tội phạm như
sau: Tất cả các hành vi gây nguy hiểm đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của quốc gia, chia rẽ quốc gia, phá hoại quyền lực chính trị của chuyên chính dân chủ nhân dân và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoại trật tự kinh tế và xã hội; xâm phạm tài sản sở hữu của Nhà nước hoặc của tập thể quần chúng lao động, xâm phạm tài sản của công dân; xâm phạm quyền cá nhân, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân; và các hành vi khác gây nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm nếu theo luật những hành vi này
Trang 20cần phải xử lý bằng hình sự Tuy nhiên, nếu trong những hoàn cảnh rõ ràng là
nhỏ và thiệt hại của các hành vi gây ra là không lớn, thì những hành vì này không bị coi là tội phạm
Hiện nay, Trung Quốc cũng như hầu hết các nước trên thế giới không đưa ra khái niệm tội phạm truyền thống và tội phạm phi truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa Trái lại, các nước này đã đưa khái niệm về các vấn đề
an ninh truyền thống và vấn đề an ninh phi truyền thống trên cơ sở xem xét đánh giá về lợi ích quốc gia, sự nguy hại đối với xã hội và quyền con người trong bối cảnh các quốc gia, dân tộc trên thế giới có mục tiêu và các bước phát triển chung về hiện đại hóa nền kinh tế; có chung động cơ thúc đẩy hội nhập quốc tế và khu vực; và những yêu cầu về giải quyết các mối đe dọa về
an ninh phi truyền thống nói chung hay an ninh xã hội, an ninh môi trường, an ninh con người nói riêng
Cũng như ở Việt Nam, thì vấn đề về xâm phạm quyền con người, quyền công dân luôn được nhà nước bảo hộ và trong BLHS của nước này cũng dành hẳn chương IV: Những tội ác xâm phạm quyền của người và các quyền dân chủ của người dân Trong đó tội CYGTT được quy định tại Điều 234 của
bộ luật này quy định như sau: Người nào cố ý gây thương tích cho người khác phải bị kết án tù không quá ba năm, giam giữ hoặc kiểm soát
Ai vi phạm ở khoản trên và gây thương tích nghiêm trọng cho người đó phải bị kết án không dưới ba năm và không quá 10 năm tù định định; nếu ông gây ra cái chết của một người hoặc gây ra sự biến dạng nghiêm trọng của một người bằng cách gây thương tích nặng nề với các biện pháp tàn nhẫn đặc biệt thì ông ta sẽ bị kết án tù không thời hạn dưới 10 năm, tù chung thân hoặc chết Trường hợp Luật này có các quy định khác thì xử lý theo quy định
Tại Điều 235 cũng quy định: Người nào gây ra thương tích nghiêm
trọng cho người khác và gây thương tật nghiêm trọng thì bị phạt tù không quá
Trang 21ba năm hoặc có thể bị tạm giam Trường hợp luật này có các quy định khác, các vấn đề sẽ được giải quyết theo các quy định đó
Như vậy, so với quy về tội CYGTT của luật hình sự Việt Nam thì tội phạm
về CYGTT ở nước Trung Quốc chỉ quy định một cách chung chung về hành vi gây thương tích, không quy định rõ ràng về mức độ thương tật, về độ tuổi
Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS và làm rõ những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm tác giả đã phân tích ý nghĩa của việc quy định tội này trong pháp luật hình sự Việt Nam Dựa trên quy định của Pháp luật hình sự Việt nam về loại tội này tác giả đã nêu lên quy định về tội này của một số nước trên thế giới, trên kết quả đó sẽ tạo dựng những cơ sở làm tiền đề cho việc xem xét, đánh giá công tác áp dụng pháp luật điều chỉnh tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An
Trang 22Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ
CỦA NGƯỜI KHÁC 2.1 Quá trình phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong luật hình sự Việt Nam
2.1.1 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trước cách mạng tháng
8 năm 1945
Sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam gắn liền với nhu cầu quản lý xã hội bằng luật và sự quan tâm của chính quyền phong kiến đối với vấn đề này, cùng với đó song song tồn tại các bộ luật lớn được pháp điển hoá như Bộ Hình thư thời lý, Quốc triều hình luật thời Lê, Bộ Hoàng việt luật lệ nhà Nguyễn và các văn bản pháp luật hình sự như Chiếu, Lệnh Cùng với sự đô hộ của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương gần một thế kỷ đã làm thay đổi sâu sắc pháp luật của Việt Nam về cả tính chất, nội dung và hình thức Bằng sự ban hành ba Bộ luật hình sự ở ba miền Bắc - Trung - Nam: ở Nam Kỳ là Bộ hình luật tu chính năm 1902, Ở Bắc kỳ và Trung Kỳ ban hành
bộ luật Hình sự Bắc kỳ năm 1922, Bộ luật hình sự Trung kỳ năm 1933, người pháp đã xác định lại giới hạn Luật hình sự trong phạm vi điều chỉnh quan hệ nhà nước bảo hộ với người mà Nhà nước coi là đã thực hiện hành vi phạm tội Lúc đó án lệ chính thức xuất hiện và được coi là nguồn của Luật hình sự Việt Nam, theo đó chưa có quy định cụ thể nào về tội CYGTT, mà các hành vi chủ yếu liên quan đến loại tội này chưa được xác định rõ ràng mà chỉ dùng án lệ
để áp dụng chung chung
Trang 232.1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 1945 đến nay
a Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 có hiệu lực thi hành
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử Nước ta vừa trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp hao tốn cả sức người, sức của, chính quyền nhân dân vừa mới thành lập còn non trẻ nên Nhà nước ta đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn… trước tình hình đó nhân dân ta phải tập trung chủ yếu cho việc tái thiết lập đất nước và củng cố chính quyền cách mạng nên chưa kịp thời xây dựng Bộ luật hình sự đúng nghĩa của nó và cũng chưa có các văn bản pháp luật cụ thể để xử lý các tội xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ của con người Vì vậy, sau ngày Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự để tạo cơ
sở pháp lý cho việc trấn áp tội phạm Các đạo luật hình sự là một trong những đạo luật đầu tiên cùng với các sắc lệnh như Sắc lệnh số 6-SL ngày 15/1/1946; Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946; Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/2/1946; Sắc lệnh số 68-SL ngày 18/6/1949 trên các lĩnh vực như trừng trị phản động, âm mưu hành động phản quốc, quy định về trốn tránh nghĩa vụ, về phòng, chống các tội phạm cụ thể như hành vi trộm cắp, bắt cóc, tống tiền, ám sát… tạo cơ
sở pháp lí cho việc trấn áp tội phạm, bảo vệ nhà nước non trẻ Tuy nhiên, trong tình hình cấp bách, các văn bản pháp luật nói chung cũng như các văn bản pháp luật Hình sự nói riêng mới ban hành không đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng Vì thế ngày 10/10/1945, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 47/SL tạm thời giữ lại các luật lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới, không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong
Trang 24đó có Luật hình An Nam, Hoàng Việt Hình luật và Hình luật pháp tư chính Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc luật số 03/SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt với 7 loại tội phạm, trong đó có
quy định về tội CYGTT Tại điểm b điều 5 sắc luật số 03/SL/76 quy định:
“Phạm tội cố ý gây thương tích thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm” [8] Ngày 02/7/1976 Quốc hội
chính thức đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật được áp dụng chung cho cả nước Do vậy, để giải quyết các vụ án CYGTT, chúng ta chủ yếu áp dụng điểm b Điều 5 Sắc luật số 03-SL/76 nói trên cho đến trước khi BLHS 1985 ra đời và đã sớm đi vào cuộc sống và phát huy vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Từ năm 1986, đất nước ta tiến hành nhiệm vụ đổi mới toàn diện, đưa kinh tế và xã hội thoát khỏi khủng hoảng, với sự quan tâm của Nhà nước, nhằm phát huy hơn nữa vai trò pháp luật với tư cách là công
cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì quá trình pháp điển hoá Luật Hình sự ở Việt Nam được đẩy mạnh và được đánh dấu bởi việc ban hành bộ luật hình sự năm 1985 Đây
là bộ luật đầu tiên của Nhà nước ta và đây là thời điểm đánh dấu bước chuyển biến mang tính chất lịch sử, đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn diện về các nguyên tắc xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt cũng như việc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, BLHS 1985 một mặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp
lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đặc biệt là tội
Trang 25xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong BLHS 1985, tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác được quy định tại Chương II, Điều 109 bao gồm 4 khung hình phạt và trong mỗi khung thì có mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức
độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội, trong đó, mức cao nhất của hình
phạt đối với tội này là 20 năm tù
b Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong Bộ luật Hình sự năm 1985
Nhằm tăng cường kỷ cương, pháp luật và thực hiện đầy đủ toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, tại kỳ họp thứ 9 ngày 27/6/1985, Quốc hội khoá VII đã thông qua toàn văn Bộ luật hình sự năm
1985 (có hiệu lực kể từ ngày 01/1/1986) Đây là một bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật hình sự của nước ta
BLHS năm 1985 là sự kết tinh thành tựu 40 năm hoạt động lập pháp của chính quyền cách mạng, là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của nước ta từ năm 1945 đến thời điểm bộ luật ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 là bộ luật đầu tiên của Nhà nước chúng ta dựa trên sự kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật hình sự Việt Nam đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp hình sự tiên tiến của các nước trên thế giới thể hiện được bản chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc của xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý có hiệu quả cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm BLHS Việt Nam 1985 bao gồm 02 phần: phần chung gồm 8 chương với 71 điều; phần các tội phạm gồm 12 chương với 209 điều Trong đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được quy định cụ thể tại Điều 109, Chương II về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân hẩm của con người như sau:
Trang 261- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ
3- Phạm tội gây cố tật nặng dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm 4- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản 2,
ở khoản 3 Điều này màdo bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặctrong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị phạt cảnh cáo,cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt
tù từ ba tháng đến hai năm
Tuy nhiên, ra đời trong bối cảnh điều kiện đất nước có những đặc trưng
là cần bảo vệ nền kinh tế bao cấp chủ yếu dựa trên hai hình thức sở hữu: Nhà nước và tập thể theo cơ chế bao cấp Vì thế, từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới do Đại hội VI đề ra, BLHS đã dần biểu hiện những bất cập hạn chế, như Điều 109 quy định về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhưng nhà làm luật lại đưa nhiều hành vi phạm tội với tính chất
và mức độ nguy hiểm khác nhau vào trong cùng một điều luật Hơn nữa Điều
109 chỉ nêu tên tội danh mà không mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm, các điểm, khoản quy định còn chung chung, trừu tượng, ví dụ như
điểm a khoản 2 Điều 109 quy định “Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác”, mà không giải thích rõ thế nào là thương
tích nặng, tổn hại nặng… Do vậy, việc áp dụng pháp luật cho các cơ quan tố
Trang 27có nhiều văn bản hướng dẫn như: Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định phần các tội phạm của BLHS; Công văn số 03-TATC ngày 22/10/1987 của TANDTC hướng dẫn thực hiện Điều 109 BLHS; Công văn số 311/HS ngày 04/04/1989 của TANDTC về việc xác định tỷ lệ thương tật của người bị thương tích; Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 12/4/1989 của HĐTP TANDTC hướng dẫn việc
bổ sung áp dụng một số quy định của BLHS; Công văn số 140/1998/KHXX của TANDTC về việc hướng dẫn áp dụng Điều 109 Do phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình đất nước phát triển, BLHS năm 1985 tiếp tục có bốn lần sửa đổi ban hành ngày 28/12/1989, ngày 12/8/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/5/1997 Tuy nhiên cả 4 lần sửa đổi trên đều tập trung vào vệc đảm bảo chặt chẽ hơn các quy định về định tội và hình phạt, đề cập được những vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết, đáp ứng yêu của của tình hình mới và nguyện vọng của nhân dân
c Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong Bộ luật Hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời là một trong những thành tựu vượt bậc của hoạt động lập pháp hình sự nói riêng và hoạt động lập pháp ở Việt Nam nói chung Từ khi BLHS năm 1985 ra đời đến năm 1997 đã trải qua bốn lần sửa đổi nhưng vẫn còn mang tính bộ phận chỉ đáp ứng được yêu cầu bức xúc trước tình hình tội phạm ngày càng có chiều hướng gia tăng Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội thì việc thể chế hoá các chính sách hình sự của nước ta nhằm nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tạo thuận lợi cho việc nhận thức và áp dụng Bộ luật Hình sự một cách thống nhất trong tình hình mới, Bộ luật hình sự năm
1999 đã ra đời đã thể chế hoá những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong giai đoạn mới So với Bộ luật hình sự năm 1985 được thể hiện ở cả phần chung và phần các tội phạm với 24 chương, 344 điều
Trang 28Trong đó tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 cụ thể như sau: Điều 104 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác:
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;
b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Có tổ chức;
g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
2 Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
3 Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến
Trang 2960%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm
4 Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân
BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày
21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 đã thể chế hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong giai đoạn mới Đặc trưng cơ bản của pháp luật hình sự trong giai đoạn này đã thể hiện trong BLHS năm 1999 là: Điều chỉnh tối đa về mặt lập pháp những chế định cơ bản, quan trọng của luật hình sự; phân hóa triệt để TNHS và hình phạt; nêu cao tinh thần nhân đạo của luật hình sự BLHS 1999 có nhiều nội dung mới so với BLHS 1985 được thể hiện cả ở phần chung và phần các tội phạm, thể hiện rõ những điểm mới trong chính sách hình sự của Nhà nước ta nói chung, đối với xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người nói riêng BLHS 1999 đã tách tội CYGTT hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 109 BLHS năm 1985 thành 3 tội
và được quy định thành ba điều luật khác nhau và quy định mô tả cụ thể, tách riêng ra từng hành vi hậu quả, điều luật vừa nêu tên tội vừa mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó trong điều luật Khoản 1 Điều 104 quy định “tỷ lệ thương tật” là 10 tình tiết từ điểm a đến điểm k làm yếu tố định khung và định tội, trong đó tỷ lệ thương tật giữ vai trò quyết định Ngoài ra BLHS 1999 còn bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại Điều 104 như sau:
- Đối với trẻ em hoặc người chưa thành niên (điểm d khoản 1 Điều 104)
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 104)
- Thuê người khác phạm tội hoặc phạm tội thuê (điểm h khoản 1 Điều 104)
- Đối với những người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm k khoản 1 Điều 104) [17]
Trang 30Về hình phạt của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Tại BLHS năm 1985 hình phạt tù tối đa đến 20 năm, thì trong BLHS 1999
đã tăng lên mức tù chung thân Theo quy định của pháp luật và BLHS năm 1999 thì người phạm tội đương nhiên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do chính họ gây ra tức là theo tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi
và hậu quả mà người phạm tội phải gánh chịu hình phạt tương xứng
2.2 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi) về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trong những năm qua, nền kinh tế - xã hội đã có nhiều biến đổi, làm phát sinh nhiều quan hệ xã hội, từ đó làm nảy sinh nhu cầu tất yếu phải điều chỉnh
Để tồn tại và phát triển, mọi thiết chế của Nhà nước và của xã hội phải được tổ chức trên những nền tảng chuẩn mực và ổn định, thể hiện lợi ích, tiến bộ của xã hội, đó là pháp luật Như vậy, pháp luật là hình thức tổ chức, là nền tảng tổ chức của xã hội, của Nhà nước Nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng một loại phương tiện pháp lý đặc thù là quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, tác động đến các quan hệ đó theo phương hướng nhất định, đó là điều chỉnh pháp luật Chính vì vậy, điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng các quy phạm pháp luật phù hợp là điều mà nhà lập pháp luôn mong muốn Ngày 27/11/2015, Quốc hội đã xây dựng BLHS năm 2015 đáp ứng nhu cầu của xã hội, được Chủ tịch nước công bố vào ngày 18/12/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/1/2018 Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong kỹ thuật lập pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn về phát triển kinh tế -
xã hội của nước ta Bộ luật Hình sự 2015 gồm 3 Phần, 26 Chương, 426 Điều (thay vì Bộ Luật Hình sự 1999 gồm 2 Phần, 24 Chương, 344 Điều) So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều thay đổi hơn Trong đó, Điều 104 BLHS năm 1999 quy định về tội cố ý gây thương
Trang 31ràng hơn, phù hợp với thực tại hơn tại Điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi năm
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu,
ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc; h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
Trang 32lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05
năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại
điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở
lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07
năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
Trang 33mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này
5 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong
các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này
6 Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.” [19]
Như vậy, so với quy định về tội CYGTT tại điều 104 Bộ luật 1999 thì Điều 134 năm 2015 có những điểm mới như:
- Bổ sung các trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác: Dùng axit sunfuric (H2SO4) hoặc hoá chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; lợi dụng chức vụ quyền hạn Ngoài ra còn làm rõ quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi
- Phân định mức độ gây tỷ lệ thương tích để quy định hình phạt thay vì gộp chung vào như trước
- Bổ sung trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, hoặc tù chung thân ngoài các trường hợp đã được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, đó
Trang 34là trường hợp: Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên
- Bổ sung quy định đối với người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm
Việc quy định tội phạm cụ thể của tội này trong Bộ luật hình sự năm
2015 (sửa đổi) đóng vai trò quan trọng, giúp ta phân biệt giữa tội này và tội phạm khác để từ đó có thể đưa ra những nhận định chính xác về tội phạm như tội đó thuộc loại tội phạm nào, tính chất nguy hiểm do hành vi của tội đó ra sao, người thực hiện hành vi tội đó có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không? Để phân loại và định tội được một cách cụ thể, chính xác thì việc xác định dấu hiệu pháp lý của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì phải xem xét trên 4 yếu tố cấu thành tội phạm đó là: Khách thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Chủ thể của tội phạm và Mặt chủ quan của tội phạm
2.2.1 Mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa
học luật hình sự, đó là những "Quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại hoặc đe doạ gây thiệt hại ở một mức độ nhất định" Trong
luật hình sự Việt Nam, khách thể được bảo vệ là xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật Xã hội Chủ nghĩa - Khoản 1, Điều 8 BLHS 2015
Khách thể của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là quan hệ nhân thân bị tội phạm xâm hại hoặc đe dọa gây
Trang 35trực tiếp về sức khoẻ của con người Bởi vì con người là chủ thể của hầu hết mọi quan hệ xã hội khi quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người bị xâm phạm nó làm phá vỡ sự ổn định của các quan hệ xã hội đó
Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về hai loại tội: Tội cố ý gây thương tích; Tội cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Việc quy định điều luật này trong Bộ luật hình sự nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ cho mọi công dân Như vậy khách thể trực tiếp của tội phạm này là xâm phạm đến sức khoẻ của người khác - đó là con người cụ thể đang tồn tại
và sinh sống theo quy luật của tự nhiên, của xã hội
Như vậy, nếu một người mà gây thương tích hoặc gây tổn hại cho chính sức khoẻ của bản thân mình thì không được coi là tội phạm trừ trường hợp người đó tự gây thương tích cho chính mình để nhằm thực hiện một tội phạm khác Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 134 BLHS có quy định hình phạt nghiêm khắc nhất là chung thân Điều này khẳng định quyền bảo vệ về sức khỏe của con người là thiêng liêng cao quý và cần được bảo vệ tuyệt đối Đồng thời cũng thể hiện thái độ của nhà nước với tội phạm này một cách kiên quyết bất kỳ ai xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người đều bị trừng trị thích đáng Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động Đối tượng tác động là sức khỏe của trẻ em, người già, phụ nữ có thai, người không có khả năng tự
vệ thì TNHS đối với người phạm tội sẽ nặng hơn Việc xác định đúng đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vô cùng quan trọng
2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Theo khoa học luật hình sự, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện ra của tội phạm diễn ra hoặc tồn
Trang 36tại bên ngoài thế giới khách quan, có thể nhận thức được bằng các giác quan trực tiếp hay bằng tư duy lôgic Nội dung mặt khách quan bao gồm: hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như thời gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội Trong đó Hành vi khách quan của tội phạm là biểu hiện cơ bản, là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn [31]
Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài bằng giác quan mà con người có thể nhận biết được bao gồm: hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cũng như thời gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội
Trong mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, thể hiện nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội mong muốn gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như: hậu quả, mối quan hệ nhân quả, công cụ phương tiện phạm tội…chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được thực hiện thông qua hành động hoặc không hành động Hành động phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người qua việc chủ thể của tội phạm làm
Trang 37hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bất bình thường đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người qua việc chủ thể tội phạm không làm một việc mà pháp luật yêu cầu làm mặc dù có đủ điều kiện
để làm Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và điều khiển của ý chí Đây là điều kiện cần, điều kiện đủ là hành vi đó phải có khả năng gây ra thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác một cách trái pháp luật Những hành vi này có thể được thể hiện bằng các công cụ phương tiện phạm tội như đấm đá hoặc có thể thông qua các loại súc vật như thả chó cắn, bò đá Đây là những
hành vi hành động hoặc không hành động
Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chính là thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người và thể hiện ở tỷ
lệ thương tật ( tỷ lệ %) mất sức lao động của nạn nhân Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Việc xác định có hậu quả xảy ra trên thực tế hay không, tính chất mức độ của hậu quả xảy ra trên thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội và có vai trò quan trọng trong việc quyết định
Trang 38vi phạm tội có thể xác định được là người phạm tội mong muốn giết người hay đơn thuần chỉ gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe
Vị trí trên cơ thể mà người phạm tội gây ra thương tích, tổn hại sức khỏe: Trên thực tế khi muốn tước đoạt sinh mạng của ai đó thì người phạm tội
sẽ tấn công vào những nơi xung yếu trên cơ thể như: vùng đầu, vùng ngực, vùng cổ, vùng bụng…kết hợp việc sử dụng công cụ, phương tiện nếu là công
cụ, phương tiện ít nguy hiểm, cùng với việc tấn công vào những nơi được coi
là không xung yếu trên cơ thể, có thể xác định là hành vi cố ý gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe
Mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công: Xác định hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể xem hành vi đó có dồn dập
và cường độ tấn công mạnh không? Nếu cường độ tấn công không mạnh và những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân, khi đó sẽ không xác định là hành vi giết người mà là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác
2.2.3 Chủ thể của tội phạm
Theo luật hình sự Việt Nam hiện hành thì "Chủ thể của tội phạm là người
có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể " Như vậy chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam
hiện hành chỉ có thể là con người cụ thể Con người cụ thể ở đây phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể Và khi thực hiện hành vi phạm tội người ấy có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình và
có khả năng điều chỉnh được hành vi ấy Theo Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: Người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
Trang 392 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, tội hiếp dâm, hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [19]
Điều 21 BLHS 2015 quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự… Chủ thể của tội “Cố ý gây thương tích” là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phải đạt độ tuổi nhất định mà xâm hại đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, người phạm tội phải từ 16 tuổi trở lên gây thương tích cho người khác từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường đã nêu tại khoản 1 Điều 134 của BLHS thì phải chịu trách nhiệm hình sự
2.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, là những biểu hiện tâm lý bên ngoài của người phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ cấu thành tội phạm nào Mục đích và động cơ phạm tội tuy cũng là những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm nhưng không phải luôn luôn có ý nghĩa quyết định tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành
vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội” [36] Đây chính là định nghĩa lỗi về mặt nội dung Về mặt hình thức,
Trang 40“Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức
cố ý hoặc vô ý”
Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích là người phạm tội mong muốn gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, đó chính là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi cố ý gây thương tích và hậu quả phát sinh từ hành vi gây thương tích gây ra Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích bao gồm: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Lỗi ở đây được hiểu là lỗi cá nhân tức là lỗi của con người cụ thể khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện dưới hành vi cố ý hoặc vô ý Người phạm tội thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật chỉ bị coi là có lỗi khi chính họ lựa chọn hành vi đó, mặc dù họ tự ý thức được và có đủ điều kiện để kiểm soát hành vi của mình trong khi họ có thể lựa chọn và thực hiện
xử sự khác nhưng họ không lựa chọn Như vậy muốn xác định đúng lỗi của người phạm tội đối với thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân là cố
ý hay vô ý thì cần phải xác định xem người phạm tội có thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi mà họ thực hiện hay không; Và nếu thấy trước được hậu quả thì họ mong muốn chấp nhận hay loại trừ khả năng hậu quả xảy ra Nếu vấn đề thứ nhất được xác định là không thì có thể loại trừ ngay khả năng
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Để xác định người phạm tội mong muốn chấp nhận hay loại trừ hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cần xem xét đánh giá những tình tiết như: sự lựa chọn công cụ phương tiện phạm tội cách thức sử dụng; diễn biến tâm lý của người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm; tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội; động cơ, mục đích phạm tội; vị trí tác động và khả năng nhận thức của người thực hiện hành vi phạm tội