1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

88 469 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng hình

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỞNG DẪN KHOA HỌC GS.TS VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ “Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi tự thực hiện với sự hướng dẫn của GS.TS Võ Khánh Vinh Kết quả trong luận văn là trung thực

và chưa được công bố tại bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 6

1.1 Khái quát về chính sách xử lý người dưới 18 phạm tội 6

1.2 Khái niệm, mục đích, căn cứ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội 14

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 28

2.1 Các quy định của pháp luật hình sự trước Bộ luật hình sự năm 2015 về áp

dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 28

2.2 Các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung về áp

dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 30

2.3 Pháp luật hình sự một số nước về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội 34

Chương 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 41

3.1 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Thành phố Hồ Chí Minh 41 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự với người dưới 18 tuổi phạm tội 69

KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự

BLHS : Bộ luật Hình sự

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT : Cơ quan điều tra

ĐTV : Điều tra viên

HĐTP : Hội đồng Thẩm phán

HĐXX : Hội đồng xét xử

KSV : Kiểm sát viên

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

TTHS : Tố tụng hình sự

UBTP : Ủy ban Thẩm phán

VKS : Viện kiểm sát

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 6

Bảng 3.4: Thống kê số lượng phân loại người dưới 18 tuổi phạm tội theo nhóm tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thanh, thiếu niên là thế hệ tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có vai trò quan trọng trong công cuộc cách mạng của dân tộc ta Chính vì vậy, vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ nói chung

và phòng ngừa, ngăn chặn người dưới 18 tuổi có hành vi trái pháp luật nói riêng là mối quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta, là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội và của toàn cộng đồng

Đảng và Nhà nước ta đã giành nhiều ưu tiên, đầu tư cho sự phát triển của thanh, thiếu niên hiện nay và đã thu được những thành quả to lớn, nhiều thế hệ thanh thiếu niên trưởng thành đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài Tuy nhiên, do

sự tác động của cơ chế thị trường, tệ nạn xã hội và tội phạm đang có xu hướng gia tăng, bên cạnh đa số thanh, thiếu niên tích cực vươn lên xứng đáng với vai trò vị trí

và sự quan tâm của xã hội thì vẫn còn một bộ phận thanh, thiếu niên lười biếng, thích hưởng thụ, suy đồi về đạo đức lối sống, bị các tệ nạn xã hội cám dỗ, hoặc thực hiện những hành vi phạm tội nguy hiểm gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, tác động không tốt đến đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục Việt Nam

Đứng trước những đòi hỏi và thách thức đó Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, xây dựng hệ thống các biện pháp xử lý đối với người dưới

18 tuổi phạm tội Một trong những văn bản cơ bản, quan trọng về mặt pháp lý là Bộ luật hình sự Trong Bộ luật này đã thể hiện rõ nét chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm mục đích phòng ngừa, cải tạo, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội trở thành công dân có ích cho

xã hội Tuy nhiên để đạt được mục đích đó thì vấn đề cần thiết là phải xác định được hệ thống các chế tài có tính chất đồng bộ và tổng hợp Một trong những chế tài có hiệu quả đó là hình phạt tù có thời hạn Tuy nhiên, nhìn nhận từ góc độ xây dựng pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng hình phạt này đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn bộc lộ những hạn chế và bất cập nhất định, đặc biệt là trong điều kiện

Trang 8

ở nước ta hiện nay Do đó phải có sự điều tra, nghiên cứu và tổng kết đầy đủ rõ ràng

về vấn đề này để nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội, phòng ngừa họ phạm tội mới đồng thời đảm bảo phòng ngừa chung

Với những lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một vấn đề phức tạp Trong khoa học pháp lý hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu

về áp dụng hình phạt nói chung và áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi

phạm tội nói riêng như: 1) Luận án Tiến sĩ Luật học: Các hình phạt chính trong luật

hình sự Việt Nam, của Nguyễn Sơn; 2) Luận văn thạc sĩ Luật học: Hình phạt tù trong luật hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, của Đào Tú Hoa; 3)

Luận văn thạc sĩ Luật học: Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với

người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu

số liệu thực tế trên địa bàn thành phố Hà Nội), của Lưu Ngọc Cảnh và một số bài

viết được đăng trên các báo và tạp chí khoa học pháp lý về lĩnh vực này có thể kể

đến các công trình sau: 1) GS.TSKH Lê Cảm, TS Đỗ Thị Phượng, Tư pháp hình

sự đối với người chưa thành niên: Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình

sự, tội phạm học và so sánh luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20, 2004; 2) TS

Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; 3) Trịnh Đình Thể, Một số ý kiến về áp dụng hình phạt

tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/1997;

4) Nguyễn Thanh Trúc, Biện pháp miễn chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của

hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,

số 20/2008; 5) Nguyễn Mai Bộ, Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự 1999, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,

số 4/2001; 6) Đinh Văn Quế, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên

phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2001

Trang 9

Mặc dù, việc nghiên cứu của các công trình trên đây diễn ra ở nhiều cấp độ

và bình diện khác nhau nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đặc biệt là ở cấp độ một luận văn thạc sĩ về đề tài Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam Bên cạnh đó,

trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam cũng đã và đang gặp không ít

vướng mắc trong quy định và áp dụng hình phạt này đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của Luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng hình phạt này để góp phần làm sáng tỏ những quy định

đó đồng thời đưa ra những kiến nghị khả thi nhằm xây dựng một hệ thống các chính sách hình sự và các biện pháp cưỡng chế có hiệu quả để phòng, chống các tội phạm

do người dưới 18 tuổi thực hiện trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận, thực trạng và

đề xuất giải pháp về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nói trên luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm, mục đích, điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam; thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua số liệu của các bản án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây Từ đó nêu lên thực trạng áp dụng hình phạt này trong thực tiễn và đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt này trong thực tiễn

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18

tuổi phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn chỉ nghiên cứu về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm

2013 đến năm 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, trên nền tảng tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về con người và sự phát triển của con người Về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thanh thiếu niên; về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung

và đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu

cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp mô tả, giải thích, phương pháp thống kê trên cơ sở các bản án sơ thẩm, phúc thẩm và các báo cáo rút kinh nghiệm, kiến nghị đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội của cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn:

Luận văn là công trình nghiên cứu lý luận đầu tiên đề cập đến việc làm sáng tỏ

một cách toàn diện và hệ thống về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn đã làm rõ một số vấn đề chung về người dưới 18 tuổi phạm tội, phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18

Trang 11

tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng hình phạt này Trên cơ sở đó luận văn đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

trên khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:

Luận văn có thể được sử dụng với tính chất làm tài liệu tham khảo trong

công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo bậc đại học về chuyên ngành luật và các viện nghiên cứu về khoa học pháp lý Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để tham khảo trong quá trình tiếp tục hoàn thiện

hệ thống áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, qua

đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội

Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt tù có

thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về hình

phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại Thành phố Hồ Chí Minh

và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN

ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1.1 Khái quát về chính sách xử lý người dưới 18 phạm tội

1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội

Người dưới 18 tuổi phạm tội là một vấn đề phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới bất kể nước đó có thể chế chính trị như thế nào Trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 thì khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội dựa trên khái niệm người chưa thành niên phạm tội (viết tắt NCTNPT) Vấn đề NCTNPT đang là mối lo ngại chung cho mọi xã hội và toàn cầu, nhưng hiểu thế nào về NCTN thì mỗi quốc gia lại có quan niệm khác nhau, điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, dân trí, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia

Trong pháp luật cũng vậy, mặc dù vấn đề này đã được đề cập tới trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế song ở mỗi văn kiện cũng tồn tại những tên gọi khác nhau: NCTN, trẻ vị thành niên và trẻ em Pháp luật ở mỗi quốc gia cũng có những tiêu chí cụ thể quy định về NCTN khác nhau Đa số các quốc gia đều quy định trong

hệ thống pháp luật độ tuổi được coi là NCTN

Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông

qua ngày 20/11/1989 tại Điều 1 quy định như sau: “Trong phạm vi của Công ước

này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [12] Như vậy, độ tuổi của trẻ em

được pháp luật quốc tế quy định là “người dưới 18 tuổi”

Bên cạnh, Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh

do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 29/11/1985 cũng là một văn bản

pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm “Người chưa thành niên là

người dưới 18 tuổi” [11] như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em,

thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu NCTN là người dưới 18 tuổi Tuy

Trang 13

nhiên, do sự phát triển của những quốc gia là khác nhau nên khái niệm NCTN ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công ước về quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngõ cho các nước quy định về độ tuổi cho NCTN, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này

Trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm NCTN được nhà làm luật sử dụng với tư cách vừa là đối tượng tác động của tội phạm vừa là chủ thể thực hiện tội phạm Với tư cách là chủ thể thực hiện tội phạm, NCTNPT là khái niệm không những mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc NCTNPT là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm BLHS năm 1999 quy định NCTN là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn NCTN dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, còn NCTN từ đủ

16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 BLHS năm 1999) Đồng thời luật hình sự Việt Nam cũng đưa ra khái niệm NCTNPT chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự là tội phạm (Điều 68 BLHS năm 1999)

Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm, sinh

lý Chính vì vậy mà họ thường có những hành động bồng bột, thiếu suy nghĩ, xốc nổi, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, thiếu chính xác Do đó, môi trường sống

có tác động rất mạnh mẽ đến quá trình hình thành nhân cách cũng như các bản chất khác thuộc về nhân thân Họ dễ tiếp thu những thói hư, tật xấu và dễ bị tha hóa về nhân cách và cũng dễ bị kích động, lôi kéo tham gia thực hiện những hành vi phạm pháp Nhưng ngược lại nếu như những NCTN được sống trong môi trường được

Trang 14

giáo dục tốt của gia đình, nhà trường và xã hội thì họ sẽ có đủ điều kiện phát triển

cả về mặt thể chất và tinh thần để trở thành người có ích cho xã hội

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Người chưa thành niên hay

người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự

1.1.2 Nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội

Người dưới 18 tuổi phạm tội có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật hình sự và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự Khi người dưới 18 tuổi có hành vi phạm tội thì Nhà nước bao giờ cũng đặt vấn đề giải quyết trách nhiệm pháp lý của họ trong mối quan hệ với trách nhiệm giáo dục, quản lý của xã hội, của gia đình và nhà trường trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Chính vì vậy, viêc xử lý những hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện cần phải được xem xét kỹ lưỡng để có biện pháp phù hợp và thể hiện được tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam cũng như phù hợp với tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em

Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng cũng như áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản có liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội Căn cứ vào các chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta về cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và dựa trên cơ sở những kinh nghiệm trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, nhà làm luật đã quy định một cách toàn diện và thống nhất đường lối xử lý về hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại một chương riêng của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017, Chương XII – Phần những quy định chung)

Trang 15

Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều

91 BLHS năm 2015 (trước đây là Điều 69 BLHS năm 1999) thể hiện đầy đủ quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ người dưới 18 tuổi bao gồm 07 nguyên tắc này [21], cụ thể như sau:

Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo

lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và nhằm mục giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử của dưới 18 tuổi, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra phạm tội

Việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quy tắc của xã hội, giúp họ nhận ra và sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Đây là nguyên tắc cơ bản và bao trùm xuyên suốt toàn bộ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và được thể hiện trong quá trình

xử lý các vụ án mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Do chưa phát triển và hoàn thiện về các mặt, cho nên không phải bất cứ trường hợp phạm tôi cụ thể nào người dưới 18 tuổi cũng có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và hậu quả của nó cũng như khả năng điều khiển hành vi đó Vì thế, luật hình sự Việt Nam đòi hỏi trong quá trình tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cần áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm xác định chính xác mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Ngoài ra, cần làm rõ khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân

và điều kiện phạm tội, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Chỉ khi làm rõ những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội thì cơ quan tư pháp và người người tiến hành tố tụng mới có thể giúp họ nhận thức được sai lầm, để từ đó có thể giáo dục, uốn nắn những hành vi không phù hợp, làm cho họ tự giác sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội

Trang 16

Nguyên tắc thứ hai: Người dưới 18 tuổi vi phạm thuộc một trong các trường

hợp quy định trong Bộ luật hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục được quy định riêng cho những đối tượng này Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo là miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do

sự thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại Như vậy, để có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này cần có những điều kiện sau:

Một là, người phạm tội là người dưới 18 tuổi Theo quy định của BLHS hiện

hành, người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự

Hai là, tội phạm do người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm

trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248,

249, 250, 251 và 252 của BLHS năm 2015; Tội phạm do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151,

168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này; Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án

Ba là, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tình tiết giảm nhẹ

trách nhiệm hình sự là những tình tiết thuộc về mặt khách quan, chủ quan của tội phạm, phản ánh nhân thân người phạm tội hoặc chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự mà sự xuất hiện của nó còn làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, người phạm tội và kết quả là làm giảm tính chất, mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự, chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt, được xử lý theo tội danh nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ hơn hoặc mức hình phạt thấp hơn Theo nguyên tắc này đòi hỏi người phạm tội phải có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên

Trang 17

Bốn là, người phạm tội được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo

dục Luật không quy định trường hợp nào thì gia đình giám sát, giáo dục; trường hợp nào thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục Vì vậy, tùy từng trường hợp mà quyết định ai là giáo sát, giáo dục, cụ thể là: nếu người phạm tội đang sinh sống với gia đình, thì phải được gia đình nhận giám sát, giáo dục; trường hợp người phạm tội không ở với gia đình như đi làm ở cơ quan, tổ chức thì phải được cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục

Nguyên tắc thứ ba: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18

tuổi bị phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm

về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Theo nguyên tắc này thì các cơ quan tiến hành

tố tụng có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác khi thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trường hợp cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới

18 tuổi thì không có nghĩa là phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư pháp khác và thậm chí trong một số trường hợp là miễn hình phạt đối với họ Tính chất hành vi phạm tội được hiểu là căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của hành động phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể thực hiện một việc bị pháp luật cấm [35, tr.244] Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn về trách nhiệm hình sự của người phạm tội nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng cần phải xét đến yếu tố nhân thân người phạm tội Nhân thân bao gồm nhiều mặt, thể hiện những đặc điểm, đặc tính xã hội khác nhau, thể hiện tính cá biệt và tính không lặp lại của mỗi con người cụ thể

Nguyên tắc thứ tư: Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định riêng cho những đối tượng này không bảo đảm

Trang 18

hiệu quả giáo dục, phòng ngừa Theo nguyên tắc này việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ được đặt ra khi nó thật sự cần thiết, việc

xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi chỉ là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp xử lý khác của Nhà nước không còn hiệu quả Trong trường hợp có những biện pháp xử lý khác khoan hồng mà không cần áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì ưu tiên áp dụng các biện pháp này Các biện pháp tư pháp như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng là các biện pháp mang tính giáo dục và nếu người phạm tội được áp dụng thì không bị coi là có

án tích Do đó, Tòa án khuyến khích áp dụng các biện pháp này khi xét đến tính chất, hành vi phạm tội, những đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội

Nguyên tắc thứ năm: Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối

với người dưới 18 tuổi phạm tội

Nguyên tắc thứ sáu: Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với

người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa Khi áp dụng xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi được hưởng mức án nhẹ hơn mức án đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi có tội

Hai nguyên tắc thứ năm và sáu thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta, phù hợp với tư tưởng xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa là mục đích trung tâm trong mọi hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Bên cạnh đó, nhằm phù hợp với đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội và thực hiện cam kết của Nhà nước ta với cộng đồng quốc tế, nội luật hóa nguyên tắc được ghi nhận trong Công ước Quyền trẻ em, đó là việc giam giữ chỉ được áp dụng cuối cùng khi không có biện pháp nào khác Tù chung thân hoặc tử hình là áp dụng những hình phạt có tính chất nghiêm khắc nhất, chỉ đối với trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Bên cạnh đó, theo nguyên tắc đầu tiên, việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu

Trang 19

nhằm giáo dục, cải tạo họ Do đó, việc quy định không áp dụng hai hình phạt nghiêm khắc nhất là chung thân và tử hình trong hệ thống hình phạt là hoàn toàn phù hợp, điều đó sẽ góp phần giúp đỡ, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Cùng với việc quy định khi áp dụng xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới

18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng đã thể hiện rõ nét chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Nguyên tắc thứ bảy: Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì

không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Án tích là sự kiện pháp

lý (bị kết án) được ghi nhận trong lý lịch tư pháp của người phạm tội trong một thời hạn nhất định và là căn cứ để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm Trong thời hạn chưa được xóa án tích mà người phạm tội thực hiện một hành vi phạm tội mới thì sẽ bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm tùy theo tính chất, mức độ của hành vi đó Theo quy định tại Điều 49 BLHS năm 1999 thì tái phạm là trường hợp

đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, đã tái phạm, chưa được xóa án tích Như vậy, nguyên tắc án

đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm đã khẳng định người chưa đủ 16 tuổi phạm tội được coi là “không nguy hiểm cho xã hội” mặc dù hành vi do họ thực hiện

là gây nguy hiểm cho xã hội Do vậy, không nên áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm với tư cách là tình tiết định tội của các tội có quy định tình tiết định tội dưới dạng “ đã bị kết án về tội , chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Việc quy định án đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm đã thể hiện được quan điểm nhân đạo của Nhà nước khi xử lý người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường cho các em

Trang 20

Tóm lại, những quy định tại Điều 91 và Chương XII BLHS năm 2015 đã thể hiện sâu sắc tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với tư tưởng thống nhất xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trung tâm trong mọi hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi Điều đó góp phần khuyến khích người dưới 18 tuổi phạm tội tích cực cải tạo, sửa chữa những sai lầm để trở thành người có ích cho gia đình

do thân thể, đánh vào lợi ích kinh tế, hình phạt được ghi vào lai lịch tư pháp, cá biệt hình phạt còn loại bỏ quyền được sống của người phạm tội

Áp dụng hình phạt chỉ đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Quy định này vừa thể hiện trong Điều 30 BLHS năm 2015 về khái niệm hình phạt vừa thể hiện tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015 Luật Hình sự Việt Nam chỉ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội, chỉ những đối tượng này mới phải chịu trách nhiệm hình sự Quy định này thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa của pháp Luật Hình sự Việt Nam, thể hiện mục đích áp dụng hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội

Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Toà án quyết định áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đối với người phạm tội Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự đều khẳng định chỉ

có Toà án mới có quyền xét xử và ra bản án hình sự bằng hình phạt

Trang 21

Hình phạt bao gồm hình phạt chính (gồm 07 hình phạt) và hình phạt bổ sung (gồm 07 hình phạt) được đặt ra không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Người dưới 18 tuổi phạm tội là đối tượng đặc biệt được pháp luật hình sự quy định riêng ở những điều mục khác nhau, trong đó có quy định áp dụng hình phạt đối với họ chỉ bao gồm 04 hình phạt trong 07 hình phạt chính nêu trên: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn Trong đó áp dụng hình phạt

tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc nhất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Xét về mặt bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội tại của nó Một mặt nó giữ người phạm tội không thể gây nguy hại cho đối tượng mà luật hình

sự bảo vệ nhưng lại gây ra yếu tố tiêu cực đối với người bị kết án, mà xét trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề muốn có đối với công dân của mình Nhà nước cần phải thấy trong người vi phạm pháp luật một phần con người, một phần tế bào sống của Nhà nước, một thành viên của công xã đang thực hiện bổn phận xã hội, một người chủ gia đình mà sự tồn tại là thiêng liêng và cuối cùng, là điều cơ bản nhất, đó là một công dân của đất nước Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có một số đặc điểm sau:

- Đây là loại hình phạt điển hình nhất, phổ biến nhất và nghiêm khắc nhất có mặt ở đa số các tội phạm được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình

sự

- Áp dụng hình phạt này nhằm cách ly khỏi xã hội làm cho người bị kết án bị tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền cơ bản nhất định, mà lẽ ra nếu không bị áp dụng hình phạt này thì họ được thực hiện Đây chính là một nội dung trừng trị của loại hình phạt tù có thời hạn Song cũng như bất cứ một loại hình phạt nào khác, mục đích chính của hình phạt tù có thời hạn là giáo dục, cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới và những ảnh hưởng xấu của họ đối với người khác

Trang 22

- Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tuy là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhưng không mang tính chất trả thù hay hành hạ người bị kết án, chỉ được áp dụng khi thật cần thiết và là lựa chọn cuối cùng Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì Tòa án phải cân nhắc, lựa chọn một thời hạn vừa đúng pháp luật vừa phù hợp với từng bị cáo và ngắn nhất có thể được để đảm bảo mục đích của loại hình phạt, đảm bảo được yêu cầu của Công ước về Quyền trẻ em cũng như nguyên tắc Bắc Kinh

- Theo quy định của luật hình sự thì “Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới

18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù, nếu tù

có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định; Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù, nếu tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức hình phạt tù

mà điều luật quy định” (Điều 101 BLHS năm 2015)

Căn cứ vào những đặc điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm: Áp dụng hình

phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là việc bắt buộc người từ đủ

14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội, đảm bảo công lý, công bằng xã hội Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có mức tối thiểu là 3 tháng, mức tối đa là không quá 3/4 (đối với người từ

đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội) hoặc 1/2 (đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội) mức phạt tù mà điều luật quy định

1.2.2 Mục đích của áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới

18 tuổi phạm tội

Mục đích của áp dụng hình phạt là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quy trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội

Trang 23

Mục đích của áp dụng hình phạt thể hiện trước hết ở chỗ hình phạt tác động trực tiếp đến người phạm tội, không chỉ trừng trị mà còn nhằm giáo dục, ngăn ngừa

họ phạm tội mới Mục đích này của hình phạt được thể hiện bằng thuật ngữ “phòng ngừa riêng” Nội dung chủ yếu của phòng ngừa riêng là hình phạt đưa lại những tước bỏ, hạn chế nhất định về quyền và lợi ích theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với người bị kết án Mức độ phải chịu những tước bỏ và hạn chế quyền lợi này tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của người phạm tội

Về nguyên tắc, tội phạm càng nguy hiểm thì mức độ trừng trị người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó càng nghiêm khắc Tuy nhiên, áp dụng hình phạt theo Luật Hình sự Việt Nam không coi trừng trị người phạm tội làm mục đích chủ yếu Cái chủ yếu trong mục đích phòng ngừa riêng của áp dụng hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ từ một con người lầm lỗi, vi phạm pháp luật trở thành người có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới

Trong phòng ngừa riêng, giữa trừng trị, cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mối có quan hệ tương tác qua lại với nhau rất chặt chẽ Không thể nói đến giáo dục được người phạm tội nếu như áp dụng hình phạt trừng trị họ không tương xứng (hoặc quá nhẹ hoặc quá nặng) với tội phạm đã gây ra Bởi

vì hình phạt trước hết là hậu quả pháp lý của tội phạm, là thước đo thái độ lên án của Nhà nước đối với cá nhân người phạm tội, là tiêu chí của công lý và công bằng

xã hội Trừng trị công minh là yếu tố tiên quyết quan trọng để đảm bảo mục đích giáo dục Trong mối quan hệ giữa mặt trừng trị và giáo dục của áp dụng hình phạt thì trừng trị đóng vai trò vừa là mục đích (tuy không phải là chủ yếu) vừa là phương tiện để đạt được mục đích chủ yếu của phòng ngừa riêng

Do đó, nếu áp dụng hình phạt chỉ nhằm trừng trị người phạm tội thì có nghĩa Luật Hình sự chỉ dừng lại ở mục đích nêu ra một phương tiện đấu tranh với tội phạm (hình phạt trừng trị) mà chưa giải quyết một vấn đề cơ bản, đó là phương tiện (hình phạt trừng trị) hướng vào kết quả thực tế cuối cùng là gì? Hơn nữa, dưới chế

Trang 24

độ ta, quy định và áp dụng hình phạt đều xuất phát từ lợi ích con người và những giá trị nhân văn của xã hội Chính xuất phát từ lôgíc này, nhà làm luật nước ta đã

thể hiện mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt là: “Hình phạt không chỉ nhằm

trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới…” [35, tr.75]

Ngoài mục đích phòng ngừa riêng nêu trên, áp dụng hình phạt còn có mục đích nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm hay còn gọi là phòng ngừa chung Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong từng trường hợp cụ thể bao giờ cũng tác động đến các thành viên khác trong xã hội Tùy vào từng vụ án hình sự, ý thức pháp luật, sự chú ý riêng cũng như những đặc điểm riêng về tâm sinh lý của mỗi người… mà mức độ tác động của hình phạt đối với họ khác nhau Trong xã hội ta, tuyệt đại đa số nhân dân không vi phạm pháp luật hình sự, không phải do sợ hình phạt mà lý do chính thuộc về ý thức tôn trọng pháp luật và tinh thần đấu tranh không dung thứ của họ đối với tội phạm Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà xã hội còn một

bộ phận những công dân không vững vàng, dễ bị lôi kéo vào con đường vi phạm pháp luật, thậm chí nghiêm trọng là phạm tội Với bộ phận công dân này, tác dụng răn đe và giáo dục của áp dụng hình phạt để ngăn ngừa tội phạm được đưa lên hàng đầu trong mục đích phòng ngừa chung của hình phạt

Để đạt được mục đích phòng ngừa chung của áp dụng hình phạt, đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tổ chức, pháp lý, văn hóa, giáo dục… trong đó tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật công dân có ý nghĩa to lớn Áp dụng hình phạt chỉ phát huy được tác dụng giáo dục phòng ngừa chung khi quần chúng nhân dân hiểu biết, thấy được tính cần thiết và sự công bằng của nó, khi niềm tin và công lý ngày càng được củng cố và phát triển

Phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt không thể tách rời của hình phạt, chúng ảnh hưởng qua lại với nhau trong mục đích chung (tổng thể) của

áp dụng hình phạt Sẽ không thể đạt được phòng ngừa chung nếu mục đích phòng

Trang 25

ngừa riêng bị triệt tiêu, cũng như khi mục đích phòng ngừa chung bị hạn chế thì phòng ngừa riêng sẽ thiếu môi trường xã hội thuận lợi Nói một cách khách, không thể đạt được kết quả làm cho những người khác tôn trọng pháp luật nếu như bản thân người đã phạm tội, đã bị áp dụng hình phạt vẫn khinh thường pháp luật hoặc là

sẽ khó đạt được mục đích của áp dụng hình phạt

Trên cơ sở phân tích các mục đích của áp dụng hình phạt nói chung, nhận thấy người dưới 18 tuổi phạm tội là đối tượng có nhiều đặc điểm về tâm sinh lý khác so với đối tượng là người đã thành niên, vì vậy mục đích của áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng mang những đặc điểm sau:

Thứ nhất, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ mục đích quan trọng

nhất không phải là trừng trị mà thông qua trừng trị tác động vào tư tưởng, ý thức

của họ, cải tạo họ để họ trở thành công dân có ích cho xã hội

Thứ hai, áp dụng hình phạt tù có thời hạn là việc bắt buộc người bị kết án

phải chấp hành hình phạt trong trại giam trong một thời gian nhất định Do đó xét

về nội dung thì áp dụng hình phạt này nhằm tước quyền tự do của người dưới 18 tuổi phạm tội trong một thời gian nhất định, họ bị cách ly khỏi xã hội, phải lao động cải tạo trong trại giam dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát Chính vì vậy trừng trị là mục đích mang tính tự nhiên của áp dụng hình phạt này

Thứ ba, mục đích trừng trị và cải tạo người phạm tội của áp dụng hình phạt

tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Không thể nói đến cải tạo, giáo dục người phạm tội nếu như áp dụng hình phạt trừng trị không tương xứng với tội họ gây ra

1.2.3 Yêu cầu áp dụng đúng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới

18 tuổi phạm tội

Yêu cầu về quyền con người: Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất

khả tước đoạt, nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực

tố tụng hình sự Yêu cầu áp dụng đúng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới

18 tuổi phạm tội là một trong nhiều yêu cầu bảo vệ quyền con người trong tố tụng

Trang 26

hình sự phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, ưu tiên cải tạo tại cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội, bởi vì mục đích của hình phạt và việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không phải chỉ

là để trừng phạt người vi phạm, mà còn nhằm hỗ trợ người vi phạm phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng Việc phạt tù người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ đặt ra trong những trường hợp thật cần thiết, nếu có phải áp dụng hình phạt đối với các em thì cũng lấy mục đích giáo dục, cải tạo là chủ yếu, không để hình ảnh của pháp luật tồn tại trong tâm trí các em quá sợ hãi hoặc quá khắt khe, dễ gây ra sự bất mãn, lòng thù hận

tế, để thực hiện cải cách tư pháp cần phải nghiên cứu, học tập, tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp của các nước có nền

tư pháp phát triển phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá của Việt Nam Việc áp dụng đúng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong các yêu cầu cải cách tư pháp hướng tới phụng sự công lý, quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên

Yêu cầu về hợp tác quốc tế: Ở Việt Nam, bảo đảm quyền của người dưới 18

tuổi phạm tội là bảo đảm cho những quy định của pháp luật về người được thực hiện trên thực tế, phù hợp với thông lệ quốc tế Trên cơ sở các văn bản pháp luật quốc tế nêu trên, hệ thống tư pháp người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu và ngày càng hoàn thiện, trong đó việc áp dụng đúng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế

- xã hội và văn hóa hiện có của Việt Nam

1.2.4 Căn cứ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Cũng như đối với người phạm tội đã thành niên, khi áp dụng hình phạt nói chung và áp dụng hình phạt tù có thời hạn nói riêng đối với người dưới 18 tuổi

Trang 27

phạm tội, Toà án cũng phải căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 50 BLHS

năm 2015), cụ thể:

Một là, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự: Khi áp dụng hình phạt tù

có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án cần phải cân nhắc kỹ xem

có nên áp dụng hình phạt tù đối với họ hay không? Chỉ áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi khi thấy không thể áp dụng được các loại hình phạt khác đối với

họ Đây cũng là một nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Khi buộc phải áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án phải tuân theo các quy định sau:

- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù Ví dụ: Võ Hữu B (17 tuổi 5 tháng) phạm tội “giết người” thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, Toà án chỉ được phạt Võ Hữu B mức hình phạt tối đa là 18 năm tù Nếu điều luật được áp dụng quy định là hình phạt tù có thời hạn, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư (3/4) mức phạt tù mà điều luật quy định Ví dụ: Võ Minh Q (16 tuổi 10 tháng) phạm tội “bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 12 năm tù, Toà án chỉ được phạt Võ Minh Q mức hình phạt tối đa là 09 năm tù

- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội, nếu điều luật được

áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù Ví dụ: Nguyễn Anh T (15 tuổi 9 tháng) phạm tội “Cướp tài sản” thuộc trường hợp tại khoản 4 Điều 133 Bộ luật hình sự có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, Toà án chỉ được phạt Nguyễn Anh T mức hình phạt tối đa là 12 năm tù Nếu điều luật được áp dụng quy định là hình phạt tù có thời hạn, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần

Trang 28

hai (1/2) mức phạt tù mà điều luật quy định Ví dụ: Đặng Quốc H (14 tuổi 10 tháng) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều

139 BLHS năm 1999 (nay thuộc Điều 74 BLHS năm 2015) có khung hình phạt từ

07 năm đến 18 năm tù, Toà án chỉ được phạt Đặng Quốc H mức hình phạt tối đa là 07 năm 06 tháng tù

- Trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS (nay thuộc Điều 51 BLHS năm 2015) và được Toà

án áp dụng Điều 47 BLHS (nay thuộc Điều 54 BLHS năm 2015) thì việc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ phức tạp hơn Việc áp dụng Điều 47 BLHS để quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, về nguyên tắc vẫn phải bảo đảm đúng quy định của Điều 47 Tuy nhiên, đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Tòa án phải căn cứ vào các quy định tại Điều 74 BLHS năm 1999 Để bảo đảm việc quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vừa đúng với Điều 47 Bộ luật hình sự vừa bảo đảm quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự Ví dụ: Hoàng Văn C 16 tuổi 10 tháng phạm tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay thuộc Điều 173 BLHS năm 2015) có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù; do C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999 nên được Toà án áp dụng Điều

47 BLHS năm 1999 để áp dụng hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều 138 BLHS năm 1999 Giả thiết C là người đã thành niên thì sẽ bị phạt 2 năm tù, nhưng vì C là người dưới 18 tuổi nên C chỉ bị phạt 1 năm 6 tháng tù (2 x 3 : 4 = 1 năm 6 tháng) Mặc dù mức hình phạt 1 năm 6 tháng tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999 nhưng vẫn không vi phạm Điều 47 BLHS năm 1999

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự là một căn cứ quan trọng nhất, thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa khi quyết định áp dụng hình phạt, nếu không sẽ làm cho bản chất của hình phạt thay đổi, mục đích của hình phạt không đạt được, dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật,

Trang 29

bản án mà Toà án tuyên chẳng những không đúng pháp luật mà còn không được dư luận đồng tình gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng khác

Hai là, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Nói chung, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm

tội đã được nhà làm luật xác định để làm căn cứ phân loại tội phạm; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn là căn cứ xác định khung hình phạt cho từng tội phạm Tuy nhiên, cùng một loại tội phạm, cùng một khung hình phạt nhưng do những yếu tố khác nhau nên mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng khác nhau:

- Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội phụ thuộc vào tính chất quan trọng của khách thể bị xâm phạm, vào hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, vào lỗi, mục đích, động cơ của người phạm tội, vào các tình tiết có liên quan đến nhân thân của người phạm tội

- Khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong một khung hình phạt là cân nhắc đến cách thức thực hiện tội phạm của người phạm tội Ví dụ: Cùng là hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng nếu hành vi dùng vũ lức có tính chất quyết liệt thì tính chất nguy hiểm cao hơn trường hợp hành vi dùng vũ lực không có tính chất quyết liệt

- Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong một khung hình phạt còn phụ thuộc vào thời gian, không gian nơi xảy ra tội phạm; phụ thuộc vào động cơ mục đính phạm tội của người phạm tội, nếu động cơ mục đích không phải là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt; phụ thuộc vào thiệt hại gây

ra cho xã hội nều mức thiệt hại khác nhau đều được quy định trong một khung hình phạt Ví dụ: A gây thương tích cho B có tỷ lệ thương tật là 31%, còn C gây thương tích cho D có tỷ lệ thương tật là 50% Tuy cùng phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS năm 1999, nhưng tính chất mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội của C nguy hiểm hơn A

- Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong một khung hình phạt còn phụ thuộc vào tính chất và mức độ lỗi của hành vi phạm tội do

Trang 30

người phạm tội thực hiện Cùng là lỗi cố ý, nhưng nếu là lỗi cố ý trực tiếp thì nguy hiểm hơn lỗi cố ý gián tiếp; cùng là lỗi cố ý trực tiếp, nhưng sự quyết tâm phạm tội của người phạm tội cao nguy hiểm hơn người không có ý thức quyết tâm phạm tội đến cùng; cùng là vô ý thì vô ý vì quá tự tin nguy hiểm hơn lỗi vô ý vì cẩu thả Ngoài ra còn có thể xem xét đến các hình thức lỗi khác để đánh giá tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như: cố ý có chủ mưu nguy hiểm hơn cố ý đột xuất; cố ý xác định nguy hiểm hơn cố ý không xác định

Ba là, căn cứ vào nhân thân người phạm tội: Nhân thân người phạm tội là

toàn bộ các yếu tố về tự nhiên và xã hội có liên quan đến người phạm tội bao gồm: Tuổi đời, tình trạng sức khoẻ, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, quá trình công tác, thành tích, kỷ luật, lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình Khi xem xét nhân thân người phạm tội với ý nghĩa là một căn cứ để quyết định áp dụng hình phạt, Toà án phải xem xét cả mặt tốt, mặt xấu, đồng thời phải đánh giá được khả năng phát triển nhân cách của họ, khả năng cải tạo cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến quá trình cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội

Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội các yếu tố thuộc về nhân thân là căn cứ

vô cùng quan trọng để Toà án cân nhắc khi quyết định áp dụng hình phạt Do đó, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử họ phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người dưới 18 tuổi Hội thẩm nhân dân tham gia phiên toà sơ thẩm xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội nhất thiết phải là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Khi quyết định áp dụng hình phạt Hội đồng xét xử cần cân nhắc các yếu tố có liên quan đến hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi như: Về độ tuổi; về trình độ học vấn ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi vì người có học, nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội khác với người không được đi học Đối với người phạm tội là người dưới 18 tuổi ở

độ tuổi thiếu niên mà không được đi dễ bị mua chuộc, lôi kéo; về lịch sử bản thân của người dưới 18 tuổi có liên quan đáng kể đến hành vi phạm tội cuả họ vì một đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi, sông lang thang, bụi đời, đã vi phạm pháp luật nhiều lần dễ

Trang 31

bị lôi kéo vào con đường phạm tội hơn một đứa trẻ có bố mẹ, được nuôi dạy tử tế và

về hoàn cảnh gia đình của người dưới 18 tuổi là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi phạm tội của họ vì một đứa trẻ sống trong một gia đình

có truyền thống, có giáo dục, bố mẹ, ông bà là công dân tốt khác với một đứa trẻ sống thiếu tình thương của cha mẹ và người thân như: bố mẹ ly hôn, bố hoặc mẹ phạm tội phải đi tù hoặc phải sống trong một gia đình bố mẹ lục đục, mâu thuẫn, sống ích kỷ không quan tâm đến con cái.v.v… Nếu vụ án có đồng phạm thì cần xác định xem người dưới 18 tuổi phạm tội có bị người khác xúi dục hay không, nếu người xúi dục lại là người đã thành niên thì cần phải căn cứ vào các yếu tố trên để cân nhắc khi quyết định áp dụng hình phạt đối với họ

Bốn là, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cũng như đối với người đã thành niên phạm tội, khi áp dụng hình phạt đối

với người dưới 18 tuổi phạm tội Toà án cũng phải căn cứ vào các tình tiết tăng nặng

và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, có một số tình tiết nếu là người đã thành niên phạm tội thì không được áp dụng nhưng đối với người dưới 18 tuổi thì lại được áp dụng Ví dụ: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự thì chỉ người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả thì mới được coi là tình tiết giảm nhẹ, nhưng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì bố, mẹ, người thân của người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản

1 Điều 46 BLHS năm 1999 Ngược lại, được áp dụng những tình tiết đối với người

đã thành niên phạm tội, còn không được áp dụng những tình tiết đối với người dưới

18 tuổi phạm tội, nhất là các tình tiết tăng nặng Ví dụ: không được áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với người dưới 18 tuổi chưa đủ 16 tuổi, vì theo quy định tại khoản 6 Điều 69 BLHS năm 1999 thì “án đã tuyên đối với người dưới

18 tuổi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” Ngoài ra, việc xác định các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn phải căn cứ vào tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi ở các lứa tuổi khác nhau để xác định mức độ tăng

Trang 32

nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với họ Ví dụ: Nếu các tình tiết của vụ

án như nhau thì, người mới hơn 14 tuổi phạm tội do bị cưỡng bức, đe doạ mức độ giảm nhẹ phải nhiều hơn người gần 16 tuổi

Như vậy, khi xem xét áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét đầy đủ các căn cứ nêu trên để đưa ra áp dụng hình phạt tù có thời hạn vừa đủ sức răn đe, giáo dục pháp luật đối với họ nói riêng hay đối với xã hội nói chung nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm cho người phạm tội đặc biệt này có được cơ hội nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường

Kết luận Chương 1

Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự Đây là đối tượng đặc biệt được điều chỉnh trong pháp luật hình sự Việt Nam Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về xử

lý đối tượng này và những vấn liên quan đã được quy định hết sức chi tiết và phù hợp với luật pháp quốc tế và được xây dựng dựa trên cơ sở đặc điểm tâm lý, sinh lý cũng như sự phát triển về thể chất, tinh thần thông qua độ tuổi của người chưa thành niên

Việc xử lý hình sự hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi phải đảm các nguyên tắc cơ bản đã được quy định chi tiết trong Bộ luật hình sự, thể hiện được sự nhân đạo cũng như sự quan tâm cuả Đảng và Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi có nhận thức sai lầm đã thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật

Trong lịch sử luật hình sự nước ta, áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hình thức phạt điển hình nhất, phổ biến nhất đã được quy định rất sớm trong các văn bản pháp luật Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là việc bắt buộc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội,

Trang 33

đảm bảo công lý, công bằng xã hội Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có mức tối thiểu là 3 tháng, mức tối đa là không quá 3/4 (đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội) hoặc 1/2 (đối với người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội) mức phạt tù mà điều luật quy định Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất có thể đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Áp dụng hình phạt này nhằm tước tự do của người bị kết án trong một thời gian nhất định, buộc họ phải lao động, cải tạo trong trại giam theo chế độ cải tạo do pháp luật quy định Chỉ có thể áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp thật cần thiết, khi mà việc áp dụng các hình phạt khác nhẹ hơn đối với họ như phạt tiền, cải tạo không giam giữ không có ý nghĩa về mặt giáo dục, cải tạo và cần phải tước quyền tự do của họ trong một thời gian nhất định để họ nhận thức được mức độ sai lầm của mình do việc thực hiện hành vi phạm tội

Trang 34

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT

TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 2.1 Các quy định của pháp luật hình sự trước Bộ luật hình sự năm 2015

về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trong giai đoạn trước 1985 các quy định của pháp luật hình sự quy định hình phạt gắn với các hành vi phạm tội ở các văn bản pháp luật khác nhau để xử lý đối với người thực hiện tội phạm và không có quy định riêng về áp dụng mức hình phạt đối với người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) phạm tội Pháp luật hình sự thời kỳ này còn thiếu nhiều và chưa đồng bộ, thiếu cụ thể dẫn đến việc xử lý đối với hành

vi phạm tội của người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất cả về việc xác định độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự và cả áp dụng mức hình phạt đối với đối tượng này (bao gồm mức án tối đa của hình phạt tù có thời hạn và áp dụng loại hình phạt nào thì không được hay được đối với người dưới

18 tuổi phạm tội)

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự trong giai đoạn này

chúng ta thấy rằng: Thứ nhất, lần đầu tiên Nhà nước ta đưa ra khái niệm pháp lý về

người dưới 18 tuổi là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi trong một văn bản có tính

pháp lý cao (Sắc lệnh) Thứ hai, về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì nguyên tắc chung là từ 14 tuổi trở lên được coi là có trách nhiệm về mặt hình sự Thứ ba,

đường lối xử lý bước đầu đã có sự phân hóa theo nhóm lứa tuổi người dưới 18 tuổi: xấp xỉ 14 tuổi; 14 - 17 tuổi; 16 - 17 tuổi

Khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành thì những quy định đối với NCTNPT được xây dựng tại một chương độc lập (Chương 7 – Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội) bao gồm các cơ sở của trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý đối với NCTNPT, các biện pháp tư pháp và áp dụng hình phạt với NCTN, việc tổng hợp hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt và xóa án tích đối với NCTNPT Theo đó việc quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với

NCTNPT được thực hiện như sau: “- Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là

Trang 35

tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng mức hình phạt cao nhất với người dưới 18 tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là hai mươi năm tù và đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên và chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là mười lăm năm tù - Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù thì áp dụng mức hình phạt cao nhất với người dưới 18 tuổi phạm tội là không quá mười hai năm tù”

Sau 14 năm thi hành BLHS năm 1985, đã phát sinh nhiều bất cập trong việc thực thi cũng như hiệu lực, hiệu quả trong việc phòng chống tội phạm đã không đạt kết quả mong muốn Trước những đòi hỏi của thực tiễn, BLHS năm 1999 được xây dựng và ban hành đã giải quyết được những vướng mắc, bất cập khi thực hiện BLHS năm 1985 Trong BLHS năm 1999, áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hình phạt phổ biến và thông dụng nhất được quy định trong hầu hết các khung hình phạt Trong tổng số 671 khung hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 thì có: 666 khung hình phạt quy định hình phạt tù có thời hạn (chiếm tỷ lệ 99,25 %) Trong đó có 359 khung hình phạt chỉ quy định hình phạt tù có thời hạn (chiếm tỷ lệ 53,5 %), có 307 khung hình phạt quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạt tù có thời hạn và các hình phạt khác như phạt tiền, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ; 5 khung hình phạt không quy định hình phạt tù có thời hạn (chiếm tỷ lệ 0,74%) So với BLHS năm 1985 thì quy định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với NCTNPT trong BLHS năm 1999 có sự thay đổi theo hướng giảm nhẹ, khoan hồng hơn đối với NCTNPT Theo đó, Điều 74 BLHS năm 1999 quy định: Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

“1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám (18) năm tù (trước đây quy định là 20

năm); nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba

phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định (trước đây quy định là 12 năm);

2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai (12) năm tù (trước đây quy định là 15

Trang 36

năm); nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá

một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định (trước đây là 12 năm) [19]

Riêng đối với những vấn đề khác có liên quan đến các quy định về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của BLHS năm 1999

sẽ được làm rõ dưới góc nhìn so sánh với BLHS năm 2015 ở phần 2.2 dưới đây

2.2 Các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung

về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để người dưới 18 tuổi nhận ra sai lầm, từ đó sửa chữa những sai lầm của mình, tạo điều kiện

để các em có khả năng tái hòa nhập cộng đồng Kế thừa nguyên tắc nhân đạo nêu trên, BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã có những sửa đổi quan trọng trong chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được thể hiện ở một số nội dung sau [7]:

- Một là, phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi: Kế thừa

các quy định trước đây, BLHS năm 2015 quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự, trong đó nhóm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi được phân loại ra hai nhóm để có chính sách hình sự khác nhau, đó là nhóm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và nhóm từ đủ 16 tuổi trở lên: nếu BLHS năm 1999, người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố

ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng đối với bất kỳ tội danh nào thì nay BLHS năm

2015 người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong 28 điều, đó là các điều: 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,

173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của BLHS năm 2015

Ngoài ra, BLHS năm 2015 cũng sửa đổi phạm vi chịu trách nhiệm của người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội theo hướng thu hẹp hơn: nếu theo quy định của BLHS năm 1999, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách

Trang 37

nhiệm hình sự về việc chuẩn bị phạm tội nếu tội phạm mà họ chuẩn bị thực hiện là tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc mọi tội danh thì nay theo BLHS năm 2015, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu chuẩn bị phạm tội thuộc một trong 2 tội danh đó là: Giết người (Điều 123) và Cướp tài sản (Điều 168)

- Hai là, nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Bổ sung

nguyên tắc: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” (khoản 1 Điều 91) và nguyên tắc: “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt

và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa” (khoản 6 Điều 91) Ngoài ra sửa đổi nguyên tắc: “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này” tại khoản 4 Điều

69 BLHS năm 1999 thành: “Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa”

- Ba là, phạm vi miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi được

thu hẹp: nếu theo khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999 thì người dưới 18 tuổi phạm tội

có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng (đối với tất cả các tội danh có loại tội phạm này), gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục thì nay BLHS năm 2015, người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của BLHS năm

2015, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương XII BLHS năm 2015

- Bốn là, một số biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự: BLHS năm 2015 quy định có các biện pháp giám

Trang 38

sát, giáo dục là: biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng và giáo dục tại xã, phường, thị trấn Chuyển áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của BLHS năm 1999 thành áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự và chỉ giữ lại 1 biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đó là biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

- Năm là, án tích và xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: BLHS

năm 1999 chỉ coi là không có án tích trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội nếu được áp dụng những biện pháp tư pháp thì nay theo BLHS năm 2015, ngoài trường hợp bị áp dụng biện pháp tư pháp, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý cũng không bị coi là có án tích Về thời hạn xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án: BLHS năm 1999 quy định thời hạn để xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi là một phần hai thời hạn quy định tại Điều 64 của BLHS năm 1999 (1/2 thời hạn xóa án tích của người đã thành niên) thì nay BLHS năm 2015 quy định người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 3 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới

- Sáu là, áp dụng hình phạt và quyết định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Do đây là nội dung có liên quan với đề tài đang nghiên cứu

nên tác giả tập trung làm rõ hơn về nội dung này

+ Về các quy định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Theo quy định tại Điều 98 BLHS năm 2015 thì khi xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội, chỉ được áp dụng một trong bốn hình phạt: cảnh cáo, phạt tiền (Điều 99 BLHS năm 2015), cải tạo không giam giữ (Điều 100 BLHS năm 2015) và tù có thời hạn (Điều 101 BLHS năm 2015)

Trang 39

Đối với áp dụng hình phạt phạt tiền, cải tạo không giam giữ, BLHS năm

2015 có một loạt những thay đổi theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt này nhất là đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Đối với áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, một quy định mới trong nguyên tắc xử phạt tù có thời hạn là phải cho người

dưới 18 tuổi phạm tội được áp dụng hình phạt tù có thời hạn “với thời hạn thích

hợp ngắn nhất” (Khoản 3 Điều 91 BLHS năm 2015), việc bổ sung này lại thể hiện

sự tiến bộ và phù hợp với quy định của Công ước về Quyền trẻ em Bên cạnh đó, do Điều 101 BLHS năm 2015 quy định về việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội giống như người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tại Điều 38 BLHS năm 2015 và điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn tại Điều 38 BLHS năm 2015 lần đầu tiên quy định bổ sung trường hợp không được áp dụng

hình phạt tù có thời hạn “đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và

có nơi cư trú rõ ràng” nên phạm vi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người

dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng cũng như người phạm tội nói chung trong BLHS năm 2015 đã được thu hẹp lại so với BLHS năm 1999

+ Về quyết định áp dụng hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Điều 102 BLHS năm 2015

đã có sự phân hóa với quy định tương tự cho người đủ 18 tuổi trở lên cũng như đã

có sự phân hóa TNHS theo từng nhóm tuổi cụ thể theo hướng thể hiện đúng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã được quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015 Theo đó, phạm vi chịu TNHS với giai đoạn chuẩn bị phạm tội của người

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (khoản 3 Điều 14 BLHS năm 2015) đã có sự thu hẹp:

họ chỉ phải chịu TNHS khi họ chuẩn bị phạm tội giết người (Điều 123 BLHS) và tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) Về mức độ TNHS, BLHS năm 2015 đã quy định bổ sung một khung hình phạt riêng đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội trong các tội danh cụ thể và các khung hình phạt này thấp hơn nhiều so với khung hình phạt theo quy định của BLHS năm 1999 (khoản 2 Điều 52) Đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt, quy định về mức độ TNHS đối với giai đoạn này cần phải làm hai bước để xác

Trang 40

định áp dụng mức hình phạt cao nhất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt

Cụ thể bước thứ nhất là cần phải xác định áp dụng mức hình phạt tối đa đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đối với áp dụng từng loại hình phạt theo quy định tại Điều 99, Điều 100 và Điều 101 BLHS năm 2015 và bước thứ hai cần xác định áp dụng mức hình phạt tối đa đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt theo quy định tại khoản 3 Điều 102 BLHS năm 2015 là không quá một phần ba hoặc không quá một phần hai kết quả vừa tính được ở bước thứ nhất tùy từng độ tuổi khác nhau

Ví dụ: Một người 17 tuổi thực hiện hành vi cấu thành tội cướp tài sản quy định khoản 3 Điều 168 BLHS năm 2015 Mức hình phạt cao nhất của khung này là

20 năm tù, như vậy, theo quy định tại Điều 101 về hình phạt tù có thời hạn thì áp dụng mức hình phạt cao nhất trong trường hợp phạm tội hoàn thành đối với người

17 tuổi là không quá 15 năm (không quá 3/4 mức mà luật quy định), do đó đối với trường hợp người 17 tuổi phạm tội cướp tài sản chưa đạt quy định tại khoản 3 Điều

168 thì áp dụng mức hình phạt cao nhất đối với họ không quá 7 năm 6 tháng tù

+ Về quyết định áp dụng hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi

phạm nhiều tội (Điều 103 BLHS năm 2015), có một số điểm mới như: đã quy định

áp dụng mức hình phạt cao nhất sau khi đã tổng hợp; để áp dụng tổng hợp hình phạt dựa vào áp dụng mức hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với từng tội; quy định về áp dụng tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi hoặc tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi

+ Về áp dụng tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: đây cũng là một quy định mới, lần đầu tiên quy định về áp dụng tổng

hợp hình phạt của nhiều bản án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của BLHS năm

Ngày đăng: 09/06/2018, 12:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tư pháp (1995), Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3. Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng (2004), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên - Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học Phần I - Khía cạnh pháp lý hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên - Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học Phần I - Khía cạnh pháp lý hình sự
Tác giả: Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng
Năm: 2004
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48 - NQ - TW, ngày 24/05/2005, về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thồng pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48 - NQ - TW, ngày 24/05/2005, về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thồng pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49 - NQ/TW, ngày 02/06/2005, về tăng cường công tác lãng đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49 - NQ/TW, ngày 02/06/2005, về tăng cường công tác lãng đạo của Đảng trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
6. Nguyễn Minh Hải (2009), Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 09), tr. 22 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Nguyễn Minh Hải
Năm: 2009
7. Nguyễn Thị Phương Hoa, Phan Anh Tuấn (2017), Bình luận những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015: Sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Bình luận những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015: Sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa, Phan Anh Tuấn
Năm: 2017
9. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết 04/2006/NQ - HĐTP ngày 12/05/2006, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “xét xử sơ thẩm của BLTTHS 2003”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 04/2006/NQ - HĐTP ngày 12/05/2006, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “xét xử sơ thẩm của BLTTHS 2003”
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2006
14. C. Mác - Ph.Ăngghen (1984), Tuyển tập, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, Tập 1
Tác giả: C. Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1984
15. Cao Thị Oanh (2007), Hoàn thiện những quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên, Tạp chí Luật học, tháng 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện những quy định về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
Tác giả: Cao Thị Oanh
Năm: 2007
16. Cao Thị Oanh (2008), Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Cao Thị Oanh
Năm: 2008
17. Đinh Văn Quế (2003), Quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 5), tr.5 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2003
18. Đinh Văn Quế (2010), Tìm hiểu về tội phạm và hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về tội phạm và hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2010
19. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
20. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
21. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
22. Quốc hội (2017), Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2017
23. Hồ Sĩ Sơn (2007), Nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn tiến sĩ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Hồ Sĩ Sơn
Năm: 2007
24. Lê Thị Sơn (1997), Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Luận văn tiến sĩ Luật học, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Tác giả: Lê Thị Sơn
Năm: 1997
25. Trần Văn Sơn (1997), Nhân thân người phạm tội - một số căn cứ để quyết định hình phạt, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội - một số căn cứ để quyết định hình phạt
Tác giả: Trần Văn Sơn
Năm: 1997
26. Quách Hữu Thái (2013), Những vướng mắc trong thực tiễn xét xử người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án nhân dân (số 8), tr. 12- 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc trong thực tiễn xét xử người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Quách Hữu Thái
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm