1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tình trạng cấy truyền phôi ở lợn

15 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 190 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình trạng cấy truyền phôi ở lợnKỹ thuật phẫu thuật Kỹ thuật phẫu thuật đối với cấy truyền phôi cho con nhận phôi đã sãn có trong nhiều thập kỷ và nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến

Trang 1

Tình trạng cấy truyền phôi ở lợn

Kỹ thuật phẫu thuật

Kỹ thuật phẫu thuật đối với cấy truyền phôi cho con nhận phôi đã sãn có trong nhiều thập kỷ và nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của chúng đã được tổng kết từ năm 1982 (Polge 1982) Kỹ thuật phẫu thuật đối với áp dụng thương mại chỉ được sử dụng ở một mức độ giới hạn Những kỹ thuật này sẽ được mô tả một cách ngắn gọn để so sánh với các kỹ thuật gần đây Về nguyên tắc, tất cả các kỹ thuật này được thực hiện ở điều kiện gây mê toàn thân, với đường sinh dục được bộc lộ thông qua vết cắt ở đường giữa thẳng đứng ở vùng bụng phía sau Thông thường lợn hậu bị được sử dụng bởi vì chúng dễ vận chuyển và chịu được gây mê và các kỹ thuật phẫu thuật tốt hơn lợn nái Phôi được đưa vào ống dẫn trứng hay đầu sừng tử cung, phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của phôi Chúng được đưa vào bằng một pipette nhỏ hay ống mỏng cùng với một lượng nhỏ môi trường cấy phôi Trung bình, tỷ lệ có chửa khoảng 60%, và số con trên ổ là 6,5, với sự dao động tỷ lệ có chửa từ 17% với 2,4 lợn con tới 100% và trung bình số con trên ổ gần 10,8

Kỹ thuật nội soi được phát triển gần đây hơn Mặc dù chúng được định nghĩa là một kỹ thuật phẫu thuật, lợi ích của chúng là các vết cắt nhỏ cần thiết để đưa các dụng cụ vào Tuy nhiên các kỹ thuật nội soi cũng đòi hỏi gây mê và các biện pháp

đề phòng khác tượng tự với các kỹ thuật phẫu thuật thông thường, và vì thế ít có khả năng áp dụng đối với các trang trại đơn lẻ Tỷ lệ có chửa dao động từ 14% với 8 và 9 lợn con đến 40% với trung bình 7 lợn con trên ổ đối với cấy truyền vào

tử cung và 33% với trung bình 6 lợn con trên ổ đối với cấy truyền phôi vào ống dẫn trứng Gần đây, tỷ lệ có chửa là 90% đối với áp dụng kỹ thuật cấy truyền phôi nội soi (bao gồm cả thu phôi bằng nội soi) cũng đã được báo cáo nhưng kết quả chi tiết không được trình bày Những kết quả này cho thấy rằng phương pháp phẫu thuật phổ biến của cấy truyền phôi có thể sử dụng được

Các kỹ thuật không phẫu thuật

Các kỹ thuật không phẫu thuật dựa trên cơ sở thông qua cổ tử cung để thu phôi

từ tử cung và/hay đưa phôi vào tử cung Sau một thí nghiệm đầu tiên vào năm

1968, các kỹ thuật này đã được phát triển trong thập kỷ qua Polg và Day (1968)

đã cấy truyền phôi lợn từ con cho phôi bị giết (ngày thú 3-5 sau thụ tinh) cho những con nhận được gây mê đồng pha Chỉ có 1/17 con nhận đã có chửa ở ngày thứ 17 sau khi cấy Ba phôi đang phát triển và bốn mảnh phôi đã được tìm thấy lúc giết Họ kết luận rằng tử cung của lợn nái mà lợn nái đó không động dục,

Trang 2

có cổ tử cung rất khó đưa vào và cổ tử cung hay thành tử cung dễ bị thủng Đây

có thể là yếu tố chính làm cho kết quả đạt được kém Sims và First (1987) đã thực hiện cấy phôi bảy ngày tuổi bằng việc bơm phôi thông qua một spirette-AI vào tử cung của những con nhận phôi được gây mê nhẹ Những gia súc này được giết ở một giai đoạn không được biết của quá trình chửa và ở thời điểm giết, 13/21 con nhận đã có chửa

Các thí nghiệm tiếp theo với các kỹ thuật không phẫu thuật đã được báo cáo ở sáu nhóm nghiên cứu khác nhau (Bảng 1), tất cả các nhóm sử dụng các phương pháp khác nhau Ba sự khác biệt chính giữa các kỹ thuật là : 1) Dùng con nhận

có gây mê; 2) Loại dụng cụ được sử dụng (spirette -AI hay thiết kế đặc biệt ), và 3) Lượng dung dịch được dùng để cấy phôi

Hai nhóm nghiên cứu đã sử dụng các hệ thống mà những hệ thống này cần phải gây mê hoàn toàn ((Reichenbach và cs, (1993); Li và cs, (1996)) Reichenbach

và cs, (1993) đã đưa những con nhận vào vị trí thẳng đứng với nửa phía sau nâng lên 900 từ vị trí nằm ngang, để kéo căng cổ tử cung và kích thích phôi vận chuyển thông qua tử cung bằng trọng lực Các tác giả này đã sử dụng một

spirette AI kết hợp với một ống cấy truyền phôi bằng thép không gỉ (như được sử dụng trong cấy truyền phôi ở bò), nó được lồng qua spirette vào thân tử cung Những con nhận phôi trong nghiên cứu của Li và cs (1996) được đặt ngửa lưng

để kéo căng cổ tử cung Các tác giả này cũng sử dụng một spirette AI cải tiến kết hợp với một dụng cụ thép không gỉ được thiết kế đặc biệt với thanh thử để đi qua

cổ tử cung và với một ống bổ xung để đưa phôi vào tử cung Cả hai nhóm đã đưa phôi vào tử cung trong một lượng nhỏ môi trường cấy phôi Nhóm đầu tiên Reichenbach và cs (1993) đã bổ xung thêm một lượng 10-20ml môi trường vào

tử cung sau khi đã đặt phôi vào tử cung (Bảng 1)

Hai nhóm nghiên cứu khác đã sử dụng hệ thống AI truyền thống cải tiến (Galvin

và cs 1994; Yonemura và cs 1996) Con nhận hoặc là gây mê nhẹ (Galvin và cs 1994) hay không gây mê hoàn toàn (Yonemura và cs, 1996) Cả hai nhóm nghiên cứu đã sử dụng spirette AI bình thường được nối với một dụng cụ ba đường Galvin và cs (1994) đã đặt phôi với một catheter vào spirette và bơm chúng với 10-20ml môi trường sau đó bơm thêm 15ml không khí để bơm sạch các chất trong spirette vào tử cung.Yonemura và cs (1996) đã bơm phôi trực tiếp với một

số lần bơm dung dịch (tổng số đến 50ml) vào tử cung, sau đó bơm thêm 10ml không khí (Bảng 1)

Bảng 1: Tổng kết các kỹ thuật và các kết quả của kỹ thuật cấy phôi không phẫu

Trang 3

thuật được xuất bản gần đây

Tài

liệu

tham

khảo

Reichenbach

và cs, (1993)

Galvil và cs, (1994)

Hazeleger, Kemp (1994)

Li và cs, (1996)

Yonemura

và cs, (1996)

Hazeleger và

cs, (1999)

Gây

Kỹ

thuậta

Trung

bình

(mL)

10-20 10-20 Ê0,1 <0,3 30 hay 50 Ê0,1

Phôi

(n)

Giai

đoạn

của

phôi

8 tế bào đến

phôi nang đến

4 tế bào đến phôi nang thoát màng

Phôi dâu đến phôi nang

4 tế bào đến phôi nang

4 tế bào đến phôi nang thoát màng

Phôi nang thoát màng

Tỷ lệ

đẻ

(%)

5/58c (9%) 10/46

(22%)

7/21 (33%) 5/16

(31%)

16/25 (64%)

16/27d (59%)

Số

con

trên ổ

(dao

động)

2;6;7 4,3?0,7

(3-6)

6,7?1,6 (4-9)

6,2?3,1 (3-10)

3,1?1,6 (1-7)

10,9?3,4 (3-15)

Tỷ lệ

sống

sótb

(dao

động)

7,4; 20,0; 21,9 35?13

(21-63)

38?8 (22-47)

31?17 (13-56)

17?8 (7-33)

37?11 (10-50)

aAI=hệ thống AI cải tiến; SI= dụng cụ thiết kế đặc biệt

bDựa trên những con có chửa

cHai con có chửa được giết giữa ngày 35 và 45; giả thiết rằng những con có

Trang 4

chửa này sẽ đẻ.

dCon nhận được giết ở ngày 35 của quá trình chửa nhưng giả thiết là đã đẻ

ở thí nghiệm của Hazeleger và cs (1994;1995; 1999), các tác giả đã dùng một kỹ thuật không gây mê lợn nái nhận phôi Phôi được cấy bằng dụng cụ được cấy linh hoạt được thiết kế đặc biệt, mà dụng cụ này di chuyển qua cổ tử cung vào tử cung Một catheter nhỏ chứa phôi được đưa qua dụng cụ này vào tử cung, ở đó phôi được bơm vào cùng với một lượng nhỏ môi trường cấy phôi (Ê0,1mL) Kỹ thuật này đầu tiên cho tỷ lệ chửa 33% (Hazeleger và cs, 1994) Gần đây hơn, sử dụng kỹ thuật tương tự nhưng đã được cải tiến và cấy nhiều phôi hơn, tỷ lệ có chửa đạt 59% (Bảng 1; Hazeleger và cs, 1999)

Tỷ lệ có chửa trung bình đạt được dao động từ 9-64%, số con trung bình trên ổ dao động từ 3,1-10,9 (Bảng 1) Mặc dầu tất cả các nhóm nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật khác nhau để cấy phôi, nhưng kết quả tốt nhất đạt được là bằng cấy phôi không gây mê con nhận phôi (khoảng 60%; Yonemura và cs, 1996);

Hazeleger và cs, 1999) Các dụng cụ được thiết kế đặc biệt, mà những dụng cụ này có thể đưa phôi vào tử cung với một lượng nhỏ dung dịch cho kết quả số con trên ổ nhiều hơn (xấp xỉ 6-11 lợn con; Hazeleger và cs, 1994; Hazeleger và cs, 1999; Li và cs, 1996) so với các phương pháp khác Có thể số con trên ổ thấp là

do khi một lượng lớn dung dịch được dùng để cấy phôi là do dung dịch chảy ngược ra cùng với phôi qua cổ tử cung ra ngoài Theo Hazeleger và cs, (1999), điều quan trọng là chỉ dùng một lượng dung dịch tối thiểu để đẩy phôi từ catheter vào tử cung; trong tử cung có rất ít dung dịch ở giai đoạn sớm của quá trình chửa bình thường

Khả năng thực hành của kỹ thuật cấy phôi

Khả năng thực hành của kỹ thuật cấy phôi phụ thuộc vào độ dễ mà cấy phôi có thể thực hiện, sử dụng thiết bị và thời gian tối thiểu, có thể được ưa thích ở điều kiện trang trại so với thụ tinh nhân tạo Vì vậy, kỹ thuật cấy phôi qua cổ tử cung không gây mê con nhận phôi được ưa thích hơn so với kỹ thuật nội soi, mà kỹ thuật này vẫn cần đòi hỏi các thiết bị phẫu thuật Khả năng thực hành của kỹ thuật không phẫu thuật cũng phụ thuộc vào kinh nghiệm cần thiết để thực hiện cấy phôi Đưa các dụng cụ đặc biệt qua cổ tử cung của con nhận không gây mê chỉ được sử dụng gần đây ở lợn nái cai sữa, bởi vì cổ tử cung của lợn hậu bị hẹp

và đóng chặt hơn (Hazeleger và cs, 1999; Hazeleger và cs, 1999) Tuy nhiên, đối với tất cả các kỹ thuật đã được trình bày, các kỹ thuật viên cần phải được huấn luyện để thực hiện cấy phôi

Trang 5

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công

Hầu hết các nghiên cứu thực hiện ở các giai đoạn phát triển khác nhau của phôi (4 tế bào đến phôi nang thoát mang) và con nhận đồng pha hay không đồng pha

1 ngày Hầu hết các tác giả không tìm thấy sự khác nhau rõ ràng do các yếu tố này đóng góp Nghiên cứu gần đây của Hazeleger và cs, (1995) cho thấy cấy phôi đồng pha (con nhận rụng trứng trước khoảng 24giờ hay sau 12 giờ so với con cho) cho kết quả tốt nhất (Bảng 2) ở nghiên cứu của Polge (1982), kết quả đạt được tốt nhất nếu phôi (ngày thứ 3 đến ngày thứ 9) được cấy cho con nhận

mà những con nhận này động dục 1 hay 2 ngày sau con cho phôi

Giai đoạn phát triển của phôi dường như cũng có vai trò quan trọng đến cấy phôi thành công Kết quả tốt nhất đạt được khi cấy phôi ở ngày thứ 4 bằng phôi nang và phôi dâu (55% có chửa) khi so với chỉ dùng phôi nang (cũng phôi ở ngày thứ 4, 10% có chửa, Bảng 3) Các kết quả này có thể cho thấy cấy phôi nang cho kết quả tốt nhất hay những phôi phát triển tốt nhất mới sống sót Nghiên cứu cấy phôi ở ngày thứ 5 (5 ngày sau rụng trứng) không cho kết quả có chửa hoàn toàn khi 5 hay nhiều hơn phôi dâu hay chỉ có phôi dâu trong số các phôi được cấy của phôi dâu và phôi nang, phụ thuộc vào sự không đồng pha của con nhận (con nhận rụng trứng trước 24 giờ hay sau 36 giờ so với con cho; Hazeleger và cs, 1995; Bảng 2) Kết quả này cho thấy trong số những phôi cấy, những phôi phát triển trước có cơ hội sống sót cao hơn khi cấy không phẫu thuật cho con nhận đồng pha tương đối Nghiên cứu gần đây của Hazeleger và cs, (1999) đã nhấn mạnh hiện tượng này Một lượng thấp và cao (1000 và 1500IU) eCG để kích thích trứng rụng và phôi đã được so sánh Phôi 5 ngày tuổi (phôi dâu thoát

màng) được cho điểm theo sự phát triển và cấy cho con nhận đồng pha Liều eCG thấp và cao cho kết quả khác nhau về số tế bào ở mỗi phôi (84?15 so với 70?2) và có sự khác nhau nhỏ về đường kính trung bình của phôi nang (162?12

so với 158?11 mm) Tỷ lệ có chửa là 71 và 46% tương ứng Trung bình, phân loại phôi cấy trên cơ sở đường kính trung bình của chúng cho kết quả có chửa 43% đối với phôi nang có đường kính nhỏ hơn và tỷ lệ có chửa cao hơn khi cấy phôi nang có đường kính lớn hơn, điều đó đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những phôi phát triển tốt (Bảng 4) Nhìn chung, ở ngày thứ 5 sau rụng trứng chỉ có những phôi nang phát triển tốt có thể cấy thành công bằng phương pháp không phẫu thuật, và con nhận phải rụng trứng trước khoảng 24 giờ hay sau 12 giờ so với con cho

Bảng 2:Số cấy và chửa sau khi cấy bằng không phẫu thuật ở ngày thứ 5 cho con nhận, rụng trứng trước 24 giờ (-24giờ) đến 36 giờ (+36 giờ) sau con cho (dựa

Trang 6

trên số liệu của Hazeleger và cs, 1995).

Số cấy Không đồng

pha

n Chu kỳ bình

thường

Chu kỳ >24 ngày Chửa ở 35

ngày -24 đến

12giờ

+18 đến +36

giờ

18 12

7a(3)

11b(5)

6(0) 1(0)

5(0) 0(0)

Trong ngoặc là số con nhân có nhiều hơn 5 phôi dâu mỗi lần cấy, a so với b: p,0,005

Bảng 3: Tổng kết cấy truyền phôi không phẫu thuật có hay không có phôi nang ở

ngày thứ 4 (Hazeleger và cs, 1995)

Con nhận Có phôi

nang

Không có phôi nang

Tổng số Giá trị P

Tổng số

Có chửa

11 6(55%)

10 1(10%)

21

Bảng 4: Tỷ lệ có chửa và phôi sống ở ngày 30 sau khi cấy bằng những phôi có đường kính dưới trung bình (nhỏ), trên trung bình (lớn) và trung bình (Hazeleger

và cs, 1999)

Kích thước phôi Nhỏ (<159mm) Lớn (>159mm) Tổng số Giá trị P

Có chửa

Làm tổ

Có thai bình

thường

6/14(43%) 10,8?5,2 8,8?3,4

10/13(77%) 14,9?3,9 12,1?2,9

16/27(59%) 13,4?4,7 10,9?3,4

0,07 0,09 0,06

Các khía cạnh khác ảnh hưởng đến kết quả của cấy phôi không phẫu thuật cũng

đã được Yonemura và cs (1996) báo cáo Họ đã nhận thấy kết quả tốt hơn khi sức kháng nhỏ nhất quan sát được khi dụng cụ của họ được đưa qua cổ tử cung

và dung dịch PBS được đưa vào tử cung Kỹ thuật của họ dựa vào việc đưa catheter AI càng sâu càng tốt vào cổ tử cung và đẩy phôi vào phần cuối của cổ tử cung hay đưa catheter đủ sâu trực tiếp vào thân tử cung Do đó, càng đưa sâu

Trang 7

vào thì càng ít bị mất phôi do ngăn cản không cho phôi dính vào dịch cổ tử cung Với phương pháp được sử dụng ở phòng thí nghiệm của Hazeleger và cs,

(1999) thì không có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ có chửa quan sát được do thời gian cấy hay sức kháng khi đưa dụnh cụ vào

Khía cạnh khác có thể ảnh hưởng đến kết quả cấy phôi có thể là do vệ sinh Các nhóm nghiên cứu với kết quả thành công nhất (Hazeleger và cs, 1999; Yonemura

và cs ,1996) đã sử dụng kháng sinh trong môi trường cấy phôi và phủ các dụng

cụ của họ bằng vỏ nilon để đề phòng nhiễm trùng tử cung với các chất từ cổ tử cung Trong thí nghiệm của Hazeleger và cs (1999), các con nhận phôi cũng đã được tiêm phòng bằng kháng sinh từ ngày rụng trứng (5 ngày trước khi cấy phôi) đến 5 ngày sau khi cấy phôi Mặc dù điều quan trọng này vẫn chưa được rõ, nhưng ít nhất nó dường như không có hại đến sự sống sót của phôi

Vì các điều kiện đồng pha và sự phát triển của phôi cần thiết cho cấy phôi không phẫu thuật thành công khác với các yêu cầu đối với cấy phôi bằng phẫu thuật, chúng cần phải đóng góp cho sự khác nhau trong kỹ thuật cấy phôi Ba sự khác biệt chính trong cấy phôi bằng phẫu thuật và cấy phôi không phẫu thuật của Hazeleger và cs (1999) là ở kỹ thuật không phẫu thuật phôi được thu sau khi giết con cho phôi, con nhận phôi không được gây mê và phôi được đưa vào gần thân

tử cung hay vào thân tử cung

ảnh hưởng của giết con cho phôi lên chất lượng phôi cũng đã được nghiên cứu Phôi được thu ngay sau khi giết có tỷ lệ phát triển trong ống nghiệm cao hơn so với phôi được thu sau khi giết 2 giờ (Wrathall và cs, 1990) Kết quả của cấy phôi phẫu thuật những phôi, được thu ngay sau khi giết, tương tự với kết quả của cấy phôi thu bằng phẫu thuật (Schliepper và Holtz, 1986) Do đó, dường như không phải thu phôi nhanh sau khi giết giải thích cho sự khác nhau giữa kết quả cấy phôi bằng kỹ thuật và không phẫu thuật

ảnh hưởng của gây mê ở con nhận không thể nghiên cứu được trong cấy phôi bằng phẫu thuật, trong khi đó không có nghiên cứu nào được thực hiện ở cấy phôi không phẫu thuật ở một số loài như bò không cần gây mê, do đó gây mê có thể không có ảnh hưởng dương lên cấy phôi Không gây mê, trên thực tế có thể

có lợi, vì con nhận không bị stress khi tỉnh dậy từ gây mê và những ảnh hưởng

âm của gây mê lên các quá trình sinh lý cũng có thể tránh được Tốt nhất, cấy phôi không phẫu thuật nên được thực hiện không cần gây mê, bởi vì kỹ thuật này không gây đau cho gia súc

ảnh hưởng của vị trí cấy phôi cũng đã được nghiên cứu (Stein và cs, 1987;

Trang 8

Wallenhorst và Holtz, 1995), và không có sự khác biệt về sự sống của phôi khi phôi được cấy vào giữa hay vào chóp sừng tử cung (Stein và cs, 1987) Sự sống sót sau khi cấy phôi nang bằng phẫu thuật vào thân tử cung cho kết quả có chửa 2/17 (12%) với 4 và 5 thai, trong khi đó cấy phôi vào nửa sau của thân tử cung hay sừng của tử cung cho tỷ lệ có chửa là 81% (13/16) và 88% (14/16) với trung bình 5,6 và 8,2 thai, tương ứng (Wallenhorst và Holtz, 1995) Kết quả kém của cấy phôi bằng phẫu thuật vào thân tử cung, mà kết quả đó tuơng đương với các kết quả không được công bố (Yonemura và cs, 1996), thậm chí còn kém hơn so với kết quả đã xuất bản đối với kỹ thuật cấy phôi không phẫu thuật (Bảng 1) Điều này có thể cho thấy kết quả kém của cấy phôi phẫu thuật vào thân tử cung (Wallenhorst và Holtz, 1995) bị ảnh hưởng bởi nhiều khía cạnh quan trọng hơn (ví dụ, gây mê và chấn thương do phẫu thuật) là do vị trí cấy phôi Tuy nhiên, đối với cấy phôi không phẫu thuật, không thể kết luận rằng vị trí của phôi trong thân

tử cung hay ở sừng tử cung là ít quan trọng

Những trở ngại

Rõ ràng rằng một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của cấy truyền phôi vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Các khía cạnh ảnh hưởng đến kết quả cấy phôi như vị trí của phôi trong tử cung, giai đoạn phát triển của phôi, không đồng pha và phương pháp thu phôi cần phải được chứng minh Các khía cạnh khác như tuổi của con cho và con nhận phôi (chưa thành thục về giới tính, thành thục về giới tính, lợn nái), các phương pháp gây đồng pha đối với con cho cũng như con nhận và các phương pháp bảo quản phôi (bảo quản hay nuôi cấy, thành phần môi trường, thời gian và nhiệt độ) tất cả cần phải được nghiên cứu trong tương lai ảnh hưởng âm của nuôi phôi trong thời gian 3 ngày lên kết quả tiếp theo của cấy phôi cũng đã được báo cáo (Blum-Reckow và Holtz, 1991) Cấy phôi cho con nhận ít phát triển hơn là cần thiết để nâng tỷ lệ có chửa

từ 9% lên 53% Kiểm soát cấy phôi tươi cho tỷ lệ có chửa 60 và 70% đối với cấy đồng pha và không đồng pha, tương ứng Cấy phôi đồng pha với khoảng cách địa lý lớn giữa con cho và con nhận, và thời gian bảo quản 30-34 giờ cũng đã được báo cáo (Niemann và cs, 1989) với tỷ lệ có chửa là 47% và số con trên ổ là 5,6 Những kết quả này cho thấy có thể cấy phôi thành công hơn là kéo dài thời gian bảo quản, mặc dù kết quả có thể được cải thiện nếu điều kiện bảo quản là tối ưu

Gần đây, kết quả của cấy truyền phôi không phẫu thuật dường như có thể chấp nhận để sử dụng kỹ thuật này cho áp dụng có giá trị cao Vì thế các kỹ thuật cần phải kiểm tra và đánh giá trong thực tế Những kết quả đạt được theo cách này

Trang 9

sẽ bổ xung thêm thông tin về những khía cạnh quan trọng cho sự thành công của cấy truyền phôi không phẫu thuật

Vấn đề quan trọng khác là phát triển các qui trinh vệ sinh để ngăn cản sự lây nhiễm các tác nhân nhiễm trùng Kinh nghiệm cấy truyền phôi bò và phôi người

là một cơ sở vững chắc cho việc phát triển qui trình an toàn tương tự đối với cấy truyền phôi lợn

Kỹ thuật thu phôi

Đối với cấy truyền phôi lợn điều cần thiết là cần một số lượng lớn phôi Cách thông thường để có phôi là thu phôi bằng phẫu thuật Kỹ thuật thu phôi bằng phẫu thuật thường có những bất lợi và chỉ có thể lặp lại 2 hay 3 lần do sự hình thành mô sẹo (Cameron và cs, 1990) Tuy nhiên, đối với những áp dụng đặc biệt thì kỹ thuật phẫu thuật có thể có giá trị và nó có lợi là tỷ lệ thu phôi cao Phương pháp khác có tỷ lệ thu phôi cao là rửa tử cung sau khi giết con cho phôi Điều bất lợi là chỉ sử dụng con cho phôi có một lần Điều này giới hạn khả năng ứng dụng đối với những con cho đã đến lúc giết, như những con lợn nái già và những lợn hậu bị giống trước tuổi thành thục về tính Tuy nhiên, những con vật này có thể mang những gen mong muốn mà những gen này có giá trị giống Vì thế, cả

nguồn lò mổ cũng như thu phôi bằng phẫu thuật có thể cung cấp phôi, đặc biệt đối với những áp dụng ở mức độ nhỏ

Mặt khác, các kỹ thuật phát triển gần đây là thu phôi qua cổ tử cung từ con cho bằng cách kéo ngắn sừng tử cung bằng phẫu thuật (Kobayash và cs, 1989) và kỹ thuật nội soi (Beselfelder và cs, 1997) Kỹ thuật nội soi có lợi là giảm tối thiểu sự tổn thương, mặc dầu đây vẫn là một kỹ thuật phẫu thuật nên có những bất lợi Theo cách này phôi có thể thu được từ ống dẫn trứng cũng như từ tử cung với tỷ

lệ thu phôi cao (28 trứng hay phôi trên mỗi con cho; Beselfelder và cs, 1997)

Thu phôi từ con cho bằng kéo ngắn sừng tử cung được dựa trên nối phẫu thuật của chóp sừng tử cung tới thân sừng tử cung gần tới ngã ba thân tử cung Phần giữa lớn của sừng tử cung được đóng lại và để trong xoang bụng (Hazeleger và cs1994) hay lấy đi (Kobayashi và cs 1989) Kỹ thuật thu phôi qua sừng tử cung

từ con cho cố định bằng cách kéo ngắn sừng tử cung có lợi là phôi được lấy ba tuần một lần Tuy nhiên tỷ lệ thu phôi ở mỗi lần lấy là thấp hơn (6,3?3,4 phôi) so với tỷ lệ tu phôi sau khi giết (17,7 ? 2,2; Hazeleger và cs 1994) Những Kết quả này có thể so sánh với các kết quả đã công bố khác (6,3 ? 6,0; Kobayashi và cs 1989) Kết hợp với gây siêu bài noãn, tỷ lệ thu phôi ở mỗi lần có thể tăng lên từ 8 đến 18 phôi (Bảng 5; Hazeleger và cs, 1994) Kỹ thuật này được sử dụng rất hạn

Trang 10

chế, và đến nay như chúng tôi được biết không có trường hợp cấy truyền phôi nào được thực hiện bằng thu phôi qua cổ tử cung

Bảng 5 : Số trung bình (?SD) trứng/phôi thu qua cổ tử cung ở lợn nái bằng kéo

ngắn sừng tử cung bằng phẫu thuật sau khi gây động dục đồng pha bằng 2000

IU eCG ở chu kỳ hai hay ở đối chứng chu kỳ một và chu kỳ ba (Hazeleger và cs, 1994)

Chu kỳ 1 Chu kỳ 2 Chu kỳ 3

Số trứng/phôi 8,1 ? 5,5 18,4 ? 25,0 8,0 ? 6,3

aloại bỏ một lần rửa không thành công và một lợn nái không rụng trứng

Để áp dụng ở mức độ rộng hơn, phôi nên được tạo ra số lượng lớn bằng tạo phôi trong ống nghiệm (IVP) hay bằng cloning hay bằng IVM-IVF và sau đó nuôi cấy đến giai đoạn phát triển mong muốn Cả hai kỹ thuật đều có tiểm năng lớn và cần tiếp tục được phát triển (Stice và cs, 1998) Có thể phải mất một thời gian nữa trước khi chúng được sử dụng rộng rãi Đến lúc đó phôi được tạo ra trong

cơ thể có thể được sử dụng ở mức độ nhỏ Tuy nhiên, giá trị của những áp dụng thậm chí hạn chế có thể rất cao vì giá trị di truyền của quần thể lợn

áp dụng với các kỹ thuật sinh sản liên quan

Kết hợp với các kỹ thuật sinh sản liên quan như thu tế bào trứng nội soi, đông lạnh phôi và tế bào trứng, xác định giới tính của tinh trùng và phôi, và chọn lọc phôi dựa trên DNA marker đã thúc đẩy áp dụng những kỹ thuật phôi như đã trình bày ở trên Theo cách này những áp dụng mới đối với những nhà nhân giống lợn

đã được phát triển để nâng cao tiến bộ di truyền và để bảo đảm cho thương mại Quốc tế những vật liệu di truyền có giá trị (Van der Lende và Hazeleger, 1998)

Một ví dụ có thể có trong việc áp dụng đối với chăn nuôi lợn sinh trưởng-kết thúc Bên cạnh cloning, một cách tiếp cận thông thường có thể là phối giống cho lợn hậu bị ở giai đoạn kết thúc với tinh dịch của lợn đực ở giai đoạn kết thúc của giống khác để cung cấp phôi lai cho mục đích nuôi ở giai đoạn sinh trưởng-kết thúc Những phôi như thế có thể được tạo ra bằng IVP với những tế bào trứng

Ngày đăng: 23/11/2015, 12:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Tổng kết cấy truyền phôi không phẫu thuật có hay không có phôi nang ở - Tình trạng cấy truyền phôi ở lợn
Bảng 3 Tổng kết cấy truyền phôi không phẫu thuật có hay không có phôi nang ở (Trang 6)
Bảng 5 : Số trung bình (?SD) trứng/phôi thu qua cổ tử cung ở lợn nái bằng kéo - Tình trạng cấy truyền phôi ở lợn
Bảng 5 Số trung bình (?SD) trứng/phôi thu qua cổ tử cung ở lợn nái bằng kéo (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w