1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ

116 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dựa trên chế độ tự cung tự cấp khác với với việc làm trong khu vực hiện đại hay tư bản chủ nghĩa Lewis 1954.Có tương đối ít tài liệu nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử và khái niệm của khu

Trang 1

sự gia tăng này Sau khi nghiên cứu này được thực hiện, chúng ta sẽ xem xét

và đánh giá giới hạn của sự gia tăng này

Trước những năm 1970 dư thừa lao động đô thị là do di dân từ nông thôn

ra đô thị khiến dân số đô thị tăng nhanh Lượng dư thừa lao động khổng lồ (không giới hạn) này tại các thành phố đã khiến việc làm giảm chất lượng, trở nên không ổn định hoặc phi chính thức, trong lúc đó khu vực đô thị vẫn

1 Các ý kiến đưa ra không nhất thiết phản ánh quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế.

2 Bài viết này được sự hợp tác của William A Sanchez, người đã xây dựng các chuỗi dữ liệu so sánh, và chuẩn bị đồ thị và bảng biểu Xin đặc biệt cảm ơn Alex Carbajal đã hỗ trợ thực hiện các ước tính tại mục

7 và 8.

Trang 2

dựa trên chế độ tự cung tự cấp khác với với việc làm trong khu vực hiện đại hay tư bản chủ nghĩa (Lewis 1954).

Có tương đối ít tài liệu nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử và khái niệm của khu vực phi chính thức đô thị (UIS), ngoài một số trích dẫn lặp đi lặp lại nội dung bài viết của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về Kenya vào năm 1972 Kể từ đó, nhiều cuộc thảo luận đã tập trung hơn vào các định nghĩa khác nhau để đo lường tình trạng phi chính thức, các thay đổi cần thiết để đo lường một cách chính xác hơn quy mô của khu vực này, đòi hỏi cấp bách đề xuất các khuyến nghị về chính sách để giảm rào cản đối với việc chính thức hóa các doanh nghiệp, và cuối cùng

để mở rộng phạm vi an sinh xã hội tới người lao động trong UIS

Tình trạng phi chính thức trong bài viết này được xem như một hiện tượng đô thị quy mô lớn và lâu dài Hiểu và đối mặt với những thách thức của UIS không phải bằng cách tìm hiểu các thay đổi nhỏ về quy mô vì việc làm đô thị chiếm tỉ lệ rất lớn và là kết quả của một vấn đề cấu trúc chỉ có thể được giải thích bằng phân tích dài hạn Tương tự như vậy, dự đoán, đo lường

và đề xuất giải pháp để giải quyết vấn đề chính thức hóa nhân công trong UIS không thể bị giới hạn hoặc chỉ tập trung vào các khía cạnh sản xuất ngắn hạn, như năng suất thấp của nhân công độc lập và doanh nghiệp nhỏ (MSEs); hoặc các vấn đề chính sách, chẳng hạn như cái gọi là chi phí lao động phi lương (hoặc các lợi ích ngoài lương) hoặc chi phí giao dịch trong quan hệ lao động của các công ty trong một “thị trường tự do”

Cần có thời gian đủ dài để phân tích hành vi của UIS, điều này có thể được biện minh theo hai cách: nghiên cứu mối quan hệ của UIS đối với tăng trưởng kinh tế và tác động của cú sốc bên ngoài đối với lao động phi chính thức Để xem xét các giới hạn đối với sự phát triển của tình trạng phi chính thức, chúng tôi sẽ xem xét hai luận cứ này Sau đây là tóm tắt:

Trước tiên, về quan hệ giữa UIS và tăng trưởng kinh tế, Bourguignon (trong ấn phẩm này) lập luận rằng mức tăng trưởng không đủ để giảm tình

trạng phi chính thức: “ tăng trưởng không đủ nhanh để loại bỏ tình trạng

phi chính thức [ ], tốc độ tăng trưởng đã rất chậm trong hơn 20 năm qua,

vì vậy tình trạng phi chính thức vẫn phổ biến.” Rõ ràng mối quan hệ giữa

tăng trưởng kinh tế và phi chính thức cần được phân tích

Hơn nữa, nhu cầu cần xem xét tác động của cú sốc bên ngoài đối với tình trạng phi chính thức ở góc độ dài hạn gợi nhớ tới các lập luận của Boeri và

Trang 3

van Ours (2008: 1-2) khi tiến hành phép so sánh quen thuộc tỉ lệ thất nghiệp (UR) của Hoa Kỳ và châu Âu Nhìn lại quãng thời gian 50 năm, thay vì một thời gian ngắn hơn, có vẻ như các tỉ lệ thất nghiệp ở châu Âu cao hơn ở Hoa

Kỳ do mức độ nghiêm trọng của các cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào những năm 1970, chứ không phải do các biện pháp bảo vệ việc làm vốn vẫn thường

bị chỉ trích là không hề thay đổi trong 50 năm qua Trước cuộc khủng hoảng vào những năm 70, bất chấp sự tồn tại của hệ thống an sinh xã hội cứng nhắc, tỉ lệ thất nghiệp của châu Âu lại thấp hơn nhiều so với Mỹ Do đó an sinh xã hội không phải là nguyên nhân gây ra gia tăng thất nghiệp ở châu Âu

mà là hậu quả của cú sốc dầu mỏ tác động tới cấu trúc sản xuất của các nền kinh tế châu Âu Do không nắm được việc này, một số tác giả gọi giai đoạn sốc dầu mỏ là sự “xơ cứng của châu Âu”, đổ trách nhiệm tăng thất nghiệp lên

hệ thống an sinh xã hội Như thảo luận dưới đây, tại SA tác động của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài đánh dấu giai đoạn trước và sau diễn biến của UIS trong khu vực

Định nghĩa khái niệm phi chính thức được dùng từ năm 1970 đến nay tập trung vào khía cạnh việc làm trong khu vực phi chính thức thành thị (UIS), có nguồn gốc từ Chương trình PREALC-ILO Định nghĩa này được ước tính và công bố trong Tổng quan Lao động - ILO về khu vực Mỹ Latin và Caribbean kể từ năm 1990 đến năm 2006 Như đã biết, quy mô của UIS là do

sự gia tăng nhân công và người sử dụng lao động trong các công ty có quy

mô từ 5 nhân công trở xuống, bao gồm lao động tự do không chuyên nghiệp phi kĩ thuật, nhân công trong gia đình không được trả lương và người phục

vụ tại gia đình2

Bài viết này đề cập tới mười nước SA, nơi chúng tôi có thông tin khá đều đặn trong 38 năm về dân số trong độ tuổi lao động (AAP), dân số hoạt động kinh tế (EAP hoặc lực lượng lao động) và về việc làm đô thị, gồm cả khu vực phi chính thức ở đô thị (UIS) Các quốc gia này là: Argentina, Bolivia, Brazil, Colombia, Chile, Ecuador, Paraguay, Peru (chỉ có thành phố Lima), Uruguay và Venezuela Ba nước còn lại của tiểu lục địa là Guyana, Surinam và Trinidad và Tobago, không được đưa vào nghiên cứu do thiếu thông tin Chúng tôi đã xây dựng cơ sở dữ liệu hàng năm cho mười nước này từ năm 1970 đến năm 2008

2 Định nghĩa mới của ILO về việc làm trong khu vực kinh tế không chính thức bao gồm việc làm phi chính thức trong UIS và trong các doanh nghiệp thuộc khu vực chính thức (ILO, 2002).

Trang 4

Hầu hết các thông tin trình bày trong bài này được trích từ ECLAC và ILO,

và các nguồn chính là các cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc (1950-1980), các ước tính của PREALC trong những năm 1980 và các cuộc điều tra hộ gia đình đô thị trong giai đoạn 1990-2008

Có thể phần nào hiểu được vì sao chưa có phân tích dài hạn về UIS ở khu vực Mỹ Latin Các nguyên nhân gồm: 1) thiếu dữ liệu tại nhiều thời điểm về việc làm, dữ liệu chỉ đều đặn từ năm 19903; 2) các định nghĩa về UIS khác nhau giữa các quốc gia và các thay đổi về định nghĩa khái niệm để đo lường4, và 3) áp lực của cuộc tranh luận về chính sách chính thức hóa UIS, theo cách tiếp cận quản lí hoặc chính sách hỗ trợ UIS theo cách tiếp cận sản xuất Tuy nhiên, trong số các nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận dài hạn, chúng ta có thể thấy các nghiên cứu của Ramos (1984) và của Gasparini và Tornarolli (2007) Trong các nghiên cứu này, do dữ liệu hạn chế nên không đạt được tầm nhìn dài hạn và không phân tích các yếu tố quyết định tới UIS theo nhóm nước

Bài viết này tìm hiểu quan điểm dựa trên phân tích dài hạn Cách tiếp cận

đề cập mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tình trạng phi chính thức, tác động của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài trong khu vực, sau cuộc khủng hoảng dầu lửa trên thế giới và điều chỉnh cơ cấu diễn ra sau đó và trong sự

mở rộng của UIS những năm 1990

1 Tăng trưởng việc làm trong khu vực phi chính thức

đô thị (UIS), giai đoạn 1970-2008

Mức tăng việc làm trong UIS tại mười quốc gia SA được nghiên cứu trong giai đoạn 1970-2008 là 4,4%, tính theo trọng số trung bình5 Do sự tăng trưởng này tỉ lệ việc làm của UIS trong tổng việc làm đô thị tăng từ 34,9% năm 1970 lên 47,8% năm 2008, tức là tăng 12,9 điểm phần trăm trong 38

3 Trong số bài nghiên cứu về UIS dựa trên dữ liệu được công bố trong Tổng quan về lao động của ILO cho LAC trong giai đoạn 1990-1997, chúng ta có thể thấy các nghiên cứu của Galli và Kucera, 2008; Thomas năm 2002; 2001 Verdera, và Tokman 1999.

đến 1998.

5 Tất cả giá trị trung bình đều có trọng số.

Trang 5

năm Một đặc điểm chính của sự phát triển này là sự mở rộng liên tục của UIS

từ năm 1991 đến 2003, đây là kết quả của việc điều chỉnh cấu trúc sau cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài năm 1982

1.1 Các giai đoạn phát triển của UIS trong khu vực

Tăng trưởng việc làm tại UIS có ít nhất năm giai đoạn tùy theo thay đổi

về quy mô và đặc điểm của UIS trong từng giai đoạn Dựa vào đồ thị 1a, chúng ta có thể xác định và mô tả đặc điểm của từng giai đoạn:

70 72 74 76 78 80 82 84 86 88 90 92 94 96 98 00 02 04 06 08

%

Nguồn: CEPAL, ILO, các Viện thống kê các nước

Nam Mỹ: Diễn biến của EAP phi chính thức,

1970 - 2008 (%)

EAP phi chính thức

EAP Chính thức Không có EAP và thất nghiệp

Nguồn: CEPAL, ILO, các Viện thống kê các nước.

i Giai đoạn đầu tiên, 1970-1974, là giai đoạn “khám phá” về UIS và nhìn nhận mức tăng ban đầu của UIS, từ mức tương đối thấp trong các đo lường đầu tiên Mức tăng từ 34,9% lên 40,6% việc làm đô thị, tức 5,7 điểm phần trăm;

ii Giai đoạn thứ hai, 1975-1979, có mức ổn định tạm thời với khoảng 40% việc làm đô thị, ban đầu giảm nhẹ, sau đó gia tăng nhanh chóng;

iii Giai đoạn thứ ba kéo dài 11 năm, từ 1980 đến 1991, là giai đoạn

ổn định sau khi biến động mạnh đến 5 điểm phần trăm trong nửa cuối thập kỉ 1980, từ 37,7% đến 43,6% Mức tăng gần 6 điểm phần trăm tỉ lệ

Trang 6

UIS có thể là do tác động của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài trong khu vực;

iv Giai đoạn thứ tư, cũng 11 năm, từ năm 1992 đến 2003, ghi nhận sự tăng trưởng nhanh và bền vững của UIS, từ 40,7% lên đỉnh 52,6% vào năm

2003, tăng 11,9 điểm phần trăm Giai đoạn này gồm các giai đoạn sau cuộc điều chỉnh cơ cấu và tăng trưởng được nhắc đến nhiều về xuất khẩu nông nghiệp và khoáng sản;

v Giai đoạn thứ năm và gần đây, từ năm 2004 đến 2008, lần đầu tiên cho thấy mức giảm đáng kể tỉ lệ UIS, từ 52,6% xuống 47,8%, giảm 4,8 điểm phần trăm Đây là kết quả của tăng trưởng GIP cao dựa vào sự hồi phục rất quan trọng của xuất khẩu nông sản và khoáng sản Tác động của cuộc khủng hoảng năm 2008 đối với khu vực, mặc dù không nghiêm trọng ở hầu hết các nước, đã chặn tốc độ giảm UIS

Tóm lại, chúng ta có thể phân ra hai giai đoạn chính Giai đoạn đầu tiên,

từ 1970 đến 1991, chủ yếu là do yếu tố nhân khẩu quyết định (tăng EAP),

và giai đoạn thứ hai, từ năm 1992 đến 2008, do các yếu tố kinh tế tác động

Ví dụ cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài, điều chỉnh cơ cấu và giai đoạn tăng trưởng đáng kể từ năm 2003 đến năm 2008, trước cuộc khủng hoảng gần đây Cần lưu ý rằng về quy mô dân số có liên quan và với tư cách là một xu hướng, việc làm UIS không bao giờ giảm, ngay cả trong giai đoạn 2003-2008, khi tỉ

lệ việc làm này giảm (Đồ thị 1b)

1.2 Tỷ trọng và diễn biến của UIS theo nhóm nước

Sự phát triển nêu trên của UIS tại SA trải qua các mức tăng trưởng UIS liên tiếp và có diễn biến khác nhau tại các quốc gia, các nước này có thể được phân loại thành ba nhóm

Theo mức tăng UIS cho toàn bộ giai đoạn 1970-2008, ba nhóm nước có thể được xác định (Bảng 1):

i Các quốc gia có tỉ lệ UIS tương đối thấp, ít hơn 40%: Uruguay và Chile;

ii Các nước có các tỉ lệ UIS trung bình từ 40% đến 50%: Argentina, Brazil

và Venezuela, với mức độ còn tăng, và

iii Một nửa số nước tại SA có mức tương đối UIS rất cao, hơn 50%: Paraguay, Bolivia, Peru, Ecuador và Colombia Hai nước Paraguay, Bolivia có mức phi chính thức cao nhất, với các tỉ lệ UIS trên 60% việc làm đô thị

Trang 7

Về tỷ trọng UIS cần lưu ý một số điểm:

i Các tỷ trọng có độ chênh lớn và tình trạng phi chính thức tồn tại dai dẳng trong suốt thời gian 38 năm tại các nước SA, từ mức ban đầu 21% của Uruguay vào năm 1970 lên đến 64% của Bolivia vào năm 1990 và 2000;

ii Mức tăng tương đối thấp của UIS tại Uruguay, tăng từ 21% năm 1970 lên 40% vào năm 2000, và tại Chile, gần như không đổi ở mức dưới 40% từ năm 1970 đến năm 2000, và,

iii Tỉ lệ rất cao ở Bolivia và Paraguay, hơn 60% vào năm 2000

Những yếu tố nào quyết định mức chênh lệch giữa các nước và sự tồn tại dai dẳng của tình trạng phi chính thức, như trình bày ở trên tỉ lệ phi chính thức tương đối, hoặc thấp hoặc rất cao giữa các nhóm nước trong khu vực?

Bảng 1: Nam Mỹ: diễn biến thay đổi quy mô UIS của các nước, 1970-2008

Uruguay (20.7%) Argentina (37.6%) Colombia (43.4%) Bolivia (56.0%)

Brasil (30.3%) Chile (39.9%) Ecuador (45.4%) Paraguay (57.0%)

Perú (33.1%) Venezuela (44.0%) Chile (25.9%) Brasil (38.0%) Argentina (48.4%) Bolivia (53.7%)

Perú (52.0%) Uruguay (30.7%) Chile (37.8%) Argentina (44.6%) Perú (50.8%) Bolivia (64.0%)

Venezuela (33.0%) Brasil (46.0%) Colombia (40.0%) Ecuador (49.6%)

Paraguay (48.2%) Chile (38.9%) Brasil (48.9) Colombia (55.6%) Bolivia (63.7%) Uruguay (40.4%) Venezuela (47.5) Ecuador (57.2) Paraguay (60.9%)

Nguồn: CEPAL, ILO, các Viện thồng kê các nước.

Câu trả lời đầu tiên, tuy vẫn mang tính mô tả, là hầu hết các nước có tỉ

lệ tăng UIS rất cao, trên mức trung bình 4,4% của SA trong cả giai đoạn Nếu không tính mức giảm UIS trong giai đoạn 2003-2008 thì tốc độ tăng trưởng này sẽ còn lớn hơn (Đồ thị 2)

Sự khác biệt tỉ lệ tăng từ mức thấp nhất của Chile (2,5%) tới vị trí hàng đầu của Peru (Lima) là 5,3%, cao gấp hai lần Chile Peru cũng có sự khác biệt

Trang 8

lớn nhất về mức tăng các điểm phần trăm Phần lớn điều này liên quan đến dữ liệu của Vùng thành phố Lima, khiến tỉ lệ cao hơn so với tỉ lệ trung bình tại

đô thị của các nước khác Sự khác biệt lớn về tỉ lệ phần trăm điểm của UIS tại Uruguay là do mức độ xuất phát của nước này thấp hơn, và cuối cùng ngược lại, mức gia tăng UIS chậm tại Bolivia là do mức độ xuất phát của nước này rất cao Phần tiếp theo sẽ đề cập đến yếu tố quyết định mức tăng UIS, và chúng tôi

sẽ tiếp tục bàn về các lí do các nhóm nước có diễn biến UIS khác nhau

Đồ thị 2: Nam Mỹ: tăng UIS sắp xếp theo quốc gia, 1970-2008

- 3.9

3.3 3.5 4.1 8.3 11.5 12.9 14.7 15.7 16.2 18.5

- 5.0 0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 Chile

0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0 Chile

Argentina Uruguay South America Bolivia Brasil Venezuela Colombia Paraguay Ecuador Perú

Tăng việc làm UIS, 1970-2008

-(%)

Nguồn: CEPAL, ILO, các Viện thống kê các nước.

2 Yếu tố quyết định mức tăng lao động phi chính thức

Hiện tại có hai quan điểm chính về lao động phi chính thức Một mặt, phi chính thức là do năng suất thấp của cơ sở sản xuất nhỏ và của các lao động độc lập Đây là hai thành phần của UIS (ILO 1972, Portes và Schauff 1992) Mặt khác, phi chính thức là do người sử dụng lao động không thể tuân thủ các quy định pháp luật vốn quá cồng kềnh và tốn kém (De Soto, 1996, Ngân hàng Thế giới, 2007)6 7

6 Galli y Kucera, 2008, tr.192-193 và ghi chú 3 “Định nghĩa phi chính thức thường nằm trong ranh giới của định nghĩa về năng suất hoặc pháp lí trong thị trường lao động” (2009, Khamis, tr.3).

7 Một biến thể của cách tiếp cận pháp lí để giải thích tình trạng phi chính thức là cách tiếp cận của Loayza

Trang 9

Có thể mô tả hai quan điểm này là tĩnh hoặc có tầm nhìn ngắn hạn Các quan điểm này không nhận thấy là việc làm chính thức là một hiện tượng

có quy mô lớn, như đã mô tả trong phần trước, có xu hướng gia tăng và tồn tại dai dẳng qua nhiều năm Vì vậy, để hiểu về tình trạng phi chính thức và

sự phát triển của hiện tượng này, cần một cách tiếp cận dài hạn và các chính sách phù hợp

Căn cứ vào mức độ gia tăng tình trạng phi chính thức trong một thời gian dài và mức tăng UIS khác nhau của các nhóm nước, chúng tôi có thể đưa ra một

số giả thuyết về các yếu tố tạo ra, làm tăng và kéo dài UIS tại SA Chúng ta có thể tách những yếu tố này thành ba nhóm: nhóm nhân khẩu học, kinh tế (vĩ mô

và cấu trúc) và hoạt động thị trường lao động

Luận cứ chính của bài viết này là sự gia tăng và quy mô lớn của UIS tại SA

là do sự gia tăng của lực lượng lao động đô thị, thúc đẩy bởi sự gia tăng dân số

đô thị và dân số ở độ tuổi lao động (AAP) Điều này là do ảnh hưởng của các giai đoạn liên tiếp của quá trình chuyển đổi nhân khẩu của nhóm các nước và thiếu hấp thụ mức độ gia tăng nhanh của EAP với tư cách là việc làm hưởng lương chính thức do sự trì trệ tương đối của các hoạt động kinh tế Xu hướng thứ hai trở nên trầm trọng hơn do tác động của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài năm

1982 đối với SA, đợt điều chỉnh cơ cấu tiếp theo sau đó và sự thu hẹp quy mô hoạt động của Nhà nước nhằm thu xếp vốn để thanh toán nợ nước ngoài

Đối với các lập luận của trường phái cấu trúc và câu hỏi liệu các UIS sẽ dần dần biến mất khi một quốc gia phát triển, Bourguignon (trong ấn phẩm này) đã đưa ra lập luận Ông cho rằng câu hỏi chính là định nghĩ về động thái

của phi chính thức là gì: “Những gì chúng ta mong đợi, trên lí thuyết, tất

nhiên là tăng trưởng kinh tế sẽ dần dần loại bỏ khu vực phi chính thức Đây

là điều chúng ta đã thấy ở các nước phát triển Tại sao tại các nước đang phát triển nơi có mức độ tăng trưởng nhất định nhưng vẫn còn tình trạng phi chính thức tương đối dai dẳng? Đồng thời, dân số đô thị vẫn tăng Một cách giải thích là cùng lúc diễn ra tăng trưởng, có thay đổi về kĩ thuật, có nghĩa là khu vực chính thức ngày càng tăng sản lượng nhưng lại không tạo được nhiều về việc làm”.

và Rigolini (2006:2): “Về lâu dài, việc làm phi chính thức được xác định bởi các xu hướng trong chi phí tương đối lợi ích và của tình trạng phi chính thức”.

Trang 10

Liên quan đến tác động của các cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài, tương

tự như các lập luận của Boeri và van Ours (2008), chúng tôi có thể cho rằng không thể hiểu được sự gia tăng của UIS trong những năm 1980 nếu không xem xét tác động của cuộc khủng hoảng và các cuộc suy thoái sau đó đối với việc làm chính thức đô thị

Lập luận được phát triển theo hai cách Trước tiên, chúng tôi sẽ so sánh các hình thái của diễn biến và các mức độ của UIS, dựa trên giá trị trung bình của khu vực và của các nhóm nước và sẽ nêu bật sự khác biệt giữa các nước này Diễn biến của các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế và sản xuất sẽ xác định tổng sản phẩm tỉ lệ phi chính thức đô thị và vai trò của khu vực công Vai trò của các yếu tố này trở nên rõ ràng khi so sánh các quy mô khác nhau của UIS theo các nhóm quốc gia và các hình thái phát triển khác nhau

Diễn biến và cấu trúc của các yếu tố kinh tế xếp theo nhóm nước được xác định bởi cấu trúc của Tổng sản phẩm quốc nội (GIP) và năng suất của khu vực, hai yếu tố bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng liên tiếp Trong

số các nguyên nhân của tình trạng GIP và năng suất lao động bình quân trì trệ, chúng tôi quan tâm đến:

i Chuyển nhượng ròng để trả nợ nước ngoài;

ii Tích lũy vốn cố định gộp không đủ;

iii Vai trò của Nhà nước suy giảm, thể hiện qua sự suy giảm chi tiêu và việc làm công Một khía cạnh cần xem xét là tỉ trọng rất thấp của chi tiêu công trong lĩnh vực quản lí nhà nước về lao động

Thứ hai, chúng tôi sẽ kiểm định một tập hợp các mối quan hệ bao gồm các yếu tố quyết định sự gia tăng UIS trong dài hạn, các quan hệ này sẽ xác định giới hạn mức gia tăng có thể đạt được Chúng tôi đề xuất các yếu tố quyết định mức gia tăng của UIS sau đây (Xem hình 1):

i Tăng nguồn cung cấp lao động (PEA) trong dài hạn, do tăng dân số đô thị và tăng AAP và tỉ lệ lao động nữ (FAR);

ii Các yếu tố cơ cấu kinh tế dẫn đến việc suy giảm mức tăng GIP và dẫn đến tăng năng suất lao động trong khu vực chính thức, các thành tố của cầu lao động chính thức trong dài hạn Giả định rằng chỉ có khu vực hiện đại tạo

ra tăng trưởng GIP và năng suất lao động;

iii Sự ổn định tương đối của tỉ lệ thất nghiệp đô thị và khả năng khu vực chính thức (FS) không hấp thụ được dạng thất nghiệp này hoặc “tăng trưởng không tạo ra việc làm”, dẫn đến sự gia tăng nhanh về việc làm UIS

Trang 11

Sơ đồ 1: Mối quan hệ trong việc xác định quy mô và sự phát triển của các UIS

▲ RA nữ

Xu hướng cơ cấu:

Giá xuất khẩu

i Mức tăng EAP sẽ chậm lại do mức tăng AAP và FAR sẽ chậm hơn, tiến qua giai đoạn cuối của quá trình chuyển đổi nhân khẩu, như ở Uruguay và Argentina;

ii Mức tăng GIP phi nông nghiệp (hoặc thành thị) cao hơn năng suất lao động trong khu vực chính thức sẽ tiếp tục làm tăng việc làm chính thức, với khả năng hấp thụ EAP lớn hơn;

iii Dư thừa nguồn cung lao động sẽ giảm nếu FS tiếp tục phát triển và việc làm trong UIS có xu hướng giảm

3 Tầm quan trọng của các xu hướng nhân khẩu

Sự tăng vọt của UIS không thể diễn ra nếu không có sự tăng trưởng dài hạn rất mạnh của lực lượng lao động đô thị ở Nam Phi Sự tăng trưởng này

là do các quy trình sau: 1) việc chuyển từ giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi nhân khẩu sang các giai đoạn tiếp theo, 2) tăng mạnh dân số đô thị và

Trang 12

tăng AAP và, 3) tăng lực lượng lao động đô thị, gần như hoàn toàn do tăng AAP đô thị, và ở mức độ thấp hơn cũng do tăng FAR.

3.1 Các quốc gia xếp theo giai đoạn của quá trình chuyển đổi nhân khẩu

Sự gia tăng nhanh chóng việc làm trong UIS diễn ra khi hầu hết các nước

SA đang ở giai đoạn đầu và giữa của quá trình chuyển đổi nhân khẩu Bảng

2 xếp mười nước được nhóm lại theo các giai đoạn của quá trình chuyển đổi trong năm năm đầu tiên của các giai đoạn năm năm từ 1960, 1980 và 2000.Cần lưu ý rằng các nước có tỉ lệ phi chính thức cao nhất, Bolivia, Colombia, Ecuador, Paraguay và Peru, cho đến trước giai đoạn 1980-1985 vẫn đang ở trong giai đoạn giữa của quá trình chuyển đổi, với mức sinh cao, từ 32 tới 42/1.000 người Ngược lại, các nước với mức phi chính thức thấp hơn trong cùng giai đoạn năm năm này lại đang bước sang giai đoạn cuối của quá trình chuyển đổi với tỉ lệ sinh thấp hơn (và tăng trưởng tự nhiên thấp hơn), như Argentina, Chile và Uruguay và ở mức độ nào đó, Brazil

Giống như mức tăng trưởng dân số nhanh vào những năm 1960 và 1980

đã góp phần gia tăng tình trạng phi chính thức ở một số nước, sự gia tăng này

sẽ giảm khi các nước này đạt đến giai đoạn giữa và sau của quá trình chuyển đổi Ngược lại, áp lực dân số ít hơn ở các nước đã đạt tới giai đoạn sau sẽ làm giảm tình trạng phi chính thức đô thị

Có thể nếu tổng cầu lao động giữ tốc độ tăng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của EAP, các quốc gia trong giai đoạn sau của quá trình chuyển đổi sẽ cần thêm nhân công Nhu cầu này sẽ được đáp ứng, như đã diễn ra trên thực

tế, thông qua nguồn lao động nhập cư từ các nước có nguồn dư thừa lao động,

đó là tình trạng di cư hiện nay từ Bolivia và Peru tới Argentina và Chile và cho đến đầu năm 1980, từ Colombia, Ecuador và Peru tới Venezuela

Sự gia tăng đô thị hóa trong khu vực làm giảm tình trạng phi chính thức Các quốc gia có đông dân cư nông thôn và có tình trạng di dân từ nông thôn

ra thành thị có tỉ lệ phi chính thức cao UIS sẽ tiếp tục tăng do tăng trưởng tự nhiên của AAP và di cư nội bộ

Trang 13

Bảng 2: Nam Mỹ: các giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu xếp theo mức sinh của các nước

Các giai đoạn chuyển tiếp dân số

1960 - 1965

1980 - 1985

2000 - 2005

Nguồn: ECLAC, Niên giám thống kê 2009 1/Các giá trị bên cạnh tên quốc gia ứng

với tỉ lệ tăng trưởng trung bình tự nhiên của dân số hàng năm trong thời gian năm năm.(%) TN: tỉ lệ sinh/1.000

3.2 Hai nguồn gia tăng lực lượng lao động đô thị

Hai nguồn tăng EAP là tăng AAP và tỉ lệ hoạt động Nguồn chính khiến lực lượng lao động đô thị gia tăng nhanh ở các nước trong khu vực từ năm

1980 tới 2008 là AAP, tham gia vào gần như tất cả mức tăng của EAP trong giai đoạn: 2,9% của 3,0% EAP (trung bình hàng năm cho cả hai chỉ số, Bảng 3) Con số này cho thấy mức tăng trưởng nhanh dân số đô thị trong khu vực

Trang 14

Bảng 3: Nam Mỹ: Các nguồn tăng lực lượng lao động đô thị theo giới tính, 1980-2008* (Tốc độ tăng trưởng tính bằng tỉ lệ phần trăm)

Tỉ lệ hoạt động đô thị:

Nguồn: ECLAC và ILO

*: Giá tính từ đầu đến cuối kì Đường trung bình di động trung tâm cho kết quả tương tự

Tác động của tỉ lệ hoạt động đô thị (UAR), nguồn thứ hai của tăng EAP, chỉ có ý nghĩa đối với phụ nữ, và kể cả trong trường hợp này tốc độ tăng hoạt động chiếm 30% tổng mức gia tăng EAP nữ tại đô thị từ năm 1980 đến năm

2008 Tỉ lệ tăng là 15,4 điểm phần trăm Ngược lại, tỉ lệ hoạt động của nam

đã giảm nhẹ (-0,1%), giảm 1,3 điểm phần trăm

Nhóm các nước có tỉ lệ tăng EAP đô thị thấp hơn - dưới mức trung bình khu vực – là các nước có tỉ lệ phi chính thức đô thị thấp hơn và các nước có EAP tăng nhanh nhất thường có tỉ lệ phi chính thức cao hơn

Uruguay, Argentina và Chile có tốc độ tăng lực lượng lao động đô thị thấp nhất từ năm 1980 đến 2008 Các nguyên nhân chính của tỉ lệ tăng thấp hơn

là sự gia tăng của EAP nữ, do gia tăng AAP nữ và cũng có thể, ở một mức

độ ít hơn, tăng tỉ lệ hoạt động nữ tại ba quốc gia Ngược lại, Paraguay, Peru (Lima), Ecuador, Venezuela, Colombia và Bolivia có tỉ lệ EAP đô thị lớn hơn hơn mức trung bình, đạt tỉ lệ tăng trưởng trên 4% mỗi năm tại 50% các nước này Trong các trường hợp của Ecuador và Peru tăng tỉ lệ hoạt động nữ là một nguồn tăng EAP nữ quan trọng

Vì vậy, có thể thiết lập một mối quan hệ trực tiếp giữa tăng dân số, AAP

và tỉ lệ tăng lao động phi chính thức đô thị tại tất cả các nước (tính theo giá trị trung bình) và theo các nhóm nước, thông qua nghiên cứu tình trạng phi chính thức và diễn biến của tình trạng này Chúng tôi phải nhấn mạnh sự gia tăng trong PEA nữ đô thị do sự gia tăng đáng kể trong tỉ lệ hoạt động và mức

Trang 15

gia tăng tỉ lệ này trong việc làm phi chính thức Trong ngắn hạn, tăng AAP đô thị đã làm UIS tăng đáng kể.

4 Diễn biến của các nền kinh tế Nam Mỹ và UIS

4.1 Các giai đoạn chính của diễn biến

Cho đến cuối thập kỉ 1970, áp dụng mô hình của Khu vực Mỹ Latin, SA có tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục, thể hiện bởi diễn biến tích cực của GIP Mặc dù có những biến động rõ rệt, từ năm 1950 đến năm 1979, SA có tốc

độ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 6%, với tổng số 11 năm có tỉ lệ trung bình trên mức này Chỉ có một năm tăng trưởng âm (Đồ thị 3) Vào giữa những năm 1970 tăng trưởng GIP giảm so với những năm đầu của thập kỉ này, nhưng luôn có tỉ lệ dương và cao, mức thấp nhất là gần 3%, trong năm 1974

và 1977

Ngược lại, từ 1980 đến 1982, giai đoạn 1988-1989, 1998 và 2001 tăng trưởng trung bình giảm mạnh Sự sụp giảm đầu tiên là do tác động của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài trong khu vực và sự sụp giảm thứ hai và thứ ba

là do cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, trong đó có tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tín dụng và ngân hàng tại hầu hết các nước trong khu vực Từ năm 1980 đến 2002, tốc độ tăng trưởng dao động khoảng 3%, với bảy năm tăng trưởng âm, cho đến giai đoạn gần đây khi xuất khẩu nông sản và khai khoáng tăng trưởng trong giai đoạn 2003-2008, thì tốc độ tăng trưởng hàng năm dao động trở lại trong khoảng 6%, trong đó chỉ có hai năm cao hơn mức này

Tóm lại, sự kiện dẫn đến việc giảm tốc độ tăng trưởng trung bình từ 6% xuống 3% là cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài đầu những năm 19808 Cú sốc đầu tiên được bồi thêm bởi cú sốc thứ hai do điều chỉnh cơ cấu và cải cách cơ

bảy mươi; đầu thập niên 1980 lãi suất tăng mạnh trên thị trường toàn cầu, nhiều nước đã rơi vào khủng hoảng thanh toán, “khủng hoảng nợ” Các khoản nợ lớn buộc họ phải thắt chặt ngân sách vì phần lớn các khoản nợ là của chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước, sử dụng vốn vay cho các dự án có lợi nhuận thấp hoặc thời gian hoàn vốn lâu Vào giữa thập kỉ đó hầu hết các nước bắt đầu thực hiện các cơ chế khác nhau để cơ cấu lại các khoản nợ nước ngoài lớn và thanh toán nợ Xem Stewart (1995) và Thomas (2002).

Trang 16

cấu tự do hóa vào đầu những năm 1990 ở hầu hết các quốc gia Cuối cùng, tác động thứ ba đến từ cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế cũng như trong các hệ thống ngân hàng quốc gia ở một số nước vào năm 1998.

Đồ thị 3

10.0 12.0 14.0 16.0 18.0 20.0 22.0 24.0 26.0

4.2 Mối quan hệ giữa diễn biến của GIP và UIS

Nếu gắn diễn biến của GIP với diễn biến UIS tại SA từ những năm 1970, được mô tả ở phần đầu của bài viết này (Đồ thị 1), chúng ta có thể thấy mối quan hệ nghịch đảo Tốc độ tăng GIP trong khu vực giảm từ mức cao vào đầu năm 1970 trong khi UIS liên tục tăng Các giai đoạn có thể được phân biệt thông qua kết hợp giữa hai lộ trình Chúng ta hãy xem xét sự kết hợp này

i Trong nửa đầu các năm 1970, GIP có tốc độ tăng cao cho đến năm 1974, tuy vậy UIS vẫn tăng 5 điểm phần trăm Có vẻ như đợt tăng đầu tiên này của UIS là do mức tăng dân số đô thị khá nhanh;

ii Từ năm 1975 đến 1979, GIP tăng trưởng vẫn ở mức cao, ngoại trừ năm

1977 và quy mô của UIS ổn định ở tỉ lệ 40% việc làm đô thị, chỉ tăng vào năm

1979 lên khoảng 42,5% Mức tăng nhanh cung lao động chủ yếu được hấp thụ qua các công việc hưởng lương chính thức, qua đó làm tăng mức thất nghiệp

và di cư đến các nước SA khác như Venezuela và bên ngoài khu vực;

Trang 17

iii Từ năm 1980 đến 1985, với cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài năm

1982, GIP có tỉ lệ âm trong giai đoạn 1980-1983, lần đầu tiên kể từ năm

1950 Tỉ lệ UIS tăng đến 43,5% cho đến năm 1984;

iv Từ 1986 đến 1990, tỉ lệ tăng GIP giảm và âm vào năm 1988 và năm

1989, dẫn đến sự gia tăng UIS đến gần 45% việc làm đô thị Sự hồi phục tạm thời của tăng trưởng GIP vào năm 1990, trước khi diễn ra đợt điều chỉnh vào đầu những năm 90, dẫn đến giảm tỉ lệ phi chính thức xuống dưới 40%;

v Từ năm 1991 đến 2003, mặc dù tăng trưởng GDP đạt mức trung bình

và cao cho đến năm 1995, UIS tăng từ khoảng 40% đến 47,5% vào năm 1997 Điều chỉnh cơ cấu vào đầu những năm 1990, dẫn đến giảm việc làm trong lĩnh vực sản xuất và trong các cơ quan chính phủ, đã thúc đẩy bước nhảy vọt này Mức tăng trưởng GDP âm năm 1998 và 2001 đã đẩy UIS tăng từ 47,5% năm 1998 lên đến 52,5% vào năm 2003;

vi Cuối cùng, với sự tăng trưởng GDP mạnh mẽ trong giai đoạn 2003-2007,

tỉ lệ UIS giảm 5 điểm phần trăm từ 52,5 xuống 47,5%, trở lại mức năm 1998, và thậm chí trên mức đỉnh 44% của năm 1990

Từ năm 1980 đến 1990 xu hướng tăng UIS là do cuộc khủng hoảng năm

1982 Tuy nhiên, diễn biến vừa được mô tả rõ ràng cho thấy xu hướng giảm GIP từ năm 1990 đến 2003 là kết quả của hai giai đoạn GIP có tốc độ tăng trưởng âm trong giai đoạn này, 1988-1989 và 1998-2001 Các giai đoạn này

đã củng cố xu hướng đi lên của UIS, tăng hơn 12,5 điểm phần trăm trong 13 năm Kết luận là có mối quan hệ nghịch đảo giữa sự sụt giảm GIP và tăng UIS, trung bình khoảng một điểm phần trăm mỗi năm

4.3 Tác động của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài, sự trì trệ của năng suất lao động và tác động của nó lên UIS

Cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài năm 1982 đã làm tăng vọt tỉ lệ nợ trên giá trị trung bình GIP của khu vực (Đồ thị 4) Từ năm 1980 đến năm 1985 tỉ lệ này tăng gấp đôi từ 24% lên 50% GIP, và giảm xuống 30% trong các năm 1995-1997 Với cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước đang phát triển mà khởi đầu là cuộc khủng hoảng châu Á vào cuối những năm 1990, tỉ lệ nợ nước ngoài trên GIP đạt đỉnh 55% vào các năm 2002-2003 Trong bối cảnh chuyển nhượng ròng âm trầm trọng (trừ giai đoạn 1992-1999) thì cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư, tăng trưởng kinh tế và năng suất sản xuất

Trang 18

Nam Mỹ: Chuyển nhượng ròng, 1980- 2008

(Triệu USD điều chỉnh lạm phát thời điểm năm 2000)

Nam Mỹ Đa thức (Nam Mỹ)

Nguồn: ECLAC, tính toán của tác giả.

Số lượng lớn dòng tiền chuyển ra nước ngoài đã làm giảm mức tái đầu tư

và đầu tư mới Mức thanh toán nợ nước ngoài cao làm giảm chi tiêu xã hội hiện tại và đầu tư công cho cơ sở hạ tầng Ngoài ra, quy mô và năng lực của các quốc gia trong việc quản lí các nền kinh tế cũng bị suy giảm và suy yếu trầm trọng Đặc biệt điều này đã khuyến khích tình trạng trốn thuế và lao động phi chính thức phát triển

Mặt khác, diễn biến của tổng vốn cố định (GFCF: đầu tư tư nhân và công) như là một tỉ lệ phần trăm của GIP (hệ số đầu tư/GIP), cho thấy một giai đoạn tăng kéo dài tính trung bình đạt đỉnh 25% tại khu vực trong giai đoạn 1975-1978 Tăng từ mức sàn 16% năm 1965 lên mức trần 25% vào năm 1975-1978 (Đồ thị 6), sau đó giảm xuống còn 16% vào năm 2003 Và cuối cùng, tỉ lệ này phục hồi một phần ở mức 20% năm 2008

So sánh tiến triển của GFCF với diễn biến của tình trạng phi chính thức kể từ năm 1970 (Đồ thị 1), chúng ta có thể xác định hai giai đoạn chính Trong khi đầu

tư tăng lên, đặc biệt là trong giai đoạn năm 1974 và 1977, tình hình phi chính thức

đã không tăng hoặc chỉ tăng nhẹ Thay vào đó, với cuộc khủng hoảng nợ, hệ số đầu

tư trên GIP giảm trong giai đoạn 1984-1985, xuống trên 16%, quay trở lại mức sàn của chu kì dài bắt đầu vào năm 1965 Trước tiên, UIS tăng trong giai đoạn 1982

và 1990 và sau đó tăng tốc, trong khi hệ số đầu tư/GIP dao động quanh mức 18%

Trang 19

Nguồn: ECLAC, tính toán của tác giả.

Kết cục diễn biến của các nền kinh tế SA là tình trạng lỗ ròng tài nguyên

và hệ số đầu tư trên GIP thấp Điều này khiến GIP bình quân đầu người và GIP trên đầu nhân công (proxy cho năng suất lao động trung bình) rơi vào trì trệ từ năm 1980 đến trước khi GIP tăng năm 2003 (Đồ thị 7) Trước khi xảy

ra cuộc khủng hoảng nợ, vào đầu những năm 1980, cả hai chỉ số cho thấy xu hướng tăng trung bình của khu vực Sau đó, GIP bình quân đầu người tăng nhẹ và năng suất lao động trung bình giảm đến năm 2003

Đồ thị 7 và 8 lần lượt cho thấy diễn biến của GIP bình quân đầu người và đầu nhân công trong giai đoạn 1950-1970, tính theo USD được điều chỉnh theo lạm phát, và các chỉ số biến động Đồ thị 7 cho thấy mức gia tăng đáng

kể GIP trên mỗi nhân công trong giai đoạn 1950 và 1980 Giữa các năm 1974

và 1980, sự gia tăng đáng kể GIP trên mỗi nhân công cao hơn mức tăng GIP,

và nhờ đó có thể hấp thụ được nhiều việc làm hơn và làm chậm sự gia tăng

tỉ lệ UIS

Sự suy giảm GIP trên mỗi nhân công là kết quả của cuộc khủng hoảng vào đầu những năm 1980 và xu hướng đi xuống của nó cho đến năm 2003 trước tiên có thể gắn với biến động của tình trạng phi chính thức cho đến năm 1991 - với điều chỉnh cơ cấu - và mức tăng nhanh liên tục cho đến

Trang 20

năm 2003 Cuối cùng, tình trạng phi chính thức đã giảm trong giai đoạn tăng trưởng do bùng nổ xuất khẩu nông và khoáng sản trong giai đoạn 2003-2008

Trong Đồ thị 8, chúng ta có thể quan sát thấy diễn biến của GIP bình quân đầu người nói chung đi theo xu hướng của chỉ số GIP trên mỗi công nhân, cả khi lên và xuống, nhưng chỉ số của GIP bình quân đầu người ở mức độ cao hơn, đặc biệt là kể từ khi điều chỉnh cơ cấu trong những năm 1990 Điều này

có thể được giải thích bởi loại hình tăng trưởng diễn ra sau đợt điều chỉnh, tập trung vào xuất khẩu nguyên liệu thô và mở rộng các dịch vụ công cộng,

đô thị công nghệ cao, GIP bình quân đầu người tăng mạnh – kèm theo bất bình đẳng lớn hơn - trong khi việc làm chính thức trong các lĩnh vực hoạt động cho năng suất cao chỉ tăng rất ít

Đồ thị 7 Đồ thị 8

30 33 36 39 42 45 48 51 54 57

Nam Mỹ : GDP đầu người và đầu lao động, 1950 - 2008

(USD điều chỉnh lạm phát thời điểm năm 2000)

GDP đầu người GDP đầu lao động

Tỉ lệ UIS 6 per T.bình di động (Tỉ lệ UIS)

100 110 120 130 140 150 160 170 180

GDP đầu người GDP đầu lao động UIS

Nguồn: ECLAC, tính toán của tác giả.

Mức độ GIP trên mỗi nhân công thấp so với GIP bình quân đầu người, và

xu hướng giảm có mối liên hệ với sự gia tăng của tình trạng phi chính thức Mức lợi nhuận thấp nhất là mức của các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ và năng lực đầu tư vốn cố định thấp hoặc không tồn tại của các doanh nghiệp này, được bù lại bằng khả năng hấp thụ rất lớn đối với UIS có mức lương thấp

Đồ thị 9 cho thấy mức độ và những thay đổi trong năng suất lao động

Trang 21

quốc gia (không chỉ năng suất đô thị) của các nhóm nước9 Xem xét đồ thị cho phép chúng ta nhận thấy:

i Các quốc gia có UIS nhỏ nhất là các nước có năng suất lao động cao nhất, trên mức trung bình khu vực Đây là trường hợp của Argentina và Uruguay, và Venezuela dù có lúc lên lúc xuống

ii Ngược lại, các quốc gia có mức năng suất lao động bình quân thấp hơn và thấp dưới mức trung bình có tỉ lệ UIS cao hơn Mặc dù năng suất lao động bình quân tăng lên sau điều chỉnh cơ cấu trong những năm 1990, Peru

và Colombia thuộc nhóm các quốc gia này, cùng với Bolivia và Paraguay, và Ecuador cho tới năm 2007

iii Ở mức độ trung bình của GIP trên mỗi nhân công là Brazil và Chile Năng suất lao động của Brazil tăng lên bằng mức trung bình khu vực, và của Chile tăng rất mạnh kể từ năm 1989 và đang ở trên mức trung bình khu vực kể từ năm 1992 Trong trường hợp của Chile, diễn biến này có nghĩa là tỉ lệ phi chính thức thấp hơn Brazil đã không đạt kết quả tương tự, UIS của nước này chỉ ở mức trung bình

Phần đánh giá ngắn gọn về các nhóm quốc gia cho phép chúng tôi kết luận rằng tỉ lệ UIS có mối quan hệ nghịch đảo với năng suất lao động trung bình

Đồ thị 9: Diễn biến của GIP trên mỗi nhân công theo nhóm quốc gia

Các quốc gia có GDP đầu người cao hơn t.bình

1950 – 2008, (USD không đổi năm 2000)

Nam Mỹ Argentina Uruguay Venezuela

2500 5000 7500 10000 12500 15000 17500

50 53 56 59 62 65 68 71 74 77 80 83 86 89 92 95 98 01 04 07

USD

Các quốc gia có GDP đầu người gần t.bình

1950 – 2008, (USD không đổi năm 2000)

Brasil Chile

1000 3500 6000 8500 11000 13500

50 53 56 59 62 65 68 71 74 77 80 83 86 89 92 95 98 01 04 07

USD

Các quốc gia có GDP đầu người gần t.bình

1950 – 2008, (USD không đổi năm 2000)

Nam Mỹ

Bolivia Ecuador Paraguay Colombia Peru Nam Mỹ

Nguồn: ECLAC, tính toán của tác giả.

đa 22.500 USD tại Argentina ít hơn 2.000 USD tại Bolivia năm 2007.

Trang 22

4.4 Vai trò của chính phủ: chi tiêu công và việc làm công

Năng lực trả nợ nước ngoài của các nền kinh tế và các chính phủ trong khu vực được thực hiện thông qua việc điều chỉnh cấu trúc tân tự do vào năm

1990 Điều chỉnh này là thành phần chính của kế hoạch điều chỉnh tài chính,

ví dụ như giảm mạnh chi tiêu đầu tư công và việc làm công để giải phóng nguồn lực cho việc trả nợ

Biểu đồ 10 cho thấy sự thay đổi hàng năm theo tỉ lệ phần trăm và tỉ lệ chi tiêu chính phủ nói chung trong GIP từ năm 1950 và 2008, và tỉ lệ việc làm công tại đô thị từ năm 1990 đến năm 2008 Các dữ liệu cho thấy:

i Một giai đoạn tăng chi tiêu công, cả thay đổi tỉ lệ phần trăm hàng năm

và tỉ lệ phần trăm của GIP từ năm 1950 tới năm 1983 tại Khu vực Mỹ Latin

và các nước Andean;

ii Kể từ khi diễn ra cuộc khủng hoảng nợ, chi tiêu công đã giảm, đối với

cả Nam Mỹ và Mỹ Latin nói chung cho đến năm 2008;

iii Một sự phục hồi được ghi nhận tại các nước Andean từ năm 1994 nhưng điều này chỉ là do mức tăng nhanh ở Colombia, sau đó lại giảm do cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998;

iv Đáng chú ý là trong thời kì thu ngân sách tăng do bùng nổ xuất khẩu,

từ năm 2003 đến năm 2008, chi tiêu trong khu vực tiếp tục giảm

Tiếp theo xu hướng giảm chi tiêu công, việc làm công tại đô thị giảm từ 13% vào năm 1990 xuống hơn 10% vào năm 1998 Tỉ lệ này phục hồi vào năm

1999 lên gần mức độ ban đầu vào năm 1990, và sau đó tiếp tục giảm nhẹ, trừ năm 2002 – chỉ giảm dưới một điểm phần trăm cho đến năm 2008 Hai giai đoạn trong mỗi thập niên trùng hợp với sự gia tăng tình trạng phi chính thức cho đến năm 2002 và giảm sau đó trong giai đoạn 2003-2008

Trang 23

Đồ thị 10

0.0 1.0 2.0 3.0 4.0 5.0 6.0

50 53 56 59 62 66 69 72 75 78 81 84 87 90 93 96 99 02 05 08

% GIP

Nam Mỹ: Diễn biến chi tiêu chung của chính phủ (GGE), % GIP, 1950 - 2008

(USD kh đổi năm 2000)

CAN Nam Mỹ Mỹ La tinh

4 6 8 10 12 14 16 18 20 22

50 53 56 59 62 66 69 72 75 78 81 84 87 90 93 96 99 02 05 08

% GIP

Nam Mỹ: Diễn biến chi tiêu chung của chính phủ (GGE), % GIP, 1950 - 2008

(USD kh đổi năm 2000)

CAN Bolivia Colombia Ecuador Perú

Nguồn: ECLAC, tính toán của tác giả.

Xu hướng giảm chi tiêu công và việc làm công tại đô thị cho đến năm

2000 ảnh hưởng đến tỉ lệ phi chính thức thông qua ít nhất ba kênh Chi tiêu công thấp hơn có nghĩa là:

i Giảm việc làm công trực tiếp dẫn đến giảm việc làm chính thức, làm tăng tình trạng phi chính thức một cách gián tiếp;

ii Tổng cầu nội địa thấp hơn có ảnh hưởng tiêu cực đến việc làm chính thức, do tiêu dùng chính phủ thấp hơn;

iii Sự suy yếu của Nhà nước, quy mô và năng lực giảm, làm giảm hiệu quả thi hành pháp luật dẫn đến việc chấp nhận sự gia tăng lao động phi chính thức Quy mô của UIS có quan hệ nghịch đảo với quy mô và năng lực của Nhà nước Một đặc điểm của việc giảm chi tiêu công là mức chi tiêu thấp cho quản

lí nhà nước về lao động Các Bộ Lao động trong khu vực có tỉ lệ ngân sách được phân bổ rất thấp Biểu đồ 11 cho thấy tỉ lệ chi tiêu của các Lao động và các vấn đề xã hội trong ngân sách công từ năm 2000 đến năm 2010 tại các nước Andean Cần lưu ý rằng ba nước Bolivia, Ecuador và Colombia - có mức

độ thấp hơn 0,5% chi ngân sách trong thời gian này, tiếp theo là Peru với 0,5% trong giai đoạn 2003-2009, giảm tiếp vào năm 2010 Chỉ có Chile là đã tăng gấp ba lần (từ 2% và 3%) ngân sách của Bộ Lao động trong giai đoạn 2005-2008, nhưng giảm xuống 1% năm 2010

Chiều hướng gia tăng mức độ chi tiêu xã hội đi theo hướng ngược lại ở hầu hết các nước: Colombia và Peru có mức chi tiêu xã hội từ 40 đến 60%,

và Ecuador đạt 30% (tăng gấp ba lần trong tám năm) Ở mức cao hơn, chi

Trang 24

tiêu xã hội ở Chile đã giảm từ 70% xuống 55%, tăng lần đầu tiên vào năm

2002 ở Bolivia từ một mức độ tương đối thấp, và một lần nữa tăng từ năm

2004 đến 2008 lên khoảng 30% Cuộc chiến trực tiếp chống đói nghèo với các chương trình phúc lợi xã hội đã được ưu tiên hơn là việc xúc tiến việc làm chính thức

Đồ thị 11: Cộng đồng Andean và Chile: các Bộ Lao động và chi tiêu xã hội, 2000-2010*

*: Căn cứ vào các ngân sách quốc gia đã chi; Bolivia: Nhà nước đa dân tộc Bolivia

5 Xu hướng thị trường lao động đô thị trong dài hạn

Cho đến lúc này chúng tôi đã đề cập các xu hướng vĩ mô chủ yếu có vai trò xác định tổng cung lao động (AAP, AR và EAP) và tổng cầu (GIP và năng suất lao động) trong dài hạn Chúng tôi cần xem xét hình thái diễn biến của

Trang 25

thị trường lao động đô thị và các mối quan hệ của nó với UIS Các quan hệ này có thể được mô tả trên phương diện cung, bằng cách so sánh diễn biến của AR và UIS, và trên phương diện cầu lao động hoặc mức độ hấp thụ việc làm, bằng cách gắn diễn biến của UIS với diễn biến của tỉ lệ thất nghiệp (UR)

5.1 Mối quan hệ giữa AR và UIS

Như đã nêu ở trên, tăng EAP là do mức tăng mạnh của AAP và ở một mức

độ thấp hơn, của AR Tỉ lệ nữ trong UIS cao hơn được ghi nhận tại các quốc gia SA Mối quan hệ theo thời gian giữa AR, đặc biệt là đối với phụ nữ, và tỉ lệ UIS trong khu vực là gì? Đồ thị 12 cho thấy sự thay đổi trung bình trong tổng

AR đô thị, AR đô thị nữ (từ 1980) và tỉ lệ UIS10

33.0 35.5 38.0 40.5 43.0 45.5 48.0 50.5 53.0

70 72 74 76 78 80 82 84 86 88 90 92 94 96 98 00 02 04 06 08

UR IR

Nam Mỹ: UR và IR, 1970 - 2008

Tuyến tính (IR) Tuyến tính (UR)

Nguồn: ECLAC, ILO và Cơ quan Thống kê Quốc gia.

Có hai giai đoạn trong mối quan hệ giữa AR và diễn biến của UIS Từ

1970 đến 1990 cả hai tỉ lệ có xu hướng tăng, AR tăng 5 điểm phần trăm từ năm 1976 đến năm 1990 và ở mức độ thấp hơn, tỉ lệ UIS tăng từ năm 1975

và 1990, từ đỉnh này sang đỉnh khác Mức tăng EAP (cho tổng AR) được hấp thụ tương đối tốt bởi việc làm chính thức và UR cũng tăng từ năm 1977 đến

1983, như thể hiện trong Đồ thị 13

10 Không có thông tin về tỉ lệ hoạt động đô thị theo giới tính trước năm 1980.

Trang 26

Tuy nhiên, FAR cũng tăng trong giai đoạn 1980 và 1990 và làm mức độ UIS tăng nhẹ trong thập kỉ đó Một lần nữa, tăng cung lao động nữ được hấp thụ một phần bởi việc làm chính thức, trước điều chỉnh năm 1990, và một phần rơi vào thất nghiệp.

Từ năm 1990, AR ổn định ở mức 60% trong khi tỉ lệ UIS tăng khoảng 13% Như đã nêu điều này là do AAP tăng Nhưng cũng do FAR gia tăng đáng kể, làm tăng tỉ lệ việc làm đô thị Cả FAR và UIS đều tăng lên đáng kể và tăng song song cho đến năm 2003

5.2 Mối quan hệ giữa tỉ lệ thất nghiệp (UR) và UIS

Câu hỏi trọng tâm trong mối quan hệ giữa UR và UIS là lí do tại sao số lượng lớn lao động dư thừa (trong dài hạn) vẫn còn thất nghiệp nếu người tìm việc có lựa chọn làm thuê hoặc làm việc độc lập trong UIS (Solimano 1988)? Đó có thể là một mối quan hệ nghịch đảo giữa hai tỉ lệ này, mối quan

hệ đã được sử dụng rộng rãi trong quan điểm ngắn hạn mang tính chức năng

về UIS khi nó xuất hiện như một khái niệm thao tác (operational concept) Vai trò của UIS trong thị trường lao động là ngược lại với chu kì (counter-cyclical), có vai trò như một bộ đệm giúp hấp thụ sự gia tăng thất nghiệp theo chu kì

Khi xem xét Đồ thị 14 trong toàn bộ giai đoạn 1970-2008, ví dụ như xu hướng dài hạn (tuyến tính), chúng ta thấy có vẻ như mức tăng tỉ lệ UR và UIS (đường vạch rời) diễn ra song song cho đến năm 2003 khi cả hai đã cùng giảm Xu hướng này thậm chí còn rõ ràng hơn trong giai đoạn năm 1990 và

2002 khi UR tăng từ 6% lên 13,5% và UIS cũng tăng tương tự, trung bình từ 39% đến 53%, tại mười nước SA

Bằng cách chia thời kì trước năm 1990 thành hai giai đoạn, có thể phân biệt một giai đoạn đầu tiên, giữa các năm 1970 và 1978, trong đó UIS tăng, nhưng UR không tăng Từ 1980 đến 1990 có vẻ như UIS đã hoàn thành vai trò của cái đệm (mattress) vì trong khi UIS có xu hướng đi lên - với sự dao động mạnh mẽ - thì UR lại giảm từ 8% xuống khoảng 6,5%

Trang 27

6 Ước tính nhiều chiều về các yếu tố quyết định mức tăng của UIS

Như đã nêu, lập luận của bài viết này là có một mối liên hệ thuận chiều giữa tăng UIS và tăng lực lượng lao động đô thị (EAP), như một hệ quả của tăng AAP và AR, cũng như tốc độ tăng GIP (phi nông nghiệp hoặc đô thị)

Đối với mối quan hệ giữa diễn biến của UIS với năng suất lao động, cần

có sự phân biệt Một mặt, tổng mức độ năng suất lao động có quan hệ nghịch chiều với UIS, cả về quy mô của việc làm phi chính thức và mức đóng góp thấp của nó vào tăng trưởng GIP Mặt khác, tăng năng suất lao động trong FS trong GIP (phi nông nghiệp hoặc đô thị), theo Sơ đồ 1, đã làm giảm việc làm chính thức và do EAP tăng liên tục, đã làm UIS tăng lên, trừ khi tăng năng suất đi kèm với mức tăng GIP lớn hơn Bây giờ cần xác minh dấu và cường độ của các mối quan hệ này

Với mục đích này, chúng tôi tiến hành ước tính các yếu tố quyết định mức tăng tỉ lệ UIS (TUIS) trong dài hạn, với một cơ sở dữ liệu nhiều chiều cho mười quốc gia SA trong giai đoạn 1970-2008 Tổng số gồm 380 bộ dữ liệu cho mười quốc gia, mỗi nước có dữ liệu trong 38 năm

Biến phụ thuộc là tỉ lệ UIS hoặc UIST = việc làm trong UIS/EAP có việc làm, và các biến độc lập, cho tất cả mười quốc gia trong thay đổi tỉ lệ phần trăm hàng năm cho giai đoạn 1970-2008, là:

i Tổng dân số đô thị độ tuổi làm việc (app_t) Hệ số được kì vọng sẽ phải dương Với AAP lớn hơn, sẽ có nhiều EAP hơn và do đó, tăng việc làm trong UIS;

ii Tổng số tỉ lệ làm việc đô thị (ar) Hệ số được kì vọng sẽ phải dương, cung lao động nhiều hơn sẽ làm tăng UIS;

iii GIP phi nông nghiệp và phi khai khoáng (thành thị) quốc gia (gip_no_agri) Hệ số được kì vọng sẽ âm, tăng trưởng GIP cao hơn, sẽ dẫn đến nhiều việc làm trong FS hơn và do đó giảm UIS;

iv Năng suất lao động trong FS (gipnasf) Trong vai trò biến thay thế (proxy), GIP (phi nông nghiệp phi khai khoáng)/Việc làm FS Hệ số được kì vọng trên UIS sẽ phải dương, nếu năng suất việc làm chính thức cao hơn, nhân công sẽ chuyển sang UIS hoặc sẽ bị thất nghiệp

Ước tính đã được thực hiện cho cả hai hiệu ứng cố định quốc gia và hiệu ứng ngẫu nhiên và với một độ trễ của biến phụ thuộc Các hệ số ước tính có

Trang 28

ý nghĩa thống kê (Bảng 4), trừ các hằng số, với dấu và giá trị cao như đã kì vọng trong ba bài kiểm định được thực hiện, bao gồm cả ước tính với độ chậm trễ của biến phụ thuộc (UIS L1)11

Chúng tôi xác nhận rằng diễn biến của các tỉ lệ phần trăm thay đổi hàng năm trong IUS giữa các năm 1970 và 2008 có quan hệ thuận chiều và chịu tác động lớn bởi các thay đổi tỉ lệ phần trăm hàng năm về năng suất lao động trong khu vực chính thức, trong AR và AAP theo thứ tự này, và có dấu âm đối với những thay đổi tỉ lệ phần trăm trong GIP phi nông nghiệp, nhưng với một hệ số rất thấp cho độ trễ một năm của biến phụ thuộc (UIS L1) trong mô hình Lag

Bảng 4: Ước tính nhiều chiều với các hiệu ứng cố định (FE), hiệu ứng ngẫu nhiên (RE) và mô hình Lag (LM)

(Biến phụ thuộc: Tốc độ tăng trưởng hàng năm UIST)

Trang 29

Lưu ý: Độ lệch chuẩn được ghi trong ngoặc đơn dưới mỗi hệ số.

7 Kết luận: các giới hạn tăng trưởng UIS

Kết luận đầu tiên của nghiên cứu này là việc làm đô thị phi chính thức (UIS), có mức độ ban đầu ít thay đổi vào những năm 1970, đã trở thành một hiện tượng đạt quy mô rất lớn tại tất cả các quốc gia SA Không chỉ tồn tại dai dẳng, tỉ lệ của UIS trong việc làm đô thị đã tăng trong 38 năm tồn tại, tỉ lệ này được đo bằng tỉ lệ của việc làm đô thị hoặc là tỉ lệ của AAP

Thứ hai, các bằng chứng thu thập được cho phép lập luận rằng mức tăng UIS nhanh là do sự gia tăng nhanh cung lao động dài hạn, chủ yếu là do tăng trưởng dân số đô thị và tăng trưởng AR, và tương phản với tốc độ tăng trưởng GIP đô thị Cũng góp phần tăng UIS là sự gia tăng năng suất lao động của khu vực việc làm chính thức vì điều này hoặc không hấp thụ nhiều việc làm, hoặc làm nhân công mất việc

Thứ ba, có các bằng chứng về các mối quan hệ, tính trung bình, cho tất cả các nước trong khu vực và sự tương đồng và sự khác biệt giữa các nhóm quốc gia đã được xem xét Chúng ta có thể quan sát các giai đoạn khác nhau của quá trình chuyển đổi nhân khẩu, các quá trình trực tiếp ảnh hưởng tới các

Trang 30

cấp độ UIS khác nhau Mức UIS thấp cho các nước ở giai đoạn sau của quá trình chuyển đổi nhân khẩu (Argentina, Uruguay, Chile và Brazil), và mức IUS cao hơn cho các nước ở giai đoạn giữa (Paraguay, Bolivia, Ecuador, Peru, Colombia và Venezuela) Tương tự như vậy, nhóm các nước có năng suất lao động quốc gia cao hơn (Argentina, Chile, Uruguay, Brazil và Venezuela) có một tỉ lệ UIS thấp hơn và các quốc gia có năng suất lao động quốc gia thấp hơn (Bolivia, Paraguay, Ecuador, Peru và Colombia) có tỉ lệ UIS cao hơn Thứ tư, bằng chứng đã được trình bày về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài năm 1982 đối với khu vực và tác động của nó, bao gồm việc điều chỉnh cơ cấu trong những năm 1990, và xu hướng trì trệ GIP trong khu vực Điều này là do luồng nguồn lực ròng chảy ra nước ngoài cao hơn, đầu tư thấp hơn và chi tiêu công ít hơn Các cú sốc liên tiếp làm gia tăng tốc

độ tăng UIS

Thứ năm, về vai trò của nhà nước, cuộc khủng hoảng nợ nước ngoài

và điều chỉnh cấu trúc làm giảm chi tiêu công và việc làm Điều này góp phần tăng UIS, một cách trực tiếp và gián tiếp, bằng cách giảm biên chế nhà nước và làm suy yếu khả năng thực thi pháp luật thuế và lao động của các chính phủ

Thứ sáu, các mối quan hệ giữa UIS và mức AR đang gia tăng có thể xác nhận ảnh hưởng trực tiếp của mức tăng EAP trong UIS Ngược lại, các mối quan hệ giữa UR và UIS trong dài hạn có dấu dương, do mức tăng EAP nhanh, không giống như mối quan hệ của hai yếu tố này trong ngắn hạn, khi mối quan hệ sẽ bị đảo ngược, do UIS là một bộ đệm để hấp thụ một phần người thất nghiệp trong thời kì suy thoái

Cuối cùng, mối quan hệ giữa các thay đổi của UIS và các yếu tố quyết định UIS trong dài hạn được ước tính bằng cách áp dụng ba mô hình Kết quả cho thấy dấu và giá trị cao của các hệ số đúng như dự kiến Đã xác minh được rằng tăng UIS có quan hệ thuận chiều và phụ thuộc vào sự tăng của AAP, AR

và năng suất lao động trong khu vực chính thức, và quan hệ ngược chiều với

sự gia tăng của GIP phi nông nghiệp

Bây giờ chúng ta quay trở lại câu hỏi ban đầu của bài viết này: Có các giới hạn cho mức tăng tình trạng phi chính thức không? Căn cứ và các kết luận và các mối quan hệ được thiết lập trong phần trước, câu trả lời là có Chúng ta có thể xem xét điều này theo ba cách

Trang 31

7.1 Xu hướng trung bình cho khu vực đô thị

i Dưới tác động của các yếu tố nhân khẩu, việc tăng UIS sẽ chậm lại nếu

tỉ lệ tăng của AAP và AR, đặc biệt là FAR có xu hướng giảm;

ii Nếu GIP phi nông nghiệp tăng cao hơn mức tăng năng suất lao động, việc làm chính thức sẽ tăng lên và do đó UIS sẽ có xu hướng giảm;

iii Nếu tăng năng suất lao động trung bình, có nghĩa là có sự gia tăng tương ứng của UIS, thì năng lực đầu tư UIS sẽ tăng và việc làm chính thức cũng sẽ tăng khiến UIS giảm;

iv Nếu tỉ lệ tăng năng suất lao động của khu vực chính thức thì giảm lao động sẽ không bị chuyển đến UIS;

v Nếu tăng chi tiêu công và vai trò của chính phủ được củng cố, trong đó

có vai trò của Bộ Lao động, thì có thể mở rộng phạm vi thực hiện các quy định thuế và lao động và an sinh xã hội Nếu không đi kèm với quá trình cấu trúc

đề cập ở trên, sự hiện diện tăng cường của Nhà nước sẽ vấp phải năng lực hạn chế trong việc giảm quy mô của UIS

7.2 Đối với nhóm các quốc gia, với quy mô lớn và nhỏ của UIS

i Nếu có tiến bộ về quá trình chuyển đổi nhân khẩu ở các nước có tỉ lệ UIS cao hơn, điều này sẽ làm chậm tăng trưởng dân số toàn quốc và đô thị

và làm chậm sự gia tăng của AAP đô thị, tiến dần tới mức độ của các nhóm nước có UIS thấp Đây sẽ là mục tiêu cần đạt được, căn cứ vào tỉ lệ UIS cao, GIP thấp và năng suất lao động thấp hiện nay;

ii Nếu có thể để đạt được mức tăng trưởng GIP và năng suất lao động tương tự như những quốc gia có UIS thấp hơn, các công ty và người lao động thuộc UIS trong các nước có năng suất quốc gia thấp sẽ có nhiều khả năng được chính thức hóa;

iii Nếu các quốc gia có mức độ IUS cao hơn thực hiện việc tăng cường năng lực nhà nước, giống như ở các nước có UIS thấp hơn, trong giới hạn nào

đó quy mô của UIS sẽ giảm

7.3 Dự đoán dựa trên ước lượng biến trung bình

Để minh hoạ, chúng tôi ước tính một hồi quy ARMA cho UIS trong khu vực với mức trung bình gia quyền cho mười quốc gia với các các biến độc lập

đã từng được sử dụng trong phép hồi quy đa chiều (panel) với một độ trễ của

Trang 32

biến phụ thuộc Trên cơ sở của các hệ số thu được - để giải thích mức tăng bình quân của UIS - chúng tôi có thể xác định xu hướng tăng trưởng bình quân dự kiến tại mười nước để quan sát diễn biến có thể của các nước này trong dài hạn12

Một phần của kết quả được thể hiện trong Đồ thị 14 (và bảng), trong đó xuất hiện đầu tiên là các giá trị của các biến điều chỉnh, như một xu hướng đến năm 2008, và từ năm đó như là dự đoán đến năm 2028 Chúng ta có thể suy ra rằng xu hướng đi lên của AAP sẽ chậm lại theo thời gian Điều này có thể đạt được với các chính sách kế hoạch hóa gia đình đối với việc ra quyết định dựa trên thông tin và để nhấn mạnh xu hướng này Mặt khác, tăng trưởng GIP phi nông nghiệp sẽ làm tăng việc làm chính thức và sẽ giúp làm giảm xu hướng mở rộng liên tục của UIS Sẽ cần có các chính sách để đảm bảo tăng trưởng GIP cao liên tục Tổng hợp của cả hai hiệu ứng và các biến khác không có trong đồ thị, sẽ khiến UIS giảm đáng kể, trong thời gian này các chính sách lâu dài sẽ phát huy tác dụng

Nam Mỹ: Các biến dài hạn và UIS

1971 – 2008 (lũy kế % biến thiên)

Nguồn: Tác giả.

12 Các hệ số hồi quy có giá trị cao và có ý nghĩa thống kê, ngoại trừ đối với AAP và hằng số tại mức 10%.

Trang 33

Dựa trên các kết quả này, các cuộc thảo luận về tăng cường chính thức hóa các công ty hoặc người lao động, hoặc giảm UIS, dù thông qua hệ thống thuế có hiệu quả ít hay nhiều, hoặc pháp luật lao động hoặc các chương trình

hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (MSEs) phi chính thức, các thảo luận này

sẽ không thu được kết quả tốt

Một hiện tượng với đặc điểm của tình trạng phi chính thức đô thị tại SA phải được giải quyết như một thách thức dài hạn với các chính sách được thiết kế và thực hiện từ bây giờ, để thay đổi hình thái cấu trúc của hành vi, nhân khẩu học, kinh tế và thị trường lao động và vai trò của Nhà nước của các quốc gia trong khu vực

Tài liệu tham khảo:

Boeri, T & J van Ours, The Economics of Imperfect Labour Markets,

Princeton U Press, 2008

Bourguignon, F., Interview, International Conference: The informal sector and informal employment, Hanoi, May, 2010, p 94-98

Galli, R and D Kucera, Labour standards an Informal Employment

in Latin America, in Berg, J and D Kucera, In Defence of Labour Market

Institutions, ILO-Palgrave, 2008

Gasparini, L y L Tornarolli, Labour informality in Latin America and the Caribbean: Patterns and Trends from Household Survey Microdata, U Nacional de La Plata: CEDLAS, 2007

ILO, Employment, income and equality A strategy for increasing

productive employment in Kenya, Geneva: ILO, 1972.

, Decent Work and the Informal Economy, Report VI, International Labour Conference, 90th Session, Geneva and ILO, 2002

, Oficina Regional para América Latina y El Caribe, Panorama Laboral

2006, Lima: ILO-OR ALC

Khamis, Melanie, A Note on Informality in the Labour Market, IZA DP No

4676, December 2009

Lewis, W Arthur (1954), “Economic Development with Unlimited Supplies of

Labour.” Manchester School of Economic and Social Studies, Vol 22, pp 139-91

Trang 34

Loayza, N and Rigolini, J Informality Trends and Cycles, World Bank,

World Bank Policy Research Working Paper, num 4078, 2006.

Ramos, J., Urbanización y mercado de trabajo, Revista de la CEPAL, Nº

24, Santiago de Chile, diciembre, 1984

Solimano, A., Enfoques alternativos sobre el mercado del trabajo: una

evaluación teórica, Revista de Análisis Económico, Vol 3, No 2, p 159-186,

Tokman, Víctor, La informalidad en los años noventa: situación actual y

perspectivas, en Carpio, Jorge e Irene Novacorsky, De igual a igual, el desafío

del estado ante los nuevos problemas sociales, Buenos Aires:

FCE-SIEMPRO-FLACSO, 1999

Ugarteche, O., La deuda de América Latina: ¿Por qué es impagable?,

La Insignia, enero de 2003 http://mx.groups.yahoo.com/group/AHuA/

message/4017

Verdera V., F., Informality in Latin America: Recent Trends, Policies and Prospects, ILO, Geneva

Trang 35

Sự tồn tại dai dẳng với mức độ quan trọng của khu vực kinh tế phi chính

ở Argentina, ngay cả trong những giai đoạn tăng trưởng kinh tế thu hút nhiều

sự quan tâm nghiên cứu Đa số các nghiên cứu tập trung về giả thuyết phân khúc / tính hai mặt của thị trường lao động Theo đó, thị trường lao động phi chính thức khác biệt với các phần còn lại của thị trường lao động chung Trong trường hợp này, những mô hình giải thích mức thu nhập của lao động chính thức và lao động phi chính thức có những dạng thức khác nhau (những

sự khác biệt cả về loại hình của các yếu tố giải thích cũng như cách thức thực hiện của các yếu tố này) Các phân tích thực nghiệm củng cố thêm cho giả thuyết này Các phương trình thu nhập kết hợp biến khu vực chính thức/phi chính thức và các thử nghiệm đánh giá những khác biệt của phương trình thu nhập giữa các khu vực đưa ra những mô hình phân phối thu nhập chi tiết hơn so với những mô hình chỉ sử dụng các biến về vốn con người hoặc chỉ sử dụng một thị trường lao động đồng nhất Các kết quả trước đây khẳng định giả thuyết về phân khúc thị trường lao động tại đô thị của Argentina: các lao động có các đặc điểm quan sát tương tự cho thấy rằng họ cũng có những khả năng tương tự trong việc chuyển đổi (vào/ra) từ khu vực này sang khu vực

Trang 36

khác và có mức độ thu nhập khác nhau tuỳ thuộc họ làm việc trong khu vực chính thức hay phi chính thức Tuy nhiên, các câu hỏi khác liên quan đến tính bất ổn định hoặc biến thiên trong thu nhập của việc làm phi chính thức nhìn chung chưa được nghiên cứu nhiều.

Bài viết phân tích mức biến động về thu nhập lao động ở Argentina từ năm 2004 đến 2007 Đồng thời ước tính quy mô của hiện tượng thu nhập không ổn định và đánh giá các yếu tố quyết định hiện tượng này Bài viết cũng phân tích biến động thu nhập đã ảnh hưởng đến sự không đồng đều trong phân phối thu nhập như thế nào Một trong những kết quả chính cho thấy tình trạng lao động phi chính thức phổ biến đã gây ra nhiều biến động trong thu nhập bất chấp sự phục hồi kinh tế vĩ mô từ năm 2002

Thiếu ổn định có thể đi đôi với tính di động nói chung được xem là sự chuyển dịch vị trí tương đối của các cá nhân trong phân phối thu nhập, hoặc thay đổi về khoảng cách thu nhập giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm cá nhân này Bên cạnh đó, tính di động ảnh hưởng đến bất bình đẳng, đặc biệt là mức

độ tập trung thu nhập đo được qua các dữ liệu thu được tại một thời điểm có thể khác với kết quả thu được khi xem xét thu nhập có tính thường xuyên hơn Tương tự như vậy, sự thay đổi tính di động có thể khiến bất bình đẳng của thu nhập có tính ổn định hơn và thu nhập tại một thời điểm biến động theo các cách khác nhau

Do mức độ phổ biến của tình trạng thu nhập không ổn định tại Argentina trong hai thập kỉ qua, bài viết này sẽ xem xét một số đặc điểm và ảnh hưởng của tình trạng này trong những năm gần đây

Các dữ liệu nhiều chiều được sử dụng không dựa trên một cuộc khảo sát tại nhiều thời điểm (longitudinal) cụ thể vì các dữ liệu này là một kết quả của khảo sát hộ gia đình thường xuyên và liên tục và chỉ khảo sát trong một thời gian tương đối ngắn Dù vậy, khảo sát này cung cấp chứng cứ phù hợp

để thảo luận về các đặc điểm và tác động của thu nhập không ổn định Mặc

dù vấn đề có tầm quan trọng như vậy nhưng có ít nghiên cứu về đề tài này.Bài viết phân tích một số yếu tố chính quyết định sự không ổn định và mức độ không ổn định khác nhau giữa các cá nhân và các nhóm hộ gia đình Bài viết cũng đánh giá mức độ tác động của những biến động về mức độ không ổn định đối với động thái của phân phối thu nhập Các phân tích tập trung vào các giai đoạn 2004-2007 sẽ phân biệt hai giai đoạn tương đối đồng

Trang 37

nhất xác định theo một tập hợp các biến kinh tế vĩ mô quan trọng đối với các mục tiêu đề ra Giai đoạn đầu tiên từ năm 2004-2005 và giai đoạn thứ hai từ năm 2005-2007.

Phần đầu nêu bối cảnh phân tích tính di động ở Argentina, tóm tắt thị trường lao động và hành vi phân phối thu nhập tại Argentina Phần hai tóm tắt các mục tiêu khác nhau của các nghiên cứu về động thái thu nhập Phần ba mô tả các phương pháp và nguồn dữ liệu được sử dụng Phần chính

là phần bốn phân tích kết quả liên quan đến tính di động của thu nhập và tình trạng phi chính thức lao động Các kết luận được trình bày trong phần cuối cùng

hộ có người chủ dưới 65 tuổi) Khi phân tích như vậy, phân phối có hình thái giống nhau Thật vậy, ước tính khoảng tin cậy thống kê của hệ số Gini cho thấy không có sự khác biệt giữa các kết quả thu được năm 2004 và những năm tiếp theo (Xem Bảng 1 và Bảng 2)

Trang 38

Bảng 1: Tỉ lệ nghèo ở Argentina, 2003-2006 (tính theo %)

Nguồn: Điều tra thường xuyên các hộ gia đình (EPH), INDEC, tính toán của tác giả.

Bảng 2: Bất bình đẳng trong thu nhập của các hộ gia đình (tính theo đầu người)

Khoảng tin cậy

Trang 39

Từ năm 2004 và đặc biệt là từ năm 2005 trở đi, việc làm đã tăng trưởng mạnh mẽ hơn đối với các thành viên của hộ gia đình mà chủ hộ có trình độ học vấn cao Hơn nữa, sự gia tăng mức chênh lệch về việc làm còn cao hơn đối với các thành viên không phải chủ hộ Giữa thời điểm đầu và cuối thời

kỳ này, việc làm trong các hộ gia đình mà chủ hộ có trình độ học vấn thấp có mức tăng lũy tiến là 16%, so với 41% đối với hộ gia đình mà chủ hộ có trình

độ học vấn cao (Xem Bảng 3)

Đối với các thành viên không phải là chủ hộ gia đình, các con số này lần lượt là 18% cho những người có trình độ học vấn thấp và 53% cho trình độ học vấn cao

Bảng 3: Tăng việc làm giai đoạn 2002-2007

Tổng

Chủ hộ có trình độ học vấn thấp

Chủ hộ có trình độ học vấn cao

Trang 40

Đồng thời, tỉ lệ thất nghiệp của các thành viên hộ gia đình mà chủ hộ có trình độ học vấn thấp là 12%, trong số này những người không phải chủ hộ

có tỉ lệ thất nghiệp là 17% Trong khi đó, mặc dù tỉ lệ việc làm đã đăng kí của chủ hộ có tăng lên nhưng tăng chậm hơn so với các hộ gia đình mà chủ hộ có trình độ học vấn cao Năm 2007, trên 50% hộ gia đình tầng lớp nghèo nhất và không có thành viên có việc làm có đăng kí, đây là chỉ số về mức độ phi chính thức cao trong thị trường lao động

Tình trạng phi chính thức - hoặc khu vực phi chính thức hoặc nền kinh

tế phi chính thức - là một khái niệm được sử dụng để mô tả rõ hơn và phân tích hoạt động của nền kinh tế, đặc biệt trong các thị trường lao động tại các nước chậm phát triển1 Định nghĩa ban đầu2 của Văn phòng Lao động Quốc

tế (ILO, 1972) và sự phát triển của định nghĩa này sau đó tại châu Mỹ Latin, quy sự tồn tại của cơ sở sản xuất phi chính thức ở các nước đang phát triển cho sự bất cập của nền kinh tế trong việc tạo ra đủ việc làm cho lực lượng lao động chính thức Nếu là tại các nền kinh tế phát triển thì tình trạng này sẽ dẫn đến thất nghiệp, tuy nhiên ở các nước chậm phát triển, điều này dẫn đến

sự xuất hiện và tồn tại của số lượng lớn việc làm tập trung ở các đơn vị nhỏ, năng suất thấp Đôi khi, họ là những người làm việc tự do đôi khi họ làm công

ăn lương trong các cơ sở nhỏ Các cơ sở sản xuất này tồn tại bằng cách khai thác một số “khe hở” thị trường do thù lao trả và/hoặc nhận thấp Theo quan điểm ban đầu này của ILO, các cơ sở phi chính thức có đặc điểm là vốn và lao động không tách bạch rõ ràng và thường được coi như một con đường ngắn

để gia nhập thị trường Tuy nhiên, khái niệm phi chính thức cũng được gắn với các đặc điểm khác và tính đúng đắn của khái niệm này được lí giải theo cách khác, ngay cả ở các nước phát triển Quan điểm này gắn phi chính thức với việc không tuân thủ các một số quy định về lao động và các quy định khác (chủ yếu là trốn thuế) Rõ ràng là có sự giao thoa giữa các cơ sở được phân loại theo quy định này và theo quan điểm truyền thống của ILO Cả hai quan điểm đã được Hội nghị các Chuyên gia Thống kê Lao động ít nhiều phản ánh trong các khuyến nghị gần đây về định nghĩa phi chính thức Các chuyên gia

thống kê phân biệt việc làm trong khu vực phi chính thức (ISE) (nói chung là

1 Xem Tokman (2007).

2 Xem thêm chi tiết về định nghĩa khái niệm phi chính thức tại phần tóm tắt giới thiệu hoặc Razafi ndrakoto

và những người khác tại ấn phẩm này

Ngày đăng: 25/05/2016, 04:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1a và 1b - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 1a và 1b (Trang 5)
Đồ thị 3 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 3 (Trang 16)
Đồ thị 4                                              Đồ thị 5 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 4 Đồ thị 5 (Trang 18)
Đồ thị 7                                                       Đồ thị 8 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 7 Đồ thị 8 (Trang 20)
Đồ thị 9: Diễn biến của GIP trên mỗi nhân công theo nhóm quốc gia - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 9: Diễn biến của GIP trên mỗi nhân công theo nhóm quốc gia (Trang 21)
Đồ thị 10 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 10 (Trang 23)
Đồ thị 11: Cộng đồng Andean và Chile: các Bộ Lao động và chi tiêu xã hội,  2000-2010* - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 11: Cộng đồng Andean và Chile: các Bộ Lao động và chi tiêu xã hội, 2000-2010* (Trang 24)
Đồ thị 12                                            Đồ thị 13 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 12 Đồ thị 13 (Trang 25)
Đồ thị 2: Số người làm nghề nông và quy mô trung bình của các trang trại * - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 2: Số người làm nghề nông và quy mô trung bình của các trang trại * (Trang 63)
Đồ thị 4: Diễn biến của lực lượng lao động phi nông nghiệp theo tình  trạng việc làm, 1969-2008 % - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
th ị 4: Diễn biến của lực lượng lao động phi nông nghiệp theo tình trạng việc làm, 1969-2008 % (Trang 67)
Sơ đồ dưới đây minh họa các dòng dịch chuyển. - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
Sơ đồ d ưới đây minh họa các dòng dịch chuyển (Trang 75)
Hình 1: Cấu trúc điều tra ENAHO 2009 và cỡ mẫu - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
Hình 1 Cấu trúc điều tra ENAHO 2009 và cỡ mẫu (Trang 90)
Hình 3: Tính không đồng nhất về năng suất của các cơ sở sản xuất cá thể  quy mô siêu nhỏ, 2009 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
Hình 3 Tính không đồng nhất về năng suất của các cơ sở sản xuất cá thể quy mô siêu nhỏ, 2009 (Trang 95)
Hình 4. Diễn biến kinh tế vĩ mô, nghèo đói, thất nghiệp và việc làm trong  khu vực phi chính thức 2002-2010 - CÓ GIỚI HẠN NÀO CHO SỰ GIA TĂNG TÌNH TRẠNG PHI CHÍNH THỨC Ở NAM MỸ ĐIỀU TRA SƠ BỘ
Hình 4. Diễn biến kinh tế vĩ mô, nghèo đói, thất nghiệp và việc làm trong khu vực phi chính thức 2002-2010 (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w