• Can thiệp bằng điều trị thuốc tẩy giun Minh Quang, tỷ lệ nhiễm giun kim giảm được tương đương với biện pháp tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim Tân Phong: 44,3% và 31,8%.Xã Tân Phong ca
Trang 1THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN KIM Ở TRẺ EM NHÀ TRẺ, MẪU GIÁO VÀ HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP CAN THIỆP Ở MỘT SỐ XÃ HUYỆN VŨ THƯ
TỈNH THÁI BÌNH
Lê Thị Tuyết*, Vũ Thị Bình Phương*
TÓM TẮT
Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em, nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 xã thuộc huyện Vũ Thư,
Thái Bình (2) Đánh giá hiệu quả của 2 biện pháp can thiệp
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang và can thiệp có đối chứng
Kết quả và kết luận: Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo 3 xã rất cao (54,7%), giữa 3 xã
(58,4% so với 53,5% và 52,3%) không có sự khác biệt trong phòng chống bệnh giun kim ở trẻ em.Tỷ lệ nhiễm giun kim của chung ở nhóm 37-72 tháng tuổi (60,5%) cao hơn nhóm 12-36 tháng tuổi (49,6%) có ý nghĩa và giữa nam với nữ không có sự khác biệt (52,6% và 55,9%).• Hai xã được can thiệp (Minh Quang và Tân Phong): tỷ lệ nhiễm giun kim đều giảm so với trước can thiệp (32,5% so với 58,4% và 36,5% so với 53,5%) và so với xã chứng (48,3%) • Can thiệp bằng điều trị thuốc tẩy giun (Minh Quang), tỷ lệ nhiễm giun kim giảm được tương đương với biện pháp tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim (Tân Phong): 44,3% và 31,8%.Xã Tân Phong (can thiệp GDSK): nhận thức đúng của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim: đường lây nhiễm, vị trí ký sinh của giun kim, về tác hại bệnh và về biện pháp phòng chống bệnh, sau can thiệp đều tăng có ý nghĩa so với trước can thiệp và so với 2 xã chứng: Minh Quang và Việt Hùng (không được tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim) Thực hành của người nuôi dạy trẻ về phòng chống bệnh giun kim tăng lên rõ so với trước can thiệp và với 2 xã chứng như không mặc quần thủng đũng cho trẻ, thường xuyên rửa tay trước khi ăn, rửa hậu môn hàng ngày cho trẻ vào buổi sáng sớm, cắt móng tay thường xuyên cho trẻ, dùng thuốc tẩy giun cho trẻ • Hai xã chứng (không được can thiệp GDSK): sau và trước khi nghiên cứu, tất cả các chỉ số trên, không có sự khác biệt
ABSTRACT
PRESENT STATUS OF ENTEROBIUS VERMICULARIS INFESTATION AND EFFECTIVENESS OF INTERVENTION FOR KINDERGARTENS AT SOME COMMUNES OF VU THU DỈSTRICT, THAI BINH
PROVINCE
Le Thi Tuyet, Vu Thi Binh Phuong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 ‟ Supplement of No 2 ‟ 2007: 31 ‟ 38
Objectives: To define prevalence rate of Enterobius vermicularis infection in children in kindergartens
and preschool children in 3 communes in Vu Thu district, Thai Binh province To assess the effect of 2 interventional measures
Methods: Cross- sectional and intervention control studies
Results and conclusions: Prevalence of Enterobius vermicularis infection among pre-school children
were hight at 3 communes (54.7%), and not satistically significant comparison between them each other (58.4% comparison with 53.5% and 52.3%) Prevalence of Enterobius vermicularis infection group 37-72 months was higher satistically significant group 12-36 months (60.5% comparison with 49.6%), and in female with male pre-school children were equivalent: 52.6% and 55.9% Minh Quang and Tan Phong (2 communes with intervention): prevalence of Enterobius vermicularis infection has reduced satistically significant after comparison with before intervention (32.5% comparison with 58.4% and 36.5%
*Bộ môn ký sinh-Đại học Y Thái Bình
Trang 2comparison with 53.5%) and control commune – Viet Hung (48.3%).• Minh Quang commune (intervention by chemotherapy), prevalence rate of Enterobius vermicularis infection has reduced equivalent Tan Phong commune (intervention hygiene of habitat and healthy education) : 44.3% and 31.8%.• Tan Phong commune (intervention hygiene of habitat and healthy education): the right knowledges of children ’ s parents and teachers about enterobiasis has increased satistically significant comparison before intervention and 2 control communes (Minh Quang and Viet Hung): intrusional ways, threaworm ’ s place in human, harms of enterobiasis, and prevented ways The right practices of children ’ s parent and teachers about enterobiasis has increased satistically significant comparison before intervention and 2 control communes: didn ‘ t wear seat opened trousers for children, always cleanse them hands before eating, cleanse anal everyday in the early morning, always cut children ’ nails, helminthic for children Minh Quang, Viet Hung communes (no intervention hygiene of habitat and healthy education): there is no remarkable change all above indexes after comparison with before research
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh giun kim là một bệnh khá phổ biến ở
hầu hết các nước trên thế giới, nhất là những nước
nhiệt đới và cận nhiệt đới Theo ước tính, trên thế
giới có khoảng 1 tỷ người nhiễm giun kim, nhưng
tập trung chủ yếu vào lứa tuổi học đường, sống ở
trong các tập thể có điều kiện sinh hoạt thấp kém
như: quá đông đúc, môi trường ô nhiễm, thiếu
nước sạch trong sinh hoạt
Việt Nam chúng ta, bệnh lại càng phổ biến
hơn vì: không những mang đầy đủ nét đặc trưng
của khí hậu nhiệt đới, mà còn có những thói quen
trong ăn uống sinh hoạt chưa khoa học và nền
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp: tỷ lệ nhiễm giun
kim khá cao từ 18 - 47% Bệnh giun kim gặp ở
hầu hết các lứa tuổi, nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất
là trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo [2,4,5,7,8]
Tỷ lệ mắc bệnh giun kim, không những phụ
thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu, mà nó còn
phụ thuộc chủ yếu vào tình hình vệ sinh cá nhân
về phòng chống bệnh Bệnh giun kim rất dễ tái
nhiễm, nếu như vệ sinh không tốt
Ngược lại, nếu biết cách phòng, thì không cần
dùng thuốc tẩy giun, bệnh cũng có thể hết
Giun kim chiếm một lượng thức ăn không đáng
kể, nhưng gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của
trẻ nhỏ bằng cách kích thích, rối loạn tiêu hoá, rối loạn
thần kinh như làm trẻ ngủ không ngon giấc, hay bị mê
hoảng, nghiến răng khi ngủ, có thể bị đái dầm , nếu
tình trạng bị nhiễm nặng sẽ làm cho trẻ suy dinh
dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển về thể lực và trí
tuệ của trẻ
Để tăng cường ý thức vệ sinh của các bà mẹ, các cô nuôi dạy trẻ hàng ngày đối với con, em và gia đình của họ, đặc biệt là để làm giảm gánh nặng về bệnh giun kim cho trẻ em tại cộng đồng, mà ít tốn kém về kinh tế, chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu:
- Xác định thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ
em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 xã huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp trong phòng chống bệnh giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 2 xã nghiên cứu
ĐỐI TUỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu
Các trường mầm non của 3 xã Tân Phong, Minh Quang và Việt Hùng huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
- Xã Tân Phong: nhận biện pháp can thiệp điều trị thuốc tẩy giun kim
- Xã Minh Quang: nhận biện pháp can thiệp tuyên truyền giáo dục sức khoẻ (GDSK) về bệnh giun kim
- Xã Việt Hùng: xã chứng, không can thiệp bất cứ biện pháp gì
Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo tại 3 trường mầmnon của 3 xã nghiên cứu
- Cha/ mẹ và cô nuôi dạy các cháu trên
Trang 3Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2005 đến tháng 7/2006
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả điều tra cắt ngang
- Nghiên cứu can thiệp: có đối chứng và tự chứng
Chọn mẫu và cỡ mẫu
Chọn mẫu
- Chọn xã nghiên cứu
Chủ động chọn 3 xã Tân Phong (TP), Minh
Quang(MQ) và Việt Hùng(VH) huyện Vũ Thư
tỉnh Thái Bình Ba xã này có các điều kiện kinh
tế, văn hoá, vệ sinh môi trường , tương tự nhau
và những xã này đều có các nhà trẻ, mẫu giáo
- Chọn nhà trẻ, mẫu giáo
Chủ động chọn các nhà trẻ, mẫu giáo của 3 xã
trên:
+ Nếu xã nào có số các cháu đang học ở các
nhà trẻ, mẫu giáo tương đương với cỡ mẫu nghiên
cứu thì chọn hết các nhà trẻ, mẫu giáo đó
+ Nếu xã nào có số các cháu đang học ở các
nhà trẻ, mẫu giáo lớn hơn nhiều so với cỡ mẫu, thì
chọn ngẫu nhiên ít nhất 2/3 số nhà trẻ cho phù
hợp với cỡ mẫu
- Chọn đối tượng nghiên cứu
Tại các nhà trẻ, mẫu giáo đã được chọn, chọn
toàn bộ các cháu đang học tại đó
4 2.2 Cỡ mẫu
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu thực trạng nhiễm
giun kim
Cỡ mẫu nghiên cứu áp dụng công thức tính cỡ
mẫu nghiên cứu mô tả
p.q n= Z 2
1- \2 x -
d 2
n = cỡ mẫu nghiên cứu
Z 1- \2 độ tin cậy mong muốn 1,96
p=0,5 (tỷ lệ trẻ bị nhiễm giun kim), q=1-p =0,5
d= sai số mong muốn theo p (d= 0,05)
Thay vào công thức ta có cỡ mẫu 384, vậy
mỗi xã có 384 trẻ được lấy vào nghiên cứu để xét
nghiệm tìm trứng giun kim
- Cỡ mẫu can thiệp về điều trị Điều trị cho toàn bộ các cháu tại các nhà trẻ
và mẫu giáo đã được lấy vào danh sách nghiên
cứu của xã Minh Quang:
- Cỡ mẫu can thiệp GDSK về phòng chống bệnh giun kim
Chính là cha/mẹ các trẻ và cô giáo dạy ở các
nhà trẻ và mẫu giáo đó
Phương pháp thu thập thông tin
Xác định thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo
Tất cả trẻ em được chọn vào danh sách nghiên cứu, được xét nghiệm bệnh phẩm ở hậu môn để tìm trứng giun kim, theo phương pháp dùng tăm bông của Đặng Văn Ngữ
Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp
Bước 1: Tiến hành các biện pháp can thiệp
- Can thiệp tuyên truyền Giáo dục sức khoẻ (GDSK) về bệnh giun kim
Tuyên truyền liên tục trong thời gian 6 tháng cho cha/ mẹ, cô giáo nuôi dạy các cháu và các cháu đã được lấy vào danh sách nghiên cứu ở xã Tân Phong về bệnh giun kim như đường lây truyền, tác hại và cách phòng chống bệnh, đặc biệt nhấn mạnh về điều trị là phòng bệnh, không cần dùng thuốc, đỡ tốn kém cho cộng đồng về
mặt kinh tế cụ thể:
„ Tăng cường vệ sinh tại gia đình như: nhà cửa, chăn, chiếu
„ Tăng cường vệ sinh lớp học: lau nhà, lau bàn ghế, rửa đồ chơi
„ Tăng cường vệ sinh cho các cháu: rửa hậu môn vào sáng sớm, không mặc quần hở đũng, rửa tay trước và sau khi ăn, cắt móng tay thường xuyên cho trẻ
- Can thiệp bằng dùng thuốc điều trị giun kim Điều trị cho toàn bộ các cháu tại các nhà trẻ
và mẫu giáo đã được lấy vào danh sách nghiên
cứu của xã Minh Quang: 4 tháng uống 1 lần x 2
lần
Cho uống Mebendazole (Fugacar) 1 viên 500mg liều duy nhất, tại lớp dưới sự hướng dẫn
Trang 4của cán bộ nghiên cứu, cô giáo chủ nhiệm Theo
dõi tác dụng phụ của thuốc trong 3 ngày đầu
Bước 2: Giám sát và đánh giá
- Đánh giá tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em
nhà trẻ, mẫu giáo trước, sau nghiên cứu ở 3 xã,
giữa xã can thiệp với xã chứng, giữa 2 xã can
thiệp với nhau dựa vào kết quả xét nghiệm tìm
trứng giun kim ở hậu môn trẻ
- Đánh giá nhận thức, thực hành của các
cha/mẹ và cô nuôi dạy trẻ trước và sau nghiên
cứu ở 3 xã và xã can thiệp với xã chứng: dựa vào
kết quả phiếu điều tra để so sánh tỷ lệ đúng, sai
về nhận thức, thực hành qua phỏng vấn trực tiếp
người nuôi/dạy trẻ những câu hỏi đơn giản dễ
hiểu về bệnh giun kim như nguyên nhân gây
bệnh, tác hại, cách phòng chống đã được thiết
kế từ trước
C ác chỉ số cần nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm giun kim trước, sau can thiệp
- Tỷ lệ nhận thức/thực hành đúng về bệnh
giun kim
- Hiệu quả của can thiệp:
+ Chỉ số hiệu quả can thiệp về tỷ lệ nhiễm
giun kim
+ Chỉ số hiệu quả can thiệp nhận thức, thực
hành đúng về bệnh giun kim
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê
dùng trong y sinh học và chương trình phần mềm
EPI-IFO 6.04 tại bộ môn Ký sinh trùng trường Đại
học Y Thái Bình
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà
trẻ, mẫu giáo tại 3 xã NC
Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm giun kim chung và theo giới ở
trẻ em 3 xã nghiên cứu
Giới MQ (n=387)
TP (n=385)
VH (n=390)
Chung (n=1162) p
Nam 114/199 57,3 102/199 51,3 102/206 49,5 318/604 52,6 >0,05
Nữ 112/18 59,6 104/1855,9 96/184 52,2 312/55 55,9 >0,0
Chung 226 58,4 206 53,5 204 52,3 636 54,7 >0,05
Qua kết quả bảng 1 cho thấy:
- Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo 3 xã rất cao: 54,7% và giữa 3 xã, không có sự khác biệt với p >0,05 (58,4% so với 53,5% và 52,3%)
So với nghiên cứu của Phạm Thị Hiển [5] ở trẻ
em trường mầm non Đại học Y Thái Nguyên, tỷ lệ nhiễm giun kim 45,6%, của Lê Bách Quang, Trịnh Trọng Phụng [3], tỷ lệ nhiễm giun kim ở nhà trẻ tại một xã nông nghiệp thuộc tỉnh Hà Tây 46,7% ,thì các kết quả trên, thấp hơn trong kết quả của chúng tôi
So với nghiên cứu của Thân Trọng Quang [6],
ở một số nhà trẻ và trường mẫu giáo của TP Buôn Ma Thuột Đăklăk, tỷ lệ nhiễm giun kim 80,24%, của Kim JS, Yoon CH, et al năm 1997 [1], tại 2 trường mầm non ở Inchon - Hàn Quốc, tỷ lệ nhiễm giun kim là 68%, thì các kết quả trên cao hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi
- Tỷ lệ nhiễm giun kim giữa nam với nữ của chung 3 xã (52,6% và 55,9%) và giữa các xã với nhau, không có sự khác biệt, p>0,05
Điều này cũng phù hợp với tác giả Lại Quang Sáng [3], tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em nam tương đương nữ (33,3% so với 37,0%)
Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm giun kim theo nhóm tuổi ở trẻ
em 3 xã nghiên cứu
Xã NC < 12 tháng
tuổi
12- 36 tháng tuổi
37-72 tháng tuổi
p
N (+) % N (+) % N (+) %
M
Quang
0 0 - 171 89 52,0 216 137 63,4 <0,05
T Phong 1 0 0,0 159 75 47,2 226 131 58,0 <0,05
V Hùng 24 6 25,0 152 75 49,3 214 129 60,3 <0,05 Chung 25 6 24,0 482 239 49,6 656 397 60,5 <0,05
Qua kết quả bảng 2 cho thấy:
- Trẻ em < 12 tháng tuổi hầu như chưa gửi nhà trẻ, chỉ có xã Việt Hùng gửi số lượng trẻ rất ít
Trang 5và tỷ lệ nhiễm giun kim thấp, nên chúng tôi
không so sánh
- Tỷ lệ nhiễm giun kim của chung 3 xã, ở các
nhóm 37-72 tháng tuổi (60,5%) cao hơn nhóm
12-36 tháng tuổi (49,6%) và trong từng xã, sự khác
biệt có ý nghĩa, p< 0,05
Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của
Vũ Văn Thái [8], tỷ lệ nhiễm giun kim ở nhóm tuổi
12-36 tháng và nhóm 37-72 tháng là 29,0%;
37,5% và Phạm Thị Hiển [6], nhóm 1-3 tuổi là
30,6%, 4-6 tuổi là 48,8%
Hiệu quả của các biện pháp can thiệp
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm, giảm nhiễm giun kim trước
và sau can thiệp
Xã
nghiên
cứu (NC)
Trước can
thiệp(CT) Sau can thiệp(CT) % giảm
nhiễ
m
p MẫuN
C
Số(+
Mẫu
NC Số (+) %
M
Quang
(1)
387 226 58,4 382 124 32,5 44,3 <0,05
T Phong
(2)
385 206 53,5 375 137 36,5 31,8 <0,05
V Hùng
(3)
390 204 52,3 385 186 48,3 7,6 >0,05
(2,,3) <0,05
p (1,3) < 0,05
Qua kết quả bảng 3 cho thấy:
Hai xã được can thiệp: tỷ lệ nhiễm giun kim ở
trẻ sau can thiệp đều thấp hơn so với trước can
thiệp: Minh Quang (32,5% so với 53,5% ), Tân
Phong (36,5% so với 58,4%) và so với xã Việt
Hùng (xã chứng: 48,3%), sự khác biệt có ý nghĩa,
p<0,05
Xã Minh Quang (can thiêp điều trị), tỷ lệ
nhiễm giun kim ở trẻ thấp hơn ở xã Tân Phong
(can thiêp GDSK): 32,5% so với 36,5%, nhưng sự
khác biệt chưa có ý nghĩa, p>0,05
Như vậy, dù chỉ can thiệp đơn thuần bằng
tuyên truyền GDSK (Tân Phong) hoặc chỉ điều trị
đơn thuần (Minh Quang), thì tỷ lệ nhiễm giun
giảm tương đương nhau, tuy nhiên phần trăm
giảm được do điều trị cao hơn (44,3% và 31,8%)
Điều này phù hợp với lý thuyết trong y văn nói về giun kim “phòng bệnh chính là điều trị”
So với nghiên cứu của Phạm Thị Hiển [6], sau khi điều trị và vệ sinh lớp học cho trẻ em trường mầm non Đại học Y Thái Nguyên, phần trăm giảm nhiễm được 77,6%, của Kim BJ.[2], tại hàn Quốc, sau điều trị phần trăm giảm được 83,8 và 67,7%, thì đều cao hơn trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi(44,3% và 31,8%), có thể do tác giả kết hợp cả 2 biện pháp hoặc tiến hành diều trị thường xuyên trong thời gian dài
Bảng 4: Tỷ lệ người nuôi dạy trẻ nghe nói về giun
kim trước và sau nghiên cứu
Xã NC
quả
CT (%)
p Mẫu
NC
Số đúng %
Mẫu
NC
Số đúng %
M
>0,0
5 Tân
100,
>0,0
5 Việt
>0,0
5
Qua kết quả bảng 4 cho thấy: Tỷ lệ người nuôi dạy trẻ được nghe nói về giun kim của cả 3 xã, sau can thiệp đều tăng lên so với trước can thiệp (90,6%; 98,8% và 95,8% so với 91,5%; 100% và 98,7%), tuy nhiên sự khác biệt, không có
ý nghĩa thống kê, p>0,05
Thực ra số nghe nói về giun kim ở các xã trước can thiệp hầu như đã gần là tuyệt đối rồi, nên tăng lên một vài người không có ý nghĩa gì
So với nghiên cứu của Nông Thanh Sơn [5], sự hiểu biết về giun kim của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại tỉnh Thái Nguyên, sau so với trước can thiệp cũng không có sự thay đổi (57,6% và 51,8%), thì tương đương như trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi
Bảng 5: Tỷ lệ nhận thức đúng về bệnh giun kim
trước và sau nghiên cứu
Xã
NC Thời gian NC
1 Đường lây truyền
2 Vị trí ký sinh
3 Tác hại
4 Biện pháp phòng
Trang 6MQ
Trước CT (N=368)
(1) 272 73,9 160 43,5 298 81,0 257 69,8
Sau CT (N=367)
(2) 285 77,7 161 43,9 308 83,9 268 73,0
p >0,05 >0,05 >0,05 >0,05
T P
Trước
CT(N=395) (3) 262 66,3 201 50,9 312 79,0 279 70,6
Sau CT (N=
390)(4) 366 93,8 345 88,5 372 95,4 374 95,9
<0,05 <0,05 <0,05 <0,05
VH
Trước
NC(N=384)(5) 257 66,9 180 46,9 308 80,2 241 62,8
Sau NC (N=391)
(6) 277 70,8 201 51,4 324 82,9 264 67,5
>0,05 >0,05 >0,05 >0,05
p
p (1,3,5)
>0,05
p (2, 6)
>0,05
p (4, 2 or 6)
<0,05
p (1,3,5)
>0,05
p (2, 6)
>0,05
p (4, 2 or 6)
<0,05
p (1,3,5)
>0,05
p (2, 6)
>0,05
p (4, 2 or 6)
<0,05
p (1,3,5)
>0,05
p (2, 6)
>0,05
p (4, 2 or 6)
<0,05
1 Một trong các đường sau: ăn, uống và tự nhiễm
2.Một trong các vị trí: manh tràng, đại tràng
3 Một trong các tác hại: ngứa hậu môn, rối loạn tiêu
hoá, ngủ hay giật mình,
4 Đúng một trong các biện pháp: vệ sinh cá nhân (rửa
hậu môn vào buổi sáng, cắt móng tay .); vệ sinh môi
trường (giặt quần áo, lau nhà ); tẩy giun định kỳ
Qua kết quả bảng 6 cho thấy:
- Trước can thiệp
Nhận thức đúng của người nuôi dạy trẻ của 3
xã về bệnh giun kim đều tương đối cao và giữa
các xã không có sự khác biệt, p>0,05
So với nghiên cứu của Vũ Văn Thái [9], nhận
thức đúng của người chăm sóc trẻ tại tại trường
mầm non Sao Sáng - Hải Phòng về: đường lây
nhiễm giun kim là là 71,1%, tương đương, về tác
hại bệnh giun kim là 23,04%, thì thấp hơn, về
phòng chống bệnh giun kim là 80,4%, thì cao hơn,
so với kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi
- Sau can thiệp
Xã Tân Phong (can thiệp GDSK), tỷ lệ nhận
thức đúng của người nuôi dạy trẻ, về bệnh giun
kim, sau can thiệp tăng lên so với trước và so với
2 xã không được can thiệp, như: đường lây nhiễm
giun kim là 93,8% so với 66,3%; 77,7% và 70,8%;
vị trí ký sinh là 88,5% so với 50,9%; 43,9% và
51,4%, tác hại bệnh giun kim là 95,4% so với 79,0%; 83,9% và 82,9%, biện pháp phòng chống là 95,9% so với 70,6%; 73,0% và 67,5%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05
Hai xã: Minh Quang và Việt Hùng (không được can thiệp GDSK): tỷ lệ nhận thức đúng về bệnh giun kim, của người nuôi dạy trẻ trước, sau nghiên cứu và giữa 2 xã đều không sự khác biệt, p>0,05
So với nghiên cứu của Nông Thanh Sơn [5], sự hiểu biết đúng về cách phòng bệnh giun kim của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, tại Thái Nguyên sau so với trước can thiệp (88,7% và 85,3%), thì kết quả ở xã can thiệp của chúng tôi tăng rõ (95,9% so với 70,6%)
Bảng 6: Thực hành đúng về bệnh giun kim trước và
sau nghiên cứu
Xã
NC
Thời gian
NC
n % n % n % n % n %
MQ
Trước CT (n=368) 276 75,0 154 41,8 90 24,5 210 57,1 99 26,9 Sau CT
(n = 367) 286 77,9 169 46,0 107 29,2 214 58,3 342 93,2
p > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05 < 0,05
T P
Trước CT (n=395) 273 69,1 146 37,0 117 29,6 206 52,2 97 24,6 Sau CT
(n= 390) 375 96,2 285 73,1 283 72,6 265 67,9 202 51,8
p < 0,05 < 0,05 < 0,05 < 0,05 < 0,05
VH
TrướcNC (n=384) 272 70,8 134 34,9 103 26,8 192 50,0 114 29,7 Sau NC
(n=391) 293 74,9 155 39,6 111 28,4 203 51,9 134 34,3
p > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05
1 Không mặc quần thủng đũng cho trẻ;
2 Rửa tay trước khi ăn cho trẻ
3 Rửa hậu môn thường xuyên vào sáng sớm cho trẻ;
4 Cắt móng tay thường xuyên cho trẻ
5 Tẩy giun cho trẻ trong vòng 6 tháng qua Kết quả bảng 6 cho thấy:
- Trước can thiệp
Thực hành đúng của người nuôi dạy trẻ 3 xã về bệnh giun kim đối với trẻ đều thấp và giữa 3
xã không có sự khác biệt, p> 0,05
Trang 7So với nghiên cứu của Trương Thị Kim
Phượng[8], tỷ lệ người dân dùng thuốc tẩy giun tại
một số xã thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội là
32,2%, thì cũng tương đương với kết quả trong
nghiên cứu của chúng tôi
- Sau can thiệp
„ Xã Tân Phong (can thiệp GDSK): thực hành
đúng của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim cho
trẻ tăng lên so với trước can thiệp và so với xã
chứng, như: không mặc quần thủng đũng 96,2% so
với 69,1% và 74,9%; rửa tay trước khi ăn 73,1% so
với 37,0% và 39,6%; rửa hậu môn thường xuyên vào
sáng sớm 72,6% so với 29,6% và 28,4%; cắt móng
tay thường xuyên 67,9% so với 52,2% và 51,9%
Những sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05
Riêng thực hành tẩy giun cho trẻ trong vòng 6
tháng qua ở cả xã MQ và TP đều tăng so với trước
can thiệp (93,2% so với 26,9% và 51,8% so với
24,6%) và so với xã chứng (93,2% và 51,8% so với
34,3%) Nguyên nhân là xã MQ trẻ được uống thuốc
giun do chúng tôi phát, còn TP là do tuyên truyền
GDSK về bệnh giun kim trực tiếp đến đối tượng, nên
nhận thức của người dân về bệnh giun kim tăng lên,
vì vậy họ tự đi mua thuốc về điều trị cho con của họ,
nhất là sau khi có kết quả xét nghiệm
„ Hai xã (không can thiệp GDSK): MQ và
VH, thực hành đúng về bệnh giun kim của người
nuôi dạy trẻ trước, sau nghiên cứu và giữa 2 xã
không có sự khác biệt, p>0,05
KẾT LUẬN
Thực trạng nhiễm giun kim ở trẻ em nhà
trẻ, mẫu giáo tại các xã nghiên cứu
- Tỷ lệ nhiễm giun kim ở trẻ em nhà trẻ, mẫu
giáo 3 xã rất cao (54,7%), giữa 3 xã (58,4% so với
53,5% và 52,3%) không có sự khác biệt
- Tỷ lệ nhiễm giun kim của chung 3 xã và của
từng xã: ở nhóm 37-72 tháng tuổi (60,5%) cao hơn
nhóm 12-36 tháng tuổi (49,6%) có ý nghĩa và giữa
nam với nữ (52,6% và 55,9%) không có sự khác biệt
Hiệu quả của một số biện pháp can thiệp
Hiệu quả đối với tình trạng nhiễm giun kim ở
trẻ em nhà trẻ, mẫu giáo
„ Hai xã được can thiệp: Minh Quang và Tân Phong, tỷ lệ nhiễm giun kim của trẻ em, đều giảm
so với trước khi can thiệp (32,5% so với 58,4% và 36,5% so với 53,5%) và so với xã chứng - Việt Hùng (48,3%)
„ Can thiệp bằng điều trị thuốc tẩy giun (Minh Quang), tỷ lệ nhiễm giun kim giảm được tương đương với biện pháp tuyên truyền GDSK (Tân Phong): 44,3% và 31,8%
- Hiệu quả đối với nhận thức, thực hành của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim
„ Xã Tân Phong (can thiệp GDSK): nhận thức đúng của người nuôi dạy trẻ về bệnh giun kim: đường lây nhiễm, vị trí ký sinh của giun kim, về tác hại bệnh và về biện pháp phòng chống bệnh, sau can thiệp đều tăng có ý nghĩa so với trước can thiệp và so với 2 xã chứng: Minh Quang và Việt Hùng (không được tuyên truyền GDSK về bệnh giun kim)
Thực hành của người nuôi dạy trẻ về phòng chống bệnh giun kim tăng lên rõ so với trước can thiệp và với 2 xã chứng như không mặc quần thủng đũng cho trẻ, thường xuyên rửa tay trước khi ăn, rửa hậu môn hàng ngày cho trẻ vào buổi sáng sớm, cắt móng tay thường xuyên cho trẻ, dùng thuốc tẩy giun cho trẻ
„ Hai xã chứng (không được can thiệp GDSK): sau và trước khi nghiên cứu, tất cả các chỉ số trên, không có sự khác biệt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Enterobius vermicularis and Clonorchis sinensis of primary school children in Hamyang-gun, Gyeongsangnam-do (province), Korea)” Korean J Parasitol, 39: 323-325
trẻ em lứa tuổi nhà trẻ- mẫu giáo tại trường mầm non số 2 Thành Phố Nam Định và hiệu quả của Mebendazol” Tạp chí
y học thực hành Hội nghị KH chuyên ngành ký sinh trùng toàn quốc lần thứ 31, Quy Nhơn, số 477/2004 Bộ y tế xuất bản tr 93-95
3 Lê Bách Quang, Trịnh Trọng Phụng (1991), “Áp dụng phương pháp điều trị trọn lọc phòng chống bệnh giun sán truyền qua đất theo mô hình tổ chức y tế và nhân dân cùng làm”, Chương trình hội thảo quốc gia lần thứ 3 về dịch tễ và phòng chống các bệnh giun sán chủ yếu ở Việt Nam, Hà Nội 9/10-14/101991, tr 5
nhận thức, thái độ, thực hành của người dân về bệnh giun sán và VSMT tại xã nam Hoà- huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên” Nội san KHCN Y Dược, Số 1 chuyên đề Ký sinh
Trang 8trùng, Chào mừng hội nghị KST toàn quốc lần thứ 27, Thái
Nguyên 4 - 2000, tr 74- 86
trên trẻ em và ở ngoại cảnh tại 3 trường mầm non ở Thái
Nguyên, bước đầu áp dụng các biện pháp can thiệp và đánh
giá kết quả” Tuyển tập công trình NCKH chuyên đềKST, Đại
học Y Hà Nội, Tập 1, tr 11-15
số nhà trẻ và trường mẫu giáo của TP.Buôn Ma Thuột”,
YHTH, Năm 1997, số 10, tập 340-341, tr 8-10
giun đường ruột và kiến thức - thái độ - thực hành của người dân về bệnh giun đường ruột tại một số xã thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội” Nội san KHCN Y Dược, Số 1 chuyên đề Ký sinh trùng, Chào mừng hội nghị KST toàn quốc lần thứ 27, Thái Nguyên 4 - 2000, tr.94-106
trẻ em 1-6 tuổi tại trường mầm non Hải Phòng” Luận án Thạc sĩ Y học 2004 Đại học Y Hà Nội