1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của bãi rác kiêu kị (huyện gia lâm) đến chất lượng nước dưới đất phục vụ cho mục đích sinh hoạt tại khu vực xung quanh bãi rác

31 810 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá ảnh hưởng của bãi rác kiêu kị (huyện gia lâm) đến chất lượng nước dưới đất phục vụ cho mục đích sinh hoạt tại khu vực xung quanh bãi rác

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thếgiới quan tâm Nằm trong khung cảnh chung của thế giới, đặc biệt là khuvực Châu Á – Thái Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấpcục bộ, có nơi bị huỷ hoại nghiêm trọng gây nên nguy cơ mất cân bằngsinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượngcuộc sống và sự phát triển bền vững của đất nước

Ở nước ta những năm gần đây,cùng với sự phát triển mạnh mẽ củacác ngành kinh tế và quá trình đô thị hóa thì tình trạng ô nhiễm môitrường cũng ngày càng trở nên trầm trọng, đặc biệt là tại các đô thị lớn

Số liệu thống kê mới đây của các cơ quan môi trường cho thấy: thành phố

Hà Nội mỗi ngày thải ra khoảng 1.368 tấn rác sinh hoạt, thành phố HồChí Minh thải ra khoảng 3.752 tấn Với tốc độ tăng dân số như hiện nay

dự kiến đến năm 2020, tổng lượng rác thải mà 3 thành phố Hà Nội, HồChí Minh, Đà Nẵng sẽ thải ra là vào khoảng 3.318.823 tấn/năm Và hiệntượng rác thải bị ứ đọng ở một số thành phố và các địa phương khác đãtrở thành vấn đề báo động Hầu như tất cả các bãi rác của thành phố củanước ta đều trong tình trạng quá tải Với các nước công nghiệp phát triểnnhư Nhật, Mỹ, Đức, Hà Lan việc xử lý rác chủ yếu sử dụng phươngpháp thiêu huỷ bằng công nghệ cao, hoặc đem đi chôn lấp Trong khi đó,nước ta vẫn phổ biến cách chôn lấp lộ thiên không đạt tiêu chuẩn vệ sinh.Cách làm này không những không giải quyết được lượng rác tồn đọng,

mà còn gây ảnh hưởng xấu tới môi trường như ô nhiễm nguồn nước(nướcmặt và nước ngầm), ô nhiễm đất và bầu không khí xung quanh khu vực

Trang 2

Hiện nay, tình trạng suy giảm chất lượng nước dưới đất tại nhữngnơi chôn lấp rác thải đã trở nên khá phổ biến như bãi rác Nam Sơn, bãirác Đông Thạnh Nguyên nhân chủ yếu là do đa số các bãi rác chưa đápứng được các tiêu chuẩn chính của một bãi chôn lấp hợp vệ sinh như tiêuchuẩn về địa điểm, địa hình địa chất, thuỷ văn, thiết kế bãi chôn lấp, lớplót chống thấm, hệ thống đê kè, hệ thống thu gom nước rác và khí gas.

Trong khi đó, khi mà sự phát triển kinh tế và đô thị hóa càng cao,các thành phố lớn, thị xã, thị trấn mới được mọc lên, hàng loạt khu dân

cư, khu chế xuất đi vào hoạt động càng nhiều thì tất yếu sẽ kéo theo yêucầu về cấp nước nói chung và yêu cầu khai thác sử dụng nước dưới đất làrất lớn và rất cần thiết đặc biệt ở những khu vực khan hiếm nước mặt

Như vậy là nhu cầu sử dụng nước dưới đất cho các hoạt động kinh

tế cũng như sinh hoạt của người dân là rất lớn, và có xu hướng ngày cànggia tăng Trong khi đó, tình trạng suy thoái chất lượng và số lượng nướcdưới đất đã diễn ra ở nhiều khu vực, đặc biệt là xung quanh các bãi chônlấp rác thải không hợp vệ sinh

Bãi rác Kiêu Kị là nơi chứa đựng rác thải của huyện Gia Lâm vàmột phần của Quận Long Biên với diện tích giai đoạn 1 là 6,1ha, đi vàohoạt động tháng 9/1999; công suất xử lý là 150 tấn rác thải sinh hoạt và

10 tấn bùn cống/ ngày Hiện nay bãi rác đã ngừng hoạt động và đang tiếptục triển khai giai đoạn 2 cũng với diện tích khoảng 6 ha bao gồm cả lòđốt rác Ở đây vấn đề xử lý rác mặc dù đã có sự quan tâm xong chỉ lànhững công nghệ xử lý đơn giản như phân loại sơ bộ và chôn lấp lộ thiênhiệu quả thấp và chưa có công nghệ xử lý nước rác Do đó, việc ảnhhưởng từ bãi rác tới chất lượng nước dưới đất các khu vực xung quanh là

Trang 3

không thể tránh khỏi Trong khi đó, theo điều tra thì ở khu vực này 100%dân cư sử dụng nguồn nước là nước dưới đất từ các giếng khoan và bướcđầu xuất hiện những dấu hiệu tác động có hại đến sức khoẻ cộng đồng.Tuy nhiên cho tới nay lại chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về ảnhhưởng của bãi rác này tới chất lượng nước dưới đất , để từ đó có thể đưa

ra biện pháp cảnh báo cho người dân và giải pháp nâng cao chất lượngnước ngầm khu vực xung quanh bãi rác

Chính vì vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của bãi rác Kiêu Kị (Huyện Gia Lâm) đến chất lượng nước dưới đất phục vụ cho mục đích sinh hoạt tại khu vực xung quanh bãi rác”.

2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu.

2.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu các nguồn có khả năng gây ô nhiễm từ hoạt động chônlấp rác thải của bãi rác Kiêu Kị tới chất lượng nước dưới đất và sức khỏengười dân khu vực xung quanh

Đánh giá chất lượng nước ngầm khu vực xung quanh bãi rác Kiêu

Kị để đưa ra các biện pháp cảnh báo

2.2 Yêu cầu

Xác định các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động chôn lấp rác thải tớichất lượng nước dưới đất và áp lực của chúng tới sức khoẻ người dân khuvực xung quanh bãi rác Kiêu Kị thông qua một hoặc một số thông số đặctrưng cho sự ảnh hưởng từ bãi rác

Trang 4

Đánh giá được chất lượng nước ngầm khu vực xung quanh bãi rácKiêu Kị thông qua một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nướcngầm(pH, EC, Eh, Fe, Mn,COD, NO3, NH4, SO4, PO4), sử dụng TCVN5944-1995 và tiêu chuẩn mới để đánh giá.

Đưa ra các biện pháp cảnh báo và giải pháp nâng cao chất lượngnước ngầm khu vực nghiên cứu

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊU CỨU.

1.1 Tình hình khai thác và sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam.

1.1.1 Khái niệm về nước dưới đất

Nước dưới đất (nước ngầm) là nước tồn tại trong các tầng chứa

nước dưới mặt đất Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nướcngọt, trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định Nước dưới đất đượctàng trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá

Hình 2: Các tầng chứa nước dưới đất

a) Tầng chứa nước:

Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát, sạn, sỏi), khe hở, nứt nẻ, có tính thấm nước, dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu của mình gọi là các tầng chứa nước

b) Tầng cách nước:

Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét, bột sét), có hệ số thấm nhỏ, khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu, khả năng khai thác nước trong tầng này thấp

Trang 6

1.1.2 Trữ lượng nước dưới đất ở Việt Nam

Nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về nước phục vụ phát triển kinh

tế - xã hội, trong vòng 30 năm qua, các liên đoàn Địa chất thuỷ văn vàĐịa chất công trình thuộc Cục địa chất Việt Nam, các xí nghiệp chuyênngành Địa chất thuỷ văn thuộc Bộ xây dựng, Bộ NN và PTNT, Bộ quốcphòng… đã tiến hành tìm kiếm thăm dò đánh giá trữ lượng nước trên 100

mỏ khác nhau Tổng trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và xétduyệt đến cuối năm 1998 là 139 mỏ với diện tích 33.531km2

Tổng trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và phê duyệt trữlượng ở các cấp có thẩm quyền là 14.574.446 m3/ngày, được phân bố theolãnh thổ như sau:

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh: 5.058.915 m3/ngày

Trữ lượng khai thác tiềm năng của vùng gồm Trữ lượng động tựnhiên, Trữ lượng tĩnh đàn hồi, một phần Trữ lượng tĩnh trọng lực, trữlượng cuốn theo

Trang 7

Trữ lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước khu vực thànhphố Hà Nội (Đơn vị tính: 1000 m3/ ngày.)

Qh: Tầng chứa nước Holocen

Qp: Tầng chứa nước Pleitocen

Theo kết quả nghiên cứu bước đầu của Liên đoàn Địa chất thuỷvăn - Địa chất công trình miền Nam, tiềm năng nước dưới đất khu vựcNam Bộ không phải là vô hạn, khả năng tái tạo rất hạn chế như khu vựcnam TP Hồ Chí Minh, thị xã Sóc Trăng, TP Cà Mau, thị xã Bạc Liêu

Trữ lượng tiềm năng nước dưới đất Đồng bằng Nam bộ ( 1000

Trang 8

Trữ lượng khai thác nước dưới đất cấp A,B,C1 đã được phê duyệt.(m3/ ngày).

tính:1000m3/ngày)

1.2 Tình hình khai thác nước dưới đất ở Việt Nam

Ở Việt Nam đã từ lâu yêu cầu khai thác sử dụng nước ngầm đã rấtlớn đặc biệt sử dụng nước ngầm vào mục đích sinh hoạt và chăn nuôi

Trang 9

Ngoài mục đích khai thác nước ngầm cho sinh hoạt, nước ngầm còn đượckhai thác phục vụ cho công nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi và các ngànhkinh tế khác.

Từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bắt đầu khai thác nước ngầm để phục

vụ sinh hoạt và công nghiệp ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng,

TP Hồ Chí Minh… Ở nông thôn, các hộ gia đình từ lâu đã sử dụng giếngkhoan, giếng đào để khai thác nước ngầm dùng cho sinh hoạt

Những năm gần đây, ở nước ta tốc độ phát triển kinh tế xã hội và

đô thị hoá rất cao, hàng loạt các thành phố lớn, thị xã, thị trấn mới đượcmọc lên, hàng loạt khu dân cư, khu chế xuất đã hình thành và đi vào hoạtđộng, các vùng kinh tế mới ở miền núi phía Bắc, cao nguyên và ven biểnđược thiết lập Diện tích trồng trọt trong nông nghiệp tăng nhanh, câytrồng được đa dạng hóa Yêu cầu về cấp nước nói chung rất lớn, yêu cầukhai thác và sử dụng nước ngầm đặc biệt ở những khu vực khan hiếmnước mặt lại càng lớn và cấp thiết

Theo thống kê đến năm 2005 cho thấy, nhiều tỉnh thành trong cảnước đang khai thác nước dưới đất với lưu lượng khá lớn sử dụng chosinh hoạt và sản xuất Công nghiệp, Nông nghiệp Dịch vụ

•Hà Nội :750 000 m3/ngày

•Thành phố Hồ Chí Minh : 1.600.000 m3/ngày

•Tây Nguyên : 500 000 m3/ngày

Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chấtcông trình miền Bắc: Hiện nay Hà Nội có 3 hình thức khai thác nước dưới

Trang 10

đất chủ yếu là: khai thác nước tập trung, khai thác nước đơn lẻ và khaithác cung cấp nước ở vùng nông thôn.

Khai thác nước tập trung: Khai thác với số lượng lớn, cung cấp chocác nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và sản xuất

Sớm nhất là nhà máy nước Yên Phụ (1990) với công suất khai thácban đầu là 20.000m3/ngày, tiếp theo là các nhà máy nước như Đồn Thuỷ,Bạch Mai, Ngọc Hà, Ngô Sĩ Liên, Lương Yên, Tương Mai, Hạ Đình, MaiDịch, Pháp Vân, Gia Lâm, Cáo Đỉnh… Lưu lượng nước dưới đất khaithác bình quân tăng rất mạnh theo thời gian

Hình … Đồ thị biểu diễn lưu lượng khai thác nước dưới đất bìnhquân theo thời gian

Khai thác đơn lẻ tồn tại phổ biến ở vùng thành phố Hà Nội Kết quảkhảo sát cho thấy:

Vùng Nam sông HỒng có 372 giếng khai thác với lưu lượng bìnhquân 112.000 m3/ngày

Trang 11

Vùng Bắc sông Hồng có 56 giếng khai thác với lưu lượng bìnhquân 15.600 m3/ ngày.

Vùng Gia Lâm có 85 giếng khai thác với lưu lượng bình quân22.200m3/ngày

Như vậy toàn thành phố Hà Nội có khoảng 513 giếng khai thác vớilưu lượng bình quân khoảng 150.000 m3/ngày

Khai thác nước dưới đất vùng nông thôn: Phát triển ở các huyệnngoại thành cung cấp cho các huyện ngoại thành ở nông thôn Kết quảđiều tra năm 2000 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường, vùngngoại thành Hà Nội có khoảng 110.900 giếng khoan

Về tình hình khai thác nước dưới đất ở các tỉnh Nam bộ: Theo kếtquả điều tra của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình miềnNam thì lượng khai thác nước dưới đất ở các tỉnh Nam bộ tăng lên hàngnăm Số lượng giếng khai thác lưu lượng nhỏ năm 1991 có khoảng 5.400giếng đến năm 2002 đã là 438.900 giếng Lưu lượng nước khai thác từ cácgiếng khoan công nghiệp năm 1991 khoảng 77.000 m3/ngày đến năm

2001 đạt 637.000 m3/ngày, tăng trên 8 lần, đến nay dự báo đạt trên800.000 m3/ngày

Tính riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 100.000giếng khai thác nước ngầm, khai thác khoảng 600.000 tấn/ngày đêm Mật

độ trung bình là 46 giếng/km2 Trong đó, chỉ riêng Phú Nhuận đã có 872 giếng/km2 Đa số khai thác tập trung ở tầng chứa nước Pleistocen và Pliocen 56,61% tổng lượng nước khai thác dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt

Trang 12

Tuy nhiên việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất

Ở khu vực Hà Nội: Tầng khai thác nước chủ yếu là tầng chứa nước Pleistocen (qp1), có nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa và nước mặt Tuy nhiên lượng cung cấp này thường nhỏ hơn so với lưu lượng khai thác(Chỉ tính riêng năm 2006, lượng nước ngầm khai thác khoảng

650.000m3 - 700.000m3/ngày đêm), điều đó dẫn đến mực nước ngầm

hàng năm bị hạ thấp, và đó là một trong những nguyên nhân gây nên sụt lún mặt đất thành phố Kết quả quan trắc tại các trạm đo lún bề mặt đất cho thấy, tại những trạm có tồn tại lớp đất yếu, tốc độ lún bề mặt đất tươngđối lớn như Thành Công là 41,42mm/năm, Ngô Sỹ Liên 31,52mm/năm, Pháp Vân 22,16 mm/năm …Những trạm không tồn tại lớp đất yếu có tốc

độ lún bề mặt nhỏ như Ngọc Hà là 1,80 mm/năm, Mai Dịch 2,65 mm/năm,Đông Anh 1,41 mm/năm Những trạm có vị trí gần sông Hồng có độ lún

bề mặt đất nhỏ hơn vì mực nước ngầm được nước sông bù phụ một phần như Lương Yên 18,83 mm/năm, Gia Lâm 10,33 mm/năm

Tại TP Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc mực nước ngầm từ năm

2001 đến nay cho thấy mực nước ngầm trên địa bàn thành phố liên tục hạ thấp Mực nước tĩnh tại giếng 11A (huyện Bình Chánh) là 12m (2001) đã

hạ xuống mức 35m (2004), giếng 10B (huyện Bình Tân) 20m, giếng 9A

Trang 13

(quận 11) 15m, giếng 8B (Bàu Cát, quận Tân Bình) khoảng 12m…( Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM)

1.3 Hiện trạng ô nhiễm nước dưới đất (nước ngầm) ở một số khu dân cư kinh tế quan trọng ở Việt Nam.

Trong vòng khoảng 15 – 20 năm trở lại đây nền kinh tế của nước taphát triển với tốc độ cao, tốc độ đô thị hoá ngày một nhanh Cùng với sựphát triển xã hội và sự bùng nổ về dân số, các tác động đến môi trườngtrong đó có nước dưới đất (nước ngầm) ngày càng gia tăng Khi kinh tếtăng trưởng, nhu cầu sử dụng nước dưới đất (nước ngầm) của các ngànhkinh tế tăng lên, đồng thời các chất thải, nước thải cũng tăng lên dẫn đếnnguy cơ suy thoái cả về lượng và chất của nước dưới đất (nước ngầm).Thực tế cho thấy lượng nước dưới đất (nước ngầm) đang được khai thácrất lớn chỉ nói riêng ở đồng bằng Bắc bộ ngoài các công trình khai thácnước dưới đất (nước ngầm) tập trung với quy mô lớn ở các thành phố lớnnhư Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây còn có hàngtrăm lỗ khoan công nghiệp, mỗi lỗ khoan từ 100 đến 200m3/ ngày, ngoài

ra còn có 200 lỗ khoan nhỏ kiểu UNICEF do trương chình nước sạchnông thôn các tỉnh và nhân dân thực hiện Ngoài công trình khai thácnước dưới đất (nước ngầm) còn có hàng nghìn lỗ khoan xuyên vào tầng

dự trữ nước với các mục đích khác nhau: thăm dò địa chất, khảo sát phục

vụ xây dựng dân dụng, giao thông, thuỷ lợi Nhìn chung các công trìnhnày ít được kiểm tra quản lý một cách nghiêm ngặt về mặt phòng hộ vệsinh và bảo vệ môi trường Mặt khác sự có mặt và đang hoạt động củahàng nghìn xí nghiệp, nhà máy, hàng trăm bệnh viện và các điểm dân cư

Trang 14

mỗi ngày thải ra hàng vạn mét khối chất thải, nước thải, đổ trên mặt đấthoặc vào các sông ngòi, hồ, ao Ở những vùng canh tác nông nghiệp, mỗingày có hàng trăm tấn phân bón và thuốc trừ sâu rải trên cánh đồng.Chính tất cả các hoạt động phát triển mạnh mẽ đó đã, đang và sẽ làm thayđổi sự trong sạch vốn có của nước dưới đất (nước ngầm) theo chiều hướngxấu Tuy nhiên mức độ ô nhiễm và mối đe doạ của nó tới môi trường cókhác nhau ở mỗi khu vực, chúng phụ thuộc vào hai yêu tố trọng yếu đó làđiều kiện tự nhiên và tác động của con người.

Có thể lấy khu vực Hà Nội làm ví dụ:

Hà Nội là khu tập trung dân cư và trung tâm kinh tế lớn: mật độ dântrung bình 3000 người/km2, hiện có gần 300 nhà máy, xí nghiệp côngnghiệp và hàng trăm các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Loại hìnhsản xuất đa dạng từ cơ khí mạ điện, hoá chất, sơn, phân bón, năng lượng,thuỷ tinh, vật liệu xây dựng đến các ngành dệt nhuộm, thuộc da, chế biếnthực phẩm đang là nguồn tạo ra các chất thải gây ô nhiễm môi trường.Đặc biệt vùng ngoại ô còn có vành đai nông nghiệp chủ yếu trồng rauxanh, lúa nước và chăn nuôi gia súc Việc sử dụng phân bón và hoá chấtbảo vệ thực vật vẫn đang diễn ra thiếu sự quản lý chặt chẽ đã tạo ra các dưlượng hoá chất trong môi trường đất và nước Quá trình đô thị hoá vàcông nghiệp hoá đang diễn ra ở khu vực với tốc độ cao kéo theo các hoạtđộng khoan, đào phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng tạo ra con đường xâmnhập vào nước ngầm của các chất bẩn phát sinh từ chất thải, nước thảicông nghiệp, sinh hoạt và phân bón Trong bối cảnh trên lại thêm tìnhhình xử lý chất thải, nước thải rất kém, có tới 96% số xí nghiệp côngnghiệp không có trạm xử lý nước thải Số bệnh viện ở Hà Nội có trạm xử

Trang 15

lý chỉ có từ 3 – 4 trong tổng số hơn 20 cơ sở chữa bệnh Ngoài ra cònnhững bãi rác thải của thành phố đều trong tình trạng quá tải cộng thêmcông nghệ xử lý hiệu quả thấpvà công tác quản lý yếu kém Đây là nhữngkhu vực có nhiều nguồn phát sinh chất bẩn gây ô nhiễm môi trường.

Về điều kiện tự nhiên, khu vực Hà Nội có địa hình khá bằng phẳng,xen kẽ những khu trũng, hiện trạng ao hồ, sông không thuận lợi cho việctiêu thoát nước nhanh, trong mùa mưa thường có những vùng úng cục bộ

Ở nhiều khu vực dân cư và điểm công nghiệp do hệ thống tiêu thoát nướcchưa hoàn chỉnh, khi có mưa lớn nước bị dềnh lên cùng với phân rác từcống, rãnh, hồ, ao lan rộng ra bề mặt làm tăng khả năng tiếp cận và hoàtan các chất bẩn có sẵn trên mặt đất gây ô nhiễm môi trường nói chung vàmôi trường nước nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập củachất bẩn vào nước dưới đất Hiện tại độ sâu khai thác nước dưới đất (nướcngầm) nói chung ở Hà Nội khoảng 60 – 80 m bao hàm 2 tầng trữ nướcHolocen và Pleistocen Tầng Holocen có quan hệ thuỷ lực trực tiếp vớicác nguồn nước mặt, tầng Pleistocen trữ lượng nước phong phú và có áplực yếu

Sự ô nhiễm nước dưới đất được xem xét chủ yếu ở hai tầng chứanước này và cũng được đánh giá theo bốn nhóm chỉ tiêu cơ bản:

Ngày đăng: 21/11/2015, 21:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Các tầng chứa nước dưới đất - Đánh giá ảnh hưởng của bãi rác kiêu kị (huyện gia lâm) đến chất lượng nước dưới đất phục vụ cho mục đích sinh hoạt tại khu vực xung quanh bãi rác
Hình 2 Các tầng chứa nước dưới đất (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w