1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG của bãi rác KIÊU kỵ đến CHẤT LƯỢNG nước dưới đất PHỤC vụ CHO NHU cầu SINH HOẠT của NGƯỜI dân

31 2,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân chủ yếu là do đa số các bãi rác chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn chính của một bãi chôn lấp hợp vệ sinh như tiêu chuẩn về địa điểm, địa hình địa chất, thuỷ văn, thiết kế bãi

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm Nằm trong khung cảnh chung của thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấp cục bộ, có nơi bị huỷ hoại nghiêm trọng gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của đất nước

Ở nước ta những năm gần đây,cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế và quá trình đô thị hóa thì tình trạng ô nhiễm môi trường cũng ngày càng trở nên trầm trọng, đặc biệt là tại các đô thị lớn

Số liệu thống kê mới đây của các cơ quan môi trường cho thấy: thành phố

Hà Nội mỗi ngày thải ra khoảng 1.368 tấn rác sinh hoạt, thành phố Hồ Chí Minh thải ra khoảng 3.752 tấn Với tốc độ tăng dân số như hiện nay

dự kiến đến năm 2020, tổng lượng rác thải mà 3 thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng sẽ thải ra là vào khoảng 3.318.823 tấn/năm Và hiện tượng rác thải bị ứ đọng ở một số thành phố và các địa phương khác đã trở thành vấn đề báo động Hầu như tất cả các bãi rác của thành phố của nước ta đều trong tình trạng quá tải Với các nước công nghiệp phát triển như Nhật, Mỹ, Đức, Hà Lan việc xử lý rác chủ yếu sử dụng phương pháp thiêu huỷ bằng công nghệ cao, hoặc đem đi chôn lấp Trong khi đó, nước ta vẫn phổ biến cách chôn lấp lộ thiên không đạt tiêu chuẩn vệ sinh Cách làm này không những không giải quyết được lượng rác tồn đọng,

mà còn gây ảnh hưởng xấu tới môi trường như ô nhiễm nguồn nước(nước mặt và nước ngầm), ô nhiễm đất và bầu không khí xung quanh khu vực

Trang 2

Hiện nay, tình trạng suy giảm chất lượng nước dưới đất tại những nơi chôn lấp rác thải đã trở nên khá phổ biến như bãi rác Nam Sơn, bãi rác Đông Thạnh Nguyên nhân chủ yếu là do đa số các bãi rác chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn chính của một bãi chôn lấp hợp vệ sinh như tiêu chuẩn về địa điểm, địa hình địa chất, thuỷ văn, thiết kế bãi chôn lấp, lớp lót chống thấm, hệ thống đê kè, hệ thống thu gom nước rác và khí gas.

Trong khi đó, khi mà sự phát triển kinh tế và đô thị hóa càng cao, các thành phố lớn, thị xã, thị trấn mới được mọc lên, hàng loạt khu dân

cư, khu chế xuất đi vào hoạt động càng nhiều thì tất yếu sẽ kéo theo yêu cầu về cấp nước nói chung và yêu cầu khai thác sử dụng nước dưới đất là rất lớn và rất cần thiết đặc biệt ở những khu vực khan hiếm nước mặt

Như vậy là nhu cầu sử dụng nước dưới đất cho các hoạt động kinh

tế cũng như sinh hoạt của người dân là rất lớn, và có xu hướng ngày càng gia tăng Trong khi đó, tình trạng suy thoái chất lượng và số lượng nước dưới đất đã diễn ra ở nhiều khu vực, đặc biệt là xung quanh các bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh

Bãi rác Kiêu Kị là nơi chứa đựng rác thải của huyện Gia Lâm và một phần của Quận Long Biên với diện tích giai đoạn 1 là 6,1ha, đi vào hoạt động tháng 9/1999; công suất xử lý là 150 tấn rác thải sinh hoạt và

10 tấn bùn cống/ ngày Hiện nay bãi rác đã ngừng hoạt động và đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2 cũng với diện tích khoảng 6 ha bao gồm cả lò đốt rác Ở đây vấn đề xử lý rác mặc dù đã có sự quan tâm xong chỉ là những công nghệ xử lý đơn giản như phân loại sơ bộ và chôn lấp lộ thiên hiệu quả thấp và chưa có công nghệ xử lý nước rác Do đó, việc ảnh hưởng từ bãi rác tới chất lượng nước dưới đất các khu vực xung quanh là

Trang 3

không thể tránh khỏi Trong khi đó, theo điều tra thì ở khu vực này 100% dân cư sử dụng nguồn nước là nước dưới đất từ các giếng khoan và bước đầu xuất hiện những dấu hiệu tác động có hại đến sức khoẻ cộng đồng Tuy nhiên cho tới nay lại chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về ảnh hưởng của bãi rác này tới chất lượng nước dưới đất , để từ đó có thể đưa

ra biện pháp cảnh báo cho người dân và giải pháp nâng cao chất lượng nước ngầm khu vực xung quanh bãi rác

Chính vì vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh

hưởng của bãi rác Kiêu Kị (Huyện Gia Lâm) đến chất lượng nước dưới đất phục vụ cho mục đích sinh hoạt tại khu vực xung quanh bãi rác”.

2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu.

2.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu các nguồn có khả năng gây ô nhiễm từ hoạt động chôn lấp rác thải của bãi rác Kiêu Kị tới chất lượng nước dưới đất và sức khỏe người dân khu vực xung quanh

Đánh giá chất lượng nước ngầm khu vực xung quanh bãi rác Kiêu

Kị để đưa ra các biện pháp cảnh báo

2.2 Yêu cầu

Xác định các nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động chôn lấp rác thải tới chất lượng nước dưới đất và áp lực của chúng tới sức khoẻ người dân khu vực xung quanh bãi rác Kiêu Kị thông qua một hoặc một số thông số đặc trưng cho sự ảnh hưởng từ bãi rác

Trang 4

Đánh giá được chất lượng nước ngầm khu vực xung quanh bãi rác Kiêu Kị thông qua một số thông số cơ bản đánh giá chất lượng nước ngầm(pH, EC, Eh, Fe, Mn,COD, NO3, NH4, SO4, PO4), sử dụng TCVN 5944-1995 và tiêu chuẩn mới để đánh giá.

Đưa ra các biện pháp cảnh báo và giải pháp nâng cao chất lượng nước ngầm khu vực nghiên cứu

Trang 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊU CỨU.

1.1 Tình hình khai thác và sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam.

1.1.1 Khái niệm về nước dưới đất

Nước dưới đất (nước ngầm) là nước tồn tại trong các tầng chứa

nước dưới mặt đất Nước dưới đất có loại nước mặn, nước lợ và nước ngọt, trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá

Hình 2: Các tầng chứa nước dưới đất

a) Tầng chứa nước:

Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát, sạn, sỏi), khe hở, nứt nẻ, có tính thấm nước, dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu của mình gọi là các tầng chứa nước

b) Tầng cách nước:

Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét, bột sét), có hệ số thấm nhỏ, khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu, khả năng khai thác nước trong tầng này thấp

Trang 6

1.1.2 Trữ lượng nước dưới đất ở Việt Nam

Nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về nước phục vụ phát triển kinh

tế - xã hội, trong vòng 30 năm qua, các liên đoàn Địa chất thuỷ văn và Địa chất công trình thuộc Cục địa chất Việt Nam, các xí nghiệp chuyên ngành Địa chất thuỷ văn thuộc Bộ xây dựng, Bộ NN và PTNT, Bộ quốc phòng… đã tiến hành tìm kiếm thăm dò đánh giá trữ lượng nước trên 100

mỏ khác nhau Tổng trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và xét duyệt đến cuối năm 1998 là 139 mỏ với diện tích 33.531km2

Tổng trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và phê duyệt trữ lượng ở các cấp có thẩm quyền là 14.574.446 m3/ngày, được phân bố theo lãnh thổ như sau:

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh: 5.058.915 m3/ngày

Trữ lượng khai thác tiềm năng của vùng gồm Trữ lượng động tự nhiên, Trữ lượng tĩnh đàn hồi, một phần Trữ lượng tĩnh trọng lực, trữ lượng cuốn theo

Trang 7

Trữ lượng nước dưới đất trong các tầng chứa nước khu vực thành phố Hà Nội (Đơn vị tính: 1000 m3/ ngày.)

Qh: Tầng chứa nước Holocen

Qp: Tầng chứa nước Pleitocen

Theo kết quả nghiên cứu bước đầu của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình miền Nam, tiềm năng nước dưới đất khu vực Nam Bộ không phải là vô hạn, khả năng tái tạo rất hạn chế như khu vực nam TP Hồ Chí Minh, thị xã Sóc Trăng, TP Cà Mau, thị xã Bạc Liêu

Trữ lượng tiềm năng nước dưới đất Đồng bằng Nam bộ ( 1000

Trang 8

tính:1000m3/ngày)

Trang 9

1.2 Tình hình khai thác nước dưới đất ở Việt Nam.

Ở Việt Nam đã từ lâu yêu cầu khai thác sử dụng nước ngầm đã rất lớn đặc biệt sử dụng nước ngầm vào mục đích sinh hoạt và chăn nuôi Ngoài mục đích khai thác nước ngầm cho sinh hoạt, nước ngầm còn được khai thác phục vụ cho công nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi và các ngành kinh tế khác

Từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bắt đầu khai thác nước ngầm để phục

vụ sinh hoạt và công nghiệp ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng,

TP Hồ Chí Minh… Ở nông thôn, các hộ gia đình từ lâu đã sử dụng giếng khoan, giếng đào để khai thác nước ngầm dùng cho sinh hoạt

Những năm gần đây, ở nước ta tốc độ phát triển kinh tế xã hội và

đô thị hoá rất cao, hàng loạt các thành phố lớn, thị xã, thị trấn mới được mọc lên, hàng loạt khu dân cư, khu chế xuất đã hình thành và đi vào hoạt động, các vùng kinh tế mới ở miền núi phía Bắc, cao nguyên và ven biển được thiết lập Diện tích trồng trọt trong nông nghiệp tăng nhanh, cây trồng được đa dạng hóa Yêu cầu về cấp nước nói chung rất lớn, yêu cầu khai thác và sử dụng nước ngầm đặc biệt ở những khu vực khan hiếm nước mặt lại càng lớn và cấp thiết

Theo thống kê đến năm 2005 cho thấy, nhiều tỉnh thành trong cả nước đang khai thác nước dưới đất với lưu lượng khá lớn sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất Công nghiệp, Nông nghiệp Dịch vụ

•Hà Nội :750 000 m3/ngày

•Thành phố Hồ Chí Minh : 1.600.000 m3/ngày

•Tây Nguyên : 500 000 m3/ngày

Trang 10

Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình miền Bắc: Hiện nay Hà Nội có 3 hình thức khai thác nước dưới đất chủ yếu là: khai thác nước tập trung, khai thác nước đơn lẻ và khai thác cung cấp nước ở vùng nông thôn.

Khai thác nước tập trung: Khai thác với số lượng lớn, cung cấp cho các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và sản xuất

Sớm nhất là nhà máy nước Yên Phụ (1990) với công suất khai thác ban đầu là 20.000m3/ngày, tiếp theo là các nhà máy nước như Đồn Thuỷ, Bạch Mai, Ngọc Hà, Ngô Sĩ Liên, Lương Yên, Tương Mai, Hạ Đình, Mai Dịch, Pháp Vân, Gia Lâm, Cáo Đỉnh… Lưu lượng nước dưới đất khai thác bình quân tăng rất mạnh theo thời gian

Hình … Đồ thị biểu diễn lưu lượng khai thác nước dưới đất bình quân theo thời gian

Khai thác đơn lẻ tồn tại phổ biến ở vùng thành phố Hà Nội Kết quả khảo sát cho thấy:

Trang 11

Vùng Nam sông HỒng có 372 giếng khai thác với lưu lượng bình quân 112.000 m3/ngày.

Vùng Bắc sông Hồng có 56 giếng khai thác với lưu lượng bình quân 15.600 m3/ ngày

Vùng Gia Lâm có 85 giếng khai thác với lưu lượng bình quân 22.200m3/ngày

Như vậy toàn thành phố Hà Nội có khoảng 513 giếng khai thác với lưu lượng bình quân khoảng 150.000 m3/ngày

Khai thác nước dưới đất vùng nông thôn: Phát triển ở các huyện ngoại thành cung cấp cho các huyện ngoại thành ở nông thôn Kết quả điều tra năm 2000 của Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường, vùng ngoại thành Hà Nội có khoảng 110.900 giếng khoan

Về tình hình khai thác nước dưới đất ở các tỉnh Nam bộ: Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình miền Nam thì lượng khai thác nước dưới đất ở các tỉnh Nam bộ tăng lên hàng năm Số lượng giếng khai thác lưu lượng nhỏ năm 1991 có khoảng 5.400 giếng đến năm 2002 đã là 438.900 giếng Lưu lượng nước khai thác từ các giếng khoan công nghiệp năm 1991 khoảng 77.000 m3/ngày đến năm

2001 đạt 637.000 m3/ngày, tăng trên 8 lần, đến nay dự báo đạt trên 800.000 m3/ngày

Tính riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện có trên 100.000 giếng khai thác nước ngầm, khai thác khoảng 600.000 tấn/ngày đêm Mật

độ trung bình là 46 giếng/km2 Trong đó, chỉ riêng Phú Nhuận đã có 872 giếng/km2 Đa số khai thác tập trung ở tầng chứa nước Pleistocen và

Trang 12

Pliocen 56,61% tổng lượng nước khai thác dùng cho mục đích sản xuất, còn lại dùng trong sinh hoạt

Tuy nhiên việc gia tăng nhiều nhà máy, xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng, không những nước phục vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ nhiều vùng khác nhau tập trung về Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống cấp nước, mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh, từ đó dẫn đến tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất

Ở khu vực Hà Nội: Tầng khai thác nước chủ yếu là tầng chứa nước Pleistocen (qp1), có nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa và nước mặt Tuy nhiên lượng cung cấp này thường nhỏ hơn so với lưu lượng khai thác(Chỉ tính riêng năm 2006, lượng nước ngầm khai thác khoảng

650.000m3 - 700.000m3/ngày đêm), điều đó dẫn đến mực nước ngầm

hàng năm bị hạ thấp, và đó là một trong những nguyên nhân gây nên sụt lún mặt đất thành phố Kết quả quan trắc tại các trạm đo lún bề mặt đất cho thấy, tại những trạm có tồn tại lớp đất yếu, tốc độ lún bề mặt đất tương đối lớn như Thành Công là 41,42mm/năm, Ngô Sỹ Liên 31,52mm/năm, Pháp Vân 22,16 mm/năm …Những trạm không tồn tại lớp đất yếu có tốc

độ lún bề mặt nhỏ như Ngọc Hà là 1,80 mm/năm, Mai Dịch 2,65 mm/năm, Đông Anh 1,41 mm/năm Những trạm có vị trí gần sông Hồng có độ lún

bề mặt đất nhỏ hơn vì mực nước ngầm được nước sông bù phụ một phần như Lương Yên 18,83 mm/năm, Gia Lâm 10,33 mm/năm

Tại TP Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc mực nước ngầm từ năm

2001 đến nay cho thấy mực nước ngầm trên địa bàn thành phố liên tục hạ

Trang 13

thấp Mực nước tĩnh tại giếng 11A (huyện Bình Chánh) là 12m (2001) đã

hạ xuống mức 35m (2004), giếng 10B (huyện Bình Tân) 20m, giếng 9A (quận 11) 15m, giếng 8B (Bàu Cát, quận Tân Bình) khoảng 12m…( Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM)

1.3 Hiện trạng ô nhiễm nước dưới đất (nước ngầm) ở một số khu dân cư kinh tế quan trọng ở Việt Nam.

Trong vòng khoảng 15 – 20 năm trở lại đây nền kinh tế của nước ta phát triển với tốc độ cao, tốc độ đô thị hoá ngày một nhanh Cùng với sự phát triển xã hội và sự bùng nổ về dân số, các tác động đến môi trường trong đó có nước dưới đất (nước ngầm) ngày càng gia tăng Khi kinh tế tăng trưởng, nhu cầu sử dụng nước dưới đất (nước ngầm) của các ngành kinh tế tăng lên, đồng thời các chất thải, nước thải cũng tăng lên dẫn đến nguy cơ suy thoái cả về lượng và chất của nước dưới đất (nước ngầm) Thực tế cho thấy lượng nước dưới đất (nước ngầm) đang được khai thác rất lớn chỉ nói riêng ở đồng bằng Bắc bộ ngoài các công trình khai thác nước dưới đất (nước ngầm) tập trung với quy mô lớn ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây còn có hàng trăm lỗ khoan công nghiệp, mỗi lỗ khoan từ 100 đến 200m3/ ngày, ngoài

ra còn có 200 lỗ khoan nhỏ kiểu UNICEF do trương chình nước sạch nông thôn các tỉnh và nhân dân thực hiện Ngoài công trình khai thác nước dưới đất (nước ngầm) còn có hàng nghìn lỗ khoan xuyên vào tầng

dự trữ nước với các mục đích khác nhau: thăm dò địa chất, khảo sát phục

vụ xây dựng dân dụng, giao thông, thuỷ lợi Nhìn chung các công trình này ít được kiểm tra quản lý một cách nghiêm ngặt về mặt phòng hộ vệ

Trang 14

sinh và bảo vệ môi trường Mặt khác sự có mặt và đang hoạt động của hàng nghìn xí nghiệp, nhà máy, hàng trăm bệnh viện và các điểm dân cư mỗi ngày thải ra hàng vạn mét khối chất thải, nước thải, đổ trên mặt đất hoặc vào các sông ngòi, hồ, ao Ở những vùng canh tác nông nghiệp, mỗi ngày có hàng trăm tấn phân bón và thuốc trừ sâu rải trên cánh đồng Chính tất cả các hoạt động phát triển mạnh mẽ đó đã, đang và sẽ làm thay đổi sự trong sạch vốn có của nước dưới đất (nước ngầm) theo chiều hướng xấu Tuy nhiên mức độ ô nhiễm và mối đe doạ của nó tới môi trường có khác nhau ở mỗi khu vực, chúng phụ thuộc vào hai yêu tố trọng yếu đó là điều kiện tự nhiên và tác động của con người.

Có thể lấy khu vực Hà Nội làm ví dụ:

Hà Nội là khu tập trung dân cư và trung tâm kinh tế lớn: mật độ dân trung bình 3000 người/km2, hiện có gần 300 nhà máy, xí nghiệp công nghiệp và hàng trăm các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Loại hình sản xuất đa dạng từ cơ khí mạ điện, hoá chất, sơn, phân bón, năng lượng, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng đến các ngành dệt nhuộm, thuộc da, chế biến thực phẩm đang là nguồn tạo ra các chất thải gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt vùng ngoại ô còn có vành đai nông nghiệp chủ yếu trồng rau xanh, lúa nước và chăn nuôi gia súc Việc sử dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật vẫn đang diễn ra thiếu sự quản lý chặt chẽ đã tạo ra các dư lượng hoá chất trong môi trường đất và nước Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá đang diễn ra ở khu vực với tốc độ cao kéo theo các hoạt động khoan, đào phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng tạo ra con đường xâm nhập vào nước ngầm của các chất bẩn phát sinh từ chất thải, nước thải công nghiệp, sinh hoạt và phân bón Trong bối cảnh trên lại thêm tình

Trang 15

hình xử lý chất thải, nước thải rất kém, có tới 96% số xí nghiệp công nghiệp không có trạm xử lý nước thải Số bệnh viện ở Hà Nội có trạm xử

lý chỉ có từ 3 – 4 trong tổng số hơn 20 cơ sở chữa bệnh Ngoài ra còn những bãi rác thải của thành phố đều trong tình trạng quá tải cộng thêm công nghệ xử lý hiệu quả thấpvà công tác quản lý yếu kém Đây là những khu vực có nhiều nguồn phát sinh chất bẩn gây ô nhiễm môi trường

Về điều kiện tự nhiên, khu vực Hà Nội có địa hình khá bằng phẳng, xen kẽ những khu trũng, hiện trạng ao hồ, sông không thuận lợi cho việc tiêu thoát nước nhanh, trong mùa mưa thường có những vùng úng cục bộ

Ở nhiều khu vực dân cư và điểm công nghiệp do hệ thống tiêu thoát nước chưa hoàn chỉnh, khi có mưa lớn nước bị dềnh lên cùng với phân rác từ cống, rãnh, hồ, ao lan rộng ra bề mặt làm tăng khả năng tiếp cận và hoà tan các chất bẩn có sẵn trên mặt đất gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của chất bẩn vào nước dưới đất Hiện tại độ sâu khai thác nước dưới đất (nước ngầm) nói chung ở Hà Nội khoảng 60 – 80 m bao hàm 2 tầng trữ nước Holocen và Pleistocen Tầng Holocen có quan hệ thuỷ lực trực tiếp với các nguồn nước mặt, tầng Pleistocen trữ lượng nước phong phú và có áp lực yếu

Sự ô nhiễm nước dưới đất được xem xét chủ yếu ở hai tầng chứa nước này và cũng được đánh giá theo bốn nhóm chỉ tiêu cơ bản:

Hợp chất Nitơ

Nguyên tố kim loại

Hợp chất hữu cơ

Vi sinh

Ngày đăng: 13/05/2016, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Các tầng chứa nước dưới đất - ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG của bãi rác KIÊU kỵ đến CHẤT LƯỢNG nước dưới đất PHỤC vụ CHO NHU cầu SINH HOẠT của NGƯỜI dân
Hình 2 Các tầng chứa nước dưới đất (Trang 5)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w