1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập

22 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 178 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mạiđang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay Chính đặc điểm này đã tạo

sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa các quốc gia và khu vực.Các định chế và các tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã đượchình thành để phục vụ cho kinh tế quốc tế và các lĩnh vực khác trên thế giới Tổchức thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995 đến nay đã cóhơn 148 nước tham gia và tương lai sẽ trở thành tổ chức lớn nhất hành tinh

Ngày 11/1/2007, Việt Nam ta đã chính thức gia nhập tổ chức WTO, mởđầu chặng đường hội nhập một cách sâu rộng và hiệu quả với nền kinh tế thếgiới Hội nhập kinh tế thế giới đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước

ta, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, công ăn việclàm, bảo vệ môi trường, củng cố an ninh quốc phòng Tuy nhiên, bên cạnhnhững lợi ích đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng gây ra nhiều áp lực vớimôi trường, trong đó phải kể đến sự gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường từ bênngoài, chất lượng môi trường suy thoái, tài nguyên môi thiên nhiên cạn kiệt, cânbằng sinh thái bị đảo lộn

Sự ô nhiễm và suy giảm môi trường nghiêm trọng dẫn đến công tác bảo vệmôi trường có ý nghĩa vô cùng lớn Bảo vệ môi trường được coi là một trongnhững nền tảng cơ bản cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước Dovậy, trong thời kỳ hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa, việc bảo vệ và giữ gìn một môitrường trong lành, xanh sạch đẹp đã trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu vàhết sức cần thiết đối với mọi quốc gia, đặc biệt là với Việt Nam – một quốc giađang phát triển và có môi trường ô nhiễm khá nặng Ở Việt Nam, công tác bảo

vệ môi trường bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trong đó hoạt động quản lýchất thải là một hoạt động quan trọng và thu hút được khá nhiều sự quan tâm củaĐảng, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân Trong thời đại công nghiệp hóa, hiệnđại hóa hiện nay, khi môi trường đang ngày một suy thoái ở mọi lĩnh vực thìcông tác bảo vệ môi trường nói chung cũng như hoạt động quản lý chất thải nóiriêng ở Việt Nam cần được đẩy mạnh hơn nữa

Tiến vào thời kỳ hội nhập, công tác quản lý môi trường cũng như công tácquản lý chất thải ở Việt Nam có rất nhiều những điều kiện thuận lợi để thực mộtcách nhanh chóng và có hiệu quả cao Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế mạnh

mẽ trong thời kỳ hội nhập cũng lại đặt ra cho công tác quản lý chất thải ở nước

ta rất nhiều thách thức, khó khăn cần được khắc phục

Để tiến hành công tác quản lý chất thải có hiệu quả, Đảng và Nhà nước đãđưa ra một số những biện pháp cụ thể trong đó biện pháp quan trọng nhất và cóhiệu quả nhất là biện pháp quản lý chất thải bằng pháp luật Biện pháp này đượcthực hiện bằng việc Đảng và Nhà nước đã cho ra đời nhiều văn bản pháp quyquy định về công tác quản lý chất thải Thông qua hệ thống các văn bản pháp

Trang 2

quy hiện hành ấy, ta có thể đánh giá được một cách toàn diện nhất hoạt độngquản lý chất thải ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

Với mong muốn tìm hiểu và nâng cao hơn nữa vốn kiến thức thực tế cũngnhư kiến thức pháp lý về vấn đề quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế

và những tác động tích cực, hạn chế của hội nhập kinh tế đến việc bảo vệ môitrường mà cụ thể là hoạt động quản lý chất thải ở Việt Nam, em đã lựa chọn đềtài này Thông qua đề tài, em mong muốn đóng góp một phần hiểu biết của mìnhvào công tác bảo vệ, phát triển môi trường trong thời kỳ đổi mới; cải thiện môitrường ngày càng xanh, sạch, đẹp; từ đó thúc đẩy nền kinh tế đất nước ngày mộtphát triển, nâng cao đời sống con người Việt Nam ngày một sung túc, khỏemạnh

Thực hiện đề tài này, em đã tìm hiểu một số nội dung cơ bản về quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập, cũng như nội dung pháp luật Việt Nam về

vấn đề này, từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp để hoàn thiện những quy địnhcủa pháp luật về quản lý chất thải ở nước ta Đề tài này đã vận dụng nhiềuphương pháp khác nhau để nghiên cứu, trong đó hai phương pháp chính làphương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích Em đã tổng hợp những vănbản pháp luật và những tài liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, sau đótiến hành phân tích, đánh giá vấn đề này, cuối cùng là rút ra được một số kếtluận và giải pháp chung về vấn đề quản lý chất thải bằng pháp luật trong thời kỳhội nhập kinh tế ở Việt Nam

Trang 3

NỘI DUNG CHÍNH

I/Khái quát chung:

1/ Hội nhập kinh tế và tình tình hội nhập kinh tế ở Việt Nam:

1.1/ Hội nhập kinh tế:

Trước hết ta cần làm rõ, “hội nhập kinh tế quốc tế” là quá trình các doanhnghiệp của một quốc gia tham gia một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tếthế giới Hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một xu thế khách quan trong thếgiới ngày nay khi làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ Nếu nhưtoàn cầu hóa luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực thì hội nhập kinh tế luôn mangtheo mình những cơ hội và thách thức to lớn

Hội nhập kinh tế quốc tế của các nền kinh tế chuyển đổi ( trong đó có ViệtNam) là quá trình thực hiện tự do hóa thương mại và thực hiện cải cách toàndiện theo hướng mở cửa thị trường Từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh tế như hànghóa xuật nhập khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốnđầu tư nước ngoài trên mọi lĩnh vực kinh tế, môi trường và nhiều lợi ích giántiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc tế gay gắt và tăng dần hiệu quả kinh tế theoquy mô

1.2/ Tình hình hội nhập kinh tế ở Việt Nam:

Ngày 27/11/2001, Bộ chính trị ban hành nghị quyết về hội nhập kinh tếquốc tế Nghị quyết này đã kế thừa, cụ thể hóa và triển khai các đường lối củaĐảng đề ra từ trước tới nay, đồng thời đáp ứng được kịp thời những đòi hỏikhách quan của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Sau khi đánhgiá những thành tựu quan trọng của đất nước ta trong việc mở rộng quan hệ kinh

tế đôi ngoại, Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu, những quan điểm chỉ đạo và một sốnhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nhờ vào những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước nên trongnhững năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu Việt Nam đã ra khỏi tìnhtrạng bị bao vây cấm vận, cô lập, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vựcthuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước

ta trên chính trường và thương trường thế giới Cho đến nay, Việt Nam đã ký vớinước ngoài nhiều hiệp định thương mại song phương, nhiều hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư, các hiệp định chống đánh thuế hai lần với các nước vàcác vùng lãnh thổ Việt Nam còn đặt quan hệ với trên 160 nước và các nên kinh

tế, thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế, là thành viên củaASEAN, ASEM, APEC, WTO Ta đã thực hiện thành công chiến lược ổn định

và phát triển kinh tế - xã hội, tỉ lệ GDP hàng năm tăng Ngoài ra, nhờ có quátrình hội nhập kinh tế, các lĩnh vực khác như môi trường, văn hóa cũng cónhững bước phát triển mạnh

Tuy vậy, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vẫn cònnhững nhân tố hạn chế Bên cạnh đó, nhiều ngành, cấp và doanh nghiệp cònchưa nhận thức đầy đủ, những cơ hội và thách thức của tiến trình hội nhập này

Trang 4

cũng chưa thực sự nắm vững để có kế hoạch chủ động nắm bắt thời cơ, đặc biệt

là các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn ít hiểu biết về lộ trình và các yêu cầu củahội nhập Đa số vẫn trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước Hệ thống pháp luật

và chính sách quản lý nền kinh tế thị trường không đồng bộ, còn thay đổi, chưaphù hợp với thông lệ quốc tế, do đó chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập về môitrường cũng như các lĩnh vực khác Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế, số vốnđầu tư còn thiếu đồng bộ, nhất quán và chưa phù hợp với điều kiện toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhìnchung còn yếu, các chính sách vĩ môi chưa tạo được động lực cho các doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân nâng cao năng lực cạnh tranh Thêm vào đó, năng lựccán bộ làm công tác hội nhập kinh tế ở nước ta còn yếu, việc chỉ đạo và thựchiện quá trình hội nhập trên các lĩnh vực còn bất cập, chưa có những chiến lượctổng thể về hội nhập kinh tế quốc tế cho cả giai đoạn dài với các lộ trình mở cửatrong từng lĩnh vực cụ thể

Riêng đối với môi trường Việt Nam, có thế thấy rằng hiện nay Việt Namđang trong thời kỳ tiến hành hội nhập kinh tế nên về cơ bản nền kinh tế đã đạtđược tốc độ tăng trưởng khá cao, diện mạo đời sống xã hội bước đầu có chuyểnbiến theo chiều hướng tích cực Nhà nước và nhân dân đã có những quan tâmnhất định đến lĩnh vực môi trường, nhiều khoa học công nghệ tiến bộ được đưavào áp dụng để nâng cao hiệu quả của quá trình này Tuy nhiên, cùng với sựphát triển và mở rộng các khu công nghiệp, khu chế xuất thì lượng chất thảicũng không ngừng gia tăng cả về số lượng và chủng loại Chúng gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người Theo dự đoán của Ngânhàng Thế giới (WB), với tốc độ gia tăng GDP như thời gian qua ( khoảng7%/năm) thì mức độ ô nhiễm môi trường bởi chất thải của nước ta vào năm 2020

có thể sẽ gấp 4 - 5 lần hiện nay Do đó trong thời gian tới, để có thể kiểm soát vàkiềm chế sự ảnh hưởng của chất thải cần có một cơ chế quản lý chất thải nghiêmngặt và chặt chẽ

Như vậy ta có thế kết luận rằng, hội nhập kinh tế là nhu cầu nội sinh củabản thân nền kinh tế nước ta, chứ không phải do chúng ta bị o ép, bị bắt buộc.Thời cơ đang đến, yêu cầu của chính bản thân đòi hỏi, không còn sự lựa chọnnào ưu việt hơn Vì vây, Việt Nam cần phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, bảo đảm độc lập dân chủ, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệlợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môitrường Hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, trong đó Nhà nước giữ vaitrò chủ đạo vì vậy Đảng và Nhà nước phải cùng kết hợp để đẩy mạnh phát triểnkinh tế nhưng vẫn không quên nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong lành, khỏemạnh

2/ Chất thải và quản lý chất thải:

2.1/ Chất thải:

Theo điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì “chất thải” là vật chất ở thểrắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các

Trang 5

hoạt động khác Như vậy, một vật có phải là chất thải hay không phụ thuộc vào

ý chí của người sở hữu vật đó Sự tồn tại của chất thải sẽ đồng nghĩa với nhu cầuloại bỏ nó hay biến đổi nó thành một dạng vật chất khác có ích cho đời sống conngười Ngoài ra, “chất thải” còn được định nghĩa là các chất hoặc các đồ vật màngười ta tiêu hủy, có ý định tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy theo các điều khoản củaluật lệ quốc gia(1) Như vậy có nghĩa là chất thải là sản phẩm phụ của các hoạtđộng của con người Nó không còn giá trị sử dụng đối với con người và bị loại

ra khỏi cuộc sống Dù được định nghĩa bởi nhiều quan điểm khác nhau song về

cơ bản có thể hiểu một cách khái quát chất thải là một dạng vật chất phức tạp,chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sức khỏe và môi trường sống của conngười Do đó cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các loại chất thải để phânloại và áp dụng các biện pháp xử lý, kiểm soát chất thải phù hợp mang tínhchuyên trách, nhằm loại bỏ khả năng gây hại của các loại chất thải

Việc phân loại chất thải căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau Cụ thể như:

- Căn cứ vào nguồn phát sinh, chất thải gồm: chất thải sinh họat, chất thải y tế,chất thải công nghiệp

- Căn cứ vào trạng thái tồn tại, chất thải gồm: chất thải rắn (vỏ đồ hộp, thủytinh, sắt vụn…), chất thải lỏng (nước thải…), chất thải khí (khói, khí thải từnhững phương tiện giao thông, khu công nghiệp…)

- Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường xungquanh, chất thải gồm: chất thải thông thường - mức độ độc hại thấp, khônggây hưởng nhiều đến môi trường và sức khỏe con người; chất thải nguy hại -

dễ cháy nổ, ngộ độc, ăn mòn, nguy hại cho môi trường và sức khỏe conngười như: chất thải kim loại, chất thải y tế…

Chất thải có rất nhiều tác hại như: gây ô nhiễm môi trường đất, không khí,nước, biển…; tác động xấu đến sức khỏe con người gây nên những bệnh về hôhấp, tiêu hóa…; tác động đến đời sống kinh tế xã hội, làm mất mỹ quan, vănminh đô thị, giảm sự đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam…

2.2/ Quản lý chất thải

Sự gia tăng không ngừng của các loại chất thải đã trực tiếp gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến đời sống con người và xã hội Do đó, Đảng và Nhà nước ta đãcoi nhiệm vụ bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng là 1trong những yếu tố cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững đất nước khibước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Theo điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005 thì “quản lý chất thải” làhọat động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý,tiêu hủy, thải loại chất thải Còn theo Công ước Basel (1989) về kiểm soát, vậnchuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và tiêu hủy chúng thì “quản lýchất thải” là việc thu thập, vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy hiểm hoặccác phế thải khác, bao gồm cả việc giám sát các địa điểm tiêu hủy Như vậy, cóthể hiểu quản lý chất thải nói chung là một quy trình khép kín và tuần tự, chúng

chúng

Trang 6

luôn chịu sự giám sát chặt chẽ ở tất cả các khâu Việc quản lý chất thải đượcthực hiện bởi nhiều hoạt động khác nhau Những tác động này phải luôn đảmbảo có sự gắn kết, chặt chẽ và tuần tự nhằm tiêu hủy triệt để sự nguy hại củachất thải từ giai đoạn phát sinh đến giai đoạn xử lý và tiêu hủy hoàn toàn.

Quản lý chất thải có thể hiểu là một quá trình tổng hợp của nhiều hoạtđộng không tách rời, bao gồm:

- Hoạt động thu gom chất thải: là việc thu gom, phân loại, đóng gói, lưu giữtạm thời chất thải tại các địa điểm hoặc cơ sở đã được chấp nhận Đây là giaiđoạn đầu tiên, không thể thiếu trong quá trình quản lý chất thải, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải

- Hoạt động lưu giữ chất thải: là việc lưu giữ và bảo quản chất thải trong mộtthời gian nhất định với những điều kiện cần thiết để đảm bảo không rò rỉ,phát tán, thất thoát ra môi trường cho đến khi chất thải được vận chuyển đếncác địa điểm hoặc cơ sở tiêu hủy được chấp nhận Hoạt động này nhằm ngănngừa và hạn chế tình trạng chứa đựng chất thải một cách tùy tiện Yêu cầucủa hoạt động này đòi hỏi các chủ thể có liên quan phải tuyệt đối tuân thủ đểphòng tránh sự cố môi trường có thể xảy ra

- Hoạt động vận chuyển chất thải: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phátsinh đến nơi lưu giữ, xử lý, tiêu hủy chất thải Đây là giai đoạn cần thiết đểquá trình kiểm soát chất thải được triệt để và chặt chẽ hơn

- Hoạt động xử lý chất thải: là quá trình sử dụng công nghệ hoặc biện pháp kỹthuật (kể cả việc thu hồi, tái chế, tái sử dụng, thiêu đốt chất thải) làm thayđổi các tính chất và thành phần của chất thải nhằm làm mất hoặc giảm mức

độ gây nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người Đây là giai đoạnquan trọng nhất nhằm vận dụng những biện pháp thích hợp để xử lý chất thảinhằm loại bỏ

- Hoạt động tiêu hủy chất thải: là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập(bao gồm cả chôn lấp) chất thải làm mất khả năng gây nguy hại đối với môitrường và sức khỏe con người Đây là giai đoạn cuối cùng và có ý nghĩaquyết định trong hoạt động kiểm soát, quản lý chất thải nhằm loại bỏ hoàntoàn tính chất nguy hại của chất thải

Tất cả những hoạt động trên đều có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhưvậy, trong giai đoạn hiện nay, việc quản lý chất thải đã và đang trở thành mộtnhiệm vụ chung của toàn xã hội Trên cơ sở vì một môi trường sạch đẹp, phục

vụ sự phát triển bền vững của đất nước, các tổ chức và cá nhân trong phạm vichức năng và quyền hạn của mình cần nghiên cứu và lựa chọn những biện phápquản lý chất thải phù hợp

II/ Thực trạng chất thải và pháp luật quản lý chất thải trong thời

kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam:

1/ Thực trạng chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam:

Những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển cao hơn của đời sống kinh

tế xã hội , vấn đề chất thải đã được quan tâm và đầu tư thích đáng hơn Nhữngbiện pháp kiểm soát chất thải cơ bản đã có nhiều thành công đáng kể Tuy nhiên,

Trang 7

tất cả những cố gắng đó mới chỉ đạt được một phần rất nhỏ so với nhu cầu đặt

ra Trên thực tế, thực trạng chất thải đang là một vấn đề đáng lo ngại hiện nay ởViệt Nam cũng như nhiều quốc gia khác Số lượng chất thải đã và đang khôngngừng tăng lên cả về chất lượng và chủng loại trong khi quy trình kiểm soát châtthải còn có nhiều điểm bất cập và thiếu triệt để

Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam thải ra trên 15 triệu tấn chất thải, trungbình là 49134 tấn/ ngày bao gồm: Chất thải công nghiệp là 26877 tấn/ ngày, chấtthải sinh hoạt là 21220 tấn/ ngày, chất thải y tế là 240 tấn/ ngày, cùng hàngnghìn m3 nước thải và khí thải từ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, bệnhviện thải ra môi trường(2).Phần lớn chúng đều chưa được xử lý và trở thànhnguy cơ lớn tới sức khỏe và môi trường sống hiện nay Theo số liệu của WBcung cấp, ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh chỉ chiếm24% tổng dân số nhưng lại có đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, bằng gần50% lượng chất thải có trong cả nước

Lượng chất thải phát sinh trong thời kỳ hội nhập kinh tế vẫn không ngừngtăng lên song việc thu gom còn chưa được thực hiện toàn diện Khối lượng chấtthải được xử lý hầu như không đáng kể Theo WB thì chỉ có gần 3/4 lượng rácthải ở các đô thị và 1/5 lượng rác thải ở nông thôn được thu gom, chỉ có khoảng1/5 số điểm tiêu hủy rác trên cả nước là hợp vệ sinh còn chủ yếu là các bãi chônlấp được vận hành không đúng kỹ thuật Hình thức tiêu hủy rác thải chủ yếu là

đổ ở các bãi rác lộ thiên rồi đem đốt, gây ô nhiễm môi trường cho vùng dân cưxung quanh Bên cạnh đó, nước ta còn thiếu những hệ thống xử lý chất thải côngnghiệp nguy hại và các cơ chế khuyến khích việc thực hiện những biện pháp tiêuhủy an toàn

Ngoài ra, lượng khí thải trên đất nước ta khi phát sinh đều chưa được quabất kỳ một khâu xử lý nào khiến cho môi trường không khí bị ô nhiễm nặng nề.Không khí chủ yếu bị ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trung bình một ngày thườngvượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần Nhiều nơi bị ô nhiễm ở mức độnghiêm trọng như: khu dân cư gần nhà mày ximăng Hải Phòng, nhà máy tuyểnthan Hòn Gai Tại nhiều khu dân cư gần các khu công nghiệp lớn, nồng độ khísulfure gấp chỉ số tiêu chuẩn nhiều lần như: khu dân cư gần nhà máy ximăng HảiPhòng (gấp 1,4 lần tiêu chuẩn cho phép), cụm công nghiệp Tân Bình (gấp 1,1lần tiêu chuẩn cho phép) Tại các làng nghề thủ công sản xuất nhựa, gốm, sứ, vậtliệu xây dựng mức độ ô nhiễm không khí đang ở mức báo động như làng gốm

sứ Bát Tràng có nồng độ khí độc hại lớn hơn chỉ tiêu cho phép từ 1,8 đến 2 lần,làng Đông Mai (Hưng Yên) có nồng độ bụi chì vượt quá mức tiêu chuẩn tới

4600 lần(3) Mặt khác, nước thải cũng đang là một vấn đề bức xúc hiện nay.Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có trạm xử lý nước thải Hàng nghìn

m3 nước thải có chứa các chất độc hại được thải trực tiếp ra sông ngòi gây ô

Thế giới (WB) cùng Cơ quan phát triển quốc tế Canada thực hiện

Trang 8

nhiễm nghiêm trọng Ngoài ra, nước thải bệnh viện cũng chưa được xử lý, nhưtại Hà Nội mỗi ngày có hàng trăm nghìn m3 nước thải nhưng hệ thống xử lý chỉđáp ứng được 25% tổng số nước thải đó

Như vậy, cùng với sự phát triển đáng kể của nền kinh tế, thực trạng chấtthải đang là một vấn đề bức xúc hiện nay, đặc biệt là tại các thành phố lớn cómật độ dân số cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như Hà Nội, thành phố HồChí Minh, Hải Phòng

Tìm hiểu về thực trạng chất thải ở Việt Nam hiện nay, ta có thể rút rađược một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm nặng nề do chấtthải này, cụ thể là:

- Do những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường Cùng với sự pháttriển và mở rộng của các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu công nghiệp, khuchế xuất, các loại chất thải ngày càng tăng lên trong khi hầu hết các quá trìnhquản lý chất thải tại Việt Nam chưa được đầu tư đúng mức, những giải pháp

để quản lý và kiểm soát chất thải còn thiếu sự quan tâm của cơ quan chứcnăng và toàn xã hội

- Quá trình đô thị hóa có bước phát triển đáng kể, chất lượng cuộc sống đượcnâng cao cùng với sự gia tăng ồ ạt của những dòng người di cư từ nông thôn

ra thành thị sinh sống, làm ăn khiến khối lượng rác thải ở đô thị tăng lênnhanh chóng Mặc dù trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng – kỹ thuật tạicác đô thị được đầu tư, nâng cấp nhưng cơ bản hệ thống này vẫn còn nhiềuyếu kém

- Thêm nữa, phần lớn người dân chưa có ý thức về trách nhiệm bảo vệ môitrường nói chung và vệ sinh rác thải nói riêng Kiến thức về rác thải còn hạnchế, trong khi đó ngành vệ sinh môi trường vốn cũng chưa hoàn thiện

- Một nguyên nhân nữa là do sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật về chấtthải ở Việt Nam Các cơ quan chức năng chưa thực sự chú trọng đến hoạtđộng bảo vệ môi trường cũng như quản lý chất thải Do đó, quá trình quản lýchất thải của cơ quan có thẩm quyền còn phiến diện và mang tính hình thức.Công tác kiểm tra, giám sát quá trình quản lý chất thải ở các cơ sở, địaphương còn lỏng lèo và nhiều bất cập, từ đó làm nảy sinh các hành vi tiêucực đối với môi trường

- Nguyên nhân cuối cùng là do sự lạc hậu về trình độ khoa học kỹ thuật,phương tiện, thiết bị chuyên dụng, vốn đầu tư cho các dự án, các hoạt động

về kiểm soát chất thải, thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn về vấn đề này

2/ Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế:

2.1/ Các quy định pháp luật chung:

* Đối với cá nhân, tổ chức: Điều 66, 68 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy

định, các cá nhân, tổ chức trong hoạt động của mình mà làm phát sinh chất thảithì phải có những trách nhiệm sau:

- Áp dụng các biện pháp làm giảm thiểu phát sinh chất thải: Các biện phápgiảm thiểu việc phát sinh chất thải rất đa dạng, từ việc áp dụng các biện pháp

Trang 9

khoa học kỹ thuật, sử dụng tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu; sử dụng vật liệubao bì đóng gói cho tới các biện pháp quản lý; áp dụng các phương pháp sảnxuất sạch hơn, sử dụng công nghiệ sạch trong sản xuất Các biện pháp giảmthiểu chất thải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý chấtthải bởi nó loại trừ được nguyên nhân làm phát sinh chất thải.

- Có biện pháp thu gom đến mức tối đa lượng chất thải mà mình tạo ra: Trongtrường hợp không thể loại trừ việc phát sinh chất thải, người sản sinh chấtthải có trách nhiệm thu gom chất thải, không được để chất thải thoát ra ngoàimôi trường Khả năng thực hiện biện pháp thu gom phụ thuộc vào dạng tồntại của chất thải Thực hiện biện pháp thu gom chất thải là điều kiện để thựchiện các nghĩa vụ tiếp theo của người sản sinh chất thải

- Phân loại chất thải ngay từ nguồn: Việc phân loại chất thải từ nguồn nhằmmục đích tránh tình trạng lây nhiễm các chất độc hại từ chất thải này sangchất thải khác và phục vụ cho hoạt động tái chế, tái sự dụng chất thải Phânloại chất thải ngay từ nguồn áp dụng chủ yếu với chất thải rắn Có nhiều tiêuchí khác nhau để tổ chức việc phân loại chất thải, phân loại giữa chất thảiđộc hại và chất thải không độc hại, phân loại chất thải có thể hay không thểtái chế, tái sử dụng Quá trình phân loại chất thải để tái chế, tái sử dụngnhằm mục đích giảm lượng chất thải phải xử lý tiêu hủy

- Có trách nhiệm xử lý chất thải: Trách nhiệm xử lý chất thải là trách nhiệmcủa người sản sinh ra chất thải Người sản sinh chất thải có thể tự mình thựchiện các biện pháp xử lý như chôn lấp, đốt hoặc phải chi trả chi phí để xử

lý Trong trường hợp người sản sinh chất thải không có thiết bị xử lý thì phải

có hợp đồng với một đơn vị có chức năng quản lý chất thải để thu gom và xử

lý triệt để; và phải trả chi phí quản lý và xử lý chất thải.Việc áp dụng cácbiện pháp xử lý phải phù hợp với các yêu cầu của pháp luật, không được làm

ô nhiễm môi trường

Ngoài ra, pháp luật còn quy định các tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạtđộng lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải phải sử dụng phương tiện, công nghệthích hợp nhằm phòng tránh ô nhiễm môi trường Thông thường, các doanhnghiệp thực hiện hoạt động lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải là loại hìnhdoanh nghiệp công ích, chịu sự quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân cáccấp Tuy nhiên trong xu thế xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, Nhà nướckhuyến khích các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức tự quản tham gia vào hoạtđộng này Thực thế trong thời gian qua tại các địa phương như Lạng Sơn, HàNội và một số tỉnh, thành phố khác đã chứng minh hiệu quả rõ rệt về kinh tế vàmôi trường khi đa dạng hóa các hình thức hoạt động lưu giữ, vận chuyển và xử

lý chất thải

Bên cạnh đó, theo điều 67 Luật bảo vệ môi trường 2005 chủ các cơ sở sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ còn phải có trách nhiệm thu hồi sản phẩm đã hết hạn

sử dụng hoặc thải bỏ dưới đây:

- Nguồn phóng xạ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

- Pin, ắc quy

Trang 10

- Thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp.

- Dầu nhớt, mỡ bôi trơn, bao bì khó phân hủy trong tự nhiên

- Sản phẩm thuốc, hóa chất sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản,thuốc chữa bệnh cho người

- Phương tiện giao thông

- Săm, lốp

- Sản phẩm khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

*Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Các cơ quan quản lý Nhà nước

có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực thi nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân

Cụ thể là theo điều 69 Luật bảo vệ môi trường 2005, Ủy ban nhân dân các cấp

2.2.1/ Các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại:

Tại điều 70 Luật bảo vệ môi trường 2005, pháp luật đã quy định cụ thể vềviệc các tổ chức, cá nhân có hoạt động phát sinh chất thải nguy hại hoặc bên tiếpnhận quản lý chất thải nguy hại phải lập hồ sơ, đăng ký với cơ quan chuyên môn

về bảo vệ môi trường cấp tỉnh Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường có tráchnhiệm phổ biến điều kiện về năng lực và hướng dẫn việc lập hồ sơ, đăng ký, cấpphép, mã số hành nghề quản lý chất thải nguy hại cho những tổ chức, cá nhân đủđiều kiện về năng lực quản lý chất thải

Việc phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thảinguy hại cũng được quy định cụ thể tại điều 71, 72, 73 Luật bảo vệ môi trường

2005 Các hoạt động này đều phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhấtđịnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo yêu cầu luật định

Theo điều 74, 75 tại Luật này, cơ sở xử lý chất thải nguy hại và khu chônlấp chất thải nguy hại cũng được quy định với các điều kiện nghiêm ngặt vềcông nghệ cũng như quy trình, thủ tục tiến hành xử lý chất thải để đáp ứng đượccác yêu cầu bảo vệ môi trường

Ngoài ra, pháp luật còn chỉ rõ Bộ Xây dựng cần chủ trì phối hợp với BộTài nguyên và Môi trường và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch tổng thể

Trang 11

quốc gia về thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại trình Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Nội dung quy hoạch tổng thể quốc gia về thu gom, xử lý, chônlấp chất thải nguy hại được quy định tại điều 76 Luật bảo vệ môi trường 2005.

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí mặt bằng xây dựng khu chôn lấpchất thải nguy hại theo quy hoạch đã được phê duyệt

2.2.2/ Các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường:

Theo điều 77 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và điều 3 Nghị định số59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn thì chất thải rắn thông thường gồm chấtthải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp

Điều 78 và điều 79 Luật bảo vệ môi trường là các quy định về thu gom,vận chuyển chất thải rắn thông thường và tiêu chuẩn về cơ sở tái chế, tiêu hủy,khu chôn lấp chất thải rắn thông thường để đảm bảo thực hiện hoạt động quản lýchât thải rắn thông thường một cách hiệu quả Ngoài ra, pháp luật còn quy định

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng, quản lýcác cơ sở tái chế, tiêu hủy, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường trên địa bàn

Bộ Xây dựng cần chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy địnhtiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn, kiểm tra, xác nhận cơ sở tái chế, tiêu huỷ, khuchôn lấp chất thải rắn thông thường

Tại điều 80, Luật bảo vệ môi trường 2005 đã quy địn về nội dung xâydựng quy hoạch về thu gom, tái chế, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải rắn thôngthường Bên cạnh đó, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí mặt bằng,

tổ chức xây dựng và quản lý các cơ sở thu gom, tái chế, tiêu huỷ, khu chôn lấpchất thải rắn thông thường trên địa bàn theo quy hoạch đã được phê duyệt BộXây dựng chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng quyhoạch tổng thể quốc gia về thu gom, tái chế, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải rắnthông thường trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

2.2.3/ Các quy định pháp luật về quản lý nước thải:

Điều 81 Luật bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về thu gom,

xử lý nước thải đối với từng loại nước thải, đó là:

- Đối với hệ thống nước thải ở các khu đô thị và khu dân cư tập trung phảiđược xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đưa vào môi trường

- Đối với nước tải của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ hay khu sản xuấtkinh doanh, dịch vụ phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường

- Đối với bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải được thì được thu gom, xử lýtheo quy định về quản lý chất thải rắn thông thường

- Đối với nước thải, bùn thải có yếu tố nguy hại phải được thu gom, xử lý theoquy định về quản lý chất thải nguy hại

Luật bảo vệ môi trường 2005 còn chỉ ra những đối tượng bắt buộc phải có

hệ thống xử lý nước thải và những tiêu chuẩn cụ thể của các hệ thống đó để đápứng yêu cầu bảo vệ môi trường nước trong sạch (điều 82) Ngoài ra, chủ quản lý

hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và saukhi xử lý Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ để kiểm tra, giám sát hoạtđộng của hệ thống xử lý nước thải

Ngày đăng: 22/04/2013, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w