1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp hạn chế tác động bất lợi từ việc cắt giảm thuế quan của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

82 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 792,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của nhà nước trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế...23 Chương 2: Những tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập.... Quá

Trang 1

LƯU NHUẬN HIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2004

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA : Asean Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do Aean

AIA : Asean Investment Area – Khu vực đầu tư Asean

AICO : Asean Industrial Co-operation – Hợp tác công nghiệp Asean

APEC : Asia Pacific Economic Co-operation – Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái

Bình Dương

ASEAN: Association of South East Asian Nations – Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á

ASEM : Asia-Europe Meeting – Hội nghị Á-Âu

CEPT : Common Effective Preferential Tafiffs – Chương trình ưu đãi thuế

quan có hiệu lực chung

GATT : General Agreement on Tariff and Trade – Thỏa thuận chung về thuế

quan và mậu dịch

GEL : General Exceptions List – Danh mục loại trừ tạm thời

GSP : Generalized System Preference – Hệ thống ưu đãi phổ cập

GTAP : Global Trade Analysis Project – Dự án phân tích thương mại toàn cầu GTGT : Thuế giá trị gia tăng

IL : Inclusion List – Danh mục giảm thuế

IMF : International Monetary Fund – Quĩ tiền tệ quốc tế

MFN : Most Favoured Nation – Tối huệ quốc

NSNN : Ngân sách Nhà nước

Trang 3

NT : National Treatment – Đối xử quốc gia

SL : Sensitive List – Danh mục nhạy cảm

TBT : Technical Barriers to Trade – Các hàng rào kỹ thuật đối với thương

mại

TEL : Temporary Exclusion List – Danh mục loại trừ tạm thời

TNDN: Thuế Thu nhập doanh nghiệp

TTĐB: Thuế Tiêu thụ đặc biệt

WB : World Bank – Ngân hàng Thế giới

WTO : World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới

XNK : Xuất nhập khẩu

Trang 4

MỤC LỤC

*******

Trang Trang phụ bìa

Danh mục các chữ viết tắt 1

Mục lục 3

Mở đầu 5

Chương 1: Thuế quan trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 8

1.1 Những vấn đề chung về thuế quan trong điều kiện hội nhập 8

1.2 Các công cụ phi thuế quan, mối quan hệ giữa công cụ thuế quan và phi thuế quan trong quá trình hội nhập 11

1.3 Hội nhập kinh tế gắn liền với cắt giảm thuế quan là xu hướng tất yếu trong hoạt động kinh tế của mỗi nước hiện nay 14 1.4 Các chính sách của Việt Nam về hội nhập quốc tế liên quan đến thuế quan 15

1.5 Những nguyên tắc của các tổ chức kinh tế và thương mại quốc tế trong điều kiện hội nhập 17

1.6 Nội dung các cam kết ràng buộc về thuế nhập khẩu theo qui định của những tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực 20

1.7 Vai trò của nhà nước trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế 23

Chương 2: Những tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập 26

2.1 Phân tích những tác động ảnh hưởng của việc giảm thuế nhập khẩu 26

Trang 5

2.2 Quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu của nước ta trong thời kỳ mở cửa và hội

nhập 28

2.3 Phân tích tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế nước ta 30

2.4 Bán phá giá và những khó khăn của nước ta khi phải đối phó với các tranh chấp phá giá 37

2.5 Kinh nghiệm của một số nước về việc thực hiện quá trình hội nhập quốc tế 39

Chương 3: Những giải pháp hạn chế tác động bất lợi từ việc cắt giảm thuế quan của Việt Nam thời kỳ hội nhập 44

3.1 Những mục tiêu được đặt ra khi áp dụng các giải pháp hạn chế 44

3.2 Hệ thống giải pháp hạn chế hạn chế tác động bất lợi đối với nước ta trong hội nhập quốc tế 47

3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp hạn chế tác động bất lợi đối với nước ta 60

Kết luận 64

Tài liệu tham khảo 66

Phụ lục 69

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Tự do hóa thương mại ngày nay đã trở nên rất cần thiết đối với mỗi quốc gia trên thế giới Hệ quả của nó là quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra rất sôi động và trở thành một xu thế khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển, nhưng cũng đặt mỗi nước phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó vấn đề xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan nhằm thực hiện tự do hóa thương mại toàn cầu đang là một thách thức to lớn Việc cắt giảm thuế quan không chỉ ảnh hưởng đến tính hệ thống của chính sách thuế nói chung mà còn tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự thay đổi các chính sách kinh tế – xã hội của đất nước

Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia vào khu vực mậu dịch tự do Asean (AFTA), gia nhập diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ – mở đường cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Vì vậy, nghiên cứu những tác động bất lợi do cắt giảm thuế quan đối với nền kinh tế nước ta để có các đối sách hữu hiệu là một đòi hỏi cấp

thiết Cho nên, việc chọn đề tài: “Những giải pháp hạn chế tác động bất lợi từ việc

cắt giảm thuế quan của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” vừa có ý nghĩa lý luận,

vừa có ý nghĩa thời sự trong giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Kể từ sau ngày đổi mới, trong quá trình hội nhập kinh tế của nước ta, đã có những bài viết, những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của hội nhập kinh tế

Trang 7

quốc tế đối với Việt Nam về các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, thu Ngân sách Nhà nước Kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước mà đi sâu phân tích, xây dựng những luận cứ khoa học nhằm đưa ra giải pháp để hạn chế những bất lợi đối với nền kinh tế nước ta trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng đầy đủ hơn với kinh tế khu vực và thế giới Đó là mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3 Phạm vi nghiên cứu:

Để mục tiêu nghiên cứu được thiết thực, đề tài nêu lên những lý luận chung về thuế quan và các công cụ phi thuế quan, tất cả được đặt trong bối cảnh Nhà nước ta đã đưa ra lộ trình cắt giảm thuế quan thực hiện theo AFTA và xác định những định hướng chính trong lộ trình thuế quan để gia nhập WTO Từ đó đánh giá được những tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế Việt Nam Các giải pháp được nêu ra trên cơ sở các nguyên tắc, gắn liền với chủ trương của Nhà nước về hội nhập và phù hợp với những qui định về thuế nhập khẩu của các tổ chức kinh tế quốc tế

4 Phương pháp nghiên cứu:

Do khuôn khổ lý thuyết chật hẹp, những hạn chế về các số liệu kinh tế vĩ mô nên phương pháp nghiên cứu sẽ được trợ giúp bởi việc sử dụng các mô hình và các kịch bản khác nhau, kể cả mô hình cân bằng tổng thể để mô phỏng các tác động nhưng không làm mất ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề.Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, dự báo Việc vận dụng các phương pháp trên đều tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện và hệ thống Hơn nữa, với các phụ lục, biểu bảng được sử dụng đưa vào luận văn nhằm làm sáng tỏ, phong phú thêm nội dung trình bày

Trang 8

5 Cấu trúc của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và biểu bảng, nội dung của đề tài thể hiện chủ yếu gồm 3 chương:

Chương 1: Thuế quan trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2: Những tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập

Chương 3: Những giải pháp hạn chế tác động bất lợi từ việc cắt giảm thuế quan của Việt Nam thời kỳ hội nhập

Trang 9

CHƯƠNG I THUẾ QUAN TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Ngày nay, hoạt động kinh tế của một quốc gia không còn giới hạn trong chính quốc gia đó nữa mà đã vươn ra đến các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và trở thành một xu thế khách quan Từ đó, xuất hiện các phạm trù “Quan hệ kinh tế quốc tế”, “Hội nhập kinh tế quốc tế” mà nội dung cốt lõi là việc cắt giảm thuế quan Thật thế , vấn đề cắt giảm, xóa bỏ hàng rào thuế quan luôn là mối quan tâm hàng đầu trong các cuộc thảo luận, đàm phán thương mại giữa các nước, các tổ chức kinh tế quốc tế Như vậy, thuế quan là gì, thuế quan ra đời trong điều kiện nào, vai trò của thuế quan đối với nền kinh tế của một quốc gia ra sao và tại sao giảm thuế quan trở thành một quá trình tất yếu trong xu hướng hội nhập quốc tế của mỗi nước là những nội dung chính được đề cập trong chương này

1.1 Những vấn đề chung về thuế quan trong điều kiện hội nhập:

1.1.1 Khái niệm thuế quan:

Thuế quan là một khoản tiền tệ mà người chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước chủ nhà Nói cách khác, thuế quan là thuế đối với hàng hóa khi qua cửa khẩu của mỗi quốc gia Theo cách nhìn của các nhà xuất nhập khẩu thì thuế quan được xem như một loại chi phí vận chuyển Xét trong quá trình vận động của hàng hóa qua cửa khẩu thì thuế quan có 2 loại:

- Thuế xuất khẩu: là thuế đánh trên hàng hóa xuất khẩu qua khỏi biên giới quốc gia

Trang 10

- Thuế nhập khẩu: là thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu từ thị trường nước ngoài vào thị trường trong nước

1.1.2 Sự ra đời của lý thuyết bảo hộ bằng thuế quan:

Trong lý thuyết “Lợi thế tuyệt đối”, Adam Smith cho rằng, thương mại quốc tế được dựa trên lợi thế tuyệt đối của từng nước, nghĩa là mỗi quốc gia nên tập trung nguồn lực của mình để sản xuất loại hàng hóa mà nước mình có chi phí sản xuất thấp nhất và đem trao đổi với những nước không có lợi thế tuyệt đối về hàng hóa đó Điều này không những tiết kiệm chi phí sản xuất trong nước mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từng nước

Sau này, David Ricardo đã bổ sung lý thuyết của Adam Smith và cho rằng, trao đổi thương mại giữa một nước có lợi thế tuyệt đối và một nước không có lợi thế tuyệt đối vẫn có thể được tiến hành một cách hiệu quả nhờ dựa trên “lợi thế tương đối” của mỗi nước Các nước tham gia thương mại trong điều kiện đó vẫn có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất khi mỗi nước đều tập trung nguồn lực vào sản xuất các ngành hàng mà họ có chi phí tương đối thấp hơn

Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra quan điểm cho rằng, nếu nền kinh tế thế giới chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh thì trong dài hạn, lợi ích của các nước đang phát triển sẽ giảm dần và có thể bằng không Do đó, các nước đang phát triển cần tập trung nguồn lực của mình để phát triển các ngành công nghiệp trong nước với sự trợ giúp của công cụ thuế quan

Theo quan điểm này, những ngành công nghiệp có tiềm năng nhưng chưa có đủ điều kiện phát triển trước mắt sẽ được lựa chọn để áp dụng chế độ thuế quan bảo hộ cao trong một thời gian nhất định Khi các ngành này đã tự khẳng định được

Trang 11

năng lực cạnh tranh của mình thì hàng rào thuế quan sẽ bị bãi bỏ Đó chính là cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết bảo hộ bằng thuế quan

1.1.3 Vai trò của thuế quan:

Trong thương mại quốc tế, thuế quan có những vai trò sau:

Thứ nhất, thuế quan có vai trò điều tiết xuất nhập khẩu Một bộ phận quan trọng

trong giá cả hàng hóa ngoại thương là thuế quan Thuế quan thấp hay cao đều ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa, do đó thông qua mức thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu, chính phủ gián tiếp điều tiết xuất nhập khẩu hàng hóa

Thứ hai, thuế quan có tác dụng bảo hộ thị trường nội địa Bởi vì việc đánh thuế

cao vào những hàng hóa nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước bằng giá rẻ có thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu, tạo điều kiện để các ngành sản xuất non trẻ trong nước có thời gian trưởng thành và sinh lời nhằm cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai

Thứ ba, thuế quan có tác dụng tăng thu cho NSNN Ngày nay, cùng với tiến trình

toàn cầu hóa, vai trò của thuế quan đối với nguồn thu ngân sách ngày càng giảm nhưng đối với nhiều nước , thuế nhập khẩu vẫn là nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia

Thứ tư, thuế quan được xem là công cụ mậu dịch mang tính minh bạch hơn so với

các công cụ phi thuế quan vì thông qua mức thuế suất đánh trên hàng hóa, người ta dễ xác định được các tác động tiêu cực của chính sách bảo hộ đối với tiến trình hội nhập kinh tế của quốc gia để qua đó gây sức ép điều chỉnh

Thứ năm, thuế quan là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và tạo

áp lực nhượng bộ trong đàm phán thương mại của các đối tác

Trang 12

1.2 Các công cụ phi thuế quan, mối quan hệ giữa công cụ thuế quan và phi thuế quan trong quá trình hội nhập:

1.2.1 Khái niệm về công cụ phi thuế quan:

Công cụ phi thuế quan là tổng hợp các biện pháp hành chính pháp lý, tài chính tiền tệ và kỹ thuật mà nhà nước áp dụng để tác động lên hoạt động nhập khẩu nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sự xâm nhập của hàng hóa từ nước ngoài

1.2.2 Bản chất của công cụ phi thuế quan:

Bản chất của công cụ phi thuế quan là sử dụng những biện pháp hành chính, kinh tế, kỹ thuật để điều chỉnh hoạt động ngoại thương theo hướng có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế của đất nước

Việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan làm cho giá cả của hàng hóa không còn tuân thủ theo qui luật thị trường, gây cản trở mậu dịch tự do, nó chỉ phù hợp trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi Để thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, các nước đã đi đến cam kết lượng hóa bảo hộ bằng phi thuế quan và cho phép chuyển thành biện pháp thuế quan theo một quá trình cắt giảm phù hợp với các cam kết

1.2.3 Các loại công cụ phi thuế quan:

1.2.3.1 Các biện pháp hạn chế về số lượng:

Thực chất của các biện pháp này là sử dụng những qui định hành chính pháp lý để điều tiết quá trình nhập khẩu Các hình thức hạn chế số lượng bao gồm: (1) Cấm hẳn nhập khẩu một số loại hàng hóa nào đó; (2) Hình thức giấy phép; (3) Hạn ngạch nhập khẩu; (4) Hình thức tự hạn chế xuất khẩu

Vai trò của các biện pháp này thể hiện ở chỗ:

Trang 13

- Là công cụ tham gia bảo hộ thị trường nội địa trong trường hợp thuế quan không phát huy tác dụng

- Là công cụ để thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại, gây áp lực đối với các đối tác trong thương mại quốc tế

- Tham gia điều tiết cung – cầu đối với những sản phẩm nhập khẩu quan trọng trên những thị trường chiến lược

- Tham gia bảo hộ thị trường nội địa trong trường hợp khẩn cấp

1.2.3.2 Các biện pháp tài chính – tiền tệ:

Thực chất của nhóm biện pháp này là chính phủ sử dụng những công cụ tài chính để điều tiết quá trình nhập khẩu Các biện pháp này bao gồm: (1) Ký quĩ hay đặt cọc nhập khẩu; (2) Áp dụng hệ thống thuế nội địa để điều tiết nhập khẩu; (3) Sử dụng cơ chế tỉ giá; (4) Tài trợ xuất khẩu

1.2.3.3 Các biện pháp mang tính kỹ thuật:

Đây là hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu hết sức khắc khe như: tiêu chuẩn về qui cách, mẫu mã, chất lượng, về vệ sinh thú y, về an toàn lao động, về mức độ gây

ô nhiễm môi trường v.v Nếu hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn trên đều không được nhập khẩu vào nội địa

Trong điều kiện khoa học – kỹ thuật phát triển, mức sống được nâng lên thì yêu cầu cao đặt ra đối với các sản phẩm sản xuất nói chung và các sản phẩm nhập khẩu nói riêng mang tính tất yếu khách quan Tuy nhiên, nhiều nước đã quá lạm dụng tiêu chuẩn đặt ra đối với hàng hóa, coi nó như là một công cụ để bảo hộ thị trường nội địa

Trang 14

Tóm lại, trong quá trình toàn cầu hóa, các biện pháp bảo hộ mậu dịch ngày càng phức tạp và tinh vi, tạo nên những rào cản thương mại khó lường trước đối với hàng hóa xuất khẩu vào các nước nhập khẩu

1.2.4 Mối quan hệ giữa công cụ thuế quan và phi thuế quan trong hội nhập quốc tế:

Mục đích chính của việc sử dụng thuế quan và phi thuế quan là nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước Thuế quan có lợi trực tiếp cho ngân sách quốc gia, còn biện pháp phi thuế quan có lợi trực tiếp cho các doanh nghiệp trong nước Các biện pháp phi thuế quan rất đa dạng, phức tạp, khó lượng hóa đầy đủ Vì vậy, kéo dài các biện pháp này sẽ ảnh hưởng đến tiến trình tự do hóa thương mại, dễ phát sinh độc quyền, lạm quyền thông qua việc ban hành các biện pháp phi thuế quan

Trong từng bước hội nhập, phải thuế quan hóa các hàng rào phi thuế quan Các nước có thể áp dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo vệ nền sản xuất trong nước khi các qui định của quốc tế chưa cấm Tuy nhiên, việc ban hành các biện pháp phi thuế quan trong tương lai phải được cân nhắc để đảm bảo không vi phạm các thỏa thuận của Việt Nam với các nước và tổ chức kinh tế quốc tế Đồng thời, tránh lợi dụng những rào cản này để tạo lợi thế cục bộ, giả tạo ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh lâu dài của hàng hóa nước ta khi các biện pháp phi thuế quan đó bị xóa bỏ

Trang 15

1.3 Hội nhập kinh tế gắn liền với cắt giảm thuế quan là xu hướng tất yếu trong hoạt động kinh tế của mỗi nước hiện nay:

1.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan:

Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Bởi vì ngày nay, hai phạm trù thực tiễn tồn tại khách quan đó là: Quan hệ hàng hóa – tiền tệ và sự trao đổi này đã ra khỏi phạm vi của một quốc gia và sự tồn tại của các quốc gia độc lập có chủ quyền Cho nên hội nhập kinh tế giữa các nước mang tính tất yếu khách quan

Mỗi quốc gia luôn chứa đựng trong mình một tiềm năng kinh tế nhất định, nhưng không phải đã đầy đủ và hoàn thiện Có quốc gia có lợi thế so sánh về mặt này nhưng lại yếu mặt khác Nếu không hội nhập thì điểm mạnh của mỗi quốc gia sẽ không được phát huy một cách hiệu quả nhất và đồng thời không khắc phục, bổ khuyết được những điểm yếu, hạn chế

Tóm lại, hội nhập kinh tế quốc tế đã thực sự trở thành xu hướng tất yếu xuất phát từ hai nguyên nhân khách quan: tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ (quan hệ trao đổi sản phẩm) và tồn tại các quốc gia độc lập được xem như một bộ phận của thế giới thống nhất

1.3.2 Hội nhập kinh tế phải gắn liền với cắt giảm thuế quan:

Cần phân biệt hội nhập kinh tế quốc tế với quan hệ kinh tế quốc tế Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể các mối quan hệ đối ngoại của các nước Biểu hiện cụ thể của quan hệ kinh tế quốc tế là việc trao đổi buôn bán giữa các nước nhằm khai thác lợi ích của thương mại quốc tế Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mỗi nước là một thị trường riêng

Trang 16

biệt và thị trường này được bảo vệ bởi công cụ thuế quan do nhà nước qui định Nhà nước sẵn sàng can thiệp và can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế thông qua chính sách thuế quan để bảo vệ nền sản xuất nội địa khi cần thiết Vì vậy, những lợi ích của thương mại quốc tế có khi chưa được khai thác một cách triệt để

Trong điều kiện hiện nay, các nước ngày càng thấy được tầm quan trọng và lợi ích của thương mại quốc tế thì quan hệ kinh tế quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới, đó là hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế cũng là những quan hệ kinh tế mà kết quả là tạo ra các thị trường thương mại tự do mang tính khu vực (như AFTA, APEC, NAFTA ) và thế giới (WTO) Cơ sở của hội nhập kinh tế dựa trên sự tự nguyện cam kết cắt giảm, xóa bỏ hàng rào thuế quan vốn ngăn cản tự do thương mại Bất kỳ một nước nào muốn tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế đều phải trải qua giai đoạn đàm phán để cắt giảm thuế quan với các nước thành viên

Do đó, ta có thể nói rằng, nếu hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan thì việc cắt giảm, xóa bỏ các hàng rào thuế quan cũng là một quá trình tất yếu trong xu hướng hội nhập của mỗi nước Và hiện nay, các nước đều xây dựng cho mình một lộ trình cắt giảm thuế quan phù hợp với những nguyên tắc và cam kết của các tổ chức kinh tế quốc tế

1.4 Các chính sách của Việt Nam về hội nhập quốc tế liên quan đến thuế quan:

Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX khẳng định: “Tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển, tích cực chuẩn bị các điều kiện về kinh tế, thể chế, cán bộ để thực hiện thành công quá trình hội nhập trên cơ sở phát huy nội lực, bảo đảm độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi Thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết trong quá trình hội

Trang 17

nhập, trước hết là lộ trình giảm thuế quan Thực hiện các chính sách bảo hộ có trọng điểm, có điều kiện và có thời hạn phù hợp với tiến trình hội nhập Tích cực thực hiện các cam kết đối với các cơ chế hợp tác song phương và đa phương mà nước ta đã tham gia, đặc biệt chú ý tới các cam kết trong khuôn khổ ASEAN (như AFTA, AICO, AIA ), APEC, ASEM; xúc tiến đàm phán để gia nhập WTO Từng ngành, từng doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch, giải pháp để thực hiện các cam kết quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, mở rộng thị phần trên những thị trường truyền thống, khai thông và mở rộng thị trường

mới”.(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 330)

Trong chiến lược phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010, Bộ Thương mại đã đề ra những chính sách sau:

- Một là, tạo dựng sự nhất trí cao, quyết tâm lớn trong việc hội nhập vào nền

kinh tế khu vực và quốc tế để giành những ưu đãi về thương mại, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, thúc đẩy sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động

- Hai là, xây dựng một lộ trình hợp lý, phù hợp với điều kiện của ta và với cam

kết quốc tế và giảm quan thuế, thuế hóa đi đôi với việc xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia, lịch trình bảo hộ công bố công khai để các ngành có hướng sắp xếp sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh Điều cấp bách là xây dựng lộ trình tổng thể tham gia AFTA, đi đôi với việc tích cực, chủ động xây dựng lộ trình đàm phán với WTO Thể theo các lộ trình đó, có chương trình điều chỉnh, sửa đổi, xây dựng các văn bản pháp qui tương ứng

Trang 18

- Ba là, chủ động thay đổi về căn bản phương thức quản lý nhập khẩu Tăng

cường sử dụng các công cụ phi thuế “hợp lý” như các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, môi trường Giảm dần tỉ trọng của thuế nhập khẩu trong cơ cấu nguồn thu ngân sách

- Bốn là, tích cực xúc tiến việc sắp xếp lại các doanh nghiệp, đổi mới công nghệ,

phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của từng ngành hàng

- Năm là, tận dụng các thể chế ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và kém

phát triển trong đàm phán song phương và đa phương

- Sáu là, Nhà nước tăng cường phổ biến kiến thức cho xã hội về hội nhập, các

doanh nghiệp chủ động tìm hiểu để tận dụng những thuận lợi mới do quá trình hội nhập đem lại, đồng thời ứng phó thắng lợi với những thách thức nảy sinh

1.5 Những nguyên tắc của các tổ chức kinh tế và thương mại quốc tế trong điều kiện hội nhập:

1.5.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại quốc tế:

Đây là một nguyên tắc bao trùm nhất của WTO, được áp dụng như một nguyên tắc cơ bản trong mậu dịch khu vực và các hiệp định thương mại song phương Nguyên tắc này thể hiện dưới hai dạng đó là nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)

- Nguyên tắc tối huệ quốc qui định các bên tham gia ký kết trong quan hệ buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không kém thuận lợi hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc sẽ dành cho các nước khác Mục đích của việc sử dụng nguyên tắc này là nhằm chống phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế, làm cho điều kiện cạnh tranh giữa các bạn hàng ngang bằng nhau nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước

Trang 19

- Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các nhà kinh doanh trong nước và nhà kinh doanh nước ngoài trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và đầu tư

1.5.2 Nguyên tắc bảo hộ sản xuất trong nước thông qua thuế nhập khẩu:

Như đã nói ở trên, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, để bảo vệ nền sản xuất trong nước, nhiều quốc gia đã áp dụng những biện pháp can thiệp vào các hoạt động kinh tế đối ngoại Tuy nhiên, việc áp dụng những biện pháp này có thể làm méo mó hệ thống giá cả trong nước và tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp

Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho các nước, nhất là các nước đang phát triển trong quá trình hội nhập, WTO thừa nhận thuế nhập khẩu là biện pháp bảo hộ thị trường nội địa duy nhất được áp dụng vì đây là biện pháp bảo hộ mang tính minh bạch, ít bóp méo thương mại nhất Các hàng rào bảo hộ mậu dịch phi thuế quan cần được bãi bỏ

1.5.3 Nguyên tắc công khai, minh bạch:

Nguyên tắc này cung cấp cho các thành viên cơ sở để tiến hành việc chống trả lại các biện pháp có thể bóp méo giá cả hoặc gây tổn hại cho các nước thành viên Nó ràng buộc các nước phải đưa ra những đối xử công bằng, giảm bớt bảo hộ mậu dịch, luật lệ thương mại phải được công khai rõ ràng để giá hàng nhập khẩu, thủ tục liên quan đến quá trình nhập khẩu không bị bóp méo

1.5.4 Nguyên tắc có đi có lại và tôn trọng các cam kết về thuế nhập khẩu:

Nguyên tắc này qui định nếu một nước có những biện pháp mở cửa thị trường như hạ thấp thuế nhập khẩu, xóa bỏ một phần hay toàn bộ hàng rào phi thuế quan đối với hàng nhập khẩu, thì họ có quyền đòi hỏi các nước thành viên khác cũng

Trang 20

phải có những nhượng bộ tương tự Nguyên tắc này đòi hỏi các nước thành viên phải tìm cách cân bằng những lợi ích và nghĩa vụ của mình trong các đàm phán song phương và đa phương

1.5.5 Nguyên tắc tự do hóa và các ràng buộc về cắt giảm thuế quan:

WTO cũng như các tổ chức kinh tế khu vực không đòi hỏi tự do hóa thương mại nhanh chóng mà yêu cầu các nước thành viên tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình đàm phán thương mại nhằm mục đích tự do hóa, thông qua việc giảm cơ bản mặt bằng thuế quan nói chung và các khoản phí khác đối với xuất nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là giảm mức thuế suất cao đối với hàng hóa nhập khẩu Đây là một yếu tố quan trọng mang tính nền tảng trong thương mại quốc tế Đối với các khối mậu dịch khu vực, vấn đề cắt giảm thuế quan thể hiện ở những ràng uộc cao hơn (chẳng hạn loại bỏ hoàn toàn thuế quan) với những qui định cụ thể về mức thuế phải được cắt giảm trong từng thời điểm xác định

1.5.6 Nguyên tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc:

Theo nguyên tắc này, các nước thuộc WTO được áp dụng các biện pháp bảo vệ tạm thời để bảo vệ thị trường nội địa trong những trường hợp khẩn cấp như lượng hàng nhập khẩu ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất trong nước, bán phá giá Đó là các biện pháp: thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, hạn chế định lượng, biện pháp tự vệ khẩn cấp

Tuy nhiên, WTO cũng đòi hỏi nước áp dụng biện pháp tự vệ khẩn cấp phải có nghĩa vụ thông báo về các biện pháp mà mình áp dụng với các mặt hàng bị ảnh hưởng Hơn nữa, các biện pháp tự vệ khẩn cấp không được áp dụng khi sản xuất trong nước gặp khó khăn do năng lực cạnh tranh kém có nguyên nhân từ trình độ quản lý kém, sử dụng công nghệ lạc hậu, giá thành sản phẩm trong nước cao v.v

Trang 21

1.6 Nội dung các cam kết ràng buộc về thuế nhập khẩu theo qui định của tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế:

1.6.1 Cam kết ràng buộc trong AFTA:

Đó chính là Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung cho Khu vực thương mại tự do Asean (CEPT/AFTA) do các Bộ trưởng kinh tế Asean ký tại Hội nghị thượng đỉnh Asean lần IV (Singapore ngày 28/1/1992)

Thực chất của Chương trình CEPT là các nước thành viên Asean đạt được thỏa thuận giảm thuế quan chung xuống còn ở mức 0% - 5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và hàng rào phi thuế quan trong thương mại nội bộ các nước Asean trong vòng 10 năm, bắt đầu từ ngày 1/1/1993 và hoàn thành vào ngày 1/1/2003 Việt Nam – thành viên mới gia nhập nên thời hạn này được hoàn thành vào ngày 1/1/2006

Các sản phẩm thực hiện giảm thuế nhập khẩu do các nước hội viên Asean tự đề nghị căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của mỗi nước, bao gồm: danh mục giảm thuế ngay (IL), danh mục tạm thời chưa cắt giảm (TEL), danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) và danh mục hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL)

1.6.2 Cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong APEC:

Mục tiêu hoạt động của APEC là nhằm lập ra một diễn đàn kinh tế mở để xúc tiến các biện pháp thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, thực sự mở cửa đối với tất cả các nước khác

Do đó, APEC đòi hỏi cắt giảm mạnh thuế quan và công khai các chế độ thuế quan của các nước thành viên, tiến tới xóa bỏ những hạn chế phi thuế quan không chính đáng đối với xuất nhập khẩu Các nước phải làm rõ chính sách thuế quan, các biện pháp phi thuế quan cũng như phải liên tục thực hiện cắt giảm thuế quan và phi

Trang 22

thuế quan theo những thời hạn qui định cho các thành viên nước phát triển là năm

2010, các thành viên các nước đang phát triển là năm 2020 Về cơ bản đến thời điểm đó, thuế nhập khẩu giữa các quốc gia là 0%

1.6.3 Cam kết về thuế khi gia nhập WTO:

1.6.3.1 Các cam kết ràng buộc về thuế quan:

Việc xác định các cam kết ràng buộc về thuế nhập khẩu không có những qui định cụ thể về cách thức, mức độ ràng buộc áp dụng cho mọi nước, mà tất cả các nội dung cam kết đều là đối tượng để đàm phán, thương lượng giữa nước xin gia nhập và các nước thành viên của WTO Sau khi đàm phán, kết quả của nó sẽ hình thành danh mục các cam kết nhượng bộ về thuế nhập khẩu của các thành viên mới gia nhập

Những mặt hàng không nhất thiết phải thực hiện cam kết ràng buộc về thuế nhập khẩu gồm:

- Các mặt hàng liên quan đến việc bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ quyền lợi và sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ an ninh quốc gia Các mặt hàng này ghi tại điều 20 và 21 của Hiệp định trị giá GATT

- Các mặt hàng có ý nghĩa quan trọng tùy thuộc theo chủ trương, định hướng chính sách phát triển của từng nước

Những mặt hàng có cam kết ràng buộc thuế nhập khẩu gồm 3 loại:

Loại 1 – Cam kết thực hiện mức thấp hơn mức thuế suất đang áp dụng: các nước phải đưa ra lịch trình cắt giảm cụ thể tương ứng với mức thời gian đạt được cam kết Loại 2 – Cam kết thực hiện ở mức bằng thuế suất đang áp dụng

Trang 23

Loại 3 – Cam kết ở mức cao hơn mức đang áp dụng (gọi là ràng buộc trần) Loại cam kết này được các nước đang phát triển quan tâm vì nó tạo ra sự an toàn về mặt pháp lý khi xuất khẩu vào thị trường của họ hơn là tăng cường mở cửa thị trường 1.6.3.2 Các cam kết khác có liên quan đến chính sách thuế:

Thực hiện qui chế tối huệ quốc: nếu đã dành cho một nước nào đó hưởng một ưu đãi về thuế nhập khẩu hoặc các ưu đãi về phí hải quan, cách thức đánh các loại thuế, áp dụng các luật lệ và thủ tục có liên quan đến xuất nhập khẩu thì cũng phải dành cho tất cả các nước thành viên sự ưu đãi như vậy

Thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia: hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau

Chỉ được bảo hộ bằng thuế quan, không được bảo hộ bằng các biện pháp khác

1.6.4 Các cam kết ràng buộc trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ:

Theo nội dung của Hiệp định đã được ký kết, hai bên Mỹ và Việt Nam dành cho nhau qui chế tối huệ quốc trong quan hệ thương mại Mỹ sẽ dành cho Việt Nam chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập, theo đó thuế suất thuế nhập khẩu trung bình của hàng hóa Việt Nam vào thị trường Mỹ sẽ giảm từ 40% xuống còn 3% - 4%

Theo cam kết trong Hiệp định, đến năm 2005, mức thuế trung bình của hàng hóa Mỹ vào Việt Nam cũng sẽ giảm từ 30% - 40% xuống còn 10% - 20% Cùng với việc giảm thuế suất, theo lộ trình từ năm 2005 đến năm 2012, Việt Nam cũng cam kết bãi bỏ các qui định hạn chế định lượng đối với rất nhiều mặt hàng công nghiệp

Trang 24

1.7 Vai trò của nhà nước trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế: 1.7.1 Xây dựng hành lang pháp lý:

Hội nhập quốc tế dù ở mức độ nào thì luật pháp quốc tế cũng như các thông lệ quốc tế và vai trò, lợi ích của các quốc gia đều có mối quan hệ với nhau, chi phối lẫn nhau Hội nhập và hợp tác quốc tế mục đích nhằm nâng cao hiệu quả nền kinh tế của các quốc gia Mọi hoạt động kinh tế – xã hội diễn ra ở cấp độ quốc gia, khu vực và trên thế giới đều phải dựa trên môi trường pháp lý, các cam kết quốc tế Chính vì vậy, vấn đề xây dựng luật pháp quốc gia phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế về môi trường kinh doanh là trách nhiệm của nhà nước Hành lang pháp lý ổn định, công bằng tạo nên môi trường kinh doanh bình đẳng, khuyến khích mọi đối tượng tham gia hoạt động kinh tế phải năng động, sáng tạo để có thể tồn tại, phát triển trên thị trường trong nước và quốc tế

1.7.2 Thúc đẩy năng lực cạnh tranh:

Yếu tố cơ bản quyết định sự thành công của quá trình hội nhập là khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Khả năng cạnh tranh được xác định bởi hai yếu tố cơ bản là chất lượng và giá cả hàng hóa Để đạt được mục tiêu, vấn đề đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng quản lý phụ thuộc rất nhiều yếu tố, cả chủ quan và khách quan đối với từng doanh nghiệp, từng ngành hàng Trong đó, đáng kể là khả năng tài chính, tiếp thị, trình độ quản lý Vì vậy, ngoài nỗ lực của doanh nghiệp thì vai trò của nhà nước có ý nghĩa quyết định nhằm góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh từ việc hoạch định chiến lược, cơ chế tài chính, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại

Trang 25

1.7.3 Xác lập lộ trình hội nhập:

Quan hệ về kinh tế, thương mại cũng như các lĩnh vực khác giữa các quốc gia với nhau phải thông qua đàm phán, ký kết giữa các nhà nước với nhau Do đó, chính phủ cần phải có lộ trình hội nhập thích hợp và lộ trình này phải xuất phát từ khả năng nội tại, xu thế khách quan của nền kinh tế và qui định của các định chế kinh tế quốc tế Căn cứ lộ trình hội nhập, các ngành, các doanh nghiệp xây dựng lộ trình cụ thể trên cơ sở khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh của hàng hóa, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực để nâng cao khả năng thích ứng trên thị trường trong nước và quốc tế

1.7.4 Sử dụng các công cụ kinh tế, tài chính trong tiến trình tham gia hội nhập:

Ý chí của nhà nước được thể hiện qua mục tiêu của quá trình hội nhập Mục tiêu này bao gồm các mục tiêu kinh tế (gia tăng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu ) và các mục tiêu xã hội (giải quyết việc làm, thúc đẩy phúc lợi xã hội, công bằng xã hội ) Vì vậy, muốn đạt được mục tiêu, nhà nước cần phải sử dụng các công cụ kinh tế, tài chính như chính sách lãi suất tín dụng, chính sách tỉ giá, chính sách phân phối, chính sách lao động Hệ thống các chính sách, công cụ kinh tế, tài chính đồng bộ sẽ là động lực trực tiếp hoặc gián tiếp mà hệ quả của nó là nếu các chính sách này được sử dụng hợp lý sẽ kích thích phát triển nền kinh tế thông qua các tế bào của nó là các doanh nghiệp, các nhà sản xuất

Chính phủ Việt Nam đã thông qua chiến lược hội nhập với nền kinh tế thế giới trong suốt thập niên vừa qua Thực hiện chính sách đổi mới từ năm 1986, Việt Nam mở cửa ra với thế giới bên ngoài, đồng thời thực hiện các cải tổ cần thiết ở trong nước một cách có hệ thống

Trang 26

Từ đầu thập niên 1990, Việt Nam đã thực hiện những bước đầu tiên trong quá trình hội nhập quốc tế của mình Năm 1993, Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế như Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Ngày 28.7.1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của HIệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và ngày 15.12.1995, Việt Nam chính thức tham gia Khu vực mậu dịch tự do Châu Á (AFTA) bằng việc ký kết thỏa ước về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Tháng 3.1996 tham gia lần đầu tiên vào Hội nghị những người đứng đầu nhà nước và chính phủ các nước Á – Âu (ASEM) và Việt Nam trở thành một trong những nhà sáng lập diễn đàn này Tháng 1.1995, Việt Nam đã gởi đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Ngày 18.11.1998, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Ngày 13.7.2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương với Mỹ và năm

2001, Quốc Hội hai nước đã phê chuẩn Hiệp định đó, có hiệu lực thi hành từ tháng 12.2001

Tóm lại, ta có thể kết luận rằng, khi thương mại quốc tế xuất hiện thì thuế quan với vai trò là công cụ chủ yếu để bảo vệ sản xuất trong nước cũng ra đời Và ngày nay, đối với nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển thì thuế quan vẫn được xem như một vũ khí hiệu nghiệm nhất để bảo vệ thị trường nội địa Tuy nhiên, trong xu hướng tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia đã và đang xây dựng cho mình một lộ trình để “mở cửa” hội nhập và chìa khóa cho việc

“mở cửa” này là xóa bỏ hàng rào thuế quan theo nguyên tắc và cam kết của các tổ chức kinh tế trên thế giới Chính vì vậy, cắt giảm, xóa bỏ thuế quan trở thành một quá trình tất yếu trong điều kiện hội nhập của tất cả các quốc gia

Trang 27

CHƯƠNG 2 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CẮT GIẢM THUẾ QUAN ĐẾN NỀN

KINH TẾ VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

Trong quá trình hội nhập, các tổ chức kinh tế thương mại khu vực và thế giới đều đòi hỏi các nước thành viên phải cam kết giảm thuế quan và loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan để thực hiện tự do hóa hoàn toàn trong quan hệ thương mại Điều này dẫn đến những tác động thuận lợi cũng như bất lợi, đặc biệt cho các nước đang phát triển trong thời kỳ đầu của tiến trình hội nhập

Vì vậy, phân tích những ảnh hưởng bất lợi từ việc cắt giảm thuế quan của nước

ta để có những đối sách hữu hiệu mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng

2.1 Phân tích những tác động ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế nhập khẩu:

Thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng nhập khẩu Vì vậy, giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, kéo theo là việc tăng cung hàng nhập khẩu, tăng sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu so với sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước Trong nhiều trường hợp, mức cung của sản phẩm sản xuất trong nước sẽ giảm đi Đây là tác động ảnh hưởng mang tính trực tiếp làm giảm sản lượng sản xuất trong nước

Ngoài tác động làm giảm giá và giảm sản lượng hàng sản xuất trong nước do cạnh tranh với hàng nhập khẩu, việc giảm thuế nhập khẩu còn tác động gián tiếp đến những ngành hàng tương đương được sản xuất trong nước theo hướng tăng sản lượng cung cấp Tác động này gọi là ảnh hưởng mang tính lan truyền của giảm thuế nhập khẩu

Trang 28

Như vậy, bằng tác động ảnh hưởng trực tiếp và tác động lan truyền, việc cắt giảm thuế quan đã ảnh hưởng đến các lĩnh vực sau:

2.1.1 Ảnh hưởng đối với tiêu dùng:

Người tiêu dùng tiết kiệm được một phần thu nhập do mua hàng hóa với giá rẻ Thu nhập tiết kiệm được có thể tăng mức tiêu dùng các sản phẩm khác

2.1.2 Ảnh hưởng đối với sản xuất:

Khi lượng hàng hóa sản xuất trong nước giảm xuống, người sản xuất hàng hóa đó phải di chuyển nguồn lực sang các ngành sản xuất khác, làm thay đổi cơ cấu sản xuất trong nước Như vậy, nguồn lực của xã hội di chuyển từ những ngành sản xuất kém hiệu quả sang những ngành hiệu quả hơn

2.1.3 Ảnh hưởng đối với ngoại thương:

Việc giảm thuế nhập khẩu làm tăng lượng hàng nhập khẩu, hoạt động ngoại thương được mở rộng, tạo ra một nền kinh tế mở Mặt khác, các hoạt động xuất khẩu cũng được mở rộng do được giảm thuế nhập khẩu của các nước thành viên còn lại Đây là một trong những ý nghĩa to lớn của việc cắt giảm thuế quan trong thời kỳ hội nhập

2.1.4 Ảnh hưởng đối với phân phối:

Thuế quan tái phân phối thu nhập từ người sản xuất trong nước sang người tiêu dùng Mất mát thu nhập của người sản xuất gọi là giảm sút thặng dư sản xuất và thu nhập đó được chuyển cho người tiêu dùng làm tăng thặng dư tiêu dùng Do đó, việc tăng hay giảm thuế quan đều ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và tiêu dùng xã hội

Trang 29

2.1.5 Ảnh hưởng đối với ngân sách nhà nước:

Sau khi giảm thuế nhập khẩu, ngân sách nhà nước mất một phần nguồn thu nhập từ thuế nhập khẩu Tuy nhiên, sự mất mát này có thể được bù đắp do việc tăng thu

ở một số loại thuế khác liên quan đến sản xuất và tiêu dùng Vì vậy, tác động này cần được nghiên cứu kỹ càng

2.2 Quá trình cắt giảm thuế nhập khẩu của nước ta trong thời kỳ mở cửa và hội nhập:

Để phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế quan trong điều kiện hội nhập, tháng 10 năm 1995, Nhà nước đã sửa đổi khung thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng theo hướng giảm thuế suất tối đa xuống còn 60%, phần chênh lệch giữa mức thuế nhập khẩu cũ và mức thuế nhập khẩu mới đã được chuyển sang thuế tiêu thụ đặc biệt Do đó, từ đầu năm 1996, số lượng mức thuế suất của biểu thuế nhập khẩu đã giảm đi còn 28 mức thuế, với mức thấp nhất là 0% và cao nhất là 60%

Ngày 8 tháng 11 năm 1995, Quốc Hội nước ta đã có Nghị quyết số UBTVQH về chương trình giảm thuế nhập khẩu để thực hiện CEPT/AFTA Từ năm

292/NQ-1996 đến nay, năm nào Việt Nam cũng công bố danh mục và thuế suất các mặt hàng thực hiện CEPT/AFTA của năm đó Tính đến ngày 5.2.2002, Việt Nam đã thực hiện cắt giảm 5.500 mặt hàng, đạt gần 90% tổng các mặt hàng Việt Nam cam kết thuế, trong số này đã có 2/3 mặt hàng có mức thuế từ 0% - 5% Năm 2003, Việt Nam đã đưa 750 mặt hàng còn lại vào danh mục và cắt giảm thuế theo AFTA, đưa các mặt hàng có mức thuế trên 20% xuống còn 20% vào tháng 1/2003, các mặt hàng có mức thuế thấp hơn hay bằng 20% giảm xuống còn 0% - 5%

Theo nội dung của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, trong 3 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (11/12/2001), Việt Nam thực hiện giảm thuế nhập khẩu đối

Trang 30

với 226 mặt hàng, trong đó chủ yếu là các mặt hàng nông nghiệp (177 mặt hàng) và một số mặt hàng công nghiệp (49 mặt hàng) Việc giảm thuế này sẽ áp dụng cho Mỹ cũng như cho tất cả các nước đã ký kết điều khoản MFN với Việt Nam Để đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải đưa ra những cam kết ràng buộc các mức thuế nhập khẩu của mình và phải giảm dần theo hướng mở cửa thị trường Hiện nay, những cam kết này được xây dựng trên cơ sở phân loại các ngành hàng vào 3 nhóm với 6 cấp độ bảo hộ, trong đó 5 cấp độ bảo hộ bằng thuế nhập khẩu (10%, 20%, 30%, 40%, 50%) và cấp độ còn lại không thực hiện cam kết ràng buộc, bao gồm:

- Nhóm 1: Các ngành hàng được bảo hộ thấp với 2 cấp độ mức thuế suất 10% và 20% Đây là những ngành hàng hiện đang có thế mạnh xuất khẩu, có khả năng cạnh tranh tốt hoặc các mặt hàng khó có khả năng cạnh tranh nhưng lại là đầu vào của sản xuất mà Chính phủ không có khả năng đầu tư, nên khó có khả năng phát triển trong tương lai

- Nhóm 2: Các ngành hàng được bảo hộ ở mức trung bình với mức thuế suất duy nhất là 30% Đây là những sản phẩm thời gian qua đã đầu tư để thay thế nhập khẩu, có thế mạnh xuất khẩu nhưng vẫn nhận được bảo hộ để đảm bảo mức độ an toàn cao trong điều kiện có thể

- Nhóm 3: Các ngành hàng được bảo hộ cao với 3 cấp độ: cấp độ 4 có thuế suất 40%, cấp độ 5 có thuế suất 50% và cấp độ 6 là hoàn toàn loại khỏi danh mục thực hiện tự do hóa thương mại Đây là những mặt hàng cần được ưu tiên hỗ trợ phát triển, song do trước mắt chưa có đủ khả năng cạnh tranh nhưng trong tương lai sẽ có thể phát triển được nếu có sự bảo hộ hợp lý; một số ngành hàng công nghiệp chế

Trang 31

biến; nông sản sử dụng nhiều lao động trong nước; một số ngành công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao

Tóm lại, trong quá trình hội nhập, nước ta đã và đang thực hiện cắt giảm thuế quan và điều này sẽ tác động lớn đến nền kinh tế nước ta Những tác động này được phân tích ở phần sau

2.3 Phân tích tác động của việc cắt giảm thuế quan đến nền kinh tế nước ta:

Việc phân tích đánh giá những tác động của quá trình hội nhập nền kinh tế nước

ta đã được các nhà kinh tế trong cũng như ngoài nước tiến hành nghiên cứu từ nhiều năm qua Vì vậy, ta có thể vận dụng những kết quả này để làm cơ sở xem xét cho việc xây dựng các chính sách, đặc biệt là giải pháp ứng phó với những tác động bất lợi trong hội nhập

Mô hình Thương mại toàn cầu GTAP được xây dựng và phát triển tại Đại học Purdue (Bang New Jersey, Hoa Kỳ) từ năm 1993 dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Thomas Hertel Mô hình này có thể đánh giá được tác động không chỉ đối với toàn bộ nền kinh tế mà còn đối với từng ngành thông qua việc phân nhóm thành 15 quốc gia và 11 ngành sản xuất chính Cơ sở dữ liệu của mô hình năm 1998 bao gồm Việt Nam và hầu hết các nước thuộc ASEAN và APEC, do vậy, mô hình cho phép phân tích ảnh hưởng của việc Việt Nam tham gia vào hai tổ chức này Hơn nữa, vì GTAP là một mô hình thương mại toàn cầu phân tích tác động qua lại giữa các nền kinh tế trong khung cảnh kinh tế toàn cầu nên có thể đánh giá tác động của việc Việt Nam tham gia WTO trong tương lai

Để phục vụ mục đích nghiên cứu, ta phân tích mô hình GTAP chạy mô phỏng theo 3 kịch bản sau:

Trang 32

- Kịch bản 1: Giả sử tất cả các nước tham gia AFTA bao gồm Việt Nam cắt giảm 50% mức thuế nhập khẩu hiện có đối với tất cả các mặt hàng, trong khi các nước khác không giảm

- Kịch bản 2: Giả sử tất cả các nước APEC bao gồm Việt Nam tiến hành cắt giảm 50% mức thuế nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng, trong khi các nước khác không giảm

- Kịch bản 3: Giả sử tất cả các nước WTO đều tiến hành cắt giảm 50% mức thuế nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng

Sau đây, ta đi vào phân tích từng tác động

2.3.1 Tác động đến sự tăng trưởng kinh tế:

Kết quả mô phỏng mô hình GTAP cho nhận xét về tác động của việc cắt giảm thuế quan đối với nền kinh tế Việt Nam như sau:

Bảng 1: Tác động của hội nhập đối với nền kinh tế Việt Nam

(AFTA)

Kịch bản 2 (APEC)

Kịch bản 3 (WTO)

Nguồn: Lê Quốc Phương, Đánh thức Con rồng ngủ quên – Kinh tế Việt Nam đi vào thế kỷ

21, Thời báo Sài Gòn, NXB Tp.HCM, Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, 2002, tr.248

Bảng trên cho thấy, quá trình hội nhập đã có tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam, làm tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tác động tăng trưởng khi nước ta

Trang 33

tham gia vào AFTA hầu như không đáng kể (GDP và kim ngạch XNK đều tăng chút ít) Đó là vì Việt Nam và một số các nước ASEAN khác cũng có những ngành có lợi thế so sánh tương tự như nông sản, thủy sản, may mặc và giày dép dẫn đến hàng hóa có tính cạnh tranh nhau hơn là bổ sung lẫn nhau Nhưng khi tham gia vào APEC và WTO thì nền kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi ích nhiều hơn do phát huy được lợi thế so sánh

2.3.2 Tác động đến các ngành sản xuất:

Kết quả mô phỏng mô hình GTAP cho nhận xét về tác động của việc cắt giảm thuế quan đối với các ngành sản xuất như sau:

Bảng 2: Tác động của hội nhập đối với các ngành sản xuất (mức thay đổi %)

(AFTA)

Kịch bản 2 (APEC)

Kịch bản 3 (WTO)

Trang 34

SER Dịch vụ 1,2 2,4 2,5

Nguồn: Lê Quốc Phương, Đánh thức Con rồng ngủ quên – Kinh tế Việt Nam đi vào thế kỷ

21, Thời báo Sài Gòn, NXB Tp.HCM, Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, 2002, tr.250

Bảng trên chỉ rõ:

- Những ngành hướng về xuất khẩu như dệt, may và dịch vụ tăng trưởng mạnh khi Việt Nam tham gia APEC và WTO do có lợi thế xuất khẩu, nhưng giảm tốc độ tăng trưởng (dệt, may) hoặc tăng trưởng thấp (dịch vụ) trong hội nhập ASEAN vì phải cạnh tranh với sản phẩm của các nước có cùng lợi thế trong khu vực

- Ngành nông – lâm – ngư nghiệp suy giảm mạnh khi gia nhập APEC và WTO cho thấy dưới tác động của tự do hóa thương mại, sản xuất nông nghiệp Việt Nam khó cạnh tranh với những nước có nền nông nghiệp tiên tiến như Mỹ, Úc, Canada, New Zealand Do đó, tuy hiện nay, Việt Nam có lợi thế tự nhiên nhất định về nông nghiệp (đất đai, khí hậu, lao động) nhưng lợi thế đó sẽ nhanh chóng mất đi trong quá trình hội nhập do trình độ lao động lạc hậu của ngành này hiện nay

- Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm cũng bị suy giảm khá mạnh do ngành này đang ở giai đoạn đầu phát triển và chưa có nhiều lợi thế so sánh Vì vậy, với tự

do hóa thương mại, ngành chế biến thực phẩm nước ta khó có thể cạnh tranh được với nước ngoài

- Một số ngành khác như hóa chất, kim loại, thiết bị vận tải là những lĩnh vực đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ mà hiện Việt Nam không có nhiều ưu thế, do đó, trong giai đoạn đầu hội nhập chưa thể cạnh tranh được với nước ngoài

Trang 35

2.3.3 Tác động đến Ngân sách Nhà nước:

Như đã nói ở phần trên, việc cắt giảm thuế quan tác động đến Ngân sách Nhà nước theo hai hướng ngược chiều nhau:

Thứ nhất, tác động tăng: có thể khẳng định rằng, việc giảm thuế nhập khẩu được

coi là nhân tố quan trọng tạo khả năng tăng thu NSNN Điều đó thể hiện ở chỗ:

- Việc giảm thuế quan là nhân tố làm tăng kim ngạch xuất khẩu và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, từ đó tạo khả năng tăng thu Ngân sách

- Việc cắt giảm thuế nhập khẩu làm giảm giá của hàng nhập khẩu đối với các nguyên vật liệu và làm giảm chi phí đầu vào của các ngành sản xuất, từ đó góp phần hạ giá thành sản phẩm và tăng sản lượng sản xuất trong những ngành đó Điều này dẫn tới khả năng tăng thu Ngân sách ở một số loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Đây là tác động mang tính lâu dài và căn bản của giảm thuế nhập khẩu làm tăng nguồn thu ngân sách

Thứ hai, tác động làm giảm số thu NSNN được thể hiện ở chỗ:

- Việc giảm thuế quan làm cung hàng nhập khẩu tăng lên và trong nhiều trường hợp đã làm thu hẹp qui mô của các doanh nghiệp trong nước sản xuất sản phẩm cùng loại do chi phí sản xuất cao hơn, khả năng cạnh tranh kém hơn Vì vậy, nguồn thu từ các doanh nghiệp này cũng giảm đi tương ứng

- Việc gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ những nước mà Việt Nam tham gia cắt giảm thuế quan sẽ làm giảm hàng hóa nhập khẩu từ những thị trường khác, do đó, nguồn thu từ thuế nhập khẩu cũng giảm đi

- Giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm một số loại thuế khác có cùng cơ sở thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ khâu nhập khẩu

Trang 36

Từ các nhân tố kể trên cho thấy rằng, việc cắt giảm thuế quan sẽ làm thay đổi nguồn thu NSNN, nhưng ảnh hưởng thực tế tới nguồn thu là chưa rõ ràng do có nhiều nhân tố tác động đan xen và ngược chiều nhau: có tác động làm tăng số thu và tác động làm giảm số thu

Để tính được những ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu, Cơ quan phát triển quốc tế Úc đã đưa ra kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc thực hiện CEPT/AFTA tới nguồn thu Ngân sách của Việt Nam thông qua việc sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (Bảng 3) Kết quả nhận được có tính chất phương pháp luận nên không làm mất tính tổng quát trong việc lượng hóa các ảnh hưởng này khi nước ta tham gia WTO

Bảng 3: Dự báo thay đổi trong tổng thu Ngân sách Nhà nước

Nguồn thu

Năm

2000

Dự báo trong ngắn hạn

Tỉ lệ (%)

Dự báo trong dài hạn

Tỉ lệ (%)

Thuế giá trị gia tăng

(VAT)

Thuế thu nhập doanh

Trang 37

do sự tăng trưởng của nhiều ngành và toàn bộ nền kinh tế sẽ tạo ra nguồn thu lớn hơn bù đắp một phần sự giảm thu, làm mức giảm không đáng kể (1,9%) Trong dài hạn, mức giảm sẽ được hạn chế khi mức tích lũy vốn của các ngành tăng lên cho phép hoạt động kinh doanh được mở rộng

2.4 Bán phá giá và những bất lợi của nước ta khi phải đối phó với các tranh chấp phá giá:

2.4.1 Khái niệm về bán phá giá:

Việc giảm và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan, mở cửa rộng rãi buôn bán với các nước trên thế giới dẫn đến nước ta phải đối phó với vấn đề bán phá giá của các hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài ngày càng tăng lên

Bán phá giá hàng hóa không đồng nghĩa với hàng hóa bán giá rẻ Một nước có thể xuất khẩu hàng hóa tới nước khác, bán với giá rẻ hơn hàng hóa cùng loại đang

Trang 38

bán trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá bán của hàng hóa đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không phải là bán phá giá Theo điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) năm 1947 xác định:

- Bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán thành hàng hóa ở một nước khác, với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó khi bán ở trong nước

- Một sản phẩm được coi là bán phá giá khi nó được đưa vào hoạt động thương mại tại nước nhập khẩu với giá xuất khẩu thấp hơn giá có thể so sánh được trong tiến trình buôn bán thông thường đối với sản phẩm tương tự khi đưa tới người tiêu dùng ở trong nước xuất khẩu

Như vậy, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự tách biệt về giá, khi giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó ở trong nước xuất khẩu

2.4.2 Những bất lợi của Việt Nam khi đối phó với các tranh chấp phá giá:

Dù cho phải đương đầu với tình huống hàng xuất khẩu của nước ta bị nước nhập khẩu điều tra chống bán phá giá hay khi nước ta chủ động điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu của nước khác thì có thể thấy rằng, nước ta đều gặp phải rất nhiều bất lợi

Trước hết, chúng ta hầu như chưa biết nhiều về luật thương mại quốc tế liên quan tới bán phá giá Cho đến nay, Việt Nam chưa lần nào điều tra bán phá giá Kinh nghiệm đối phó với hàng xuất khẩu của nước ta bị điều tra phá giá còn ít Bất lợi tiếp theo là sự phối hợp hành động giữa các bên liên quan tới tranh chấp phá giá như: các nhà sản xuất, các nhà xuất khẩu hay nhập khẩu, hội bảo vệ người tiêu dùng còn tỏ ra yếu kém, chưa đủ sức đối phó với các vụ kiện

Trang 39

Bất lợi lớn thứ ba là hệ thống pháp luật về kinh tế – thương mại của Việt Nam còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Trong lĩnh vực chống bán phá giá, chúng ta chưa có luật để đối phó với hàng nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá cũng như những qui định cần thiết để đối phó với việc hàng xuất khẩu của nước ta

bị các đối tác thương mại khác áp dụng biện pháp này

Một bất lợi khác liên quan đến tranh chấp bán phá giá là hiện nay, một số nước chưa công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, do đó, chúng ta sẽ thiếu cơ sở chứng minh chúng ta không bán phá giá Trong trường hợp này, các nước thường thông qua thị trường của một nước thứ ba để điều tra việc bán phá giá Vụ kiện bán phá giá cá ba – sa trong những năm qua và gần đây nhất là vụ tranh chấp bán phá giá tôm xuất khẩu của Việt Nam tại Mỹ là bằng chứng cho thấy những bất lợi vừa nêu Và trong các vụ tranh chấp này, Việt Nam luôn thua kiện và phải chịu phía đối tác áp dụng những mức thuế chống phá giá rất cao

Cùng với quá trình hội nhập, hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá tại thị trường Việt Nam cũng như hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện bán phá giá tất yếu sẽ ngày càng tăng lên Vì vậy, việc đề ra những giải pháp để đối phó hữu hiệu với vấn đề này là hết sức cần thiết hiện nay

2.5 Kinh nghiệm của một số nước về việc thực hiện quá trình hội nhập quốc tế: 2.5.1 Kinh nghiệm của Thái Lan:

Thái Lan – một trong năm nước sáng lập ra ASEAN (8/1967) – đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong suốt hơn hai thập kỷ vừa qua Những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Thái Lan phải nói đến trước hết là: họ đã khôn khéo thực hiện một đường lối ngoại giao ôn hòa nhằm bảo vệ chủ quyền dân tộc và

Trang 40

chủ trương chuyển hướng chiến lược phát triển kinh tế từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu, chủ động mở cửa để hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trước năm 1960, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu Sau 1960, Chính phủ chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích đầu tư tư nhân Thời kỳ này, Thái Lan theo đuổi chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu nên họ đã áp dụng chế độ thuế quan có khả năng bảo hộ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước

Hai cuộc khủng hoảng dầu lửa và khủng hoảng nợ diễn ra đã làm lộ rõ những hạn chế của chính sách phát triển kinh tế theo hướng thay thế nhập khẩu Một sự chuyển hướng chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu mà nội dung cơ bản của nó là tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, ưu tiên đặc biệt cho sự phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu, lấy ngoại thương làm động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh tế đã giúp Thái Lan đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

Khoảng từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, nền kinh tế thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, một số sản phẩm chứa hàm lượng lao động của Thái Lan đã mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới Phần lớn trong số đó (như các sản phẩm dệt, may, giày dép, thực phẩm, đóng hộp ) là những sản phẩm xuất khẩu truyền thống của Thái Lan Để khắc phục thực trạng đó, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới hiện nay, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra chương trình nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu nhằm tiếp tục duy trì và phát triển những lợi

thế so sánh của mình Chương trình đó gồm hai nội dung chính: Một là, thúc đẩy sự

chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ sử dụng hàm lượng lao động cao sang sử dụng

hàm lượng công nghệ cao Hai là, khuyến khích sự phát triển và áp dụng công nghệ

Ngày đăng: 07/01/2018, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w