1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

177 625 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Trang 1

QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ và kịch bản giải pháp ix

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM 13

1.1 Một số vấn đề cơ bản về đất đai, nông nghiệp, nông thôn 13

1.1.1 Vị trí, vai trò của đất đai trong đời sống kinh tế – xã hội 13

1.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn 15

1.2 Một số nội dung lý luận về sở hữu và sở hữu ruộng đất 19

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sở hữu và sở hữu ruộng đất 19

1.2.2 Quan điểm tư sản về sở hữu ruộng đất và các mô hình về chế độ sở hữu ruộng đất ở các nước TBCN 27

1.2.3 Lý luận về sở hữu trong nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc 31

1.3 Một số nội dung lý luận về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn 33

iv -1.3.1 Khái niệm, nội dung quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn 33

1.3.2 Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam 38

1.4 Chính sách đất đai một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn 46

1.4.1 Chính sách đất đai ở một số nước 46

1.4.2 Những bài học kinh nghiệm về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai của các nước đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn 60

Tổng kết chương 1 63

Chương 2 - THỰC TRẠNG QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM 65

2.1 Tổng quan về tình hình đất đai trong nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 65

2.2 Những thay đổi cơ bản của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam 68 2.2.1 Đổi mới hệ thống tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát

Trang 2

triển nông thôn 682.2.2 Quan hệ giữa Nhà nước và nông dân về đất đai trong nông nghiệp và

phát triển nông thôn 702.3 Sự vận hành quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát

triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam 742.3.1 Về tổ chức - quản lý đất đai từ lúc chuyển đổi kinh tế đến nay 742.3.2 Quan hệ giữa các nông hộ trong giao dịch trao đổi, mua bán đất đai nông

thôn và sự _xuất hiện tình trạng nông dân không có đất, thiếu đất sản

xuất 78

2.3.3 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với nông dân có đất bị thu

hồi để thực hiện các dự án 81

v

-2.3.4 Một số vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình vận hành quan hệ tổ

chức – quản lý đất đai nông nghiệp 892.4 Đánh giá chung về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp thời

kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam 1022.4.1 Những thành tựu của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông

nghiệp từ khi đổi mới đến nay 1022.4.2 Những bất cập hiện nay của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông

nghiệp 1122.4.3 Những thách thức đang đặt ra đối với quá trình hoàn thiện và nâng cao

hiệu lực, hiệu quả quản lý đất đai nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay 129Tổng kết chương 2 137Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN

LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 1383.1 Xu hướng phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn thời kỳ đẩy mạnh

CNH, HĐH và hội nhập quốc tế 1383.1.1 Xu hướng phát triển bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn 1383.1.2 Cơ hội và thách thức phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn khi

Việt Nam thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại quốc tế trong lĩnh vực nôngnghiệp 1413.1.3 Dự báo một số tiêu chí về dân số và đất đai nông nghiệp đến năm 2020 1443.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quan hệ tổ chức - quản lý đất đai

trong nông nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam 1473.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách về đất đai nông nghiệp 1473.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức - quản lý đất đai NN 1633.2.3 Nhóm các giải pháp hỗ trợ khác 1763.3 Một số kiến nghị 178

vi

-Tổng kết chương 3 179KẾT LUẬN 181DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

01 Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam từ năm 1994 – 2007

02 Bảng 2.2: Cơ cấu sử dụng đất phân theo địa phương các năm 1994, 2002 và 2007

03 Bảng 2.3: Tổng thu ngân sách từ nguồn thu trong nước (không tính thu từ dầu thô)

04 Bảng 2.4: Mức độ hoàn thành qui hoạch tổng thể đất đai của 81 xã ở 9 tỉnh vùngĐông Nam Bộ, Tây Nguyên và ĐBSCL

05 Bảng 2.5: Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp ở các xãthuộc 9 tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và ĐBSCL

06 Bảng 2.6: Thực trạng hộ nông dân không có đất và thiếu đất sản xuất ở ĐBSCL

07 Bảng 2.7: Tình trạng không có đất và thiếu đất sản xuất nông nghiệp của các nônghộ

08 Bảng 2.8: Diện tích đất đã thu hồi tại các xã để phát triển các KCN tập trung ở HàNội tính đến năm 2007

09 Bảng 2.9: Tình trạng bị ảnh hưởng của các hộ dân và lao động khu vực phát triểncác KCN tập trung của Hà Nội

10 Bảng 2.10: Tỷ lệ bồi thường về đất đai của dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm

11 Bảng 2.11: Tóm lược nhận định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bằng

mô hình ma trận SWOT

12 Bảng 2.12: Diện tích các KCX, KCN đến 5/2008 và quy hoạch đến năm 2015

13 Bảng 2.13: Diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam từ năm 1990 – 2006

14 Bảng 2.14: Diện tích trồng lúa các vùng trong cả nước từ năm 2000 đến năm 2007

15 Bảng 2.15: Ý kiến của nông dân về việc tổ chức, quản lý và qui hoạch đất đai hiệnnay

16 Bảng 2.16: Qui mô sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân

17 Bảng 2.17: Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh Bắc Bộ

18 Bảng 2.18: Tình trạng manh mún đất đai của các miền/vùng

Trang 4

19 Bảng 2.19: Số lượng cán bộ địa chính của 81 xã ở 9 tỉnh vùng Đông Nam Bộ,Tây Nguyên và ĐBSCL

20 Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu dân số và diện tích đất nông nghiệp đến năm 2020

ix

-DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ KỊCH BẢN GIẢI PHÁP

TT TÊN BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ KỊCH BẢN GIẢI PHÁP

01 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất sử dụng ở Việt Nam

02 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu đất sử dụng phân theo địa phương

03 Biểu đồ 2.3: Biến động hiện trạng sử dụng đất ở Việt Nam

04 Biểu đồ 2.4: Nhận định những khó khăn của cán bộ địa chính về qui hoạch, quản lý đất

05 Biểu đồ 2.5: Các hình thức giao dịch đất đai của nông hộ

06 Biểu đồ 2.6: Tỉ lệ không có đất và thiếu đất sản xuất của các nông hộ

07 Biểu đồ 2.7: Mối quan hệ phụ thuộc giữa sản lượng lúa và diện tích trồng lúa

08 Biểu đồ 2.8: Diện tích đất trồng lúa cả nước và các vùng giảm dần

09 Biểu đồ 2.9: Sản lượng lương thực qua các năm (nghìn tấn)

10 Biểu đồ 2.10: Sản lượng lương thực bình quân đầu người (Kg/ngưới)

11 Biểu đồ 2.11: Những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu chủ yếu năm 2007

12 Biều đồ 2.12: Ý kiến đánh giá của nông dân về chính sách giao đất lâu dài và cácquyền sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới

13 Biểu đồ 2.13: Qui mô đất sản xuất nông nghiệp của các nông hộ

14 Biểu đồ 2.14: Tình trạng manh mún đất đai của nông dân

15 Biểu đồ 2.15: Trình độ cán bộ địa chính ở 81 xã khảo sát

16 Biểu đồ 2.16: Ý kiến của cán bộ địa chính về phương tiện hỗ trợ kỹ thuật trongcông tác quản lý đất đai ở các xã

17 Biểu đồ 2.17: Khả năng của cán bộ địa chính có thể sử dụng các phương tiện nhưmáy vi tính, dụng cụ đo đạc, bản đồ địa chính

18 Biểu đồ 2.18: Công tác thanh tra, giám sát về tổ chức, quản lý đất đai ở cấp xã

19 Biểu đồ 2.19: Ý kiến của nông dân về công tác tuyên truyền chủ trương, phổ biếnpháp luật đất đai của chính quyền

20 Biểu đồ 2.20: Khoảng cách giữa tỷ trọng NN trong GDP và tỷ trọng vốn đầu tư cho NN

21 Biểu đồ 2.21: Cơ cấu vốn ODA ở các lĩnh vực

22 Biểu đồ 3.1: Diện tích đất nông nghiệp bình quân

23 Biểu đồ 3.2: Những quan tâm của nông dân về việc quản lý, sử dụng ruộng đất

24 Sơ đồ 2.1: Qui trình thu hồi và bồi thường đất đai của Nhà nước - nông dân - nhà đầu tư

25 Kịch bản 3.1: Hai phương án hoàn thiện quyền hưởng dụng ruộng đất

26 Kịch bản 3.2: So sánh kịch bản về thực hiện qui định thời gian sử dụng đất và bỏ thờihạn sử dụng đất

27 Kịch bản 3.3: Hai phương án giải pháp về hạn điền

28 Kịch bản 3.4: Cơ số tính số lượng các bộ địa chính mỗi xã, phường

x

1

-MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình phát triển xã hội loài người, nông nghiệp là ngành sản xuất

vật chất cơ bản của xã hội Dù rằng xã hội ngày nay có nhiều quốc gia đã đạt trình

độ phát triển cao nhưng nông nghiệp vẫn bất khả thay thế và tiếp tục thể hiện vai tròthiết yếu đến phát triển bền vững Đối với những quốc gia đang phát triển, nông

Trang 5

nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự ổn định xã hội trong việc cung cấplương thực, thực phẩm; là nguồn lực ban đầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nướctrên nhiều khía cạnh như vốn, nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ cho cácngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại…

Việt Nam hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường

định hướng XHCN, nông nghiệp vẫn chiếm một vị trí trọng yếu trong cơ cấu củanền kinh tế và xã hội Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2007, nông nghiệpchiếm khoảng 20,3% GDP, 22,6% giá trị xuất khẩu, 72% dân số sống ở nông thôn

và 54% lực lượng lao động trong nông nghiệp

Trong điều kiện hội nhập vào kinh tế thế giới và đẩy nhanh quá trình CNH

cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm mực nước biển dâng cao xâm thực nênbảo vệ và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên khan hiếm đất nông nghiệp là sựthách thức lớn cần tập trung giải quyết cả trong ngắn hạn và dài hạn

Bên cạnh đó, tác động của cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu năm 2008

và những diễn biến xã hội đáng chú ý về tam nông: nông nghiệp, nông dân và nôngthôn của các nước Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines; Châu Phi: Algeria,Congo, Ghana, Zimbabwe; Châu Mỹ Latinh: Cuba, Bolivia, Haiti, Venezuela…trong những năm gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc đến góc nhìn về tam nông ở ViệtNam Trước những tác động trong và ngoài nước về yêu cầu phát triển bền vữngnông nghiệp, Nghị quyết Trung ương VII (Khóa X) của ĐCSVN ra đời về vấn đềtam nông nhằm đề cao tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân và nông thôn

2

-Trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, đất đai là TLSX đặc biệt; là môi

trường sống cả về khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội; môi trường của quá khứ, hiệntại và tương lai của nông dân ở nông thôn Sự phát triển không ngừng của đời sốngKT-XH đã phải thu hẹp đất đai nông nghiệp để đáp ứng các nhu cầu phát triển côngnghiệp, cơ sở hạ tầng, đô thị hóa… đã ảnh hưởng đến đời sống nông dân Vì vậy,việc tổ chức, quản lý đất đai nông nghiệp có hiệu quả luôn là bài toán đặt ra cho sựphát triển của các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển

Trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, vấn đề đất đai đang có tính thời

sự thu hút sự quan tâm nhiều phía từ người nông dân nông thôn đến cư dân thànhthị, chính quyền các cấp, nhà đầu tư Thị trường đất đai ngày càng có ảnh hưởngđến hoạt động của các thị trường tài chính, tín dụng, lao động… đồng thời các tranhchấp, xung đột xoay quanh chủ đề đất đai giữa các chủ thể ngày càng phổ biến, gaygắt và mức độ phức tạp ngày càng tăng, xuất hiện tình trạng khiếu kiện đông người

gây mất trật tự an ninh xã hội Những phát sinh từ quan hệ tổ chức – quản lý đất đai

ngày càng nhiều như vấn đề thu hồi đất để phát triển các KCN, khu đô thị mới vớitình trạng mất đất của nông dân, ảnh hưởng đến việc làm, môi trường sống đến việcthu hẹp đất canh tác nông nghiệp đe dọa đến an ninh lương thực

Các quyền về đất đai của nông dân được mở rộng cả khía cạnh pháp lý và thực

tế, cùng với sự phát triển kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân làm xuất hiện thị trườngmua bán, thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai ở nông thôn Song songquá trình đó là vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất vào tay một số cá nhân, tình trạngmột bộ phận nông dân không có đất và thiếu đất sản xuất phải đi làm thuê

Thực tiễn những năm qua cho thấy, quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong

nông nghiệp và phát triển nông thôn luôn đặt ra những vấn đề cần giải quyết, khai

Trang 6

thông về lý luận lẫn thực tiễn Công tác tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp ởnông thôn đang được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ địa chính cấp cơ sở với số lượng

và trình độ như hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong việc thựcthi đúng chủ trương chính sách của nhà nước và phục vụ tốt nông dân

3

-Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai phức tạp trở thành rào cản cho phát triển thịtrường bất động sản; thị trường tín dụng liên quan đến đất đai; hạn chế đến quyhoạch và cấu trúc đô thị; giảm tiến độ đầu tư, ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng

và bất bình đẳng trong xã hội Sự vận động của quan hệ tổ chức – quản lý đất đaitrong thời gian qua tạo nên những trạng thái đối lập nhau: vừa tích cực đối với sựphát triển KT - XH, vừa lại phát sinh những mối quan ngại như tranh giành đất đai,đầu cơ đất đai, tình trạng bất bình đẳng trong quan hệ đất đai, sự chuyển dịch khókiểm soát của các luồng tài chính từ thị trường chứng khoán, tín dụng sang bất độngsản và ngược lại

Những vụ việc tiêu cực liên quan đến đất đai trước hết xuất phát từ những quyđịnh, cách hiểu và quán triệt chính sách đất đai Một số nguyên nhân quan trọng dẫnđến tiêu cực, lãng phí đất đai đó là khâu tổ chức – quản lý và trình độ, đạo đức củacán bộ quản lý đất đai cấp cơ sở

Vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp

và phát triển nông thôn giai đoạn hiện nay nhằm phát hiện những bất cập của chínhsách đất đai, sự kém hiệu quả của công tác tổ chức – quản lý đất đai cấp cơ sở đểtìm ra giải pháp hoàn thiện quan hệ tổ chức – quản lý đất đai góp phần phát triểnbền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa lý

luận và thực tiễn Đó là lý do tôi chọn đề tài “ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THỜI

KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM” làm luận án tiến sĩ kinh tế chuyên

ngành Kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến luận án, xin giới thiệu khái quát các vấn đề quan hệ tổ chức,

quản lý đất đai trong nông nghiệp mà các nhà khoa học quan tâm:

Thứ nhất, PGS.TS Lâm Quang Huyên, nghiên cứu vấn đề sở hữu ruộng đất và tác động của nó đến nền nông nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp Tác phẩm: Vấn

đề ruộng đất ở Việt Nam, được xuất bản năm 2002 và tái bản năm 2007 Trong tác

4

-phẩm này nội dung chủ yếu nghiên cứu quan hệ sở hữu ruộng đất trước thời kỳ đổimới và đề cập một phần trong thời kỳ đổi mới (lần tái bản 2007, phần thứ ba) Nhưvậy trong điều kiện hội nhập và đẩy mạnh CNH những vấn đề phức tạp nảy sinhchưa được nghiên cứu

Thứ hai, đầu những năm 1990 quan hệ sở hữu ruộng đất có sự biến động gây

ra tình trạng mất đất ở các tỉnh ĐBSCL, đã thu hút một số tác giả nghiên cứu:Nguyễn Thế Nhã (1998), Lê Du Phong (1998), Lê Đình Thắng (1998), Bùi VănTrịnh, Võ Thành Danh (2000)… Các công trình nghiên cứu trên chỉ tập trungnghiên cứu ở phạm vi ĐBSCL chưa nghiên cứu các vùng ĐBSH, ĐNB, Tây

nguyên Ngoài ra cũng chưa đi sâu nghiên cứu tình trạng thiếu đất nông nghiệptrồng cây hàng năm và cây lâu năm

Thứ ba, một số vấn đề phát sinh từ quan hệ sở hữu đất đai trong những năm

gần đây khi một số địa phương thực hiện đô thị hóa, phát triển các KCN đã phát

Trang 7

sinh vấn đề thất nghiệp, suy thoái môi trường và thu hẹp sản xuất nông nghiệp Vìvậy đã có một số tác giả nghiên cứu ở các tỉnh phía Bắc: Lê Thu Hoa (2007) nghiêncứu trường hợp ở Hà Nội; Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền, Võ Trọng Thành

(2007), nghiên cứu trường hợp ở tỉnh Hải Dương

Trong khi các tỉnh phía Nam, đặc biệt là ĐNB mức độ đô thị hóa và CNH rất

nhanh lại có ít các công trình nghiên cứu để _minh chứng Ngoài ra, việc phát triển

thủy điện ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng tác động lớn đến vấn đề tái định cư vàsản xuất nông nghiệp của các dân tộc thiểu số cần phải được nghiên cứu

Thứ tư, các quyền về đất đai (quyền sở hữu, quyền sử dụng) trong chính sách

đất đai và thị trường đất đai nông thôn cũng được đề cập rất nhiều, Lê Văn Tứ

(2003), Nguyễn Điền (2000), Đỗ Kim Chung (2000) Ngoài ra, quan hệ sở hữu đấtđai cũng được lồng ghép trong các chủ đề chính sách đất đai trong thời kỳ chuyểnđổi kinh tế: Lê Đình Thắng, Hoàng Cường, Vũ Thị Hảo (2003), Lê Văn Hùng,

Phạm Văn Minh (2007), Lý Hoàng Mai, Phan Thị Hạnh Thu (2007), Trần Thị Thái

Hà (2004)… Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến các quyền về về đất đai đó là quyềnhưởng dụng chưa được các tác giả trên nghiên cứu

Ngoài ra, có rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu vấn đề phát triển nông

thôn, phát triển kinh tế trang trại và các nông trường quốc doanh

5

-Như vậy, vấn đề quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát

triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam có tính thời sự, có ý nghĩa

sâu sắc về lý luận và thực tiễn đặt ra Những đóng góp của các nhà khoa học về cácvấn đề trên là rất lớn góp phần làm sáng tỏ hoặc gợi lên những vấn đề bức xúc cầngiải quyết về quan hệ sở hữu đất đai trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu một phần của vấn đề

đất đai như là sở hữu đất đai, một vài điểm bất cập của chính sách đất đai; hoặc gợilên một vấn đề bức xúc trong tổ chức quản lý như là quy hoạch, đền bù giải tỏa;

hoặc nghiên cứu việc tổ chức quản lý theo địa phương nào đó Vì vậy, các công

trình trên chưa nghiên cứu hệ thống để phản ánh đầy đủ bức tranh tổng thể về quan

hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

thời kỳ chuyển đổi kinh tế Do đó, chưa phát hiện đầy đủ những bất cập về chính

sách đất đai và chưa nghiên cứu công tác cán bộ địa chính cấp cơ sở ảnh hưởng đếnviệc tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp ở nông thôn Đồng thời, chưa có hệ

thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện chính sách đất đai và tổ chức – quản lý

đất đai nông nghiệp nông thôn hướng đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông

thôn trong xu thế hội nhập

Vì vậy, bản thân tác giả đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu của mình là nghiên cứu

có hệ thống các vấn đề thuộc quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp

và phát triển nông thôn hiện nay bao gồm: (1) Cơ sở lý luận hình thành quan hệ tổchức, quản lý đất đai trong nông nghiệp; (2) Phân tích chính sách đất đai trong nôngnghiệp và việc tổ chức quản lý đất đai nông nghiệp nhằm phản ánh sự vận hành

quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế đếnnay Các số liệu sơ cấp được sử dụng trong luận án dựa trên việc khảo sát nông dân,cán bộ địa chính để minh chứng cho các vấn đề mà luận án giải quyết như khiếu

kiện, khiếu nại đất đai, quy hoạch “treo”, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, khảo sát về

Trang 8

số lượng và chất lượng của cán bộ địa chính cấp cơ sơ; (3) Hệ thống giải pháp hoànthiện quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trên hai phương diện: cơ chế, chính sách đấtđai nông nghiệp và công tác thực hiện tổ chức, quản lý Đây là những điểm khácbiệt của luận án so với các công trình nghiên cứu khác.

6

-3 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất, hệ thống hóa lý thuyết về sở hữu đất, quyền hưởng dụng đất và hệ

thống tổ chức – quản lý đất trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn

Thứ hai, nghiên cứu sự vận hành quan hệ tổ chức – quản lý đất nông nghiệp

trong thời gian qua và nhận diện nguyên nhân của những bất cập về cơ chế chínhsách đất đai và công tác tổ chức, quản lý đất đai nông nghiệp ở Việt Nam

Thứ ba, đề nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách và công tác tổ chức –

quản lý đất đai nông nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu quan hệ tổ chức – quản lý đất

đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam ở hai phương diện:Thứ nhất, nghiên cứu các qui định trong chính sách đất đai liên quan đến vấn

đề quyền sử dụng đất, thời gian sử dụng đất, hạn điền, quyền lợi của nông dân trongquá trình bị thu hồi đất, tái định cư Những qui định trên ảnh hưởng như thế nào đếnquyền hưởng dụng đất đai của nông dân và sự phát triển nông nghiệp

Thứ hai, nghiên cứu việc tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp ở nông

thôn liên quan đến vai trò trách nhiệm của đội ngũ cán bộ địa chính cấp cơ sở vềvấn đề quy hoạch đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất đểphát triển các KCX, KCN, KDC Những vấn đề trên ảnh hưởng như thế nào đếnquyền lợi của nông dân về phương diện kinh tế - xã hội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Luận án nghiên cứu quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông

nghiệp, nông thôn ở Việt Nam

+ Về thời gian: Thời kỳ chuyển đổi kinh tế lấy mốc từ Chỉ thị 100 của Ban Bí

thư Trung ương năm 1981 đến năm 2007

+ Giới hạn nghiên cứu:

Thứ nhất, luận án nghiên cứu mối tương quan về chính sách đất nông nghiệp

và tổ chức quản lý đất đai nông nghiệp Luận án không nghiên cứu chính sách đất ở

Thứ ba, luận án không nghiên cứu sâu các vấn đề về phát triển nông thôn baohàm đời sống kinh tế, văn hóa, kết cấu hạ tầng, dân trí, dân chủ…

Thứ tư, luận án không nghiên cứu khía cạnh tổ chức – quản lý đất đai của chínhnhững người nông dân, những nhà đầu tư khi họ được giao sử dụng lâu dài đất đai.Luận án chỉ đề cập tới quan hệ giữa nhà nước với nông dân và các nhà đầu tư

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng

Trang 9

- Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu của luận án thuộc lĩnh vực khoa học xã hội Do đó việc

nghiên cứu để phân tích và giải quyết các vấn đề trong luận án phải sử dụng nhiềuphương pháp khác nhau Trong đó, ba phương pháp chủ yếu được sử dụng là

phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp duy vật lịch sử và phươngpháp thống kê mô tả

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Nghiên cứu những mặt, những biểu

hiện ổn định, thường xuyên của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong lĩnh vựcnông nghiệp và phát triển nông thôn giữa các chủ thể: nhà nước, nông dân, doanhnghiệp Quan hệ của các chủ thể trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông (trao đổi, muabán) và phân phối xoay quanh vấn đề quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông

nghiệp Từ đó đúc kết được bản chất của sự biến đổi về lượng và về chất của quan

hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn Phát hiệnnhững bất cập, thách thức cần giải quyết của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trongnông nghiệp và phát triển nông thôn Từ đó đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằmhoàn thiện quan hệ tổ chức, quản lý đất đai để phát triển bền vững nông nghiệp

8

-Phương pháp duy vật lịch sử: Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp

và phát triển nông thôn được xem xét trong những chặng đường lịch sử, gắn vớinhững bối cảnh cụ thể của thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam; gắn với nhữngquan điểm, chủ trương về chính sách đất đai, nông nghiệp, nông dân của Đảng vàNhà nước Đồng thời, trong giai đoạn hội nhập, quan hệ tổ chức – quản lý đất đaigắn với các cam kết theo qui định của các tổ chức quốc tế như WTO, phù hợp vớiqui định quốc tế và pháp luật Việt Nam Qua đó, phản ánh vai trò của quan hệ tổchức – quản lý đất đai đối với sự phát triển tam nông: nông nghiệp, nông dân vànông thôn Việt Nam trong điều kiện mới

Phương pháp thống kê mô tả: để có bằng chứng khoa học trong phân tích, tác

giả tiến hành khảo sát nông dân, cán bộ địa chính cấp cơ sở Cụ thể như sau:

+ Khảo sát nông dân: Mục đích khảo sát để thu thập thông tin về qui mô sản

xuất nông nghiệp, tình trạng manh mún đất đai; tình trạng không có đất và thiếu đấtsản xuất của nông hộ; các hình thức giao dịch đất đai hiện nay; ý kiến đánh giá củanông dân về chủ trương giao đất lâu dài và các quyền sử dụng đất trong thời kỳ đổimới; qui hoạch và quản lý đất đai nông nghiệp ở địa phương, công tác tuyên truyềnpháp luật đất đai; những quan tâm chủ yếu của nông dân về sử dụng, quản lý đất đaicủa mình

Việc khảo sát nông dân mang tính đại trà, lẽ ra số mẫu khảo sát rất rộng lớn

hàng triệu mẫu vì nông dân của Việt Nam khoảng vài chục triệu người nhưng dođiều kiện về tài chính, thời gian và công sức của tác giả có hạn nên tác giả cố gắnglấy mẫu khảo sát 1000 mẫu, tuy nhiên khi thu nhận các mẫu khảo sát và lọc lại chỉcòn 544 đáp ứng đầy đủ các thông tin cần thiết Mặc dù số mẫu khiêm tốn nhưngđảm bảo nguyên tắc lấy mẫu không trùng mẫu

+ Khảo sát cán bộ địa chính cấp cơ sở: Mục đích khảo sát nhằm thống kê số

lượng và trình độ của cán bộ địa chính cấp cơ sở để đánh giá năng lực thực thi chínhsách đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn Ngoài ra, thu thập thông tin

về vấn đề quy hoạch tổng thể đất nông nghiệp, việc cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất ở các địa phương, công tác thanh tra đất nông nghiệp ở địa phương

9

Trang 10

-Việc khảo sát cán bộ địa chính cấp cơ sở lẽ ra cũng phải tiến hành trên phạm

vi cả nước cho phù hợp với phạm vi nghiên cứu của luận án Tuy nhiên, sự khókhăn về tài chính và thời gian, công sức của tác giả hạn hẹp nên tác giả chỉ có thểtiến hành khảo sát ở khu vực Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồng bằng sông CửuLong Khác với khảo sát đại trà như trường hợp nông dân, mỗi xã hoặc phường chỉ

có một mẫu khảo sát giành cho cán bộ địa chính cấp cơ sở

Số mẫu khảo sát đáp ứng các yêu cầu thông tin là 81 mẫu tương ứng với 81 xãhoặc phường tại 9 tỉnh hoặc thành phố khu vực Tây Nguyên, Đông Nam bộ và đồngbằng sông Cửu Long (chi tiết xem phụ lục 5)

+ Khảo sát về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: Mục đích khảo sát

nhằm tìm hiểu về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các dự án doNhà nước thu hồi đất nông nghiệp của nông dân Liên quan đến mức giá đền bù, sự

hỗ trợ về nơi ở tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân Vấn đề khiếukiện, khiếu nại của nông dân…

Việc khảo sát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thuộc nghiên cứu chuyên

sâu nên chọn một dự án điển hình để nghiên cứu Tác giả lựa chọn dự án Khu đô thịmới Thủ Thiêm vì đây là chương trình trọng điểm của TP.HCM liên quan đến việc

di dời hàng chục ngàn dân trong hơn 10 năm qua, đồng thời cũng là dự án mà nôngdân thường xuyên khiếu kiện, khiếu nại về mức giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cưđối với chính quyền TP.HCM

Số mẫu khảo sát có đầy đủ thông tin đáp ứng được yêu cầu là 103 mẫu đại

diện cho các hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi thuộc 5 phường thuộc quận 2,TP.HCM: Thủ Thiêm, An Khánh, An Lợi Đông, Bình Khánh, Bình An

+ Khảo sát về qui hoạch “treo”: Mục đích khảo sát nhằm tìm hiểu những thiệthại của nông dân về đời sống kinh tế - xã hội cũng như các quyền cơ bản liên quanđến an sinh xã hội do qui hoạch “treo”

Việc nghiên cứu về qui hoạch “treo” cũng thuộc nghiên cứu chuyên sâu nên

chọn dự án điển hình để nghiên cứu Tác giả chọn ấp 3, xã Bình Hưng, huyện BìnhChánh, TP.HCM vì dự án “treo” từ năm 1992 và vị trí địa lý của xã Bình Hưng sát

10

-bên khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng Từ lúc qui hoạch “treo” đến nay đã đẩy khu dân

cư này trở nên khó khăn về kinh tế, khó quản lý về mặt xã hội Số mẫu khảo sát 50mẫu chiếm tỉ lệ 5% số hộ dân của khu vực

Ngoài ra, các phương pháp tổng hợp, phương pháp chuyên gia, phân tích, so

sánh… được sử dụng để giải quyết các nội dung của luận án

- Nguồn số liệu sử dụng trong Luận án

Thứ nhất, số liệu sơ cấp: để phục vụ cho nội dung luận án, tác giả đã khảo sát

để lấy số liệu sơ cấp liên quan đến nông dân ở các miền/vùng trong nước; khảo sátcán bộ địa chính ở các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐBSCL; khảo sát về bồithường, hỗ trợ và tái định cư ở dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, quận 2, TP.HCM;khảo sát về qui hoạch “treo” ở xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, TP.HCM

Thứ hai, số liệu thứ cấp: Luận án sử dụng số liệu từ các Niên giám Thống kê;Báo cáo của Bộ Tài Nguyên & Môi trường, Bộ NN & PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầutư; các công trình khoa học của các tác giả đã công bố trên các tạp chí khoa học…

6 Đóng góp mới của Luận án

Thứ nhất, về đúc kết lý thuyết: Vấn đề ruộng đất là trung tâm và xuất phát hình

Trang 11

thành các chính sách cải cách ở Việt Nam trong thời gian qua Thước đo để đánh

giá thành công của các chính sách chính là nông dân gắn bó lâu dài với ruộng đất vàhưởng dụng đầy đủ kết quả do chính mình đầu tư và quản lý đất Từng giai đoạn

khác nhau cần có những hình thức sở hữu, quyền hưởng dụng, hệ thống tổ chức –

quản lý đất đai thích hợp

Thứ hai, về kinh nghiệm của các nước: (1) Sở hữu hỗn hợp đất đai là hình

thức phổ biến; (2) Chủ thể quản lý đất đai duy nhất là nhà nước

Thứ ba, về hệ thống tổ chức – quản lý đất đai: Việt Nam trong quá trình

chuyển đổi đã từng bước phát triển đến nay hoàn thiện theo một thể thống nhất của

ba mặt: Lập pháp, hành pháp và tư pháp Quyền hưởng dụng đất đai của nông dân

ngày càng mở rộng và được luật pháp đảm bảo

Thứ tư, về những bất cập của cơ chế, chính sách đất đai và tổ chức – quản lý

đất nông nghiệp, bao gồm:

11

-(1) Xu hướng tích tụ đất của hộ sản xuất nông nghiệp hiệu quả là tất yếu

nhưng vấn đề xã hội (việc làm, thu nhập) củ _a hộ nông dân mất đất chưa được quan

tâm giải quyết đầy đủ

(2) Cơ chế đền bù đất nông nghiệp đề xây dựng các KCX, KCN, KDC… còn

nhiều vấn đề: tham nhũng dễ xuất hiện, giá đền bù chưa tương xứng, nông dân sử

dụng đất không có đủ quyền đàm phán, quyền lợi việc làm, quyền sống sau khi giảitỏa chưa được đảm bảo

(3) Trình độ cán bộ địa chính cấp cơ sở chưa tương xứng với sự thay đổi của

quá trình phát triển

Thứ năm, về các giải pháp mang tính đặc thù và có tính khả thi cao, bao gồm:

(1) Hoàn thiện cơ chế chính sách để đảm bảo quyền hưởng dụng tối đa: giao

thêm nông dân hai quyền: quyền được tham gia quy hoạch đất nông nghiệp và

quyền thương lượng, đàm phán với chủ đầu tư về mức giá đề bù; giải pháp bỏ thờigian sử dụng đất và hạn điền

(2) Hoàn thiện hệ thống tài chính đối với quản lý đất đai nông nghiệp theo

hướng khuyến khích nông dân và các tổ chức sử dụng, bảo vệ và khai thác tài

nguyên đất một cách hiệu quả

(3) Đầu tư của chính phủ đối với phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn là cần

thiết nhằm tạo điều kiện cho nông dân sử dụng đất đai hiệu quả cũng như thay đổi

cuộc sống của họ

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, bảng biểu, chữ viết

tắt, mục lục Luận án gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông

nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam Nội dung

bao gồm: lý luận sở hữu và sở hữu ruộng đất của các quan điểm kinh điển như Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cương lĩnh ruộng đất của ĐCSVN xuyên suốt từnăm 1930 đến nay; lý luận sở hữu và tổ chức – quản lý ruộng đất theo quan điểm tưsản; tình hình sở hữu và tổ chức quản lý ruộng đất của Trung Quốc trong thời kỳ cải

12

-cách là những bài học kinh nghiệm để Việt Nam xem xét, học hỏi cho phù hợp vớitình hình Việt Nam

Trang 12

Chương 2: Thực trạng quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp vàphát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam Nội dung bao gồm:những đổi mới căn bản về việc tổ chức – quản lý đất đai ở Việt Nam; những phátsinh trong quá trình vận hành như bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến vấn đề quyhoạch treo, cơ chế hai giá đất, đầu cơ đất, khiếu kiện, khiếu nại và an ninh lươngthực nhằm tìm ra những biến đổi về lượng và về chất của quan hệ tổ chức, quản lýtrong thời gian qua Trên cơ sở đó, đánh giá những thành tựu và hạn chế của quan

hệ tổ chức - quản lý đất đai nông nghiệp, phát hiện ra những bất cập của chính sáchđất đai và công tác tổ chức – quản lý đất đai của cán bộ địa chính ở nông thôn.Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quan hệ tổ chức - quản lý đất đai trongnông nghiệp và phát triển nông thôn Nội dung bao gồm: đề xuất các giải pháp vàkiến nghị nhằm hoàn thiện quan hệ tổ chức – quản lý đất đai cả hai phương diện nộidung cơ chế, chính sách nông nghiệp và công tác tổ chức – quản lý hướng đến pháttriển bền vững nông nghiệp, nông thôn cho phù hợp với thời kỳ chuyển sang kinh tếthị trường và hội nhập quốc tế

13

-Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ Ở VIỆT NAM

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤT ĐAI, NÔNG NGHIỆP, NÔNG

THÔN

1.1.1 Vị trí, vai trò của đất đai trong đời sống kinh tế – xã hội

- Khái niệm về đất đai

Có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau về đất đai:

Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford, năm

1995, Land (đất): Phần rắn khô của bề mặt trái đất, đối lập với nước [133, tr.661].

Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất bản Macmillan, năm

1996, Land (đất): (1) phần rắn của bề mặt trái đất không bị bao phủ bởi nước; (2) phần cụ thể của bề mặt trái đất; (3) đất nước, vùng…; cư dân của vùng, người của một quốc gia; (4) mặt đất hoặc phần rắn xét ở khía cạnh tính chất, địa điểm tọa lạc; (5) đất xem xét dưới góc độ là tài sản…[134, tr.758]

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, năm 1998, Đất là phần chất rắn, nơi người và

động thực vật sinh sống; phân biệt với biển, trời.

Theo định nghĩa của Từ điển Bách Khoa Việt Nam 1, năm 1995, Đất là lớp

mỏng trên cùng của vỏ trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hóa ra, có

độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất được hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ Đất có độ phì nhiêu ít hay nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động, thực vật, vi sinh vật) Đất được phân loại theo kiểu phát sinh: Đất đỏ Bazan; đất phù sa; đất phù sa cổ; đất rừng xám; đất Potzon; đất mặn kiềm hay chua mặn,vv Đất đồng bằng tùy thuộc các quy luật phân vùng theo địa giới; đất miền núi chịu sự chi phối của chiều cao Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các loại

14

-theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: Đất rừng, đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao thông, xây dựng, thủy lợi, du lịch, vv).

Trang 13

Con người sinh ra gắn liền với đất, tồn tại được là nhờ các sản phẩm từ đất vàđến khi nhắm mắt, xuôi tay họ lại trở về với đất Đất gắn bó với sự tồn tại và pháttriển của con người không chỉ theo nghĩa duy nhất mà trên phương diện kinh tế, tạo

ra của cải vật chất Nhà kinh tế học cổ điển W.Petty có câu nói nổi tiếng: “Lao động

là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải” Đất đai là TLSX quan trọng, cơ bản của sảnxuất nông nghiệp, song quá trình phát triển của xã hội gắn liền với quá trình mởrộng các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại, văn hóa…Do đó, đất đai khôngchỉ để phát triển nông nghiệp mà còn được sử dụng để phát triển các lĩnh vực khác

- Vị trí, vai trò của đất đai trong đời sống KT – XH

Dưới góc độ chính trị, pháp lý: Đất đai là một bộ phận không thể tách rời của

lãnh thổ quốc gia, nó gắn liền với chủ quyền của một nhà nước Xâm phạm đất đai

là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia Nhà nước là đại diện cho chủ quyềnquốc gia có quyền và trách nhiệm thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ đất đaikhỏi sự xâm phạm từ bên ngoài

Dưới góc độ KT – XH: Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là

nơi cư trú, sinh sống của con người, là TLSX chính không thể thay thế được của sảnxuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là nguồn nguyên liệu chính của các ngành sản xuấtvật liệu xây dựng như: gạch, ngói, xi măng, đồ gốm… Đất là cội nguồn dự trữ tàinguyên có giá trị nhất của con người Đất đai là cơ sở để phát triển các hệ sinh thái,

là yếu tố hàng đầu của môi trường sống, thiếu nó con người không thể tồn tại, duytrì và phát triển sự sống Sự hình thành và phát triển của mỗi dân tộc phụ thuộc rấtnhiều vào yếu tố tài nguyên đất đai mà dân tộc đó đang sinh sống Do vậy, đất đailuôn là đối tượng tranh chấp của các cuộc chiến tranh giữa các quốc gia, dân tộc.Ngay trong một quốc gia, vấn đề sở hữu đối với đất đai luôn là vấn đề hệ trọng, nóảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và lợi ích của các giai cấp, tầng lớp dân cư trong

xã hội Sự tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng đất đai thường xảy ra phức tạp

15

-1.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn

1.1.2.1 Khái niệm nông nghiệp, nông thôn

- Khái niệm nông nghiệp

Có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau về nông nghiệp:

Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford, năm

1995, Agriculture (nông nghiệp) với danh từ: khoa học hoặc công việc trồng trọt, giữ hoặc nuôi gia cầm gia súc để lấy làm thức ăn Agricultural (nông nghiệp) với tính từ: (1) Agricultural land: đất nông nghiệp; (2) Worker: công nhân làm nông nghiệp (nông dân); (3) Machinery: máy móc dùng trong nông nghiệp [133, tr.25].

Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất bản Macmillan, năm

1996, Agriculture (nông nghiệp) với danh từ: công việc làm đất, sản sinh vụ mùa, chăn nuôi [134, tr.26].

Từ điển Bách khoa Việt Nam 2, năm 1995, Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là trồng trọt và chăn nuôi Nông nghiệp theo

nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp.

Trang 14

Những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp:

Thứ nhất, quá trình tái sản xuất vật chất khai thác kinh tế gắn phần lớn với

điều kiện tự nhiên (đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu…), tức là gắn với quá trình tái sảnxuất tự nhiên

Thứ hai, ruộng đất là TLSX chủ yếu và đặc biệt, nếu sử dụng hợp lí, khoa học

thì số ruộng đất được khai thác không bị hao mòn trong quá trình sản xuất, mà cònngày một thêm màu mỡ, có chất lượng và đem lại năng suất cao hơn

Thứ ba, nguyên liệu ban đầu là cây trồng, vật nuôi, còn có thể gọi là những

công cụ sinh vật, có chu kỳ sản xuất tương đối dài phụ thuộc vào tự nhiên

16

-Thứ tư, phân bố dàn trải trên từng khu ruộng, vườn, đến từng vùng, lãnh thổ.

Sự xuất hiện nông nghiệp đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trong lịch sử loài

người, mở đầu cho các giai đoạn văn minh ngày càng cao Lịch sử nông nghiệp đãtrải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau và ngày càng có năng suất cây trồng,vật nuôi và hiệu quả kinh tế cao hơn Nông nghiệp phát triển ngày càng có quan hệtương hỗ với phát triển công nghiệp Do đó, ngày nay phát triển nông nghiệp theo

hướng CNH, HĐH CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường [56]

- Khái niệm nông thôn

Tương tự như khái niệm đất đai và khái niệm nông nghiệp, khái niệm nông

thôn có nhiều cách tiếp cận và giải thích khác nhau:

Từ điển Oxford Advanced Learner`s Dictionary, nhà xuất bản Oxford, năm

1995, Rural (nông thôn), xét nghĩa tính từ: (1) thuộc miền quê hoặc thuộc về nông nghiệp; (2) ở miền quê, ở nông thôn; (3) liên quan đến thôn quê, hoặc nông nghiệp

[133; tr.1032]

Từ điển Webster`s New World Dictionary, nhà xuất bản Macmillan, năm

1996, Rural (nông thôn) xét nghĩa tính từ: (1) có tính miền quê, cuộc sống thôn quê, người thôn quê; (2) sống ở quê, nông thôn; (3) việc đồng án [134; tr.1176].

Nông thôn là vùng tập trung dân cư làm nghề nông; phân biệt với thành thị,

thành phố: Đời sống ở nông thôn và thành thị còn chênh lệch nhau quá lớn [64] Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh KT-XH, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp [27]

Một số ý kiến khác đề cập đến nhiều mặt của nông thôn như sau:

17

-Về địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn trải ra thành những vành

đai bao quanh các thành thị

Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật

chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp

Về tính chất xã hội, cơ cấu dân cư ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia

đình họ, ngoài ra cũng có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị

và ngược lại có những người ở thành thị nhưng lại làm việc ở nông thôn

Về văn hóa, nông thôn thường là nơi bảo tồn và lưu giữ được nhiều di sản văn

Trang 15

hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc như các phong tục, tập quán cổ truyền về đờisống, những lễ hội, làng nghề cổ truyền, các di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắngcảnh… nông thôn là kho tàng văn hóa dân tộc Nếu biết giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hóa, nông thôn có một sức hút hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.Ngoài ra, nông thôn ngày nay được mở rộng ở khái niệm phát triển nông thôn

và CNH, HĐH nông thôn

Phát triển nông thôn là một thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động tác động đến

cuộc sống của cư dân nông thôn bao gồm việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, các điều kiện y tế, giáo dục… đến việc nâng cao mức sống, mức thu nhập, trình độ văn hóa… của họ Ở Việt Nam hiện nay, phát triển nông thôn phải nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể sau đây: một là, CNH nông nghiệp; hai là, văn

minh hóa nông thôn; ba là, nâng cao tri thức cho người dân ở nông thôn.

CNH, HĐH nông thôn: là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công

nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở KT-XH, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi

trường sinh thái, tổ chức lại sản xuất và xây dựng QHSX phù hợp, xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn [56]

18

-CNH, HĐH NN, NT là một bộ phận của -CNH, HĐH đất nước Đó chính là

quá trình dân tộc Việt Nam ra sức phấn đấu tiến hành xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật hiện đại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóalớn; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ, phát huy có hiệu quảmọi tiềm năng và lợi thế để mang lại cho nền nông nghiệp Việt Nam phát triển

1.1.2.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn

Nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển KT – XH, có

thể khái quát những vai trò chủ yếu:

Một là, nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho xã hội Đảm bảo

lương thực, thực phẩm cho xã hội là điều kiện quan trọng để ổn định xã hội và pháttriển kinh tế Do vậy, sự phát triển của nông nghiệp có vai trò quyết định đối vớiviệc thỏa mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm và còn tạo cơ sở cho sự phát triểncác mặt khác của đời sống xã hội

Hai là, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp nhẹ Các

ngành công nghiệp nhẹ như ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản, côngnghiệp dệt may, mía đường, giấy… phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ

_nông nghiệp Do đó, muốn phát triển bền vững các ngành công nghiệp này cần thiết

phải phát triển nông nghiệp

Ba là, nông nghiệp cung cấp vốn cho sự nghiệp CNH Sự nghiệp CNH đất

nước cần rất nhiều vốn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển gặp khó khăn vềnguồn vốn Nguồn vốn ban đầu để kích hoạt tiến trình CNH thường được xuất phát

từ thành quả của những sản phẩm nông nghiệp Xuất khẩu các sản phẩm nông

nghiệp thường là sự lựa chọn để tạo vốn cho giai đoạn đầu của thời kỳ CNH

Bốn là, nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công

nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp vừa là đầu vào của một số ngành công nghiệp nhẹ

Trang 16

và là đầu ra cho nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ Nông thôn là tập trung dân sốđông Thị trường nông thôn là nơi tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hóa góp phầngiải quyết đầu ra và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ.

19

-Năm là, phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị,

xã hội Nông thôn là khu vực tập trung phần lớn dân cư của cả nước, là địa bàn rộnglớn nên phức tạp cho công tác quản lý đất đai, dân số So với thành thị, nông thôn

có trình độ dân trí thấp hơn, khoa học – kỹ thuật lạc hậu hơn, thu nhập bình quâncũng thấp hơn Vì thế, cuộc sống vật chất, tinh thần của nông dân nhìn chung làthấp hơn so với cư dân thành thị Do vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ trựctiếp nâng cao đời sống nông dân và tạo tiền đề, cơ sở ổn định chính trị, phát triểnKT-XH cho đất nước

Sáu là, phát triển nông nghiệp, nông thôn là điều kiện tăng cường khối liên

minh công – nông Dưới góc độ chính trị, địa bàn nông thôn chủ yếu là nông dân,

mà nông dân là bạn đồng minh, là chổ dựa đáng tin cậy của giai cấp công nhântrong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN

1.2 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU VÀ SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT

Sở hữu là phạm trù cơ bản, trừu tượng và phức tạp của kinh tế chính trị học

Sở hữu luôn chiếm vị trí trung tâm của các cuộc tranh luận khoa học trong lịch sửcác tư tưởng kinh tế và học thuyết kinh tế Một số giai cấp, thể chế nhà nước sửdụng sở hữu như là cơ sở nền tảng để xây dựng đường lối chính sách KT-XH, đặcbiệt là chính sách đất đai Xuyên suốt quá trình lịch sử lâu dài và cho đến nay, phạmtrù sở hữu vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sở hữu và sở hữu ruộng đất 1.2.1.1 Quan điểm về sở hữu

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề sở hữu xuất phát từ thế giới

quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong các tác phẩm kinh điển của Mác,Ăngghen và Lênin, có thể khái quát ở những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, sở hữu là một mặt của quan hệ sản xuất xã hội và sự vận động của

quan hệ sở hữu là quá trình lịch sử.

Trước hết, sở hữu là điều kiện tất yếu của sản xuất Không ai có thể tiến hànhsản xuất nếu như không sở hữu bất cứ TLSX nào Sở hữu TLSX là tiền đề tạo ra

20

-của cải vật chất và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu Quan hệ sở hữu sẽ hình thànhquan hệ xã hội về việc chiếm hữu của cải vật chất giữa một bên là người sở hữu vàmột bên là người không sở hữu Người sở hữu trở nên có quyền lực và chi phốitrong quan hệ sản xuất, rộng hơn là cộng đồng xã hội Từ đó hình thành các giai cấp

và là nguồn gốc của đấu tranh giai cấp Mác và Ăngghen đã khái quát quá trình hìnhthành và thay thế nhau các hình thức sở hữu trong lịch sử Hình thức sở hữu đầutiên là sở hữu bộ lạc, thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, thứ ba là sở hữuphong kiến hay sở hữu đẳng cấp và trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong kiến mớixuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu tư sản Như vậy, chế độ sở hữu đã trải quanhững thay đổi liên tiếp, những cải biến liên tục trong lịch sử Sở hữu vừa là kếtquả, vừa là điều kiện cho sự phát triển của LLSX, là hình thức xã hội có tác độngthúc đẩy hoặc kìm hãm LLSX Sự biến đổi quan hệ sở hữu là kết quả của sự pháttriển LLSX chứ không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân, hay một nhóm, thậmchí cả một giai cấp [83]

Trang 17

Thứ hai, chủ nghĩa Mác muốn xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản và xác lập chế độ

sở hữu xã hội Giải thích sự ra đời của chế độ tư hữu, Ăngghen lý giải như sau: vào

cuối thời trung cổ, khi PTSX mới không chứa nổi trong khuôn khổ của chế độ sởhữu phong kiến và phường hội lúc bấy giờ xuất hiện dưới hình thức công trường thủcông thì công trường thủ công đã vượt quá quan hệ sở hữu cũ, tạo ra cho nó mộthình thức sở hữu mới, chế độ tư hữu Đối với công trường thủ công và đối với giaiđoạn phát triển ban đầu của đại công nghiệp, không thể có hình thức sở hữu nàokhác ngoài quyền tư hữu, không thể có chế độ xã hội nào khác ngoài chế độ xã hộixây dựng trên cơ sở tư hữu Chủ nghĩa Mác tố cáo xã hội xây dựng trên cơ sở chế

độ tư hữu là nguyên nhân của sự áp bức bóc lột và vô cùng bất công bởi vì nó làmcho các LLSX nằm trong tay một số ít các nhà tư sản, còn đông đảo quần chúngnhân dân thì ngày càng trở thành vô sản; hơn nữa, của cải của tư sản càng tăng thìtình cảnh quần chúng nhân dân càng trở nên nghèo đói và không sao chịu nổi [17;tr.467 – 468], trên tinh thần thế giới quan duy vật lịch sử, Ăngghen đã nhận địnhrằng: sẽ đến lúc nhờ sự phát triển của đại công nghiệp, LLSX phát triển cao đến

không? Ăngghen trả lời: không, không thể được, cũng y như không thể làm choLLSX hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tếcông hữu Cho nên, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản đang có tất cả những triệuchứng là sắp nổ ra, sẽ chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, và chỉ khinào đã tạo nên được một khối lượng TLSX cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấymới thủ tiêu được chế độ tư hữu Đồng thời, chủ nghĩa Mác không hề có ý muốn

xóa bỏ sở hữu cá nhân: người ta trách những người cộng sản chúng tôi là muốn xóa

bỏ sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi sự độc lập của cá nhân Cái sở hữu làm ra, kiếm được một cách lương thiện và do lao động của bản thân tạo ra ư ! phải chăng người ta muốn nói đến cái hình thức sở hữu có trước sở hữu

tư sản, tức là sở hữu của người tiểu tư sản, của người tiểu nông? chúng tôi có cần

gì phải xóa bỏ cái đó, sự tiến bộ của công nghiệp đã xóa bỏ và hàng ngày vẫn tiếp tục xóa bỏ cái đó rồi.[17; tr 616] Ăngghen giải thích rất cặn kẽ những kết quả thu

được nếu xóa bỏ triệt để chế độ tư hữu: xã hội sẽ tước khỏi tay bọn tư bản tư nhânviệc sử dụng tất cả mọi LLSX và mọi phương tiện giao dịch cũng như việc trao đổi

và phân phối sản phẩm; xã hội sẽ quản lý tất cả những việc đó căn cứ theo kế hoạchđặt ra, căn cứ vào các nguồn lực hiện có và vào nhu cầu của toàn xã hội; do đó màtất cả những hậu quả tai hại gắn liền với chế độ quản lý đại công nghiệp hiện nay sẽ

22

-bị thủ tiêu trước hết Khủng hoảng sẽ chấm dứt… đại công nghiệp thoát khỏi xiềng

Trang 18

xích của chế độ tư hữu sẽ phát triển với những quy mô khiến cho đại công nghiệphiện nay đem so sánh với đại công nghiệp ấy thì thật là nhỏ bé không đáng kể,giống như công trường thủ công so với đại công nghiệp của thời đại chúng ta vậy!Quan điểm về việc thay thế tất yếu chế độ tư hữu tư sản bằng chế độ sở hữu xãhội của chủ nghĩa Mác thường bị hiểu sai và vận dụng sai ở một số nước Chínhquyền cách mạng một số nước đã đồng nhất tất cả các loại tư hữu dù là tư hữu nhỏhay là tư hữu tư sản rồi nóng vội xóa bỏ tư hữu và xác lập chế độ sở hữu xã hộinhằm nhanh chóng có ngay CNXH trong khi LLSX còn thấp Điều này khôngnhững sai về thế giới quan duy vật lịch sử mà còn làm tổn thương đến giá trị triết lý

về chế độ sở hữu xã hội của chủ nghĩa Mác

1.2.1.2 Quan điểm về sở hữu ruộng đất

a Quan điểm của Mác về ruộng đất và địa tô TBCN

Dưới góc nhìn của phương pháp luận duy vật lịch sử, Mác cho rằng trong thời

kỳ phong kiến, đối tượng sở hữu chủ yếu của nhà nước là đất đai Việc xác lậpquyền tư hữu đất đai đã làm xuất hiện địa tô, đây là hình thức bóc lột chủ yếu trong

xã hội phong kiến Đó là vấn đề mâu thuẫn căn bản của xã hội phong kiến Cuộccách mạng tư sản và tiêu chí của giai cấp tư sản là xóa bỏ cách quản lý đất đaiphong kiến và thực hiện độc quyền sở hữu đất đai cũng không giải quyết đượcmong muốn của nông dân Chẳng qua là thay đổi cách bóc lột địa tô từ kiểu nàysang kiểu khác

Mác viết : “Độc quyền sở hữu ruộng đất là một tiền đề lịch sử và vẫn là cơ sởthường xuyên của PTSX TBCN, cũng như của tất cả các PTSX trước kia dựa trên

sự bóc lột quần chúng dưới một hình thức này hay một hình thức khác” [16; tr.193].Như vậy, PTSX TBCN cũng không xoá bỏ quyền tư hữu ruộng đất mà chỉ bắt

nó phụ thuộc vào tư bản, đồng thời “tách ruộng đất với tư cách là một điều kiện sảnxuất, đối với người này thì ruộng đất không có ý nghĩa khác hơn là một khoản thuếnhất định bằng tiền mà độc quyền của hắn cho phép hắn thu được… PTSX TBCN

đã cắt đứt mọi mối liên hệ giữa người sở hữu ruộng đất và ruộng đất đến mức người

23

-này có thể suốt đời sống ở Côn - Xtan - ti - nô - pôn, trong khi sở hữu ruộng đất trởthành ad ab – surdum1” [16; tr.195]

Quyền sở hữu ruộng đất trong PTSX TBCN làm thay đổi địa tô phong kiến

thành địa tô TBCN, mặc dù có sự giống nhau đều là “hình thức dưới đó quyền sởhữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, tức là đem lại thu nhập” [16; tr.196].Nhưng địa tô TBCN hoàn toàn khác với địa tô phong kiến vì quan hệ xã hội phứctạp hơn, tính chất bóc lột rõ nét và tinh vi hơn Theo Mác: “địa tô là số tiền mà nhà

tư bản kinh doanh nông nghiệp trả cho chủ đất, kẻ sở hữu ruộng đất mà hắn kinhdoanh số tiền trả như vậy dù là trả về ruộng đất canh tác hay là đất xây dựng, hầm

mỏ, ngư trường, rừng gỗ… đều là địa tô” [16; tr.195] Nhà tư bản kinh doanh nôngnghiệp phải thuê ruộng đất của địa chủ và thuê công nhân để tiến hành sản xuất do

đó, nhà tư bản phải trích một phần giá trị thặng dư do công nhân tạo ra để trả cho

chủ đất dưới hình thức địa tô Như vậy, địa tô TBCN là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất.

Mác đã chỉ ra và phân tích các loại địa tô TBCN: địa tô chênh lệch, địa tô

Trang 19

tuyệt đối, địa tô độc quyền và giá cả ruộng đất.

- Địa tô chênh lệch: Nông nghiệp có một số đặc điểm khác với công nghiệp,

như số lượng ruộng đất bị giới hạn; độ màu mỡ tự nhiên và vị trí địa lý của ruộngđất không giống nhau; các điều kiện thời tiết, khí hậu của địa phương ít biến động;nhu cầu hàng hóa nông phẩm ngày càng tăng Do đó, xã hội buộc phải canh tác trên

cả ruộng đất xấu nhất (về độ màu mỡ và vị trí địa lý) Vì vậy mà giá cả của hànghóa nông phẩm được hình thành trên cơ sở điều kiện sản xuất xấu nhất chứ khôngphải ở điều kiện trung bình như trong công nghiệp Vì thế, canh tác trên đất tốt vàtrung bình sẽ có lợi nhuận siêu ngạch Phần lợi nhuận siêu ngạch này tồn tại thường

xuyên, tương đối ổn định và chuyển hóa thành địa tô chênh lệch Như vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá

cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.

1 ad ab – surdum nghĩa là một điều phi lý

24

-Địa tô chênh lệch có hai loại: địa tô chênh lệch I và địa tô chênh lệch II -Địa tôchênh lệch I là loại địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kiện tự nhiên thuậnlợi Chẳng hạn, có độ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt) và có vị trí địa

lý gần nơi tiêu thụ hay gần đường giao thông Địa tô chênh lệch II là loại địa tô thuđược gắn liền với thâm canh tăng năng suất, là kết quả của tư bản đầu tư thêm trêncùng một đơn vị diện tích Cần chú ý rằng, năng suất của lần đầu tư thêm phải lớnhơn năng suất của lần đầu tư trên ruộng xấu thì khi đó mới có lợi nhuận siêu ngạch.Trong thời hạn hợp đồng, lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâm canh đem lại thuộcnhà tư bản kinh doanh ruộng đất Chỉ đến khi hết thời hạn hợp đồng, địa chủ mớitìm cách nâng giá cho thuê ruộng đất, tức biến lợi nhuận siêu ngạch do đầu tư thâmcanh đem lại tức địa tô chênh lệch II thành địa tô chênh lệch I Tình trạng này dẫnđến mâu thuẫn: nhà tư bản thuê đất muốn kéo dài thời hạn thuê, còn địa chủ lạimuốn rút ngắn thời hạn cho thuê Do đó, trong thời gian thuê đất, nhà tư bản tìmmọi cách quay vòng, tận dụng, vắt kiệt độ màu mỡ đất đai

- Địa tô tuyệt đối: Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh

nông nghiệp tuyệt đối phải nộp cho địa chủ, dù ruộng đất đó tốt hay xấu, ở xa hay

gần Địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông

nghiệp thấp hơn trong công nghiệp Còn nguyên nhân tồn tại địa tô tuyệt đối là dochế độ độc quyền sở hữu ruộng đất đã ngăn cản nông nghiệp tham gia cạnh tranhgiữa các ngành để hình thành lợi nhuận bình quân

- Địa tô độc quyền: Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô TBCN.

Địa tô độc quyền có thể tồn tại trong nông nghiệp, công nghiệp khai thác và ở cáckhu đất trong thành thị Trong nông nghiệp, địa tô độc quyền có ở các khu đất cótính chất đặc biệt, cho phép trồng các loại cây đặc sản hay sản xuất các sản phẩmđặc biệt Trong công nghiệp khai thác, địa tô độc quyền có ở các vùng khai thác cáckim loại, khoáng chất quý hiếm, hoặc những khoáng sản có nhu cầu vượt xa khảnăng khai thác chúng Trong thành thị, địa tô độc quyền có ở các khu đất có vị tríthuận lợi cho phép xây dựng các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nhàcho thuê có khả năng thu lợi nhuận cao Nguồn gốc của địa tô độc quyền cũng là lợi

Trang 20

nhuận siêu ngạch do giá cả độc quyền của sản phẩm thu được trên đất đai mà nhà tưbản phải nộp cho địa chủ.

25

Giá cả ruộng đất: Ruộng đất trong xã hội tư bản không chỉ cho thuê mà còn

được bán Giá cả ruộng đất là một phạm trù kinh tế bất hợp lý nhưng ẩn giấu mộtquan hệ kinh tế hiện thực Mác đã nghiên cứu có hệ thống và khoa học vấn đề sởhữu ruộng đất gắn với sự ra đời các loại địa tô Đồng thời vận dụng lý luận địa tô để

giải thích giá cả ruộng đất dưới góc độ địa tô tư bản hoá Ông lập luận rằng: đất đai

đem lại địa tô cho người chủ sở hữu tức là mang lại thu nhập bằng tiền nên nó đượcxem như một loại tư bản đặc biệt còn địa tô chính là lợi tức của tư bản đó Do vậy,giá cả đất đai chỉ là giá mua địa tô do sở hữu đất mang lại theo tỉ xuất lợi tức củangân hàng Vì thế, giá cả đất đai phụ thuộc vào địa tô và tỉ xuất lợi tức của ngân

hàng Mác cho rằng, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì tỷ suất lợi tức càng có xuhướng giảm xuống làm cho giá cả ruộng đất ngày càng tăng, độc lập cả với địa tô.Hơn nữa, do quan hệ cung cầu về đất đai ngày càng căng thẳng, do chủ tư bản đầu

tư vào đất đai ngày càng nhiều, làm cho địa tô tăng lên Tất cả những điều đó đẩy

giá cả đất đai cao hơn nữa.

Trước những lợi ích to lớn từ độc quyền sở hữu đất đai, trong thời kỳ tích luỹ

nguyên thuỷ tư bản, giai cấp tư sản và bọn địa chủ sử dụng hình thức bạo lực và dãmang nhất: “Bọn địa chủ lớn cướp đoạt ruộng đất công xã của nông dân, đuổi nôngdân ra khỏi phần ruộng của họ và biến những ruộng đấ _t ấy thành những bãi chăn

cừu hay phát canh cho những nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp Giai cấp tư sảnmới ra đời cũng dùng mọi phương pháp để chiếm ruộng đất, như mua ruộng đất củanhà nước bằng những thủ đoạn lừa đảo và cướp đoạt… Bị mất TLSX, đông đảo

quần chúng biến thành những kẻ ăn xin, những người lang thang và trộm cướp

Chính quyền nhà nước ban bố những đạo luật chống lại những người bị tước đoạt,những đạo luật đó gọi là những “đạo luật máu” [51; tr.591]

Tượng tự ở nước Nga, thời kỳ Nga Sa Hoàng một bộ phận nông dân bị mất

quyền sở hữu đất biến thành công nhân, họ bị trói buộc bằng bạo lực vào các côngtrường thủ công Cuộc “cải cách nông dân” năm 1861 đã làm cho nông dân mất

ruộng đất và đẩy nhanh vào quá trình phá sản của họ, trong đó số rất đông nông dânbiến thành người vô sản, còn tư bản tích tụ vào trong tay những người sở hữu lớn.Trước thực trạng bất công của xã hội tư bản đương thời do dựa trên chế độ tư

hữu, trong đó thể hiện rõ nét là tư hữu ruộng đất Mác và Ăngghen kịch liệt đả pháchế độ tư hữu tư nhân về TLSX và xem là nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội

26

-Tóm lại sau khi tìm hiểu các tác phẩm của Mác và Ăngghen có liên quan

đến vấn đề nông dân và ruộng đất, có thể nêu một số điểm chính sau đây:

Một là, quan điểm của Mác – Ăngghen phê phán chế độ chiếm hữu ruộng đất

phong kiến và giai cấp địa chủ phong kiến Trong các tác phẩm: Quốc hữu hóa

ruộng đất (1872), về sự suy tàn của chế độ phong kiến và sự ra đời của giai cấp tưsản (1984), Tư bản (quyển thứ ba, tập ba) (1895), hai ông đã viết đại ý như sau: (1)Bọn lãnh chúa quý tộc sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt lao động của nhân dân.(2) Tầng lớp quý tộc phong kiến trở nên thừa và là nhân tố cản trở sự phát triển của

xã hội (3) Giai cấp địa chủ là bọn ăn không ngồi rồi và chiếm đoạt giá trị thặng dưduới hình thức địa tô

Trang 21

Hai là, từ những kết quả nghiên cứu nêu trên, trong các tác phẩm: Những

nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản (1847), Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản (1848),

Quốc hữu hóa ruộng đất (1872) và vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894), Mác và

Ăngghen đã khẳng định: (1) Phải tước đoạt bọn chiếm hữu ruộng đất (2) Quốc hữuhóa ruộng đất ngày càng trở thành một tất yếu xã hội, để ruộng đất phải về tay nôngdân lao động và địa tô được bỏ vào quỹ chi tiêu của Nhà nước

b Quan điểm của Lênin về vấn đề ruộng đất

Kế thừa và thực hiện sáng tạo chủ nghĩa Mác, khi bàn về sở hữu đất đai Lênin

cho rằng: ruộng đất phải là sở hữu toàn dân, và một chính quyền có tính chất toàn

quốc phải qui định điều đó Ngoài ra, Lênin còn giải thích: người nông dân muốn sửdụng có hiệu quả đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì phải có điều kiện như phải có

vốn và TLSX khác, phải có chuyên gia kỹ thuật và cuối cùng phải có tổ chức

Ngay từ năm 1894, trong tác phẩm Chân tướng những kẻ “bạn dân” và bọn

ấy hành động chống những người xã hội dân chủ như thế nào? Lênin đã đặt vấn đề

liên minh cách mạng giữa giai cấp thợ thuyền và dân cày, cho đó là phương cách

căn bản để lật đổ chế độ Nga hoàng, địa chủ và tư bản

Để bảo đảm cho sự liên minh đó, trong Luận cương tháng tư (1917) Lênin đã

đề ra nhiệm vụ: (1) Quốc hữu hóa tất cả ruộng đất trong nước, tịch thu ruộng đất

của bọn địa chủ Hội nghị tháng tư năm 1917 đã tán thành: Quốc hữu hóa tất cả

ruộng đất trong nước, tịch thu ruộng đấ _t của bọn địa chủ giao cho Ủy ban dân cày,

xem đó là điều kiện bảo đảm thắng lợi của cách mạng XHCN (2) Tư tưởng chỉ đạo

của Lênin đã đưa Cách mạng tháng 10/1917 đến thắng lợi, và ngay sau đó, Sắc lệnh

27

-về ruộng đất đã xóa bỏ vĩnh viễn quyền chiếm hữu ruộng đất của bọn đại địa chủ,

hoàng tộc, Nhà chung và giao cho nông dân hưởng không

Năm 1920, trong Sơ thảo đề cương về vấn đề ruộng đất viết cho Đại hội II của

Quốc tế cộng sản, Lênin nêu rõ: Chỉ có giai cấp vô sản công nghiệp do ĐCS lãnh

đạo mới có thể làm cho quần chúng cần lao ở nông thôn thoát khỏi ách tư bản và

địa chủ Giai cấp vô sản cách mạng phải tịch thu tức khắc và triệt để tất cả ruộng đất

của bọn địa chủ chia cho nông dân sử dụng Và bản Sơ thảo của Lênin đã được Đại

hội II Quốc tế cộng sản thông qua [28; tr.13-15]

1.2.2 Quan điểm tư sản về sở hữu ruộng đất và các mô hình về chế độ sở hữu

ruộng đất ở các nước TBCN

Quan điểm đặc trưng của các nhà kinh tế tư sản luôn xem quyền tư hữu là nền

tảng của đời sống KT - XH Do đó, vấn đề sở hữu đất đai cũng được thừa nhận dướigóc độ tư hữu và ra sức bảo vệ cổ xúy cho địa tô TBCN

Chế độ sở hữu đất đai TBCN lấy chế độ tư hữu TBCN làm nền móng hoặc

thành phần chủ đạo Chế độ sở hữu đất đai TBCN do chế độ sở hữu đất đai phong

kiến và chế độ sở hữu đất đai nông dân cá thể chuyển hóa thành

Xét quá trình lịch sử hình thành chế độ sở hữu đất đai TBCN, ngoài con

đường tích lũy nguyên thủy tư bản điển hình ở nước Anh, các nước khác có thể quythành hai loại hình: (1) con đường cách mạng dân chủ tư sản Đặc điểm của nó là

thông qua cách mạng tư sản phá vỡ nền kinh tế địa chủ phong kiến, trải qua sự phânhóa nhanh chóng của nền kinh tế tiểu nông, làm cho chế độ sở hữu đất đai lớn

TBCN dần dần thay thế chế độ sở hữu đất đai nhỏ của nông dân Lúc này cái xác

Trang 22

địa chủ phong kiến biến thành chủ sở hữu đất đai TBCN, tiểu nông trở thành ngườilao động làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp, các nhà tư bản nông nghiệp nắmquyền kinh doanh đất đai áp dụng phương thức thuê lao động, kinh doanh nôngtrường TBCN Nông nghiệp nước Mỹ sau chiến tranh Nam Bắc từ 1861 – 1865 làđiển hình về đường đi này Con đường này thoát khỏi sự trói buộc của các quan hệphong kiến tương đối triệt để, có thể khiến cho nền kinh tế TBCN phát triển nhanhchóng (2) con đường cải cách chuyển đổi xã hội phong kiến sang TBCN có đặcđiểm là địa chủ phong kiến thông qua cải cách, dưới điều kiện cho phép nông nô

28

-nộp lượng tiền lớn cho địa chủ, được miễn trừ nghĩa vụ nông nô phong kiến đồngthời phải giao lại ruộng đất vốn đang sử dụng cho địa chủ và từ đó nông nô chuyểnbiến trở thành người lao động tự do; còn giai cấp địa chủ thì lại theo PTSX tư bảncải tạo kinh tế địa chủ, tổ chức nông trường TBCN, tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh Các nước Phổ, Ý, Nhật thuộc loại này Con đường này trong điều kiệnbảo lưu đặc quyền của giai cấp địa chủ và bảo tồn tàn dư của chế độ nông nô phongkiến, là con đường phát triển CNTB

Tuy rằng chế độ sở hữu đất đai TBCN hình thành và phát triển trên cơ sở của

chế độ sở hữu đất đai phong kiến, nhưng nó được xây dựng trên cơ sở của nền đạisản xuất xã hội hóa và kinh tế thị trường, vì vậy, so sánh với chế độ sở hữu đất đaiphong kiến chế độ sở hữu đất đai TBCN có hai đặc điểm nổi bật:

Thứ nhất, quyền sở hữu và quyền kinh doanh đất hoàn toàn tách biệt nhau.

Trong xã hội TBCN, người sở hữu đất đai lớn đã nắm và tập trung lượng lớn đất đainhưng bản thân họ không trực tiếp sản xuất kinh doanh nông nghiệp mà là đemruộng đất cho nhà tư bản nông nghiệp thuê kinh doanh, chủ sở hữu ruộng đất dựavào quyền sở hữu đối với ruộng đất mà thu địa tô

Thứ hai, mối quan hệ giữa quyền sở hữu ruộng đất với người lao động phụ

thuộc vào ruộng đất tách rời nhau Người công nhân nông nghiệp về mặt pháp luật

có quyền tự do về nhân thân, họ có thể tự do bán sức lao động của mình cho nhà tưbản nông nghiệp Kinh doanh về nông nghiệp áp dụng chế độ thuê mướn lao động

Vì thế, không mang tính chất cưỡng chế siêu kinh tế mà bóc lột phong kiến vẫn có.Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, chế độ sở hữu đất đai TBCN là

loại hình hỗn hợp công tư cùng tồn tại Phân chia tỷ trọng khác nhau giữa đất công

và đất tư, chế độ sở hữu đất đai TBCN đương đại có thể chia thành hai mô hình2:

Mô hình 1: chế độ sở hữu đất đai lấy nước Mỹ, Nhật, Đức làm đại biểu Ở

những nước này tuy rằng cũng có đất đai thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu công cộng,

ở Mỹ còn có đất đai thuộc sở hữu bang nhưng đất đai sở hữu nhà nước, sở hữu công

2 Theo Giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ Trình Ân Phú, người Trung Quốc, tác giả giáo trình “Kinh Tế Chính Trị Học Hiện Đại” xuất bản năm 2007, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.

29

-cộng ở những nước này không chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ mà phần lớn lại là nhữngvùng đất giá trị kinh tế không cao như núi rừng, đầm hồ, sông suối, đất hoang…Chế độ áp dụng đối với những vùng đất chủ yếu ở những nước này là chế độ sở hữu

tư nhân và pháp nhân trực tiếp Như đất đai tư nhân ở Mỹ chiếm 58% tổng diệntích, đất đai công hữu thuộc sở hữu hai cấp liên bang và bang chỉ chiếm 42% ỞNhật Bản, đất đai tư nhân và pháp nhân chiếm 65% đất đai toàn quốc, còn đất đaithuộc sở hữu nhà nước và sở hữu công cộng tất cả chiếm 35% nhưng tài sản đất đainhóm sau chỉ chiếm 6% tổng giá trị tài sản toàn bộ đất đai của Nhật Bản Nước Đức

Trang 23

lấy chế độ tư nhân về đất đai làm chủ yếu càng nổi rõ hơn, mọi quan chức chínhphủ, công nhân viên chức, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đều có đất đai riêng.Thụy Điển, Hà Lan, tỷ trọng đất đai tư hữu của cá nhân, các doanh nghiệp là 60%

và trên 80%

Đối với các quyền về đất đai, ở những nước này không chỉ có thể mua bán

quyền sử dụng đất đai mà quyền sở hữu đất đai cũng có thể tự do chuyển nhượng,

vì vậy, thị trường đất đai ở những nước này là thị trường mua bán quyền tài sản lâudài về đất đai Chính phủ để bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu và người sử dụng đấtđai tư nhân đã thực hiện quản chế điều hành cần thiết đối với mua bán đất đai, nhưđối với số lượng, phạm vi, đối tượng và phương thức giao dịch đất đai sở hữu… đều

có quy phạm pháp luật rõ ràng Ở Nhật Bản, chính phủ kết hợp với thông cáo côngkhai giá đất, thực thi chế độ khuyến cáo xin phép mua bán đất, tức là đương sự muabán khi giao dịch hạn ngạch đất đai nhất định, phải trình chính phủ giá đất và mụcđích sử dụng đất, sau khi được phép mới được tiến hành thỏa thuận mua bán Đồngthời, trong khu vực hoạch định hạn chế chuyển nhượng đất đai còn thực hiện chế độgiấy phép mua bán Về đối tượng giao dịch một số nước thực hiện quy định cấmbán đất đai cho người nước ngoài, hoặc hạn định về phạm vi, chủng loại, số lượng

Đa số chính phủ các nước đều có quyền căn cứ theo nhu cầu phát triển KT-XH,trưng dụng theo pháp luật đất đai của tư nhân, chuyển chúng thành sở hữu côngcộng Nhưng trên thực tế, mọi người trong giao dịch đất đai vẫn quyết định dựa vàoquan hệ cung cầu trên thị trường đất chế độ sở hữu đất của các nước Mỹ, Nhật,

30

-Đức… là mô hình lấy toàn bộ quyền tài sản đất làm nội dung giao dịch, lấy nhượng

bộ có đền bù làm điều kiện, lấy nhà nước điều hành và thị trường điều tiết để phân

bổ nguồn tài nguyên đất

Mô hình 2: chế độ sở hữu đất đai của Anh cùng các nước và khu vực trong

khối liên hợp Anh Trong những nước và khu vực này, đất đai về cơ bản thuộc sởhữu nhà nước hoặc chính phủ, đặc điểm của nó là pháp luật quy định đất đai sở hữucông cộng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất đai từng nước Ở Anh, phápluật quy định toàn bộ đất đai thống nhất thuộc sở hữu nhà vua và cũng chính là sởhữu chính phủ Ở Canada, đất đai sở hữu công cộng của liên bang và tỉnh gọi là đấtđai hoàng gia chiếm 90% diện tích lãnh thổ Singapore và Newzealand, đất đai sởhữu nhà nước và đất đai sở hữu công cộng chiếm trên 80% và 77%

Đất đai ở những nước và khu vực này trên danh nghĩa cơ bản thuộc sở hữu

nhà nước hoặc chính phủ, nhưng quyền sử dụng đất có thể do chính phủ căn cứ theonhững kỳ hạn và mục đích sử dụng được quy định khác nhau, cho người sử dụngđất thuê; người sử dụng đất có thể theo khế ước quy định chuyển nhượng quyền sửdụng đất, hoặc dựa vào quyền sử dụng đất thế chấp với ngân hàng để vay tiền; cònchính phủ lại thu được tiền chuyển nhượng đất khi cho thuê đất, tức giá cả quyền sửdụng đất một số năm và trưng thu tiền thuế liên quan tới đất đai khi người sử dụngđất chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc kinh doanh tài sản nhà đất… Dưới chế độnày, đất đai thuộc sở hữu nhà nước Để thích ứng với yêu cầu phát triển kinh tế thịtrường hiện đại, đối với đất đai thực hiện không bán quyền sở hữu mà chỉ bánquyền sử dụng và bán có kỳ hạn Chính phủ không những cần phải tăng cường quảnchế chặt chẽ đối với mục đích sử dụng đất đai, mà còn phải thu hồi theo đúng kỳhạn và điều kiện quy định Rất rõ ràng, chế độ sở hữu đất đai này tuy mang tính

Trang 24

chất TBCN nhưng khác với chế độ sở hữu đất đai của các nước Mỹ, Nhật, Đức, cóthể giao dịch được nhưng không phải là toàn bộ nội dung của ngành đất đai, mà chỉgiới hạn ở quyền sử dụng đất đai và được tiến hành thông qua thị trường thuê sỉ.Tóm lại, hình thái cơ bản của chế độ sở hữu đất đai TBCN đương đại là chế độ

sở hữu đất đai loại hình hỗn hợp, chế độ sở hữu đất đai hỗn hợp của các nước

31

-TBCN đều lấy chế độ tư hữu làm đặc trưng bản chất, từ đó đã cấu thành bối cảnhchế độ tư bản cho thị trường đất đai TBCN vận hành và phát triển, quyết định tínhchất, mục đích và nhiệm vụ của chế độ quản lý đất đai [42; tr.408 - 411]

1.2.3 Lý luận về sở hữu trong nền kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc có những nét tương đồng trong sự nghiệp xây dựngCNXH Việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề lý luận và thực tiễn sở hữu ở Trung Quốctrong những năm gần đây có ý nghĩa tham khảo, bổ sung thêm kiến thức phong phú

về sở hữu và có thể phục vụ cho sự nghiệp cải cách KT-XH ở Việt Nam Các nhàkinh tế học Trung Quốc đã nghiên cứu và lý giải vấn đề sở hữu như sau:

Về vị trí của vấn đề sở hữu: Theo Chu Thúc Liên, sở hữu và chế độ sở hữu

phải luôn luôn biến đổi, phát triển để phát triển LLSX Vệ Hưng Hoa cho rằng, xâydựng CNXH phải lấy chế độ công hữu làm chủ thể hoặc cơ sở để phát triển sản xuấtnhanh hơn Do đó, chế độ công hữu là tất yếu trong sự nghiệp xây dựng CNXH

Về vai trò chủ thể của chế độ công hữu: Các nhà kinh tế Trung Quốc có nhiều

ý kiến khác nhau, tuy nhiên có thể khái quát thành ba loại sau đây:

Một là, khẳng định chế độ công hữu XHCN là chủ thể vì cho đó là sự công

bằng (Tôn Thượng Thanh), là nhân tố quyết định sự ổn định toàn cục (Trần VũMinh) Lẫn lộn chế độ công hữu và tư hữu sẽ tạo nên bất công và tiêu cực trongtoàn xã hội (Lưu Quốc Quang)

Hai là, không nên sùng bái chế độ công hữu Những người theo quan điểm

này cho rằng “bản thân công hữu hóa TLSX không có nghĩa là đạt được mục đíchsản xuất, cũng không có nghĩa là sản xuất xã hội sẽ nhất định tiến hành theo nguyêntắc bồi dưỡng, nâng cao và phát huy năng lực sáng tạo của con người” (Lệ DĩNinh) Ngoài ra, “không thể mê tín đối với một chế độ sở hữu nào, cho dù là cônghữu hay tư hữu, cũng không nên thần bí chúng… tất cả đều phải lấy phát triểnLLSX làm tiêu chuẩn” (Chu Thúc Liên) Quan điểm này thừa nhận trong thời kỳquá độ lên CNXH có nhiều loại hình sở hữu bởi vì mỗi loại hình sở hữu đều có mặtmạnh và mặt yếu Chẳng hạn, theo tác giả Đổng Phụ Những, chế độ công hữu sẽ tạo

32

-điều kiện cho kinh tế công hữu dễ tiếp cận sự -điều chỉnh ở tầm vĩ mô của chính phủ,điều hòa lợi ích xã hội Trong khi kinh tế tư nhân có lợi thế tương thích, phù hợpvới kinh tế thị trường

Ba là, xem vai trò kinh tế công hữu là chủ đạo, còn kinh tế ngoài công hữu là

chỉ là sự bổ sung làm phong phú thêm cho sự phát triển của kinh tế công hữu tiếnđến nhanh hơn CNXH

Vận dụng lý luận sở hữu trong cải cách kinh tế ở Trung Quốc:

Sự nghiệp cải cách kinh tế ở Trung Quốc thể hiện rõ nét sự vận dụng lý luận

sở hữu trong thời kỳ mới Biểu hiện một số lĩnh vực sau đây:

Thứ nhất, nhận thức rõ sự trì trệ và yếu kém của chế độ sở hữu công xã trong

mô hình kinh tế tập thể kiểu cũ, từ đó mạnh dạn giải thể các công xã và thực hiệnchế độ khoán đến hộ nông dân (từ năm 1979 – 1984) Đây là bước đột phá trong cải

Trang 25

cách và mở cửa kinh tế nhờ đó nông nghiệp phát triển dần theo cơ chế thị trường.

Thứ hai, đa dạng hóa sở hữu trong các doanh nghiệp nhà nước thông cải cách

mạnh mẽ bằng các biện pháp như: cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, sáp nhập,

phân tách, bán, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước

Tóm lại, sự tương đồng và khác nhau về chế độ sở hữu của chủ nghĩa Mác –

Lênin, Trung Quốc và chủ nghĩa tư bản như sau: chủ nghĩa Mác – Lênin, Trung

Quốc theo chế độ sở hữu xã hội về TLSX (đất đai) Một số nước TBCN như Anh vàkhối liên hợp Anh, Canada, Thái Lan…theo chế độ sở hữu tối cao (sở hữu tuyệt

đối) tức là sở hữu nhà vua (hoàng gia hay sở _hữu nhà nước) Phần còn lại của thế

giới theo chế độ tư hữu đất đai Vì vậy, những nước nào nhấn mạnh chế độ sở hữu

tư nhân thì thừa nhận quyền tư hữu ruộng đất có giới hạn (nghĩa là quyền tư hữu

ruộng đất trong các giao dịch dân sự và kinh tế nằm trong khuôn khổ qui định cho

phép của luật pháp như qui hoạch chung, mục đích sử dụng…); còn những nước

nhấn mạnh chế độ sở hữu nhà nước (sở hữu nhà nước XHCN; sở hữu tối cao, sở

hữu tuyệt đối của nhà vua, hoàng gia) thì trao quyền sử dụng đất và kèm theo các

33

-quyền thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển nhượng nhằm bảo đảm hưởng dụng gầnnhư quyền sở hữu có giới hạn

1.3 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN

LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

1.3.1 Khái niệm, nội dung quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông

nghiệp và phát triển nông thôn

1.3.1.1 Khái niệm

- Khái niệm quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất thể hiện quyền lực của một cá

nhân hay cộng đồng đối với quá trình sản xuất Những vấn đề sản xuất như thế nào,sản xuất bằng cái gì, sản xuất sản phẩm gì, sản xuất bao nhiêu, tiêu thụ ở đâu, quy

mô của quá trình sản xuất… đều do người tổ chức, quản lý sản xuất quyết định Tuyquan hệ về tổ chức quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu về TLSX quyết định nhưng

tổ chức, quản lý có tính năng động, độc lập tương đối của nó Tổ chức, quản lý sảnxuất theo hình thức này hay hình thức kia đều ảnh hưởng đến năng suất lao động

Trong khuổn khổ của một PTSX thì cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất có ý nghĩa

quyết định sự tồn tại của PTSX đó Sự khủng hoảng của một cơ sở sản xuất hoặc

trên phạm vi toàn xã hội đều bắt nguồn từ cách thức tổ chức, quản lý sản xuất Saukhủng hoảng, người ta tổ chức lại doanh nghiệp, thay đổi cơ chế quản lý phù hợp

thì sản xuất vẫn phát triển, chế độ xã hội vẫn không thay đổi Những cải cách xã hộitrong các nước TBCN cũng như một số nước XHCN đã minh chứng điều đó Lịch

sử loài người đã từng trải qua các hình thức tổ chức, quản lý sản xuất: tự quản trong

xã hội công xã nguyên thủy, gia trưởng trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phát canh thu

tô trong xã hội phong kiến, cơ chế thị trường trong xã hội TBCN… Mỗi hình thức

tổ chức, quản lý là một sự phù hợp tương đối với LLSX, đồng thời nó tạo cho sức

sản xuất phát triển, năng suất lao động xã hội tăng lên, đáp ứng được nhu cầu của cánhân và cộng đồng, cũng là động lực cho xã hội phát triển [37; tr.170-171]

- Khái niệm quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong NN & PTNT

34

-Theo nghĩa hẹp, quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong NN & PTNT là quan

hệ giữa các chủ thể về việc tổ chức, quản lý đất đai trong lĩnh vực nông nghiệp và

Trang 26

phát triển nông thôn.

Theo nghĩa rộng, quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong NN & PTNT là một thể phức hợp gồm chính sách của nhà nước đối với quan hệ sở hữu ruộng đất; bộ máy tổ chức quản lý – cán bộ địa chính các cấp với các công cụ pháp lý mang tính kinh tế, kỹ thuật và cơ chế tác động đến các chủ thể nông dân và nhà đầu tư trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát triển nông thôn.

Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp là một mặt của QHSX nông

nghiệp Nó chịu ảnh hưởng trước hết bởi quan hệ sở hữu đất đai và sau đó tác

Xuất phát điểm của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai là quan hệ sở hữu đất

đai Bởi vì quan hệ sở hữu đất đai là trung tâm của QHSX nông nghiệp, nó ảnhhưởng đến tính tổ chức – quản lý đất đai trong suốt quá trình phát triển

Quan hệ sở hữu đất đai là tổng hòa các mối quan hệ KT-XH mà con người kếtthành trong quá trình chiếm hữu, chi phối và sử dụng đất đai; là hình thức kết hợppháp định về mối quan hệ giữa con người với đất đai và mối quan hệ giữa conngười với con người bắt nguồn từ mối quan hệ trong một quốc gia hoặc một xã hội.Quyền sở hữu đất đai là quyền lợi chiếm hữu, sử dụng, xử lý và thu lợi đối với đấtđai mà người sở hữu đất đai được hưởng trong phạm vi pháp luật quy định Quyền

sở hữu đất đai là biểu hiện của chế độ sở hữu đất đai về mặt luật pháp, địa tô chính

là hình thức thực hiện của nó về mặt kinh tế Căn cứ vào sự khác nhau về quyền sởhữu đất đai, chế độ đất đai có thể chia thành hai hình thức cơ bản: chế độ tư hữu đấtđai và chế độ công hữu đất đai Chế độ tư hữu đất đai bao gồm chế độ tư hữu đấtđai nhỏ, chế độ tư hữu đất đai phong kiến và chế độ tư hữu đất đai TBCN Chế độcông hữu đất đai do chế độ sở hữu nhà nước XHCN và chế độ sở hữu tập thể

35

-Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, cùng với xã hội hóa đất đai và sự phát

triển của giao dịch thị trường, quyền sở hữu hoặc quyền tài sản đất đai và quyềnnăng của nó sẽ được phân giải chi tiết, tổ hợp và tổ chức lại thêm một bước Quyềntài sản đất đai có thể đi vào thị trường thực hiện giao dịch, lưu chuyển theo nguyêntắc thương mại hóa nhưng điều cần thiết trước tiên phải nhân cách hóa quyền tài sảnđất đai và quyền này phải có giới hạn, quy phạm, xác nhận và bảo đảm về mặt phápluật [42; tr.407] Khi quan hệ sở hữu đất đai được xác lập về mặt pháp lý để đi vàođời sống KT – XH cần thiết hình thành quan hệ tổ chức – quản lý đất đai

1.3.1.2 Nội dung

Nội dung quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát triển

triển nông thôn thể hiện trên các mặt sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể và khách thể của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nôngnghiệp và phát triển nông thôn

Về chủ thể của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát

triển nông thôn là hệ thống các cơ quan quản lý đất đai của Nhà nước các cấp từtrung ương đến địa phương hoặc các đại lý được ủy quyền như các hợp tác xã nôngnghiệp, các nông trường quốc doanh Ở Việt Nam trước khi có Luật Đất đai năm

Trang 27

1993, hệ thống các nông trường quốc doanh và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệpđược xem là các đại lý được ủy quyền để tổ chức các hoạt động sản xuất nông

nghiệp Vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh khôngchỉ là các tổ chức sản xuất kinh doanh thuần túy mà hơn thế nữa kiêm luôn chứcnăng quản lý nhà nước về đất đai nông nghiệp thể hiện trong việc quản lý đất đai ởcác địa phương, sau này thực hiện luôn việc giao khoán ruộng đất cho xã viên vànông trường viên Ngoài ra, các hợp tác xã và nông trường còn thực hiện công việcphân phối sản phẩm từ việc trích nộp cho nhà nước đến việc trả công cho các thànhviên Sau Luật Đất đai 1993 cùng với sự tan rã dần hệ thống hợp tác xã và nôngtrường quốc doanh thì việc tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp là các cơ quanquản lý địa chính của Nhà nước, bao gồm 4 cấp: cao nhất là Bộ Tài nguyên & Môitrường (cấp Trung ương), các Sở Tài nguyên & Môi trường (cấp tỉnh, thành), các

36

-Phòng Tài nguyên & Môi trường (cấp quận, huyện) và bộ phận địa chính – xây

dựng ở các xã, phường, gọi chung là cán bộ địa chính cấp cơ sở

Về khách thể của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp và phát

triển nông thôn chính là các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động sản xuất kinhdoanh trong nông nghiệp và phi nông nghiệp gắn với địa bàn nông thôn Khi nềnkinh tế chưa phát triển và nông thôn là thuần nông thì khách thể của quan hệ tổ chức

- quản lý đất đai là các hộ nông dân cá thể Quá trình CNH, HĐH và kinh tế thị

trường làm thay đổi kinh tế nông thôn theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực thì kháchthể trở nên đa dạng, bao gồm hộ nông dân, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế (trong vàngoài nước), kể cả các hợp tác xã và nông trường

Tùy theo tiến trình phát triển của các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất nông

nghiệp và phi nông nghiệp mà việc tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp vàphát triển nông thôn cho phù hợp với yêu cầu, đặc điểm của từng thời kỳ

Quan hệ giữa chủ thể và khách thể của quan hệ tổ chức – quản lý đất đai là

biện chứng, thể hiện hai mặt của một vấn đề Trong đó, vai trò của chủ thể chi phốiđến các hoạt động, hành vi của khách thể Chính những người nông dân, những nhàđầu tư khi nhận thức được mô hình quản lý đất đai của nhà nước sẽ quyết định đầu

tư vốn, thiết bị sản xuất và chọn lựa phương thức tổ chức - quản lý cho phù hợp.Đồng thời, các hình thức sản xuất kinh doanh của khách thể và hiệu quả của nó tácđộng trở lại đến chủ thể trong việc cải cách và hoàn thiện mô hình tổ chức – quản lýđất đai của nhà nước

Thứ hai, chính sách đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn của nhà

nước3 với việc xác lập và bảo hộ chế độ sở hữu đất đai nông nghiệp Trên thực tế,đất đai nông nghiệp là nguồn lực quan trọng của một quốc gia, là tài sản có giá trịcủa gia đình nông dân, nhất là nông dân nghèo Tùy thuộc vào hệ quan điểm lý

thuyết mà nhà nước tin tưởng vào mà ủng hộ hay lựa chọn chế độ sở hữu ruộng đấtnào Cho đến nay hầu hết các quốc gia đều lựa chọn một trong hai chế độ sở hữu

3 Ở Việt Nam, Đảng lãnh đạo toàn diện, Nhà nước quản lý Tác giả sử dụng cụm từ chính sách của Nhà nước bao hàm chủ trương, quan điểm của Đảng.

37

-ruộng đất sau đây: chế độ sở hữu tư nhân, chế độ sở hữu công cộng Dù chọn môhình sở hữu nào thì các hình thức sử dụng và tiếp cận đất cũng đa dạng Hơn nữaquyền sở hữu ruộng đất trong xã hội hiện đại cũng phân hóa thành nhiều quyền

khác nhau như quyền sở hữu về mặt pháp lý, quyền sử dụng trực tiếp, quyền chuyển

Trang 28

nhượng, quyền cho thuê, quyền thừa kế, quyền hưởng hoa lợi trên đất… Các quyềnnày có thể phân tách và giao cho các chủ thể khác nhau trên cơ sở thỏa thuận dân sựhoặc pháp lý Trọng tâm của nhà nước trong việc xác lập và bảo hộ chế độ sở hữu

ruộng đất là việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác nhau trong quan

hệ chiếm hữu, hưởng dụng đất đai Ở những nước triệt để thực hiện sở hữu tư nhân

về ruộng đất, quyền sở _hữu của chủ đất cũng bị giới hạn bởi các quy định của nhà

nước về quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ môi trường và các giao dịch trên thị trườngđất đai Đối với những nước chủ trương công hữu ruộng đất, Nhà nước cũng cho

phép người sử dụng đất những quyền hạn rộng rãi nhất, thậm chí bằng quyền sở

hữu tư nhân bị hạn chế ở các nước có chế độ tư hữu ruộng đất Lựa chọn bảo hộ chế

độ sở hữu nào do chế độ chính trị quy định Kết quả nghiên cứu nhiều năm của

Ngân hàng thế giới về chính sách đất đai các nước đã được công bố năm 2004 cho

thấy, đến nay chưa có bằng chứng thực tiễn chứng minh mô hình chế độ sở hữu nàohoàn toàn chiếm ưu thế ở tất cả các nước Đa phần mô hình thực tế do các đảng cầmquyền gây ảnh hưởng định hướng, kết hợp với lịch sử cụ thể ở từng nước quy định.Chính sách ruộng đất của Nhà nước nhằm mục tiêu cải biến những quan hệ sở hữusẵn có theo chế độ sở hữu mà Nhà nước mong muốn, đồng thời tạo điều kiện pháp

lý, thể chế, KT-XH cho phép chế độ sở hữu đó hướng đến hiệu quả và công bằng

cho các chủ thể sử dụng đất, nhất là nông dân

Thứ ba, vai trò tổ chức – quản lý của Nhà nước nhằm tác động và điều tiết

việc sử dụng đất nông nghiệp của các chủ thể theo mục đích và định hướng Thực tếcho thấy, bản thân quan hệ sở hữu ruộng đất của các chủ thể và thị trường đất đai

không đủ sức giải quyết những vấn đề công bằng và hiệu quả trong sử dụng đất

nông nghiệp Có thể lý giải cho vấn đề này, đó là do thị trường đất nông nghiệp kémnăng động, chịu ảnh hưởng của nhiều quan hệ và điều kiện phi thị trường ở nông

38

-thôn, còn bản thân hiệu quả của sản xuất nông nghiệp không chỉ do quan hệ sở hữuquyết định mà còn do các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chi phối Hiệu

quả của các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc vào trình độ kỹ

thuật, công cụ và trình độ canh tác của nông dân Ngoài ra, việc sử dụng đất nông

nghiệp của các chủ thể như hộ gia đình và doanh nghiệp có thể gây ra những tác

động ngoại vi tiêu cực ảnh hưởng xấu lẫn nhau và tác động xấu đến môi trường sinhthái; vấn nạn đầu cơ đất nông nghiệp làm tổn hại đến người kinh doanh nông nghiệpchân chính, đặc biệt khiến nông dân nghèo mất đất…Vì lẽ đó, Nhà nước phải thamgia tổ chức – quản lý để điều tiết, định hướng các chủ thể hoạt động trong lĩnh vựcđất đai nông nghiệp và phát triển nông thôn

Việc lựa chọn mô hình chính sách đất đai và bộ máy quản lý đất đai nông

nghiệp của nhà nước nhằm nâng cao vai trò chi phối, điều tiết của chủ thể trong

quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp và thúc đẩy hiệu quả hoạt động sản

xuất kinh doanh nông nghiệp của khách thể

1.3.2 Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai nông nghiệp trong đường lối,

chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam

1.3.2.1 Thời kỳ trước chuyển đổi

a Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất

Trong các hội nghị của Quốc tế nông dân (10/1923) và những bài báo đăng

Trang 29

trên các tờ báo Đời sống thợ thuyền (1/1924), báo Le Paria (Người cùng khổ) tháng 4/1924, tại Đại hội V Quốc tế cộng sản (7/1924), đặc biệt trong Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án gay gắt chủ nghĩa đế quốc

Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến và Nhà thờCông giáo đã cướp đoạt ruộng đất, áp bức bóc lột nông dân các thuộc địa châu Á,Phi, Mỹ Latinh, trong đó có nông dân Việt Nam, Lào, Campuchia

Từ những thực tiễn nêu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ phải

giải phóng nông dân khỏi ách đế quốc và phong kiến địa chủ, giải phóng dân tộcphải gắn liền với giải phóng nông dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện trong Chính cương vắn tắt và Sách lược

vắn tắt của Đảng (1930):

39

-Lên án chủ nghĩa đế quốc cấu kết với địa chủ phong kiến nên cách mạng tư

sản dân quyền phải đi đôi với cách mạng thổ địa, phải tịch thu hết ruộng đất chiacho dân cày nghèo, xóa bỏ mọi thứ sưu thuế

Trong Chương trình Mặt trận Việt Minh (1941) cho đến Cách mạng tháng Tám,

vấn đề ruộng đất phải được giải quyết từ thấp lên cao: giảm tô giảm tức, tịch thuruộng đất thực dân Pháp, địa chủ việt gian, chia lại cho công điền

Khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, tiến hành cải cách ruộng đất, xóa bỏ

triệt để chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến, chia ruộng đấtcông bằng hợp lý cho nông dân không ruộng và thiếu ruộng

Từ 1951 đến 1953, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ruộng đất được thểhiện trong những bài phát biểu về giảm tô và cải cách ruộng đất [28; tr.15-16].Như vậy, quan điểm về sở hữu đất đai của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xoá bỏ

quan hệ ruộng đất phong kiến địa chủ và đảm bảo quyền sở hữu ruộng đất của mọinông dân cùng với những lợi ích tối đa được mang lại từ quyền sở hữu đó như làxóa bỏ hoặc giảm tô thuế ruộng đất

Quan điểm về ruộng đất của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được cụ thể hóa

thành cương lĩnh và chính sách ruộng đất của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ

b Cương lĩnh và chính sách ruộng đất của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, căn cứ vào học thuyết Mác – Lênin

về vấn đề chính quyền, về liên minh công nông và cách mạng ruộng đất, xuất phát

từ tình hình KT-XH Việt Nam, ĐCSVN đã đặt ra vấn đề cách mạng ruộng đất là nộidung chủ yếu của nghiên cứu chống phong kiến và là một trong hai nhiệm vụ chủ

yếu của cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân (Luật cương chính trị 10/1930).

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chế độ sở hữu ruộng đất được qui định

trong Hiến pháp năm 1959 bao gồm sở hữu toàn dân, tức sở hữu nhà nước và sởhữu tư nhân về đất đai nói chung và ruộng đất nói riêng Trong đó, ruộng đất nếu làcủa nông dân hay của nhà tư sản dân tộc vẫn được thừa nhận là thuộc quyền tư hữu.Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Hiến pháp năm 1980 chủ trương phát

triển kinh tế chỉ với hai thành phần là kinh tế quốc doanh dựa trên sở hữu toàn dân

và kinh tế hợp tác xã dựa trên sở hữu tập thể Sở hữu tư nhân về TLSX (đất đai)

40

-không được thừa nhận Nhà nước quốc hữu hóa đất đai và toàn bộ ruộng đất củanông dân được đưa vào hợp tác xã để thực hiện phát triển kinh tế hợp tác xã

Bên cạnh mô hình kinh tế hợp tác xã được quán triệt thực hiện, Nhà nước cho

phép xã viên được làm kinh tế phụ Mô hình kinh tế phụ gia đình xã viên chủ yếu là

Trang 30

dựa trên những mảnh ruộng nhỏ lẻ do khai hoang, chưa đưa vào hợp tác xã, sau nàycác hợp tác xã vận dụng để giành 5% quỹ đất của hợp tác xã chia cho mỗi gia đình

xã viên, gọi là ruộng phần trăm Thực chất ruộng phần trăm đã được chia cho các

gia đình xã viên canh tác lại là nguồn thu nhập chính cho gia đình xã viên Xét ởmột ý nghĩa nào đó, đây là manh nha trở lại của sở hữu ruộng đất tư nhân

Tóm lại, Hiến pháp năm 1980 đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân

để thực hiện triệt để mô hình kinh tế hợp tác xã, quan hệ tổ chức - quản lý đất đaitrong nông nghiệp được xây dựng chủ yếu trên cơ sở mô hình kinh tế tập thể vớikiểu đặc trưng các hợp tác xã và nông trường quốc doanh Đồng thời việc cho phép

hợp tác xã chia lại ruộng phần trăm cho các xã viên để làm kinh tế phụ gia đình – là

cơ sở để có những chính sách đưa lại ruộng đất cho nông dân: Chỉ thị 100 của Ban

bí thư Trung ương năm 1981, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988

1.3.2.2 Thời kỳ chuyển đổi

a Bối cảnh KT-XH khó khăn

Sau ngày thống nhất đất nước 1975, giai đoạn 1976 – 1980 mô hình kinh tế tậpthể hóa được đẩy mạnh trên toàn quốc, nhất là Miền nam – nơi mà trước đây đãhình thành nền sản xuất hàng hóa nông nghiệp khá lâu với quy mô sản xuất lớn vàtính chất sở hữu ruộng đất tư nhân Vì vậy, khi chuyển sang QHSX mới đã gặpnhiều khó khăn ảnh hưởng đến thái độ hợp tác, tư duy và cụ thể là năng suất nôngnghiệp ngày càng giảm Đây là thời kỳ mô hình tổ chức – quản lý đất đai theo kiểutập thể hóa bộc lộ hạn chế, đồng thời hậu quả của chiến tranh nhiều năm, cộng vớicuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, Phía Bắc và thế bao vây cấm vận của Mỹ đãdẫn đến cuộc khủng hoảng KT-XH sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm

1980 Đầu thập niên 1980 sản xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu đời

41

-sống của nhân dân, trong khi nước ta là một xã hội thuần nông với truyền thống sảnxuất lúa nước Nạn đói thường xuyên xảy ra và hàng năm vẫn phải nhập trên 1 triệutấn lương thực Đó là điều đáng trăn trở của toàn xã hội và cũng là câu hỏi cần lờigiải đáp giành cho quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong nông nghiệp nông thôn.Trong khó khăn một số địa phương đã mạnh dạn tìm cách tháo gỡ và làm thử

cách quản lý mới Ngày 27 /06/1980, Thành ủy Hải Phòng ra Nghị quyết

24-NQ/TƯ làm thử hình thức khoán việc và khoán sản phẩm cho xã viên và nhóm xãviên Các thí điểm “khoán chui” khác ở Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh, Long An, An

Giang… cũng chứng minh hình thức đó chính là giải pháp hữu hiệu của việc tăngnăng suất, tăng sản phẩm, phát huy tính tích cực lao động, nâng cao ý thức tiết kiệmchi phí sản xuất, khai thác thêm một phần vật tư của gia đình xã viên Căn cứ vàothực tế đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng cho phép các địa phương mở rộng thí điểmkhoán sản phẩm và khoán việc

Quan hệ tổ chức – quản lý đất đai trong NN & PTNT được nhận thức mới vớicách làm khác so với trước đây đã mang lại những hiệu quả sản suất đáng ghi nhậnlàm cơ sở thực tiễn cho đường lối đổi mới của chính sách đất đai Việt Nam sau này

b Những nội dung đổi mới chủ yếu của chính sách đất đai trong nông

nghiệp và phát triển nông thôn thời kỳ chuyển đổi kinh tế

Chúng ta biết rằng khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi kinh tế là bước đột phátrong lĩnh vực nông nghiệp nhưng điều kiện cho nông nghiệp phát triển cả chiềurộng lẫn chiều sâu lại là chính sách đất đai trong từng giai đoạn cụ thể Bởi lẽ, đất

Trang 31

đai là một trong những yếu tố chính để phát triển nông nghiệp và là tài sản chínhcủa nông dân, nhất là để xóa đói giảm nghèo Có thể khái quát một số điểm đổi mớicủa chính sách đất đai trong nông nghiệp và phát triển nông thôn:

- Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương năm 1981 và Nghị quyết 10 của

Bộ Chính trị năm 1988

Để đổi mới và phát triển trong ngành nông nghiệp, đồng thời rút kinh nghiệm

qua các thí điểm, ngày 13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư Trung ương đảng khóa V

và hưởng trọn phần vượt khoán Chỉ thị số 100 là khâu đột phá mở đầu sự đổi mới

đã có tác dụng ngăn chặn sự sa sút ở mức thấp hơn và tạo đà đi lên trong sản xuấtnông nghiệp ở Việt Nam Nhờ sản xuất lương thực tăng, lương thực tiêu dùng trongnước bớt căng thẳng Có thể nói Chỉ thị 100 là manh nha đầu tiên trong chính sáchgiao đất cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài

Mặc dù vậy, cơ chế Khoán 100 cũng không thể tháo gỡ hết những khó khăn

trong sản xuất nông nghiệp Ngày 05/04/1988 Nghị quyết 10/NQ-TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Nghị quyết 10 hay còn gọi Khoán 10 đề ra cơ chế

khoán mới, xác định hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ quản, hộ gia

đình xã viên là đơn vị nhận khoán với hợp tác xã Nội dung chính của Khoán 10 là

trao lại TLSX cho nông dân, tức khoán gọn đất nông nghiệp cho hộ nông dân, côngnhận nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất và chỉ phải nộp thuế cho Nhànước theo luật định Như vậy, lần đầu tiên kinh tế hộ gia đình mới được thừa nhận

là đơn vị kinh tế tự chủ So với Khoán 100, Khoán 10 đã có sự thay đổi lớn là thời

gian sử dụng đất cho nông dân canh tác và ổn định lâu dài với thời hạn là 15 năm

Cùng với việc áp dụng chính sách “mở cửa kinh tế” trong quan hệ đối ngoại Khoán

10 đã thực sự mang lại những kết quả tích cực đối với đời sống của nông dân Nghị

quyết 10 đã được giai cấp nông dân tiếp nhận với tinh thần phấn khởi thực hiện, đưalại nhiều chuyển biến rõ rệt4 Tuy nhiên, “Khoán 10" chưa đề cập quyền sử dụngruộng đất cho hộ nông dân và việc xây dựng hợp tác xã kiểu mới

Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh

thần đổi mới của Đại hội VI là Luật Đất đai năm 1987 Có thể nói, từ Chỉ thị 100

4 sản xuất lương thực đã có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức là tăng thêm

2 triệu tấn trong 1 năm, tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần 10% là một kỷ lục chưa từng có Sản lượng lương thực tăng nhanh không những cung cấp đủ nhu cầu cho nhân dân mà tháng 6 năm 1989 với 1,2 triệu tấn gạo đầu tiên của Việt Nam đã rời cảng Sài Gòn xuất khẩu ra quốc tế, mở đầu cho trang sử xuất khẩu lương thực của Việt Nam

43

-năm 1981 đến Luật Đất đai -năm 1987 và Nghị quyết 10 đã có những quyết định cơbản dựa trên chính sách đất đai hướng vào lợi ích của người nông dân Những thayđổi lớn trong quản lý đất đai đã có những tác động lớn tới sản xuất nông nghiệp và

xã hội nông thôn Việt Nam Những kiểm soát chuyển nhượng theo hình thức hợptác xã nông nghiệp được thay thế bằng hộ gia đình cá thể, đất được phân chia chocác hộ gia đình, các quyết định đầu tư phi tập trung hóa và sản phẩm làm ra thuộc

về nông dân Những thay đổi này có ý nghĩa quan trọng đối với nông dân và tạođộng lực cho họ chuyên tâm sản xuất Mặc dù đã có sự thay đổi nhận thức về đấtđai nhưng những đổi mới trong giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở chế độ sử dụng đất

Trang 32

sản xuất nông nghiệp dựa trên chính sách giao đất cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếpsản xuất nhằm sử dụng ổn định lâu dài Nó chỉ đánh dấu một bước quan trọng đó làđáp ứng đủ lương thực cho người dân khỏi thiếu đói và xuất khẩu (nếu còn thừa).Hơn nữa, những thay đổi trong chính sách đất đai trong thời kỳ này vẫn không đápứng được những yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Hộgia đình đã được trao quyền sử dụng đất nhưng lại không có quyền trao đổi, thươngmại Chính vì vậy, thị trường đất đai nông thôn vẫn kém phát triển và đó là nguyênnhân dẫn đến những giao dịch phi chính thức.

Trước những kết quả khả quan của “Khoán 100” và “Khoán 10”, Hội nghị lầnthứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (họp từ ngày 3 đến ngày 10 tháng 06

năm 1993) ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn.

Nghị quyết là cơ sở cho việc thông qua Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nôngnghiệp tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IX ngày 14 /07/ 1993

- Luật Đất đai 1993: Về căn bản, Luật Đất đai năm 1993 vẫn chủ yếu dựa trên

nền tảng Luật Đất đai năm 1987, với nguyên tắc chủ đạo:“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện quyền quản lý” Luật Đất đai 1993 khẳng định đất đai

thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức,

hộ gia đình cá nhân Đồng thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khácnhư: quyền chuyển đổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyềnchuyển nhượng nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo vềmặt pháp lý cho những người sử dụng đất

44

-1.3.2.3 Thời kỳ hội nhập

Kinh tế thị trường phát triển theo hướng hội nhập kéo theo các quan hệ kinh tế

đa dạng, nhu cầu sử dụng và mua bán quyền sử dụng đất (thực chất là mua bán đất)trở nên thường xuyên đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề Luật Đất đai 1993 khó giảiquyết Vì vậy, vấn đề đặt ra trong hoàn cảnh mới là hoàn thiện Luật Đất đai để tăngcường công tác tổ chức – quản lý đất đai của Nhà nước và đảm bảo lợi ích từ cácquyền sử dụng đất cho nông dân trước bối cảnh hội nhập và đẩy mạnh CNH

- Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998

Mặc dù Luật Đất đai năm 1993 đã có những qui định ban đầu về việc chuyển

quyền sử dụng đất nhưng chỉ áp dụng đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở

Do đó, Luật Đất đai năm 1998 việc chuyển quyền sử dụng đất được xác định đầy

đủ, bao gồm: chuyển đổi quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thếchấp quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sửdụng đất, cho thuê lại quyền sử dụng đất Đây là những cơ sở để hình thành nhữnggiao dịch công khai và dần tạo ra một thị trường chính thức về quyền sử dụng đất ởnông thôn Tuy nhiên, hoạt động giao dịch của thị trường này cũng có những giớihạn và bị ràng buộc bởi những quy định như: chuyển đổi quyền sử dụng đất áp dụngchủ yếu đối với hộ gia đình, cá nhân nhận giao đất và chỉ áp dụng đối với đất nôngnghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở với điều kiện không được thay đổi mụcđích sử dụng đất Những người đổi, nhận đổi quyền sử dụng đất nếu hộ khẩu khôngcùng một xã, phường thì rất khó khăn trong quá trình chuyển đổi

Ngoài ra, một sự thay đổi quan trọng trong lần bổ sung, sửa đổi này, đó là: các

tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có quyền thế chấp giá trị quyền sửdụng đất thì được thế chấp hoặc bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản

Trang 33

thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó Sự cho phép này là một bước tiến thểhiện trao quyền lớn hơn trong sử dụng đất đai, nó cũng mở ra một bước ngoặc đốivới thị trường vốn và khuyến khích đầu tư phát triển Quy định này cũng có ràngbuộc: các hộ gia đình cũng chỉ được phép thế chấp để vay vốn sản xuất tại các ngânhàng của Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng do Nhà nước cho phép thành lập và

họ cũng không được phép đóng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

- Luật Đất đai sửa đổi năm 2001

Luật sửa đổi lần này chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò của quản lý nhà nước đối với đất đai Điều đó được thể hiện bởi những qui định về

45

-khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giaođất hoặc khi nhà nước bồi thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất Luật Đất đai sửa đổi năm 2001, qui định rõ chứcnăng, thẩm quyền của các cấp từ trung ương đến xã phường về việc giao đất

- Luật Đất đai năm 2003

Ngày 10/12/2003 Luật Đất đai lại tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế

thị trường hội nhập,có hiệu lực ngày 01/07/2004, đặc biệt là thừa nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản, thể hiện trong Điều 61, 62, 63 Luật Đất

đai năm 2003 qui định cụ thể hơn về quyền tổ chức, quản lý đất đai của Nhà nước

và quyền tham gia của các tổ chức sản xuất kinh doanh đối với đất đai

Thứ nhất, đối với thẩm quyền của Nhà nước về đất đai: tiếp tục khẳng định đấtđai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, chính vì vậy, Nhà nước

có quyền định đoạt đối với đất đai: quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việcquyết định, xét duyệt qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất; qui định về hạn mức giao vàthời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi và cho phép chuyểnmục đích sử dụng đất cũng như định giá đất

Thứ hai, các tổ chức kinh doanh được quyền sử dụng đất thông qua thuê đất

hoặc được Nhà nước giao đất; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ các chủthể khác, từ bán đấu giá quyền sử dụng đất của Nhà nước; có quyền mua trực tiếpquyền sử dụng đất nếu họ sử dụng đất đó xây nhà ở để cho thuê hoặc bán…

Thứ ba, tăng thêm hai quyền nữa đối với người có quyền sử dụng đất: các hộ

nông dân bên cạnh 5 quyền đối với phần đất được giao trước đây, còn được thêm 2quyền nữa, đó là: có thể cho, tặng hoặc góp vốn kinh doanh bằng giá trị của diệntích đất được giao

- Những Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 và sửa đổi khác

Để Luật Đất đai 2003 đi vào cuộc sống, các nghị định ban hành nhằm hướng

dẫn thi hành như: Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004; Nghị định

182/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 về xử lý sai phạm hành chính trong lĩnh vực đấtđai; Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16-11-2004 về phương pháp xác định giá đất

và khung giá các loại đất; Nghị định 179/2004/NĐ-CP ngày 03-12-2004 về bồithường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định 198/2004/NĐ-CPngày 03-12-2004 về thu tiền sử dụng đất; Nghị định 142/2005/NĐ-CP về thu tiền

Trang 34

trong quá trình thực hiện phát sinh nhiều vấn đề, chẳng hạn xung đột với Luật Xâydựng, Luật Dân sự, Luật Đầu tư…vì vậy, việc triển khai ở địa phương nhất là cấphuyện, xã còn rất nhiều lúng túng, vướng mắc trong quá trình thực thi.

Mặc dù hệ thống luật pháp đất đai đã liên tục được bổ sung, sửa đổi để giải quyếtnhững vấn đề thực tiễn đang diễn ra trong quá trình CNH và kinh tế thị trường theohướng hội nhập Tuy nhiên, những bổ sung và sửa đổi này vẫn chưa đủ và thực tế việc

sử dụng và tổ chức - quản lý đất đai vẫn còn nhiều bất cập

1.4 CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ QUAN HỆ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

1.4.1 Chính sách đất đai ở một số nước

1.4.1.1 Trung Quốc

a Trước thời kỳ cải cách (1978)

Trước thời kỳ cải cách kinh tế (1978) Trung Quốc xây dựng chế độ sở hữu đất

đai công cộng XHCN, ở nông thôn thông qua cải cách ruộng đất lấy tịch thu ruộngđất của địa chủ, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến làm nội dung, sau đó ápdụng con đường hợp tác hóa nông thôn, khiến cho ruộng đất tư hữu chuyển thành sởhữu tập thể, xây dựng chế độ sở hữu tập thể XHCN về ruộng đất nông thôn Ở

thành thị, qua tiếp thu đất đai quốc hữu của chính phủ Quốc dân đảng, tịch thu đấtđai thuộc sở hữu tư bản quan liêu và lợi dụng đòn bẩy kinh tế “thuế địa giới” đã thuhồi đất đai sở hữu của tư bản nước ngoài, lại qua công tư hợp doanh biến đất đai sởhữu của tư bản dân tộc thành sở hữu nhà nước, thực hiện chế độ sở hữu nhà nướcXHCN về đất đai thành thị Do vậy, căn cứ vào điều kiện lịch sử của Trung Quốc vàyêu cầu của nông dân đối với quyền sở hữu ruộng đất, những hình thức mà chế độ

47

-công hữu ruộng đất XHCN Trung Quốc áp dụng là hai hình thức: sở hữu nhà nước

và sở hữu tập thể nông dân Dưới thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống, chế độ sở

hữu công cộng đất đai XHCN của Trung Quốc được biểu hiện: thứ nhất, chế độ sở

hữu nhà nước về đất đai thành thị lấy quản lý tập trung cao độ và phân phối sử dụng

không đền bù làm đặc trưng; thứ hai, chế độ sở hữu tập thể ruộng đất ở nông thôn

lấy lao động tập trung, kinh doanh thống nhất làm đặc trưng Liên quan đến nhữngnội dung này là chế độ sở hữu nhà nước về đất đai thành thị truyền thống của TrungQuốc có ba đặc điểm nổi bật:

Một là, chủ thể quyền tài sản đơn nhất, về mặt pháp luật chỉ đơn thuần xác

định quyền sở hữu đất đai, các loại quyền năng mà quyền sở hữu bao hàm thốngnhất cao độ, các quyền lợi về đất đai khác không độc lập Biểu hiện cụ thể là quyềnquản lý đất đai tập trung cao độ, đất đai do nhà nước thống nhất điều phối, sắp xếp

kế hoạch sử dụng, mọi đơn vị và cá nhân sử dụng đất đai đều phải qua trình tự cáccấp xét duyệt chặt chẽ, sau đó cơ quan hành chính nhà nước trích chuyển sử dụng.Hai là, sử dụng đất đai không đền bù, không kỳ hạn, không lưu động Do

quyền sử dụng đất đai về mặt pháp luật không độc lập, không cấu thành đối tượngquyền tài sản đất đai, vì vậy mà cũng hạn chế sự lưu chuyển quyền sử dụng đất.Nghĩa là nghiêm cấm thông qua thị trường để chuyển nhượng quyền sử dụng đất,không cho phép người sử dụng đất bằng các phương thức: mua bán, cho thuê, thếchấp, biếu tặng, trao đổi… đem đất đai chuyển cho đơn vị hoặc cá nhân khác sửdụng Nếu như người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng nữa, phải đem đất

Trang 35

giao lại không được bồi hoàn cho ngành hữu quan nhà nước, nhà nước sẽ sắp xếp sửdụng lại Các cơ quan nhà nước, bộ đội, trường học, doanh nghiệp quốc doanh… sửdụng đất, không phải trả bất kỳ loại chi phí nào, đồng thời nhà nước cũng chưa quyđịnh kỳ hạn sử dụng đất.

Ba là, nhà nước đối với quyền sở hữu đất thành thị chỉ còn trên danh nghĩa vàchế độ sở hữu ngành (đơn vị) về đất đai thực tế tồn tại Do sử dụng đất đai khôngđền bù, dẫn đến quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai thành thị mà hiến phápquy định không thể hiện được về mặt lợi ích kinh tế, khó thực hiện được về mặt

48

-quản lý hành chính hoặc -quản lý kinh tế và gây ra hiện tượng ngành hoặc đơn vị sửdụng đất trong quá trình sử dụng không tuân theo quy định của ngành quản lý đấtđai, tùy tiện độc lập chi phối và xử lý đất mà họ chiếm dụng

Những khiếm khuyết bất cập trong chế độ quyền tài sản đất đai này rất rõ

ràng: giữa chủ sở hữu và người sử dụng đất thiếu cơ chế ràng buộc lợi ích, khôngchỉ khiến cho nhà nước mất đi khoản thu nhập về đất đai lẽ ra phải có mà còn dẫnđến hành vi giao dịch quyền tài sản đất đai bị bẻ cong, ví dụ như các hiện tượngchuyển nhượng, mua bán, giao dịch đất đai lén lút phi pháp, trưng dụng nhiều sửdụng ít, trưng dụng sớm sử dụng muộn, trưng dụng mà không sử dụng để lãng phí,loạn chiếm dụng…vẫn còn tràn lan; thiếu cơ chế cạnh tranh, thiếu thông tin thịtrường và thước đo kinh tế phân bổ hợp lý trong sử dụng đất, không có lợi cho quyhoạch thành thị; khó khăn cho đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, tạo ra lợi ích phân phối giữa những người sử dụng đất không đồngđều; tiền vốn xây dựng thành thị mà nhà nước đưa vào chỉ có chi không có thu,không hình thành được cơ chế tuần hoàn hiệu quả cao cho đầu vào đầu ra của tiềnvốn xây dựng thành thị Kết quả là kế hoạch định ra xa rời nhu cầu thực tế, đất đaithành thị lãng phí, hiệu quả sử dụng thấp

Ruộng đất nông thôn Trung Quốc về cơ bản thực hiện chế độ sở hữu tập thể

Chế độ đất đai này làm cho quy mô kinh doanh đất đai quá lớn, quản lý sản xuấtquá tập trung, không hài hòa với sức sản xuất xã hội tương đối thấp lấy thao tác thủcông và bán cơ giới là chủ yếu ở nông thôn, khiếm khuyết chủ yếu của nó ở chổ:một là, chế độ quyền sở hữu tài sản đất đai không rõ ràng, không quy phạm Điềunày biểu hiện trong các quyền chiếm hữu, sử dụng, thu lợi và xử lý của quyền sởhữu đất đai, quyền xử lý có ý nghĩa thực chất nhất thì tập thể không được hành xử.Đại diện quyền sở hữu đất đai tập thể không có quyền thông qua các hình thức chothuê, thế chấp, chuyển nhượng… để thực hiện quyền sở hữu của mình mà do nhànước nắm giữ Chủ thể quyền sở hữu đất đai tập thể không rõ ràng, hình thức tổchức rối loạn Hai là, chế độ lưu chuyển đất đai thiếu quy phạm Ngoài nhà nướctrưng dụng đất đai ra, quyền tài sản đất đai thuộc hình thái quyền sở hữu tập thể

49

-không được lưu động, tập thể cũng -không tự ý chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền

sử dụng đất đai tập thể Chế độ sở hữu tập thể về quyền sở hữu đất đai nông thônkiểu này khiến cho người nông dân thiếu quyền tự chủ kinh doanh quản lý, do đókhông động viên được tính tích cực sản xuất của người nông dân, khiến cho đấtdùng trong nông nghiệp khó được phân bổ tối ưu và giành được hiệu quả kinh tếđầu ra cao

b Thời kỳ Cải cách từ năm 1978

Trong thời kỳ cải cách kinh tế, Trung Quốc có những thay đổi về chế độ

Trang 36

quyền sở hữu đất đai bắt đầu từ những năm 1980 như sau: (1) thu phí sử dụng đấtđai ở các công ty liên doanh (2) Được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thành thịthuộc sở hữu nhà nước (3) Cho phép chuyển quyền sử dụng đất và qui định thờihạn sử dụng đất (4) Trưng dụng có đền bù (5) Chuyển nhượng đất đai5 Đặc biệt ởnông thôn, chế độ sở hữu đang thực hiện chủ yếu lấy sở hữu tập thể nông dân vềruộng đất, do các thành viên của tổ chức kinh tế tập thể nhận khoán kinh doanh làmđặc trưng Chế độ nhận khoán ruộng đất này là chỉ loại phương thức kinh doanh vàcanh tác ruộng đất kết hợp trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích thông qua các hộ nôngdân ký kết hợp đồng với các tổ chức kinh tế tập thể, nhận khoán sử dụng ruộng đất.Các hộ nông dân đối với đất đai canh tác tập thể nhận khoán chỉ có quyền sử dụngkhông có quyền sở hữu Quyền sử dụng đất đai nông nghiệp bao gồm 5 quyền khác:(1) quyền chiếm hữu, (2) quyền khai thác phát triển, (3) quyền mua bán, (4) quyềncho thuê, quyền thế chấp, (5) quyền thừa kế Quyền sử dụng đối với ruộng đất củacác hộ nông dân nhận khoán kéo dài 30 năm không thay đổi, điều đó có lợi cho các

hộ nông dân sử dụng có hiệu quả tiền vốn tự huy động đầu tư thêm cho ruộng đất,thực hiện kinh doanh lâu dài

Nói ngắn gọn, Trung Quốc thực hiện chế độ sở hữu công cộng XHCN về đất

đai Đất đai trong các thành phố thuộc sở hữu nhà nước Đất đai ở nông thôn vàvùng ngoại ô các thành phố, ngoài phần pháp luật quy định thuộc sở hữu nhà nước

5 Quyền chuyển nhượng đất đai của Trung Quốc vừa mới được thông qua ngày 12-10-2008 tại Hội nghị lần thứ ba Ủy ban Trung ương khóa 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc về Cải cách hệ thống ruộng đất Ở Việt Nam, quyền chuyển nhượng ruộng đất của nông dân đã có từ khi có Luật Đất đai năm 1993.

sử dụng đất; đất đai tập thể nông thôn dùng vào xây dựng, thay đổi mục đích sửdụng hợp pháp hiện có, phải thông qua hình thức trưng thu đất, chuyển thành đấtđai sở hữu nhà nước rồi mới có thể chuyển nhượng được [42; tr 411- 415]

C Một số thành tựu, thách thức và chiến lược phát triển tam nông ở

Trung Quốc đến năm 2020

Trung Quốc và Việt Nam có nhiều nét tương đồng về văn hóa, kinh tế, chính

trị và xã hội Do đó, kinh nghiệm phát triển nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc

có thể giúp cho chúng ta tránh được những sai lầm, khuyết điểm và rút ngắn đượccon đường đi Trong phần này tác giả thảo luận một số chính sách đất đai và tháchthức trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc và rút ra một sốbài học kinh nghiệm cho phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam.Trung Quốc tiến hành phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng tập thểhóa vào những năm 1950 của thế kỷ XX Tuy nhiên, chủ trương tập thể hóa đó đãkhông tạo được động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn Đếnnăm 1978, Trung Quốc tiến hành khoán sản phẩm trong nông nghiệp Cũng như ởViệt Nam, chế độ khoán này đã tạo ra sự tăng trưởng đáng kể trong nông nghiệp.Trong vòng 6 năm (1979 – 1984) thu nhập nông dân tăng 15% Điều này làm choTrung Quốc tăng được năng suất nông nghiệp và ổn định các vấn đề xã hội Trướctình hình đó, ĐCS Trung Quốc ra Nghị quyết Trung ương 3, Khóa 12 nhằm tạo ra

Trang 37

bước đột phá trong nông nghiệp thông qua các chủ trương lớn sau: (1) Chuyển mộtphần đất nông nghiệp để phát triển các KCN, xây dựng các xí nghiệp hương trấn đểthu hút lao động nông thôn vào các KCN và dịch vụ tại các vùng nông thôn (2)Thực hiện mạnh mẽ hơn chế độ khoán sản phẩm, thâm canh tăng năng suất nôngnghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, theo nguyên tắc “ly nông bất ly

51

-hương” (3) kiểm soát chặt chẽ hơn dòng người nông thôn di cư vào thành thị bằngcác biện pháp hành chính thông qua chính sách quản lý hộ khẩu và các giải phápkinh tế khác

Hơn 20 năm thực hiện chủ trương này, nông nghiệp và nông thôn Trung Quốcphát triển không thật bền vững: hàng năm Trung Quốc có 267.000 ha đến 334.000

ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi thành các KCN và đô thị Để tạo ra một việc làm

ở KCN và đô thị, Trung Quốc phải đổi mất 960 m2 đất nông nghiệp; trong khi đódân số mỗi năm tăng 10 triệu người Sức ép dân số về nhu cầu lương thực thựcphẩm ngày một lớn Lao động ở nông thôn Trung Quốc khoảng 340 triệu Trong khi

đó, cơ hội việc làm ở nông thôn chỉ đủ cho 150 triệu người 190 triệu lao động nôngthôn dư thừa cùng với 2 triệu lao động tăng thêm mỗi năm đã tạo ra dòng người dichuyển mạnh mẽ vào thành thị Có hàng chục triệu lao động đã di cư từ nông thônvào thành thị Những người này bị coi là công dân loại 2 Chính quyền địa phươngquản lý chặt chẽ hộ khẩu Ở nơi đến lao động nông thôn là những người không có

hộ khẩu nên khó tiếp cận các dịch vụ nhà ở, giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội khác Ởcác vùng nông thôn, nông dân đóng góp ngày một nhiều Các khoản đóng góp năm

2000 tăng 45 lần so với năm 1990 Mức phí nộp bình quân của nông dân tại địaphương là 146 nhân dân tệ, cao gấp 4 lần so với cư dân thành thị Thu nhập củanông dân khoảng 2.936 nhân dân tệ bằng ¼ so với thành phố Hệ thống chính quyềnđịa phương cồng kềnh và kém hiệu quả Điều này đã dẫn đến sự bất ổn về chính trị(biểu tình phản đối diễn ra ở nông thôn năm 2005 là 74.000 cuộc) Trước tình hìnhnày, Lý Xương Bình, Bí thư đảng ủy xã Kỳ Bàn, huyện Giám Lợi, tỉnh Hồ Bắctrong bức thư gửi Thủ tướng Chu Dung Cơ, đã tóm tắt khó khăn liên quan đến nôngdân, nông nghiệp và nông thôn như sau: 1) Nông dân bỏ đi làm ngoài một cách mùquáng như nước lũ 2) Gánh nặng như núi Thái sơn 3) Nợ chồng chất như núi 4)Cán bộ nhiều như châu chấu 5) Chính sách chỉ là điều nói suông 6) Lời nói dốithành chân lý [67]

Chính vì thực trạng trên, vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn được

Trung ương ĐCS Trung Quốc coi là 1 trong 5 thách thức lớn của nền kinh tế Trung

52

-Quốc hiện nay Các chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn trong thời gianqua, vô hình trung theo hướng tư tưởng “lấy nông thôn để phát triển thành thị” vàlàm cho thành thị và nông thôn bị chia cắt Điều đó làm cho nền kinh tế phát triểnkhông cân bằng, coi trọng công nghiệp và thành thị, coi nhẹ nông nghiệp, nông dân

và nông thôn Sự phát triển của xã hội hình thành “một chân ngắn, một chân dài”.Trước tình hình đó, ĐCS Trung Quốc ra Nghị quyết Trung ương 9 năm 2004 vàđược tổng kết thành chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn trong Nghịquyết Đại hội lần thứ 17 tháng 10 năm 2007 bằng những chủ trương và giải pháplớn sau đây: (1) Công nghiệp phải nuôi nông nghiệp (2) Lấy thành thị dẫn dắt nôngthôn (3) Thành thị và nông thôn phát triển hài hòa (4) Miễn giảm thuế và cáckhoản đóng góp cho nông dân (5) Tăng trợ cấp trực tiếp cho nông nghiệp (6) Thừa

Trang 38

nhận vai trò di dân trong phát triển kinh tế không chỉ của đô thị mà còn cả nôngthôn (7) Giáo dục đào tạo cho người lao động di dân không chỉ là giải quyết bàitoán việc làm mà còn giúp CNH nông thôn.

Ủy ban Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 12/10/2008 đã thông quamột quyết định về những vấn đề lớn liên quan tới cải cách và phát triển nông thôn.Theo đó, nông dân được phép mua bán và thế chấp quyền sử dụng đất Quyết địnhtrên là một phần trong gói cải cách lớn hơn nhằm giảm khoảng cách thu nhập giữathành thị và nông thôn, vốn đã bị mở rộng trong suốt 30 năm qua Kế hoạch cải tổ

đề cập tới việc tăng gấp đôi thu nhập trung bình hiện nay của người dân ở vùngnông thôn vào năm 2020 Nông dân sẽ được mua bán, cho thuê và thế chấp quyền

sử dụng đất để kiếm lợi trên một thị trường chuyển nhượng đất đai Trung Quốc chorằng những biện pháp trên là cần thiết khi nhiều nông dân chuyển ra sống ở thànhphố như công nhân di cư Theo hiến pháp Trung Quốc, đất đai là thuộc sở hữu nhànước Cải cách nông thôn đã tạo nên cuộc cải tổ kinh tế ở Trung Quốc cách đây 3thập niên Việc này cũng góp phần thiết lập hệ thống kinh tế cơ bản và nền kinh tếthị trường đặc trưng XHCN, cải thiện đời sống người dân và quá trình hiện đại hóaTrung Quốc

53

-1.4.1.2 Chính sách ruộng đất một số nước khác

- Thái Lan: Nguyên tắc sở hữu đất đai của Thái Lan cũng giống như Anh, Úc,

Canada Đất đai thuộc sở hữu của Vua hay sở hữu nhà nước (quyền sở hữu tuyệtđối), sau đó cấp hoặc chuyển nhượng lại cho các cá nhân, tổ chức quyền sử dụngđất và các quyền năng khác trong các giao dịch của thị trường như quyền cho thuê,quyền thế chấp, quyền chuyển nhượng, quyền thừa kế… gần như quyền sở hữu cógiới hạn (quyền sở hữu tương đối) nhưng thấp hơn quyền sở hữu tuyệt đối Ruộngđất, trên nguyên tắc phải được sử dụng, quản lý theo hướng tự do phát triển sảnxuất, kinh doanh của hộ nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất tương đối.Nông dân có quyền mua, bán ruộng đất Thị trường ruộng đất được xác lập và đượcpháp luật bảo hộ Thái Lan thực hiện cải cách ruộng đất, chia đất cho nông dân(bằng các biện pháp chia đất công, Nhà nước trưng mua đất của địa chủ rồi bán chonông dân với giá rẻ và áp dụng phương thức trả dần)

Thách thức hiện nay

30 năm trước, có thời gian diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan tăng rất

nhanh Người Thái cần cù lao động, bám chặt đồng ruộng để mong thay đổi cuộcsống Còn các nhà hoạch định chính sách coi nông nghiệp là nội lực sống còn đểphát triển kinh tế quốc dân Với lợi thế về nhân lực nông nghiệp (có đến 80% dân sốsống vùng nông thôn), diện tích đất canh tác sẵn có, Thái Lan đã nhanh chóng hiệnthực hóa được ước mơ trở thành “nồi cơm” của thế giới Chỉ tính trong năm 2007,nước này xuất khẩu 9 triệu tấn gạo, đạt 3,5 tỷ USD, giữ vững thế độc tôn

Nỗi lo bắt đầu manh nha trong giới lãnh đạo của quốc gia được xem là luôn đi đầukhu vực trong xuất khẩu nông sản này khi diện tích đất canh tác nông nghiệp gầnđây (hiện nay là 22 triệu ha) có xu hướng giảm mạnh Nguyên nhân được các nhànghiên cứu Thái Lan đưa ra: tốc độ CNH, sự mở rộng các KCN, giải trí; sự mở rộngcủa những đô thị lớn; kèm theo đó là hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹthuật canh tác mới theo phương châm phát triển bền vững khiến màu mỡ đất canh

54

-tác bị rửa trôi, xói mòn hoặc nhiễm mặn Và như vậy, bài toán đặt ra đầu tiên đối

Trang 39

với Chính phủ Thái Lan là “đất…không đủ cày”.

Như một phản ứng dây truyền, diện tích đất canh tác giảm, thoái hóa khiến

người nông dân ở một số tỉnh, đặc biệt là vùng Đông Bắc Thái Lan, không mặn màvới nghề nông, bỏ lại ruộng vườn tìm đến những thành phố lớn như Bangkok làmthuê Theo một thống kê, hơn 10 năm trước số lao động nông nghiệp Thái Lanchiếm từ 55-60% dân số thì gần đây, con số này chỉ còn khoảng 40%, và dự báo đến

2013 sẽ tiếp tục giảm xuống còn 37% Diện tích đất canh tác nông nghiệp giảmkhiến nhiều hộ nông dân muốn có đất làm phải thuê với giá cao, còn nếu không cótiền thì đành phải nhắm mắt vay ngân hàng với lãi suất cao Được mùa thì khôngsao nhưng nếu không may mất trắng thì nợ nần chồng chất Cho nên bài toán

“người cày có ruộng” đang trở thành vấn đề cấp thiết mà Thái Lan cần giải quyết.Một thách thức khác lại đặt ra trong bối cảnh giá lương thực toàn cầu tăng caonhưng người nông dân Thái không được hưởng lợi trực tiếp, mà thay vào đó hìnhthành lớp người trung lưu nông thôn hưởng các lợi ích mà lẽ ra thuộc về nông dân

Đổi mới chính sách để giải quyết thách thức

Việc đầu tiên là phải đổi mới chính sách Các nhà hoạch định chính sách Tháilấy nông nghiệp là bệ phóng cho nền kinh tế quốc dân, và không chỉ có thế, mụctiêu cốt lõi là tạo ưu đãi tam nông để ổn định chính trị xã hội

Nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống của người nông dân cũng như phát triểnnông nghiệp nông thôn theo hướng bền vững, bên cạnh những chính sách khuyếnkhích và hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của nông sản trên thịtrường thế giới thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng caonhận thức người nông dân được coi trọng hướng đến Có thể nhận thấy trong nhữngnăm qua, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học và các khóa học tại chỗ về kỹthuật canh tác, chuyển giao công nghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút

và nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông nghiệp Một số trường đại học của TháiLan như Chulalongkorn (lọt vào top 200 trường đại học thế giới) đã đầu tư thiết bị

Vua Thái Lan rất quan tâm và chú trọng đến phát triển nông nghiệp và đời

sống người nông dân Nhiều ưu đãi về vốn và tăng cường bảo hiểm cho người nôngdân được thực hiện, thuế nông nghiệp được bãi bỏ Bên cạnh đó, chính phủ hỗ trợcác chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch

và chế biến nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho ngạch tiêu thụ nông sản bằng cách đẩymạnh hình thức hợp đồng “chính phủ với chính phủ” Đồng bộ hóa các chính sáchcũng là một cách để tính liên thông và liên hoàn từ khâu gieo trồng, sản xuất đếnbao tiêu xuất khẩu được đảm bảo và cùng với đó là một hành lang pháp lý bảo đảmrủi ro cho người nông dân Khi giá thị trường thấp, chính phủ đã tự bỏ tiền bao tiêunông sản cho nông dân Một động thái mang tính chiến lược được chính phủ triển

Trang 40

khai bao gồm điện khí hóa nông thôn, xây dựng các thủy điện để đảm bảo việc tiếpcận thông tin khoa học nông nghiệp và những kỹ thuật canh tác mới được thông

suốt Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách được cho là thực sự có động lực thì

người nông dân Thái đang yêu cầu chính phủ cần phải ban hành những chính sách,biện pháp nhằm bảo vệ việc sử dụng, quản lý đất canh tác một cách hợp lý không đểnhững lớp người giàu có, tham nhũng kiếm lợi

Kết hợp kinh nghiệm truyền thống và công nghệ hiện đại suy nghĩ của người

Thái đã thay đổi, giờ đây họ trồng lúa không chỉ để ăn mà để xuất khẩu, và ngườiThái không chỉ trồng lúa mà họ còn đang chung sức chung lòng phát triển nhiều

loại cây có giá trị kinh tế cao như ngô, cao su và cả những loài hoa Tại Hội chợgạo 2007, Thủ tướng Thái Lan Sarayud Chulanont nhấn mạnh, “Thái Lan sẽ đẩy

56

-mạnh ứng dụng những công nghệ và kỹ thuật hiện đại đồng thời kết hợp kinh

nghiệm truyền thống để ổn định sản lượng theo triết lý “Kinh tế đầy đủ”” Có thể

nói, chính việc đầu tư áp dụng công nghệ mới đã quyết định tốc độ tăng trưởng

nông nghiệp của quốc gia Đông Nam Á này trong suốt thời gian qua

Do diện tích đất nông nghiệp có hạn nên Thái Lan không thể mãi tiếp tục theo

đuổi phát triển nông nghiệp theo hướng mở rộng đất canh tác, mà thay vào đó, đưacông nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, lai tạo các giống câytrồng mới siêu năng suất có khả năng thích ứng với những vùng đất canh tác bạc

màu, khô hạn Hữu cơ hóa đất nông nghiệp thông qua sử dụng các loại phân bón

hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học cải tạo đất thoái hóa, nâng cao độ

màu mỡ đã triển khai trong nhiều năm qua Điều này vừa giúp sử dụng quỹ đất

hiệu quả, giảm nhập khẩu phân bón lại nâng cao xuất khẩu nông sản hữu cơ sạch.Bên cạnh đó, Thái Lan khuyến khích các tổ chức tư nhân tham gia vào các chươngtrình khuyến nông Nếu có dịp đến thăm những vùng nông thôn mới nhận thấy cơgiới hóa đã bao phủ từng thửa ruộng Ngay cả những khâu sau thu hoạch đã hầu

như được cơ giới hóa toàn bộ Nhưng bí quyết thành công của nông dân Thái Lanchính là sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với việc áp

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới Bởi do điều kiện tự nhiên như địa

lý, địa chất, tính chất đất trồng trọt nên nhiều vùng cần phải có những công nghệ và

kỹ thuật canh tác đặc thù

Bên trong các viện nghiên cứu, trường đại học trên khắp đất nước Thái Lan,

nhà khoa học đang nghiên cứu những thế hệ cây trồng siêu năng suất, cải thiện chấtlượng giống thông qua kỹ thuật chuyển gene; kỹ thuật chọn tạo, công nghệ di truyền

và công nghệ nuôi cấy mô Những “nút thắt cổ chai” trong việc nâng cao chất lượngnông sản theo hướng phát triển bền vững đã được các nhà khoa học tháo gỡ bằng

công nghệ sinh học Chẳng hạn, Trung tâm Công nghệ gene Quốc gia Thái Lan, từNgân hàng gene sẵn có, đã nghiên cứu ra những giống lúa chịu mặn cao có thể gieotrồng ở vùng Đông Bắc, nơi đang đối mặt với tình trạng người dân bỏ nghề nông vìđất nhiễm bị nhiễm mặn Và cũng tạ _i miền Đông Bắc này với “đặc sản” gạo Horn

57

-Mali phát triển được trong điều kiện nắng nóng, các nhà khoa học Thái đã tạo thêm

3 giống lúa có khả năng kháng bệnh và cho năng suất cao là Khao Jao Hawm

Suphan Buri, Khao Dok Mali 105, Khao Jao Hawm Klong Luang 1 Trong tươnglai, Thái Lan được xem là đi đầu sản xuất và xuất khẩu vi sinh vật cho nông nghiệp

Ngày đăng: 22/04/2013, 11:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w