ĐỀ TÀI NGHÈO ĐA CHIỀU TRẺ EM TỈNH ĐIỆN BIÊN
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC THUẬT NGỮ KINH TẾ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU TRẺ EM 5
1.1 Nghèo đa chiều 5
1.1.1 Nghèo đa chiều là gì? 5
1.1.2 Đo lường nghèo khổ đa chiều 6
1.1.2.1 Chỉ số nghèo khổ con người HPI (Human Poverty Index) 6
1.1.2.2 Chỉ số nghèo khổ tổng hợp MPI (Multidimensional Poverty Index) 7
1.2 Nghèo đa chiều trẻ em 7
1.2.1 Tại sao phải quan tâm đến nghèo đa chiều trẻ em? 7
1.2.1.1 Tại sao phải quan tâm đến nghèo ở trẻ em? 7
1.2.1.2 Tại sao phải quan tâm đến nghèo đa chiều ở trẻ em 8
1.2.2 Khái niệm nghèo đa chiều trẻ em 10
1.2.2.1 Quan niệm về nghèo đa chiều trẻ em trên thế giới 10
1.2.2.2 Khái niệm nghèo đa chiều trẻ em ở Việt Nam 11
1.2.3 Nhận diện nghèo đa chiều trẻ em 13
1.2.3.1 Giáo dục 15
1.2.3.2 Y tế 16
1.2.3.3 Nhà ở 16
1.2.3.4 Dinh dưỡng 17
1.2.3.5 Nước sạch và vệ sinh 17
1.2.3.6 Trẻ lao động sớm 18
1.2.3.7 Vui chơi giải trí 19
1.2.3.8 Thừa nhận và bảo trợ xã hội 19
1.2.4 Các thước đo nghèo đa chiều trẻ em tổng hợp 20
1.2.4.1 Tỷ lệ nghèo trẻ em (CPR) 20
1.2.4.2 Chỉ số nghèo trẻ em (CPI) 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 23
CHƯƠNG II: NGHÈO ĐA CHIỀU Ở TRẺ EM TỈNH ĐIỆN BIÊN 24
Trang 22.1.1 Những nét chính về nghèo đa chiều trẻ em Việt Nam 24
2.1.2 CPR và CPI của trẻ em Việt Nam 27
2.1.2.1 CPR của trẻ em Việt Nam 27
2.1.2.2 CPI của trẻ em Việt Nam 28
2.2 Tại sao nghiên cứu nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên 28
2.2.1 Ý nghĩa tự nhiên – kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên 28
2.2.1.1 Tự nhiên 28
2.2.1.2 Kinh tế 29
2.2.1.3 Xã hội 30
2.2.2 Tỉnh Điện Biên nằm trong ưu tiên của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo 32
2.2.3 Tỉnh Điện Biên tiềm ẩn những nguy cơ của nghèo đa chiều 33
2.3 Phương pháp đánh giá nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên 34
2.3.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu 34
2.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu thống kê 35
2.4 Đánh giá nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên 35
2.4.1 Đo lường nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên 35
2.4.1.1 Tỷ lệ nghèo trẻ em tỉnh Điện Biên (CPR) 35
2.4.1.2 Chỉ số nghèo trẻ em tỉnh Điện Biên 45
2.4.1.3 Phân tích sự trùng lặp về tình trạng nghèo trẻ em theo lĩnh vực.46 2.4.2 Trẻ em nghèo tỉnh Điện Biên ở các lĩnh vực nghèo đa chiều giai đoạn 2005 – 2010 48
2.4.2.1 Giáo dục 48
2.4.2.2 Y tế 51
2.4.2.3 Nhà ở 52
2.4.2.4 Dinh dưỡng 53
2.4.2.5 Nước sạch và vệ sinh 54
2.4.2.6 Vui chơi giải trí 55
2.4.2.7 Trẻ em lao động sớm 55
2.4.2.8 Thừa nhận và bảo trợ xã hội 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 57
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU TRẺ EM TỈNH ĐIỆN BIÊN 58
Trang 3năm 2015 58
3.1.1 Định hướng mục tiêu theo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đến năm 2015 58
3.1.2 Mục tiêu giảm nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên đến năm 2015 59
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát 59
3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 59
3.2 Một số khuyến nghị giảm nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên 60
3.2.1 Hình thành hiểu biết phổ biến về nghèo đa chiều trẻ em và xây dựng hệ thống đo lường nghèo đa chiều trẻ em cấp tỉnh 60
3.2.2 Lựa chọn các lĩnh vực nghèo trọng điểm 61
3.2.2.1 Lĩnh vực nhà ở 63
3.2.2.2 Lĩnh vực nước sạch và vệ sinh 64
3.2.2.3 Lĩnh vực dinh dưỡng 66
3.2.2.4 Vui chơi giải trí 67
3.2.3 Thực hiện dự án truyền thông, giáo dục, vận động xã hội 68
3.2.4 Tăng cường mạng lưới cộng tác viên hoạt động vì trẻ em 69
3.2.5 Dự án nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp, cộng tác viên, nhóm trẻ em nòng cốt tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em 71
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
Trang 4UNDP Chương trình phát triển Liệp Quốc
DEV Khung mẫu tình trạng bị tước đoạt, bị loại bỏ và dễ bị
xâm phạm
Quỹ trẻ em đạo Cơ Đốc Quỹ Trẻ em Đạo Cơ Đốc
MICS Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ
Sở/Bộ LĐTBXH Sở/Bộ Lao động Thương bình & Xã hội
DANH MỤC THUẬT NGỮ KINH TẾ
Trang 5Bảng 1.1 Nhận diện nghèo đa chiều trẻ em 13
Bảng 2.1 Kết quả Tỷ lệ nghèo đa chiều trẻ em năm 2006 26
Bảng 2.2 Xếp hạng các vùng theo CPI 27
Bảng 2.3 Tỷ suất sinh thô và số trẻ em được sinh ra mỗi năm tỉnh Điện Biên 36
Bảng 2.4 Số trẻ em nghèo trong từng chỉ số và lĩnh vực khảo sát mẫu tỉnh Điện Biên 37
Bảng 2.5 Số trẻ em nghèo từng chỉ số và lĩnh vực khảo sát mẫu huyện Điện Biên 38
Bảng 2.6 Số trẻ em nghèo từng chỉ số và lĩnh vực khảo sát mẫu huyện Mường Chà 40
Bảng 2.7 Số trẻ em nghèo từng chỉ số và lĩnh vực khảo sát mẫu tỉnh Điện Biên
42
Bảng 2.8 Tỷ lệ nghèo trẻ em tỉnh Điện Biên theo chỉ số và lĩnh vực 43
Bảng 2.9 Tỷ lệ nghèo trẻ em từng địa điểm quan sát 45
Bảng 2.10 Chỉ số nghèo theo lĩnh vực tỉnh Điện Biên 46
Bảng 2.11 Tính CPI 46
Bảng 2.12 Tỉnh Điện Biên: Tỷ lệ nghèo trẻ em trong hai lĩnh vực 47
Trang 6Hình 1.1 Phân biệt giữa cách tiếp cận nghèo đa chiều và nghèo vật chất trong
đo lường nghèo trẻ em 9
Hình 2.1 Tỷ lệ nghèo đa chiều so với nghèo vật chất ở trẻ em và nghèo đói 24
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo tiền tệ và đa chiều trẻ em ở thành thị và nông thôn (%) 25
Hình 2.3 Tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều (%) 25
Hình 2.4 Tương quan tỷ lệ trẻ em nghèo các lĩnh vực(%) 26
Hình 2.5 Tỷ lệ trẻ em nghèo tiền tệ và nghèo đa chiều theo dân tộc 26
Hình 3.1 Tỷ lệ nghèo trẻ em cả nước và tỉnh Điện Biên trên 7 lĩnh vực 61
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, chi tiêu của tỉnh Điện Biên liên quan đến cácchính sách về trẻ em khá cao và được chú trọng nhưng tại sao tỷ lệ nghèo đachiều trẻ em vẫn còn cao, vòng luẩn quẩn nghèo vẫn tiếp diễn? Qua nghiên cứu
sơ bộ, tôi cho rằng sự nhận thức chưa rõ ràng và đầy đủ về “nghèo đa chiều trẻem”, những đặc thù về nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên, đã đưa đến nhữngbất hợp lý trong các chính sách của tỉnh Vì vậy, qua đề tài này, tôi muốn phântích các nguyên nhân trên, qua đó ,đề xuất được những giải pháp hữu hiệu, phùhợp với đặc thù của tỉnh nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo đa chiều trẻ emtrong những năm tới
1 Bối cảnh nghiên cứu
Việt Nam được thế giới công nhận là một trong những quốc gia có tốc độgiảm nghèo nhanh, đây là một kết quả được đánh giá cao nhưng không phải làkết quả lý tưởng được nhìn nhận để đánh giá thực trạng nghèo ở Việt Nam “Trẻ
em hôm nay, thế giới ngày mai” nhưng trẻ em lại là những đối tượng dễ bị tổnthương trong xã hội Kết quả giảm nghèo nói trên của Việt Nam mới dành sựquan tâm rất nhỏ bé cho trẻ em Hơn nữa sự quan tâm ấy mới chỉ trên góc độ vậtchất, tức nghèo vật chất ở trẻ em, trong khi trẻ em là những đối tượng chưa cókhả năng tạo ra thu nhập
Với sự kiện là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩncông ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990,Việt Nam đã và đang nỗ lực trong việc bảo vệ và nâng cao hơn nữa chất lượngcuộc sống cho mọi trẻ em Tuy nhiên, thực trạng nghèo trẻ em và tình trạng đối
xử với trẻ em ngày nay đang có nhiều vấn đề phức tạp rất đáng báo động Vìvậy, bài nghiên cứu này tập trung nghiên cứu các vấn đề của trẻ em nhằm kiểmsoát tốt hơn tình hình của trẻ em hiện tại
Có hai thước đo nghèo đa chiều trẻ em được sử dụng phổ biến là Tỷ lệnghèo trẻ em và Chỉ số nghèo trẻ em Chỉ số nghèo trẻ em mới chỉ được tínhtoán ở cấp vùng và quốc gia còn các đơn vị địa lý thấp hơn như tỉnh mới chỉ có
số liệu khá rời rạc Điều này không hỗ trợ những hàm ý chính sách cho các đơn
vị cụ thể (như cấp tỉnh) Vùng được coi là bộ phận giám sát nhưng không đạidiện cho một cấp thiết kế và thực thi chính sách Tỉnh là cấp thực thi chính sách,
ở đó, các nhà hoạch định chính sách có thể trả lời cho các kết quả Việc tính toánChỉ số nghèo trẻ em ở cấp tỉnh và xếp hạng các tỉnh theo chỉ số này có khả năng
Trang 8đưa ra các gợi ý chính sách trong vấn đề nghèo trẻ em, chính sách nguồn ngânsách cho từng tỉnh cũng như ngân sách tỉnh cho các vấn đề khác nhau của trẻ
em Vì vậy, bài nghiên cứu này chọn tỉnh Điện Biên, một tỉnh thuộc trung du vàmiền núi phía bắc, một vùng có tỷ lệ nghèo trẻ em cao và kinh tế còn khó khăn,như một nguồn thông tin phục vụ việc ra quyết định chính sách cho tỉnh ĐiệnBiên, theo như khuyến nghị của UNICEF về tăng cường thu thập số liệu ở cấptỉnh
Từ những nhận định như trên, tôi chọn đề tài “Nghèo đa chiều trẻ em tỉnhĐiện Biên” làm đề tài nghiên cứu khoa học nhằm góp phần đưa ra cái nhìnchính xác hơn về nghèo đa chiều ở trẻ em, từ đó sẽ đưa ra những giải pháp khảthi cho tỉnh Điện Biên trong việc hoạch định các chính sách phù hợp nhằm giảmnghèo nhanh đối với trẻ em
2 Lịch sử nghiên cứu
Nghèo khổ là một trong năm vấn đề lớn có tính chất toàn cầu: ô nhiễmmôi trường sinh thái, khủng hoảng năng lượng, bênh tật, thất nghiệp, nghèo khổ.Nghèo trẻ em là một trong những khía cạnh rất quan trọng trong vấn đề nghèokhổ và đã được UNICEF phân tích kỹ lưỡng trong các báo cáo và bài nghiêncứu của tổ chức này như:
- Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010
- Sự thật về trẻ em và HIV/AIDS (năm 2010)
- Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam (năm 2009)
- Báo cáo tổng hợp – phòng chống tai nạn thương tích trẻ em ở Việt Nam(năm 2010)
- Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu – Xây dựng và áp dụng cách tiếp cận
đa chiều về nghèo trẻ em (năm 2008)
- Báo cáo tình hình trẻ em thế giới 2007
- Báo cáo tình hình trẻ em thế giới 2008
- Báo cáo phân tích tình hình trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2000
- Phân tích tình hình trẻ em tỉnh Điện Biên (năm 2010)
Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích một cách khoa học, sâu sắc
và đo lường nghèo đa chiều ở trẻ em của một tỉnh Vì vậy, với đề tài “Nghèo đachiều ở trẻ em tỉnh Điện Biên”, những vấn đề liên quan đến nghèo trẻ em cấptỉnh sẽ được đưa ra lượng hóa và phân tích làm cơ sở cho những giải pháp cấptỉnh đối với trẻ em
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nghèo đa chiều ở trẻ em và
tình hình trẻ em tỉnh Điện Biên, bài nghiên cứu tính toán tình trạng nghèo
và đưa ra những kiến nghị, giải pháp đặc thù đối với vấn đề nghèo đachiều ở trẻ em tỉnh Điện Biên
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: thực trạng nghèo đa chiều của trẻ em tỉnh Điện Biên và giải
pháp phù hợp trong bối cảnh và thực trạng ấy
- Khách thể: trẻ em tỉnh Điện Biên
- Phạm vi xử lý của đề tài:
Không gian: địa bàn tỉnh Điện Biên
Thời gian: giai đoạn 2005 – 2010
5 Cách thức giải quyết vấn đề
- Điều tra chọn mẫu;
- Thu thập tài liệu thống kê, báo cáo, các nghiên cứu;
Trang 10Đề xuất một số ý kiến đóng góp thiết thực đối với các nhà quản lý, đối vớiBan chỉ đạo các cấp trong việc thực thi các chính sách đối với trẻ em.
7 Kết cấu bài nghiên cứu
Chương 1:Tổng quan về nghèo đa chiều trẻ em và phương pháp đo lường nghèo
đa chiều trẻ em
Chương 2: Những đặc điểm chính về tỉnh Điện Biên về tự nhiên và xã hội, thu
chi ngân sách của tỉnh và thực trạng nghèo trẻ em của tỉnh
Chương 3: Đo lường nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên và một số kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU TRẺ EM
1.1 Nghèo đa chiều
1.1.1 Nghèo đa chiều là gì?
Nghèo khổ diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứngvới các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Sự khác nhau trong xác định “tiêu chuẩntối thiểu nhất định” đã đưa đến sự hình thành nên ba trường phái chính trongquan niệm về nghèo khổ:
(1) Trường phái phúc lợi (Martin Ravallion): coi tiêu chí để xác định là phúc
lợi kinh tế của cá nhân hay độ thỏa dụng cá nhân Tuy nhiên, vì độ thỏa dụngvốn là một khái niệm mang tính ước lệ, không thể đo lường hay lượng hóa đượcnên người ta thường đồng nhất nó với một khái niệm khác cụ thể hơn, đó là mứcsống Khi đó, tăng thu nhập được xem là điều quan trọng nhất để nâng cao mứcsống hay độ thỏa dụng cá nhân
(2) Trường phái nhu cầu cơ bản (Seebohm Rowntree) coi tiêu chí để xác định
nghèo khổ là sự thiếu một tập hợp những hàng hóa và dịch vụ xác định cụ thể màviệc thỏa mãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộc sống.Những nhu cầu cơ bản đó bao gồm lương thực thực phẩm, nước, điều kiện vệ sinh,nhà ở, quần áo, giáo dục, y tế cơ sở và giao thông công cộng Trong những nhu cầu
cơ bản đó, nhu cầu về dinh dưỡng là quan trọng nhất
(3) Trường phái năng lực (Amartya Sen) coi giá trị cuộc sống của con người
không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ thỏa dụng hay thỏa mãn các nhu cầu cơbản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể mà
họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn Như vậy, trườngphái này chú trọng đến việc tạo cơ hội cho người nghèo để họ có thể phát huynăng lực theo cách mà tự chọn
Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì nghèo khổ được hiểu là sự thiếuthốn các điều kiện thiết yếu của cuộc sống, tức là nghèo khổ vật chất (nhưtrường phái phúc lợi) Tuy vậy, nghèo khổ cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn từkhía cạnh về phát triển toàn diện con người, tức là nghèo khổ xét theo góc độ làviệc loại bỏ các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhất cho phát triển toàn diện conngười (như trường phái nhu cầu cơ bản và trường phái năng lực) Đối với cácnhà hoạch định chính sách, sự nghèo khổ về khả năng lựa chọn và cơ hội pháttriển có ý nghĩa hơn nghèo khổ về vật chất, bởi vì nó còn phản ánh nguyên nhâncủa nghèo khổ vật chất và trực tiếp ảnh hưởng đến chiến lược hành động nhằm
Trang 12cải thiện các cơ hội cho mọi người Việc nhận thức sự thiếu thốn về khả nănglựa chọn và cơ hội gợi ý rằng cần phải giải quyết vấn đề nghèo khổ không chỉ ởkhía cạnh vật chất.
Trong Báo cáo phát triển con người năm 1997, UNDP đã đề cập đến kháiniệm nghèo khổ dựa trên cơ sở quan niệm về phát triển con người, gọi là nghèo
khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người (nghèo khổ đa chiều) Nghèo khổ đa chiều đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo cuộc sống
cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được” Theo đó, nghèo khổ được tính đến
điều kiện khó khăn trong phát triển con người, ví dụ như cuộc đời ngắn ngủi (tuổithọ), thiếu giáo dục cơ bản và thiếu sự tiếp cận đến các nguồn lực tư nhân và của
xã hội Khái niệm trên cho thấy, xóa nghèo cũng là một khía cạnh của phát triểncon người – một khái niệm được định nghĩa là “quá trình tăng thêm sự lựa chọncủa con người” Phương pháp tiếp cận nghèo khổ là trên cơ sở quyền lợi cơ bản
của con người bao gồm quyền tự do: con người có quyền có một cuộc sống không
bị đói khổ và đe dọa do bạo lực, chống đối và bị thương tổn; quyền bình đẳng:
mọi người có quyền tham gia, hưởng thụ và chia sẻ thành quả phát triển của xã
hội; sự khoan dung: mọi người cần phải được tôn trọng bao gồm cả niềm tin, văn
hóa và ngôn ngữ Điều này có nghĩa là, các chính sách phát triển kinh tế cần
hướng về người nghèo Tăng trưởng kinh tế là cần thiết, song lợi ích từ tăng
trưởng không tự động chuyển đến cho các hộ nghèo Người nghèo cần trở thànhmục tiêu trong việc hoạch định và đánh giá tác động của các chính sách pháttriển Cách tiếp cận mới này đã tập trung vào các chương trình cho phép ngườinghèo được sử dụng nguồn lực, giải pháp và sự sáng tạo của họ bằng cách tạodựng một môi trường đảm bảo cũng như các nguồn lực quan trọng sẵn có bênngoài Đảm bảo quyền cho người nghèo được nhìn nhận là yếu tố thiết yếu củathành công trong xóa đói giảm nghèo
1.1.2 Đo lường nghèo khổ đa chiều
1.1.2.1 Chỉ số nghèo khổ con người HPI (Human Poverty
Index)
Đây là chỉ số lần đầu tiên được đưa ra trong Báo cáo phát triển con ngườinăm 1997 nhằm cố gắng tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lượngcuộc sống con người vào trong một chỉ số tổng hợp để tiến tới một sự đánh giátổng hợp về mức độ nghèo khổ của một cộng đồng
Trang 13HPI tập trung phản ánh sự bần cùng về ba khía cạnh thiết yếu của cuộcsống con người đã được đề cập đến trong HDI, đó là: tuổi thọ, giáo dục và chất
lượng cuộc sống Yếu tố đầu liên quan đến khả năng sống: khả năng bị tử vong
ở độ tuổi tương đối trẻ do sự thiếu thốn, thể hiện trong HPI là phần trăm số
người chết trước tuổi 40 Khía cạnh thứ hai liên quan đến trình độ tri thức: bị
tách khỏi thế giới giao tiếp và đọc viết, đo bằng tỷ lệ phần trăm người lớn bị mù
chữ Khía cạnh thứ ba liên quan đến chất lượng sống, đặc biệt là sự phân chia
kinh tế nói chung, phản ánh trong HPI bằng cách tổng hợp ba yếu tố: tỷ lệ phầntrăm số người không được tiếp cận với dịch vụ sức khỏe, nước sạch và tỷ lệphần trăm trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng
1.1.2.2 Chỉ số nghèo khổ tổng hợp MPI (Multidimensional
Poverty Index)
Chỉ số này được đưa ra trong Báo cáo phát triển con người năm 2010 Về
cơ bản, ý nghĩa và các tiêu chí cấu thành chỉ số nghèo khổ tổng hợp vẫn khôngthay đổi, tức nó phản ánh mức độ thiếu hụt của mỗi cá nhân theo 3 phươngdiện: sức khỏe, giáo dục và chất lượng cuộc sống Tuy vậy, chỉ số này có hoànthiện hơn về nội dung và cách tính toán Các yếu tố cấu thành mỗi tiêu chí cóhoàn thiện theo hướng đưa vào nhiều nội dung hơn, cụ thể, bao gồm 10 thành
phần tương ứng với 3 phương diện Phương diện sức khỏe bao gồm 2 thành phần: tình trạng suy dinh dưỡng và chết yểu; phương diện giáo dục gồm 2 thành
phần là tình trạng không học hết 5 năm và trẻ em không được đến trường
Phương diện chất lượng cuộc sống bao gồm 6 thành phần: tình trạng không
được sử dụng điện, nước sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệuđun nấu bẩn và không có phương tiện đi lại tối thiểu
1.2 Nghèo đa chiều trẻ em
1.2.1 Tại sao phải quan tâm đến nghèo đa chiều trẻ em?
1.2.1.1 Tại sao phải quan tâm đến nghèo ở trẻ em?
Xóa đói giảm nghèo là ưu tiên hàng đầu của chính phủ các nước nhưngliệu nó đã thực sự hiệu quả cho trẻ em? Liệu nó có tính đến: trẻ em rất dễ bị rơivào nghèo đói, trẻ em có nhu cầu khác với người lớn, trẻ em lệ thuộc vào nguồnlực củâa người khác?
Có ba lý do để minh chứng cho sự quan trọng của phương pháp tiếp cậnnghèo tập trung vào đối tượng trẻ em:
Trang 14(1) Trẻ em có nguy cơ rơi vào nghèo cao hơn tại bất cứ thời điểm nào và ở bất cứ đâu Trẻ em phụ thuộc rất lớn vào môi trường trực tiếp đối với chúng để
đáp ứng các nhu cầu cơ bản Do bản thân không phải là một chủ thể độc lập vềkinh tế, chúng phải dựa vào sự phân bổ các nguồn lực từ cha mẹ, các thành viêngia đình hoặc cộng đồng Các biện pháp đánh giá nghèo tập trung vào đối tượngtrẻ em là rất cần thiết để cung cấp các thông tin về sự phân bổ này và từ đó đưa
ra các thông tin nghèo ở cấp độ cá nhân trẻ em
(2) Nếu trẻ em lớn lên trong tình trạng nghèo, chúng có nguy cơ cũng sẽ nghèo khi lớn lên Nghèo thường là cái vòng luẩn quẩn mà trẻ em bị mắc vào từ
khi sinh ra cho tới lúc trưởng thành Đặt nhiệm vụ giảm nghèo trẻ em như mộtmục tiêu ngắn hạn có thể giúp giảm tỷ lệ nghèo ở người lớn về lâu dài
(3) Tác động của nghèo lên trẻ em cũng khác so với người lớn do các nhu cầu cơ bản khác nhau Ví dụ như nhu cầu về dinh dưỡng hay vai trò đặc biệt
quan trọng của giáo dục trong từng giai đoạn của cuộc đời Phương thức tiếp cậnriêng đối với trẻ em có thể chỉ rõ và nhấn mạnh những nhu cầu nào là thiết yếuđối với trẻ và sự phát triển của chúng
1.2.1.2 Tại sao phải quan tâm đến nghèo đa chiều ở trẻ em
Trong đánh giá nghèo có sự phân biệt giữa khái niệm vật chất và đa chiều.Phương pháp đo lường nghèo vật chất đã và đang là phương pháp được sử dụngrộng rãi nhất trong việc phân tích trên thế giới, dựa trên nguyên tắc mỗi cá nhânvới sức mua nhất định có thể thỏa mãn nhu cầu cơ bản của họ Tuy nhiên,phương pháp này có nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc đo lường nghèo trẻ
em Theo nguyên tắc cơ bản của phương pháp này, mọi thuộc tính thỏa mãn nhucầu cơ bản có thể mua được ngoài thị trường và thể hiện bằng tiền Tuy nhiên,trong rất nhiều trường hợp, có những thị trường không hề tồn tại hoặc vận hànhkhông hoàn hảo và giá trị về tiền không thể gắn cho một số thuộc tính cụ thể(như tình trạng biết chữ, biết tính toán, tuổi thọ, sự tham gia xã hội và thông tin).Ngoài ra, nếu một hộ gia đình có thu nhập đủ mua rổ hàng hóa không có nghĩa
là hộ gia đình đó sẽ sử dụng nguồn thu nhập cho rổ hàng hóa đó Tương tự nhưvậy, thu nhập chủ yếu được tính ở cấp độ hộ gia đình chứ không tính riêng cho
sự phân phối thu nhập của các thành viên trong gia đình Cuối cùng, bản thân trẻ
em không phải là chủ thể kinh tế và do đó không thể tạo ra thu nhập để duy trìcuộc sống Do đó, các chỉ số nghèo vật chất không thể phản ánh chính xác tìnhtrạng nghèo trẻ em
Trang 15Nhóm AB (12%)
Do những hạn chế về khái niệm cũng như kỹ thuật như vậy nên cáchướng tiếp cận nghèo theo hướng đa chiều đã được phát triển Nghèo đa chiều
trẻ em là cách tiếp cận nghèo trẻ em trên các lĩnh vực phi vật chất như: giáo dục, y tế, nhà ở, dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh, lao động trẻ em, vui chơi giải trí, thừa nhận và bảo trợ xã hội.
Hai cách đo lường này (đo lường theo nghèo vật chất và đo lường theonghèo đa chiều) không đưa ra cùng một bức tranh về nghèo trẻ em mặc dù cóthể có một số trùng lặp Ví dụ, 18% trẻ em được xác định là nghèo đa chiều,không nghèo vật chất (nhóm A), 11% trẻ em được xác định là nghèo vật chất,không nghèo đa chiều (nhóm B), 12% trẻ em được xác định là nghèo theo cả haicách đo lường (nhóm AB)
Hình 1.1 Phân biệt giữa cách tiếp cận nghèo đa chiều và nghèo vật chất
trong đo lường nghèo trẻ em
Nếu thiết kế chính sách và các biện pháp xác định đối tượng chỉ dựa vàomột phương pháp tiếp cận nghèo trẻ em sẽ bỏ qua một số lượng đáng kể trẻ em.Nếu chỉ sử dụng phương pháp tiếp cận vật chất thì sẽ không bao gồm được trẻ
em trong nhóm A: mặc dù có những em sống trong những hộ gia đình có thunhập cao hơn chuẩn nghèo quốc gia, song các em vẫn phải chịu nghèo trong cáclĩnh vực khác như giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường,nhà ở,… là những lĩnh vực mà có thể nếu gia đình có thu nhập cao các em vẫnkhông được tiếp cận lĩnh vực ấy Cũng như vậy, các chính sách giảm nghèo nếuchỉ dựa vào phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều sẽ không bao gồm những trẻtrong nhóm B sống trong các hộ gia đình có mức thu nhập dưới mức chuẩnnghèo: mặc dù được tiếp cận với các dịch vụ được cung cấp riêng cho các đốitượng nghèo vật chất nhưng các nguồn lực có thể không đủ để đạt được ngưỡngcủa các lĩnh vực về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hoặc thừa nhận xã hội và bảovệ,… Do đó, các chính sách dựa vào việc kết hợp cả hai cách đánh giá nghèo sẽ
Nhóm C (59%) – Không nghèo
Trang 16đảm bảo chắc chắn hơn việc xác định được đối tượng trẻ em nghèo, dù theoquan điểm nghèo về mặt vật chất hay nghèo đa chiều.
Tuy nhiên, vì trẻ em là những con người có cuộc sống gắn liền và phụthuộc vào môi trường xung quanh, vào người lớn, đồng thời chưa có khả năngtạo ra thu nhập nên nếu nghiên cứu nghèo vật chất thực chất là đã lệch hướngtập trung vào đối tượng không phải là trẻ em Vì vậy, nghiên cứu nghèo đa chiều
là cần thiết hơn cả để phản ánh tình trạng của trẻ em
1.2.2 Khái niệm nghèo đa chiều trẻ em
1.2.2.1 Quan niệm về nghèo đa chiều trẻ em trên thế giới
Phương pháp tiếp cận nghèo của Bristol là một phương pháp tập trungvào trẻ em, chủ yếu dựa trên Công ước về quyền trẻ em CRC Tình trạng nghèotrẻ em được định nghĩa là sự thiếu thốn các nhu cầu cơ bản của con người trongbảy lĩnh vực khác nhau, bao gồm: thức ăn, nước sạch, công trình vệ sinh, cơ sởchăm sóc sức khỏe, nơi ở, giáo dục, thông tin Một đứa trẻ được xem là thiếuthốn nghiêm trọng khi nó thiếu thốn ít nhất một trong các lĩnh vực, và sẽ đượccoi là hoàn toàn nghèo khi nó chịu cảnh thiếu thốn ít nhất hai lĩnh vực
Phương pháp tiếp cận thực tiễn của Corak, sử dụng CRC như điểm khởiđầu, công nhận rằng vấn đề nghèo trẻ em là một vấn đề đa chiều Tuy nhiên,trong định nghĩa của mình Corak cho rằng nghèo trẻ em được định nghĩa là phầntrăm số trẻ có thu nhập dưới mức 50% thu nhập quốc dân quy đổi bình quân Do
đó, mặc dù trên lý thuyết thì phương pháp này là đa chiều nhưng thực tế khi ápdụng nó chỉ là phương pháp một chiều (vật chất)
Chỉ số tình trạng phúc lợi của trẻ em thuộc Liên minh Châu Âu (EU CWI) làmột phương pháp được áp dụng để so sánh giữa các nước trong Liên minh Châu
Âu Trên cơ sở CRC, người ta xác định ra 8 nhóm để phản ánh được tính đa chiềucủa nghèo, bao gồm tình trạng vật chất, nhà cửa, y tế, tình trạng khá giả chủ quan,giáo dục, các mối quan hệ của trẻ em, sự tham dự của công dân và rủi ro an toàn.Trong mỗi nhóm lại có các lĩnh vực và các chỉ số khác nhau được xác định Giá trịcủa các chỉ số tổng hợp so sánh tình trạng của từng nước trong Liên minh Châu Âu.Tuy nhiên, số liệu này mang ít tính trực giác và chỉ cho thấy tình hình của mộtnước so với mức trung bình chung và so với các nước khác
Chỉ số tình trạng phúc lợi của trẻ em và thanh niên Mỹ (US CWI) đượcxây dựng với mục đích để xem xét sự thay đổi tình trạng phúc lợi ở trẻ em theothời gian Việc xây dựng các chỉ số dựa khái niệm chất lượng cuộc sống, gồm cả
Trang 17các thước đo khách quan và chủ quan về tình trạng phúc lợi theo bảy lĩnh vựcchính là: khá giả về vật chất, y tế, an toàn, khả năng sản xuất, địa vị xã hội, sựthân mật và sự đầy đủ về tình cảm Phần trăm thay đổi từ năm gốc sẽ được tínhtrung bình cho toàn bộ các chỉ số trong từng lĩnh vực, sau đó, tính trung bìnhcho toàn bộ các lĩnh vực để tính ra được một chỉ số tổng hợp Phương pháp nàyđặc biệt có tác dụng trong việc theo dõi tình trạng phúc lợi của trẻ em cho cácnhóm dân cư khác nhau Tuy nhiên phương pháp này yêu cầu cao về số liệu và
từ chỉ số này không suy ra được thông tin nào khác
Khung DEV về nghèo trẻ em được Quỹ Trẻ em Đạo Cơ Đốc (CCF) pháttriển dựa trên ba khía cạnh chính là tình trạng thiếu thốn, sự tách biệt và tính dễ
bị tổn thương (DEV) Phương pháp này phê phán và không đi theo cách tiếp cận
về các đầu ra có thể định lượng được một cách dễ dàng và lý giải nhân quả Dovậy, đây là một phương pháp tổng hợp nhưng không thể cung cấp các công cụ
sử dụng cho việc đánh giá và đo lường mức độ nghèo đa chiều ở trẻ em
1.2.2.2 Khái niệm nghèo đa chiều trẻ em ở Việt Nam
Khái niệm nghèo đa chiều trẻ em được phát triển trên khái niệm nghèokhổ đa chiều nhưng điều chỉnh và bổ sung các chỉ số và lĩnh vực phù hợp vớiđối tượng là trẻ em Điều này có nghĩa là, nghèo đa chiều trẻ em cũng dựa trên
cơ sở quan điểm về phát triển con người, đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và
sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc có thể chấp nhận đượccho trẻ em Khác với một số quan niệm về nghèo đa chiều của một số chuyêngia trên thế giới, ở Việt Nam, UNICEF đã xây dựng khái niệm nghèo đa chiềutrẻ em bao gồm những khía cạnh không có khía cạnh vật chất hay thu nhập.Đồng thời, các khía cạnh được đưa ra là khách quan và có thể đo lường được
Nghèo đa chiều nói chung và nghèo đa chiều trẻ em quan tâm kết quả củacác hoàn cảnh của đối tượng hơn là tình trạng hoàn cảnh cụ thể Ví dụ nhưkhuyết tật không phải là một nhân tố phản ánh tình trạng nghèo ở trẻ Nó có thể
có tác động hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng không thể được xem là một kếtquả, mà việc vì bị khuyết tật mà em đó không được đi học mới bị coi là nghèo ởlĩnh vực ấy Do đó, chúng ta tập trung vào đối tượng những trẻ em không đượctiếp cận đến những nhu cầu cơ bản và trẻ em bị chối bỏ các quyền cơ bản
Nghèo trẻ em trong cách tiếp cận đa chiều có thể được định nghĩa như
sau: nghèo đa chiều trẻ em bao gồm các đối tượng dưới 16 tuổi không được
Trang 18hưởng các quyền quy định trong Công ước năm 1989 của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và không được tiếp cận các nhu cầu cơ bản của con người
-Theo điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam:
“Trẻ em được hiểu là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Vì vậy khái niệm trên
đề cập đến các đối tượng dưới 16 tuổi
-Quyền trẻ em thực chất là quyền con người, cụ thể hơn chính là những điều
mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm đảm bảo sựsống còn, được bảo vệ, được phát triển và được tham gia Các quyền đó được phápluật công nhận và xã hội phải thực hiện, ví dụ như quyền được khai sinh, quyềnđược đi học, quyền được vui chơi, phát triển,… Theo công ước quốc tế về quyềntrẻ em, trẻ em có 4 nhóm quyền cơ bản sau: Quyền sống còn, Quyền được bảo vệ,Quyền được phát triển, Quyền được tham gia Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ
em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà trẻ em lànhững thành viên tích cực vào quá trình phát triển của xã hội Về cơ bản, quyền trẻ
em thực chất là quyền con người, tức là, 4 quyền trên là sự cụ thể hóa 3 quyền củacon người được đề cập khi nhắc đến nghèo đa chiều: quyền tự do, quyền bình đẳng,
sự khoan dung và điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng là trẻ em
-Phương pháp tiếp cận theo nhu cầu ở Việt Nam xác định tám nhóm nhu
cầu cơ bản là giáo dục, y tế, nhà ở, dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh, lao động trẻ em, vui chơi giải trí, thừa nhận và bảo trợ xã hội Những nhu cầu được xác
định theo phương pháp tiếp cận này và các quy định trong CRC hầu như là trùngnhau và cùng hướng đến những lĩnh vực phát triển của trẻ Do đó, chúng bổsung và củng cố lẫn nhau để xác định tình trạng nghèo trẻ em
1.2.3 Nhận diện nghèo đa chiều trẻ em
Dựa vào Công ước quốc tế về quyền trẻ em, hiện nay, phương thức tiếpcận nghèo đa chiều trẻ em dựa trên các nguyên tắc:
- Dựa trên quyền, dựa vào nhu cầu
- Lấy trẻ em làm trọng tâm và phù hợp với thực tế tình hình quốc gia
- Dựa vào kết quả cuối cùng (không dựa vào năng lực)
Trẻ em nghèo đa chiều được xét dựa trên việc xét 8 lĩnh vực khác nhaubao gồm:
(1) Giáo dục
(2) Y tế
(3) Nhà ở
Trang 19(4) Dinh dưỡng
(5) Nước sạch và điều kiện vệ sinh
(6) Trẻ em lao động sớm
(7) Vui chơi giải trí
(8) Thừa nhận và bảo trợ xã hội
Như vậy, về cơ bản, các lĩnh vực trong nghèo đa chiều trẻ em phản ánhmức độ thiếu hụt của mỗi cá nhân theo 3 phương diện: sức khỏe, giáo dục và
chất lượng cuộc sống Trong đó, phương diện sức khỏe được thể hiện ở lĩnh vực
y tế và dinh dưỡng, phương diện giáo dục thể hiện ở lĩnh vực giáo dục, phương diện chất lượng cuộc sống được thể hiện ở lĩnh vực nhà ở, nước sạch và vệ sinh,
trẻ em lao động sớm, vui chơi giải trí, thừa nhận và bảo trợ xã hội Đây chính là
sự áp dụng thích hợp Chỉ số nghèo khổ tổng hợp MPI vào đối tượng là trẻ em
Mỗi lĩnh vực trong 8 lĩnh vực trên có thể có 1 hoặc nhiều hơn 1 thànhphần cấu thành nên lĩnh vực ấy Một đứa trẻ được coi là nghèo trong một lĩnhvực nào đó nếu như đứa trẻ đó không thỏa mãn được một giá trị tới hạn đượcđưa ra trong ít nhất một thành phần trong lĩnh vực đó Mỗi thành phần nàytương ứng với một chỉ số là tỷ lệ trẻ em nghèo trong thành phần đó Những trẻ
em chịu nghèo ở ít nhất 2 trong 8 lĩnh vực trên thì bị coi là trẻ em nghèo đachiều
Bảng 1.1 Nhận diện nghèo đa chiều trẻ em ST
Trẻ trong độ tuổi 6-10 không
đi học tiểu học Trẻ trong độ tuổi 11-15 không đi học trung học cơ sở
Tình trạng hoàn thành bậc học
Trẻ trong độ tuổi 11-15 không hoàn thành bậc tiểu học
Tất cả các trẻ trong độ tuổi
11-15 tại thời điểm phỏng vấn được coi là nghèo nếu chúng không hoàn thành bậc tiểu học 2
Nghèo về
y tế
Tình trạng tiêm chủng
Trẻ em trong độ tuổi 2-4 không được tiêm chủng đầy đủ
Gói tiêm chủng đầy đủ: vắc xin chống bệnh lao (1 mũi), vắc xin phòng chống bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván (3 mũi), vắc xin chống bệnh bại liệt (3 mũi) và vắc xin chống bệnh sởi (1 mũi)
Trang 20Tình trạng mái nhà
Trẻ em trong độ tuổi 0-15 sống trong nhà lợp mái tranh/
mái rạ
Vật liệu mái tự nhiên bao gồm rơm, rạ, lá cọ, tranh, gỗ và các vật liệu khác
Tình trạng sàn nhà
Trẻ em trong độ tuổi 0-15 sống trong nhà nền đất
Vật liệu sàn tự nhiên bao gồm nền đất, sàn tre, ván gỗ và các vật liệu khác
Trẻ em có cân nặng thấp so với tuổi mà chiều cao vẫn bình thường
Trẻ em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi
Trẻ em có cân nặng bình thường nhưng chiều cao thấp
so với lứa tuổi
Trẻ em bị suy dinh dưỡng gầy mòn
Trẻ em có cân nặng và chiều cao đều thấp so với lứa tuổi
Trẻ em trong độ tuổi 0-15 tuổi sống trong nhà không có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn
Một công trình đạt tiêu chuẩn
vệ sinh có thể là nhà tiêu có nước dội vào hệ thống thoát nước, nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu cải tiến có thông hơi, có nắp đậy và hố tiêu trộn phân.
Tình trạng
sử dụng nước sạch
Trẻ em trong độ tuổi 0-15 không được uống nước sạch
Nguồn nước sạch là nguồn nước đã được xử lý, bao gồm nước theo đường ống dẫn riêng, đường ống nước công cộng, nước giếng có bảo vệ, nước mưa và nước đóng chai 5
Lao động
trẻ em
Trẻ em tham gia lao động
Trẻ trong độ tuổi 5-15 làm việc có trả lương, tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của gia đình hoặc tự làm trong vòng 12 tháng qua
Lao động trẻ em bao gồm bất
kỳ công việc nào (không tính
số ngày và số giờ làm việc) cho một đứa trẻ sống xa gia đình (được trả lương và không được trả lương) cũng như tham gia vào hoạt động SXKD của gia đình (làm ruộng, SXKD của gia đình hoặc đi ăn xin) và tự làm trong vòng 12 tháng qua
6 Nghèo về
vui chơi
giải trí
Trẻ em không có đồ chơi
Trẻ trong độ tuổi 0-4 không
có đồ chơi kể cả tự làm hoặc mua
Trang 21Trẻ em không có sách/ truyện dành cho thiếu nhi
Trẻ trong độ tuổi 0-4 không
có một quyển sách/truyện dành cho thiếu nhi
Trẻ em trong độ tuổi 0-4 không có giấy khai sinh
1.2.3.1 Giáo dục
Rõ ràng, giáo dục là một lĩnh vực đại diện cho quyền phát triển của trẻ
em, có thể được xem như nhu cầu cơ bản và quyền con người Mỗi trẻ em đều
có nhu cầu giáo dục cho bản thân để có thể thực hiện vai trò như một chủ thểkinh tế độc lập trong tương lai và đảm bảo cuộc sống của mình
Chỉ số thích hợp nhất để phản ánh tình trạng giáo dục là tỷ lệ biết chữhoặc biết tính toán vì biểu thị rõ ràng kết quả giáo dục đối với trẻ em Tuy nhiênchỉ số này khó quan sát hoặc đo lường Tỷ lệ nhập học được sử dụng rộng rãinhư là các chỉ số để báo cáo về kết quả giáo dục trẻ em Về bản chất, tỷ lệ nhậphọc là chỉ số đầu vào hơn là chỉ số kết quả Tuy nhiên, nó thể hiện liệu trẻ em có
đi học và kết quả là nâng cao kỹ năng đọc viết và tính toán Nghèo theo tình trạng nhập học được xác định bởi việc một đứa trẻ không học ở cấp học phù hợp với độ tuổi của đứa trẻ đó
Chỉ số thứ hai về giáo dục là tỷ lệ trẻ không hoàn thành bậc tiểu học, xemxét cho trẻ em trong độ tuổi 11-15, được coi là tỷ lệ nghèo theo tình trạng tốtnghiệp Chỉ có cấp tiểu học là phù hợp vì theo định nghĩa, trẻ em là công dândưới 16 tuổi, do vậy không thể coi là nghèo nếu chưa tốt nghiệp trung học cơ sở
1.2.3.2 Y tế
Lĩnh vực y tế xem xét đến các chỉ số phản ánh tình trạng sức khỏe của trẻcũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Có sức khỏe tốt và tiếpcận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nhu cầu cơ bản của trẻ, đặc biệt bởinhững tác động ngắn hạn và dài hạn của nó Tình trạng sức khỏe kém hoặc thiếudịch vụ chăm sóc khi trẻ bị ốm có thể để lại ảnh hưởng tiêu cực trong cả cuộc đời
Việc xác định các chỉ số trong lĩnh vực nghèo phản ánh đúng tình trạng sứckhỏe và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế là một thách thức lớn Tỷ lệ tử vongthể hiện kết quả về y tế của trẻ nhưng những tỷ lệ này có thể thể hiện hoặc liênquan đến các vấn đề khác ngoài vấn đề nghèo (chẳng hạn di truyền) Chỉ số này
Trang 22cũng không quan sát được cho từng đứa trẻ riêng biệt vì số trẻ đã qua đời hoặckhông còn nằm trong số liệu nữa Mặc dù các chỉ số về sử dụng hoặc chất lượngcác cơ sở y tế là rất lý tưởng nhưng chỉ có thể đo lường ở trẻ em đã từng bị ốm.Các chỉ số về tiêm chủng cũng là một cách tốt để nghiên cứu nghèo trong lĩnh vực
y tế Chúng coi việc tiếp cận đến các dịch vụ y tế cho tất cả các trẻ (không kểchúng đã từng bị ốm hay chưa); đồng thời được coi là một biện pháp phòng ngừanhằm tránh giảm sút sức khỏe Cần lưu ý là ở đây đề cập đến tiêu chủng đầy đủ 8mũi quy định đối với trẻ em Việt Nam Chỉ khi trẻ được tiêm chủng đầy đủ gồm
vaccine chống bệnh lao (01 mũi), vaccine tổng hợp phòng chống bệnh bạch cầu,
ho gà, uốn ván (03 mũi), vaccine chống bệnh bại liệt (03 mũi) và vaccine chống bệnh sởi (01 mũi) thì mới được xem là được bảo vệ đúng cách.
1.2.3.3 Nhà ở
Ngôi nhà không những là nơi cư trú tránh các điều kiện khắc nghiệt củathời tiết mà còn là nơi sống, ngủ và là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triểncủa trẻ Trẻ em không nhà cửa hoặc nơi ở rõ ràng có thể được xem là dễ bị tổnthương và nghèo Đây cũng là vấn đề rất phù hợp với Việt Nam khi mà nhiều trẻ
em, đặc biệt là ở khu vực miền núi, vẫn chưa được sống trong những ngôi nhà tử
tế Trong lĩnh vực này, các chỉ số kết quả ở cấp độ gia đình chứ không phải cánhân trẻ vì trẻ em không sống trong nhà riêng mà thường là thành viên trong cơcấu hộ gia đình, sống cùng những người cung cấp nơi ở cho trẻ
Chỉ số đầu tiên phản ánh tình trạng nhà ở của trẻ em đó là nhà có điện haykhông Tỷ lệ nghèo trẻ em theo tình trạng sử dụng điện thể hiện tỷ lệ trẻ sốngtrong nhà không có điện Có điện sẽ đảm bảo ngôi nhà được thắp sáng, có điệncho tủ lạnh bảo quản thức ăn hay có thể dùng quạt vào mùa hè,… Đây là một hạtầng thiết yếu của ngôi nhà đảm bảo điều kiện sống thích hợp cho trẻ em
Hai chỉ số còn lại liên quan đến điều kiện chi tiết của ngôi nhà là tìnhtrạng sàn nhà và mái nhà Chỉ số về nhà ở do đó chỉ phản ánh số trẻ em khôngsống trong nhà ở tử tế bao gồm biệt thự, nhà kiên cố và nhà bán kiên cố Việcchọn tiêu chí nhà mái tranh và nền đất để xác định các nhà không đủ tiêu chuẩnđược xem là phù hợp với Việt Nam Những loại nhà này thường gắn liền vớinghèo và được xem là không thích hợp cho sự phát triển của trẻ và do đó được
sử dụng như là thành phần trong lĩnh vực nhà ở
1.2.3.4 Dinh dưỡng
Trang 23Vấn đề nghèo trẻ em trong lĩnh vực dinh dưỡng là tình trạng suy dinhdưỡng ở trẻ em Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu dinh dưỡng mà hậu quả là doviệc ăn uống không đủ chất và thường xuyên mắc các bệnh nhiễm khuẩn tái phátkéo dài Suy dinh dưỡng thường được xác định dựa vào cân nặng và chiều cao.
Nếu cân nặng thấp so với tuổi mà chiều cao vẫn bình thường thì gọi là suy dinh dưỡng thể nhẹ cân Nếu cân nặng bình thường và chiều cao thấp so với lứa tuổi thì gọi là suy dinh dưỡng thể thấp còi Cả cân nặng và chiều cao đều thấp so với tuổi thì gọi là suy dinh dưỡng gầy mòn.
1.2.3.5 Nước sạch và vệ sinh
Nước uống an toàn và công trình vệ sinh đúng tiêu chuẩn là một khía cạnhquan trọng cho sự phát triển của trẻ em và do đó được đưa vào một lĩnh vựcriêng Nước uống không an toàn và điều kiện vệ sinh kém có thể là nguyên nhânhoặc tác nhân dẫn đến bệnh dịch và sự lan tràn virus gây bệnh
Chỉ số đầu tiên trong lĩnh vực này là chỉ số về vệ sinh, nghiên cứu tỷ lệ trẻsống trong nhà không có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn, được gọi là tỷ lệ nghèo trẻ
em theo tình trạng vệ sinh Nói đến công trình vệ sinh là nói đến nhà xí hay nhà tiêu.Chiến lược quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã nêu rõ nhà tiêuhợp vệ sinh là phải “đảm bảo cho người sử dụng và các thành viên cộng đồng kháckhỏi nhiễm trùng từ chất thải ở nhà tiêu” Một công trình đạt tiêu chuẩn vệ sinh cóthể là nhà tiêu có nước dội vào hệ thống thoát nước, nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu cải tiến
có thông hơi, có nắp đậy và hố tiêu trộn phân Do đó tiêu chí quan trọng nhất củacông trình vệ sinh là người sử dụng không bị dính bẩn với phân trong nhà tiêu và cácchất thải không bị vấy bẩn vào nguồn nước phục vụ cho các mục đích khác
Nước uống an toàn là chỉ số thứ hai trong lĩnh vực này Chỉ số tỷ lệ trẻ emnghèo theo tình trạng nước uống đề cập đến tỷ lệ trẻ sống nhà không có nguồnnước sạch Đó là nguồn nước đã được xử lý, bao gồm nước theo đường ống dẫnriêng, đường ống nước công cộng, nước giếng có bảo vệ, nước mưa và nướcđóng chai Các nguồn nước không an toàn gồm có nước suối chưa được thanhlọc, giếng đào nhỏ, bể nước, nước sông, suối, hồ, ao và các nguồn không thuộccác nguồn nước an toàn đã được liệt kê ở trên
1.2.3.6 Trẻ lao động sớm
Lĩnh vực lao động trẻ em được tách ra thành một lĩnh vực riêng vì tầmquan trọng của nó đối với trẻ em Việt Nam Lĩnh vực này được xem là một lĩnhvực “tiêu cực” duy nhất trong danh sách phân tích vì lao động trẻ em không phải
Trang 24là nhu cầu hay quyền cơ bản của trẻ nhỏ mà thực ra là một trở ngại Vì vậy,thuật ngữ được sử dụng ở đây không phải là tỷ lệ nghèo trẻ em theo tình trạnglao động trẻ em mà chỉ đơn giản là nhắc đến tỷ lệ trẻ lao động sớm.
Trên thế giới có sự phân biệt rõ ràng giữa lao động trẻ em và trẻ em làmviệc Trẻ em làm việc là phù hợp với độ tuổi và thể chất có nghĩa là giúp cha mẹviệc nhà, giúp cha mẹ trong hoạt động kinh doanh buôn bán của gia đình hoặckiếm tiền tiêu vặt bằng cách làm thêm ngoài giờ học hoặc trong kỳ nghỉ Các hoạtđộng trên góp phần vào sự phát triển của trẻ em cũng như tình hình kinh tế củagia đình, giúp cho trẻ có được một số kỹ năng và kinh nghiệm, đồng thời chuẩn bịcho trẻ trở thành những thành viên có ích của xã hội khi trưởng thành Ngược lại,lao động trẻ em theo định nghĩa nêu trong CRC là một hình thức bóc lột kinh tếđối với trẻ em Lao động trẻ em bao gồm bất cứ loại hình công việc nào có tínhchất độc hại, hoặc gây cản trở việc học hành, hoặc có hại cho sức khỏe hay thể sựphát triển thể chất, tâm lý, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ Lao động trẻ emkhiến trẻ bị tước đi tuổi thơ, tiềm năng cũng như nhân phẩm của các em Việc xácđịnh những hình thức lao động nào thì được coi là “lao động trẻ em” còn phụthuộc vào độ tuổi, loại hình và cường độ lao động, điều kiện lao động và mục tiêucủa từng quốc gia Câu trả lời chính xác phụ thuộc vào từng quốc gia cũng nhưphụ thuộc vào từng ngành cụ thể Nhưng nếu đã là lao động trẻ em thi không cầnthêm các chỉ số về số giờ làm việc của trẻ mỗi ngày với lý do quan trọng nhất làtrẻ em dưới 16 tuổi không được phép làm việc, chúng không nên bị bất cứ trởngại nào cho tập trung vào học tập hoặc phát triển bản thân
1.2.3.7 Vui chơi giải trí
Mặc dù không thường xuyên được tính như là một lĩnh vực riêng biệt vềnghèo nhưng có thể coi vui chơi giải trí là một nhu cầu và là một quyền cơ bảncủa trẻ em Do đó, thành phần đầu tiên trong lĩnh vực này liên quan đến đồ chơicủa trẻ Đồ chơi đóng vai trò quan trọng, kích thích sức sáng tạo của trẻ và làmột trong một số ít các vật dụng trong gia đình dành riêng cho trẻ em Cần phânbiệt rõ giữa những vật được coi là đồ chơi và những đồ vật được sản xuất vớimục đích sử dụng là đồ chơi cho trẻ Những vật dụng như đồ bếp, gậy, đá hoặccác đồ bỏ đi không phải là đồ chơi thích hợp cho trẻ em Tuy nhiên đồ chơi tựlàm hoặc được mua là tiêu chí rất phù hợp để đánh giá tình hình của một đứa trẻ
về phương diện giải trí Trẻ không có đồ chơi tự làm hoặc mua ngoài cửa hàngđược thể hiện ở trong thành phần nghèo trẻ em về đồ chơi
Trang 25Thành phần thứ hai là xem xét liệu đứa trẻ có truyện thiếu nhi hoặc truyệntranh hay không Đọc sách là một hoạt động giải trí nhưng cũng là một hoạtđộng quan trọng cho sự phát triển của trẻ nhỏ Trẻ em nghèo về sách truyện chobiết thông tin về trẻ không có truyện hoặc sách thiếu nhi Cả hai thành phần nàyđều áp dụng cho trẻ từ 5 tuổi trở xuống.
1.2.3.8 Thừa nhận và bảo trợ xã hội.
Thừa nhận và bảo trợ xã hội tức là thừa nhận đứa trẻ trong gia đình vàtrong cơ cấu của cộng đồng, đảm bảo đứa trẻ nhận được sự quan tâm chăm sóccủa người nuôi dưỡng và sự tham gia cũng như tiếp cận với các hoạt động vàdịch vụ xã hội Một số các quyền khác như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡngcũng được xếp vào lĩnh vực này
Tình trạng được đăng ký khai sinh đối với trẻ dưới 5 tuổi được sử dụng đểcung cấp thông tin về mức độ khả năng tham gia và tiếp cận các hoạt động và dịch
vụ xã hội của trẻ em Nếu trẻ em không đăng ký khai sinh thì sẽ không được tiếp cậncác dịch vụ xã hội cơ bản như chăm sóc sức khỏe hay giáo dục Điều này là trở ngạilớn với việc thừa nhận xã hội và các hình thức bảo trợ xã hội Vì vậy, tình trạng đăng
ký khai sinh là thành phần duy nhất được sử dụng khi xét đến lĩnh vực này
1.2.4 Các thước đo nghèo đa chiều trẻ em tổng hợp
Trong Báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu? – Xây dựng và ápdụng cách tiếp cận đa chiều về nghèo trẻ em” do Tiến sỹ Chris de Neubourgh,Tiến sỹ Franciska Gassman và Keetie Roelen biên soạn, hai thước đo nghèo đachiều trẻ em đã được đưa ra dựa trên hai tiêu chí:
- Thứ nhất là tính hai mặt trong mục đích của phương pháp tiếp cận nghèo
đa chiều trẻ em, đó là mục đích vận động chính sách (cần kết quả giảnlược, dễ hiểu) và mục đích làm đầu vào cho các chính sách (đòi hỏi thôngtin chi tiết, kỹ lưỡng hơn)
- Hai là, tính khả thi trong thực hiện
Hai thước đo nghèo đa chiều trẻ em là: Tỷ lệ nghèo (đa chiều) trẻ em(Child Poverty Rate - CPR) và Chỉ số nghèo (đa chiều) trẻ em (Child PovertyIndex - CPI) Tỷ lệ nghèo trẻ em phản ánh số phần trăm trẻ em nghèo đa chiều.Chỉ số nghèo trẻ em (CPI) là một chỉ số tổng hợp giúp theo dõi hiệu quả hoạtđộng của các địa điểm thông qua xếp hạng các địa điểm ấy về CPI và qua đó cócái nhìn về vấn đề nghèo đa chiều trẻ em một cách tổng quan
1.2.4.1 Tỷ lệ nghèo trẻ em (CPR)
Trang 26Tỷ lệ nghèo trẻ em là sản phẩm đầu ra phù hợp với mục đích vận động chínhsách, đảm bảo tính khả thi và có thể được dùng như một phương tiện truyền thông.
Tỷ lệ trẻ sống trong tình trạng nghèo khiến cho khái niệm nghèo trẻ em trở nên dễhiểu và tiếp cận được đối với công chúng nhờ vào thế mạnh trực quan của nó
Tỷ lệ nghèo trẻ (CPR) là phương pháp tính đầu người và thể hiện tỷ lệ trẻ
em được coi là nghèo đa chiều Để tính CPR, một đứa trẻ được xác định là nghèo khi nghèo ở ít nhất 2 lĩnh vực trong số 8 lĩnh vực đã được đề cập Đứa trẻ
đó được xác định là nghèo trong một lĩnh vực cụ thể nào đó khi không đạt được mức ngưỡng được đặt ra trong ít nhất một thành phần trong lĩnh vực đó Ví dụ,
nếu một đứa trẻ không được tiêm phòng đầy đủ thì nó được coi là nghèo về y tế.Nếu như đứa trẻ đó sống trong nơi không có điện thì nó được coi là nghèo vềnhà ở Và vì vậy, đứa trẻ này bị coi là nghèo đa chiều
Do vậy, tính toán CPR đòi hỏi phải có số liệu vi mô ở cấp độ từng trẻ Nóicách khác chỉ có thể sử dụng số liệu điều tra để ước lượng những con số này.Phương pháp này yêu cầu phải có thông tin về từng chỉ số cho từng trẻ Cần phảixem đứa trẻ đó nghèo ở một, hai, hay nhiều lĩnh vực để xác định tình trạngnghèo của nó Kết quả là không thể tính toán CPR dựa trên các số liệu tổng hợpnhư số liệu hành chính
1.2.4.2 Chỉ số nghèo trẻ em (CPI)
Chỉ số nghèo trẻ em CPI là một chỉ số tổng hợp về nghèo trẻ em, kết hợpcác chỉ số riêng lẻ vào các chỉ số theo từng lĩnh vực và kết hợp các chỉ số theolĩnh vực thành một thước đo kết quả đầu ra đơn nhất Chỉ số này có thể được sửdụng để so sánh mối tương quan giữa các vùng theo thứ hạng của các vùng Hạnchế của CPI là thiếu tính giải thích trực quan Giá trị của CPI là kết quả tính toánthống kê và biến đổi, không thể hiện giá trị bằng số có thể giải thích trực quan.Bảng xếp hạng CPI có thể thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách tập trung hơnvào vấn đề nghèo trẻ em tại các vùng có kết quả thấp Việc tính toán CPI đượctiến hành qua một quá trình gồm 3 bước:
Bước 1:Tính tỷ lệ nghèo trẻ em theo từng thành phần của từng lĩnh
vực Tỷ lệ nghèo trẻ em theo thành phầnlà tỷ lệnhững trẻ em không đáp ứng một
giới hạn đã được xác định của thành phần ấy trên tổng số trẻ em được quan sát.
Khác với những tính toán CPR, số liệu sử dụng không nhất thiết là số liệu vi mô,
có thể là số liệu vĩ mô ở vùng địa lý khi so sánh
Trang 27Bước 2: Giá trị chỉ số nghèo trẻ em theo lĩnh vực được tính bằng cách
tính trung bìnhtỷ lệ nghèo trẻ em theo thành phần cho từng lĩnh vực: Tổng Tỷ lệ nghèo trẻ em theo chỉ số trong một lĩnh vực chia cho số chỉ số trong lĩnh vực đó.
Bước 3:Chỉ số nghèo trẻ em tổng hợp dựa trên giá trị chỉ số nghèo trẻ
em theo lĩnh vực bằng cách tính tổng các bình phương của các giá trị chỉ sốnghèo trẻ em theo lĩnh vực rồi lấy tổng đó chia cho số lĩnh vực
Về phương pháp luận được sử dụng, CPI cũng có thể được coi là một chỉ
số về mức độ nghèo theo lĩnh vực bình phương Việc sử dụng cách đánh trọng
số phù hợp trong bối cảnh này do tình trạng nghèo trẻ em ở lĩnh vực nào càngnghiêm trọng sẽ được đánh trọng số cao hơn Ngoài ra, áp dụng phương phápnày đối với các điểm số nghèo trẻ em theo lĩnh vực hơn là các điểm số nghèo trẻ
em theo chỉ số ngụ ý rằng tính chất bù trừ được thể hiện trong một lĩnh vực cụthể chứ không phải là giữa các lĩnh vực Trong một lĩnh vực cụ thể, tình trạngnghèo trẻ em xấu đi trong một thành phần có thể được bù đắp bởi kết quả tốt ởmột thành phần khác Tính chất bù đắp toàn diện giữa các lĩnh vực sẽ khôngđược sử dụng khi áp dụng các điểm số bình phương có trọng số theo lĩnh vực
Ví dụ như Tỷ lệ nghèo trẻ em cao trong lĩnh vực y tế không thể được bù đắp bởi
tỷ lệ nghèo trẻ em thấp trong lĩnh vực vệ sinh, nước sạch Điều này được cho làthể hiện khá rõ nét tình hình thực tế ở trẻ em do tình trạng nghèo trong một lĩnhvực không thể đơn giản là được bù đắp bởi lĩnh vực khác
Trang 28KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương I đã đưa ra khái niệm về nghèo đa chiều trẻ em và cách nhận diệnnghèo đa chiều trẻ em là sự áp dụng vào đối tượng trẻ em dựa trên quan niệm vềnghèo khổ đa chiều nói chung và hai thước đo đo lường nghèo khổ đa chiều HPI
và MPI Đồng thời, hai thước đo đo lường nghèo đa chiều trẻ em là Tỷ lệ nghèo
đa chiều trẻ em và Chỉ số nghèo đa chiều trẻ em do do Tiến sỹ Chris deNeubourgh, Tiến sỹ Franciska Gassman và Keetie Roelen biên soạn trong Báocáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu? – Xây dựng và áp dụng cách tiếp cận
đa chiều về nghèo trẻ em” được đưa ra trên cơ sở cách nhận diện nghèo đa chiềutrẻ em Qua đó, xây dựng cái nhìn tổng quan và sâu sắc về vấn đề nghèo đachiều trẻ em Chương II sẽ nêu lên những nét tổng quan về nghèo đa chiều trẻ
em Việt Nam để làm nổi bật nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên cũng sẽ đượcnêu ra trong chương này
Trang 29CHƯƠNG II: NGHÈO ĐA CHIỀU Ở TRẺ EM TỈNH ĐIỆN BIÊN
2.1 Tình hình nghèo đa chiều trẻ em Việt Nam
2.1.1 Những nét chính về nghèo đa chiều trẻ em Việt Nam
Áp dụng cách tiếp cận nghèo đa chiều đối với bộ số liệu MICS(Điều trađánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ) và VHLSS (Điều tra mức sống hộ giađình Việt Nam) năm 2006 cho thấy, khoảng 1/3 số trẻ em dưới 16 tuổi là nghèo,tương ứng khoảng 7 triệu trẻ em Không có sự khác biệt nào đáng kể giữa trẻ emnam và nữ, nhưng có sự khác biệt lớn giữa khu vực thành thị - nông thôn, và sựkhác biệt giữa các vùng miền Các lĩnh vực đáng quan tâm nhất của nghèo trẻ
em là dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường, vui chơi giải trí và y tế.
Một phần ba trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể thấp còi Cứ 3 em thì có hơn
1 em không được tiêm chủng đầy đủ trước 5 tuổi Gần một nửa số trẻ em không được tiếp cận với các công trình vệ sinh gia đình và 2/3 không có lấy một quyển truyện thiếu nhi hoặc truyện tranh để đọc
Tính chung trong phạm vi cả nước, tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều (28,9%)cao hơn tỷ lệ trẻ em nghèo vật chất (20,7%) (năm 2008) Điều này chứng tỏnhững đứa trẻ có thể không nghèo vật chất, tức là sống trong các hộ gia đình cómức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người cao hơn chuẩn nghèo nhưngvẫn không được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu phát triển theo các lĩnh vực trên vàvẫn thuộc diện nghèo đa chiều
Hình 2.1 Tỷ lệ nghèo đa chiều so với nghèo vật chất ở trẻ em và nghèo đói
(Nguồn: GSO Kết quả khảo sát Mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008)
Trang 30Tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều ở khu vực nông thôn (khoảng 34%) cao hơn
so với khu vực thành thị (khoảng12,5%) (năm 2008) Tỷ lệ nghèo đa chiều cũngcao hơn nghèo vật chất tính chung ở thành thị và nông thôn
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo tiền tệ và đa chiều trẻ em ở thành thị và nông thôn (%)
(Nguồn: GSO Kết quả khảo sát Mức sống hộ gia đình Việt Nam năm
2008)
Theo vùng, tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất ở Tây Bắc (64.6%), thấp nhất ởĐồng bằng sông Hồng (12%) (năm 2008)
Hình 2.3 Tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều (%)
(Nguồn: GSO Kết quả khảo sát Mức sống hộ gia đình Việt Nam năm
2008)
Tỷ lệ trẻ em nghèo đa chiều theo 7 lĩnh vực (năm 2008) cho thấy các lĩnhvực y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường, vui chơi giải trí có tỷ lệ nghèo cao nhất
Trang 31Hình 2.4 Tương quan tỷ lệ trẻ em nghèo các lĩnh vực(%)
Hình 2.5 Tỷ lệ trẻ em nghèo tiền tệ và nghèo đa chiều theo dân tộc
(Nguồn: GSO - Kết quả khảo sát Mức sống hộ gia đình Việt Nam năm
Trang 322.1.2 CPR và CPI của trẻ em Việt Nam
2.1.2.1 CPR của trẻ em Việt Nam
Bảng dưới đây trình bày kết quả tổng hợp Tỷ lệ nghèo đa chiều trẻ em ViệtNam dựa trên số liệu MICS Đây là kết quả được tính toán bởi UNICEF dựa trên
bộ số liệu MICS 2006 do đó không có lĩnh vực dinh dưỡng Hiện tại MICS đã có
bộ số liệu có được từ điều tra năm 2010 – 2011 với đầy đủ các lĩnh vực và chỉ sốhơn nhưng CPR đòi hỏi số liệu vi mô do đó khi không có nguồn số liệu vi mô này,bài nghiên cứu này chỉ đưa ra kết quả tổng hợp của Việt Nam năm 2006
Bảng 2.1 Kết quả Tỷ lệ nghèo đa chiều trẻ em năm 2006 Đơn vị: %
MICS,n=10874
Kết quả này cho thấy Tây Bắc, vùng tập trung các dân tộc thiểu số, có tỷ
lệ nghèo đa chiều trẻ em cao nhất và vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ nghèo
đa chiều trẻ em thấp nhất
Trang 332.1.2.2 CPI của trẻ em Việt Nam
Bảng dưới trình bày thứ hạng của các vùng dựa trên CPI tổng quát cho tất
cả các lĩnh vực và cho từng lĩnh vực Thứ hạng được sắp xếp theo thứ tự mức độnghiêm trọng của nghèo tăng dần, tức thứ tự tăng dần của CPI
Bảng 2.2 Xếp hạng các vùng theo CPI
Nghèo về giáo dục
Nghèo
về y tế
Nghèo
về nhà ở
Nghèo
về nước sạch và
vệ sinh
Trẻ lao động sớm
Nghèo
về vui chơi giải trí
Thừa nhận
xã hội và bảo trợ xã hội
CP I
2.2 Tại sao nghiên cứu nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên
2.2.1 Ý nghĩa tự nhiên – kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên
2.2.1.1 Tự nhiên
Điện Biên là tỉnh nằm ở khu vực Tây Bắc đất nước, với diện tích 9.563 km2.Điện Biên có đường biên giới tiếp giáp với Lào dài 360 km và đường biên giới tiếpgiáp với tỉnh Yunnan Trung Quốc dài 40 km Toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính baogồm: thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay và 7 huyện vùng nông thôn vớitổng số 112 xã phường và thị trấn, trong đó có 72 xã đặc biệt khó khăn Trong số 7huyện vùng nông thôn có 4 huyện nghèo (nằm trong số 62 huyện nghèo của cả nước)
Trang 34Về mặt địa hình, Điện Biên là tỉnh đồi núi chia cắt nằm ở độ cao trên1800m, 70% diện tích đất có độ dốc trên 25o Nằm ở trung tâm của tỉnh là thunglũng Mường Thanh có diện tích 150 km2 nằm ôm trọn thành phố Điện Biên Phủ.
Nhận xét: Như vậy, Điện Biên là một tỉnh có đường biên giới dài, có vị trí
chiến lược nhưng cũng là một tỉnh miền núi địa hình hiểm trở nên rất khó khăn trongphát triển kinh tế Các chính sách phát triển, do đó, cần được phát huy ở tỉnh nàynhằm đưa tiềm năng và sự phát triển của tỉnh tương xứng với vị trí chiến lược này
2.2.1.2 Kinh tế
Điện Biên có mức tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây với việctiềm năng một số ngành đã được phát triển với hiệu quả cao như nông nghiệp,lâm nghiệp, du lịch, thủy điện,… GDP thực tế tăng trung bình 9% trong giaiđoạn 2005 – 2010 Năm 2010, tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp, lâmnghiệp, hải sản là 6%, công nghiệp và xây dựng là 16,2% và dịch vụ là 12,6%
Cơ cấu kinh tế địa phương đã được duy trì ổn định trong giai đoạn này với nôngnghiệp, lâm nghiệp, hải sản chiếm 37,1%, công nghiệp và xây dựng chiếm25,7% và dịch vụ chiếm 37,2% tổng sản phẩm GDP năm 2010
Theo kết quả VHLSS, thu nhập bình quân đầu người/tháng ở Điện Biên đãtăng gấp đôi từ 224.000 VNĐ năm 2004 đến 485.000 VNĐ năm 2008 Mặc dù thunhập bình quân đầu người tăng khá nhanh nhưng vẫn thấp hơn hẳn so với mức bìnhquân chung cả nước là 995.000 VNĐ năm 2008 như báo cáo VHLSS chỉ ra
Việc đa dạng hóa các nguồn thu nhập là yếu tố quan trọng trong chiến lượcsinh kế hộ gia đình ở khu vực Tây Bắc 94,3% hộ gia đình nông thôn ở Điện Biên có
từ hai đến ba nguồn thu nhập so với mức bình quân của 12 tỉnh Tây Bắc là 81%(năm 2009) Phần lớn các hộ gia đình ở những khu vực này cũng nhận được hỗ trợtài chính của nhà nước Mặt khác, tỷ lệ hộ gia đình tham gia vào các hoạt động kinhdoanh ở Điện Biên (17%) thấp hơn mức bình quân chung ở các tỉnh (25%) Thêmvào đó, thu nhập ở các vùng nông thôn khu vực Tây Bắc sẽ tiếp tục phụ thuộc vàonông nghiệp, lâm nghiệp, và sản xuất thủy hải sản hơn các khu vực khác ở vùngĐông Bắc hay Tây Nguyên Mức độ chuyên môn hóa các nguồn thu nhập và việc đadạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp còn hạn chế
Nhận xét: Tỉnh Điện Biên có sự đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng
kinh tế của cả nước và đang nỗ lực nâng cao thu nhập bình quân đầu người cho từng
cá nhân Tuy nhiên, chiến lược sinh kế và thu nhập của các hộ gia đình không vữngchắc và chủ yếu dựa vào khu vực nông thôn Vì vậy, nghiên cứu nghèo đa chiều trẻ
Trang 35em tỉnh Điện Biên nhằm góp phần tăng chất lượng tăng trưởng của tỉnh (chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân) thông qua nỗ lực giảm tỷ lệnghèo đa chiều trẻ em – nguyên nhân của vong luẩn quẩn nghèo khổ
2.2.1.3 Xã hội
Tổng dân số tỉnh Điện Biên năm 2010 là 507.921 người; trong đó có153.265 trẻ em dưới 16 tuổi chiếm tỷ lệ 30,2% dân số Dân tộc thiểu số chiếmkhoảng 80% tổng dân số toàn tỉnh, tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn
Điện Biên có mật độ dân số là 52 người/km2, đứng thứ 3 toàn quốc Tuyvậy, ngay trong địa bàn tỉnh, mật độ này khá đa dạng, từ 22 người/km2 ở huyệnMường Nhé tới 760 người /km2 ở thành phố Điện Biên Phủ Một điều đáng chú
ý là hai huyện xa nhất Mường Nhé và Mường Chà chiếm gần một nửa diện tích
tự nhiên của tỉnh nhưng chỉ chiếm 20% dân số toàn tỉnh
Trong suốt thập kỷ qua, Điện Biên đã có những bước chuyển lớn về cơ cấu độ
tuổi dân số Trước hết, trong khi dân số trẻ em dưới 10 tuổi chiếm 29,5% tổng dân số
trong năm 1999, con số này đã giảm xuống còn 19,53% trong năm 2010 và được dựbáo là sẽ còn giảm tiếp Điều này cũng tương đồng với việc giảm tỷ suất sinh chung(từ 2,59% năm 2005 xuống 2,33% năm 2010) cũng như việc giảm quy mô hộ gia
đình (từ 5,9 người năm 2004 còn 5,2 người năm 2010) Thứ hai, dân số trong độ tuổi
lao động và lực lượng lao động đã tăng trong giai đoạn này và sẽ tiếp tục tăng đáng
kể trong 2 thập kỷ tới Do vậy, việc tạo cơ hội việc làm và kiếm sống cho số lượngngày càng tăng học sinh tốt nghiệp các trường học và lực lượng lao động trẻ sẽ làvấn đề ưu tiên của chính quyền địa phương trong những năm tới
Điện Biên có 21 dân tộc thiểu số, trong đó, dân tộc Thái chiếm 40,5%,H’Mông chiếm 29%, Kinh chiếm 20% và các nhóm còn lại chiếm 10,5% Trong cácnhóm dân tộc còn lại thì phổ biến hơn cả là dân tộc Khơ Mú, Dao, Giáy, Hà Nhì,Lào và La Hủ Tỉnh cũng có một nhóm dân tộc thiểu số ít người – nhóm Si La, màchính phủ đang hỗ trợ các dự án phát triển để bảo tồn Nhóm này trên cả nước chỉcòn không tới 1000 người, trong đó có khoảng 200 người sinh sống tại tỉnh ĐiệnBiên, chủ yếu ở một bản thuộc huyện Mường Nhé Người dân tộc thiểu số phân bốkhông đồng đều từ 1% ở thành phố Điện Biên Phủ tới trên 99% ở huyện Điện BiênĐông và Mường Nhé Tại nhiều xã và thôn bản có những nhóm dân tộc thiểu sốsống cạnh nhau Cách thức định cư phức hợp và sự gắn kết giữa các nhóm dân tộcthiểu số như vậy có ảnh hưởng lớn tới việc định hướng ưu tiên cho các chương trìnhmục tiêu cũng như việc cung cấp các dịch vụ xã hội Ví dụ, các phương pháp tiếp
Trang 36cận chuẩn quốc gia để tăng cường sự tham gia của người dân, giáo dục song ngữ,cung cấp thông tin bằng văn bản, chăm sóc sức khỏe sinh sản là khó thực hiện vàkhó đạt ở những vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và đa dạng về ngôn ngữ.Trong xã có một số người chỉ nói được Thái hoặc tiếng H’Mông hoặc tiếng KhơMú,… Khi vào các hộ kém hiểu và giao tiếp bằng tiếng phổ thông hạn chế (ngườidân ở nhóm tuổi từ 35 trở lên, 40% dân số nam biết chữ và 80% nói được tiếng phổthông; còn với nữ chỉ có khoảng 10% biết chữ & 30% nói được tiếng phổ thông),cách làm là đưa tranh ra để xem, tuyên truyền cho họ.
Điện Biên là tỉnh chậm phát triển, nên tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao;theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2010, tính đến ngày31/12/2010, toàn tỉnh có 103.259 hộ, trong đó có 51.644 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ50,01%, có 8.617 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 8,3 (tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cảnước) Như vậy, có một số lượng lớn trẻ em đang sống trong gia đình nghèo,nếu tính trung bình mỗi hộ nghèo có 01 em thì toàn tỉnh có 51.657 em sốngtrong hộ nghèo, chiếm 33,7 % dân số trẻ em, đây là một đối tượng rất cần đượcquan tâm, trợ giúp tại cộng đồng (Phụ lục 1)
Một điều đáng nói là từ năm 2008, gần 100% số hộ nghèo là người dântộc thiểu số, điều đó cho thấy còn lại rất ít người Kinh thuộc các hộ gia đìnhnghèo Nghèo đói thường không phân bố đồng đều giữa các nhóm dân tộc trongcùng huyện mà tập trung ở một số nhóm dân tộc Ví dụ, ở huyện Tủa Chùa,nghèo đói tập trung cao nhất ở dân tộc H’Mông (60,45%) trong khi thấp hơn rấtnhiều ở nhóm người Thái và dân tộc Kinh (Phụ lục 2) Cần chú ý là nhóm ngườiHoa Kiều (Trung Quốc) có tỷ lệ nghèo khá cao (45,3%) trong khi đó nhiều báocáo gộp cả người Hoa và người Kinh Tỷ lệ nghèo của các nhóm dân tộc ítngười là một vấn đề đáng quan tâm và điều này cũng cho thấy cần tìm hiểu kỹnguyên nhân làm cơ sở xây dựng các giải pháp cho phù hợp
Nhận xét: Đặc thù của tỉnh Điện Biên là vùng tập trung nhiều dân tộc
thiểu số, điều này ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ hộ nghèo cao của tỉnh Mặt khác, cácvấn đề như tỷ lệ trẻ em trong tỉnh cao, tỷ lệ người bước vào độ tuổi lao độngtăng, mật độ dân cư và phân bố dân cư, nhất là người dân tộc thiểu số, khôngđồng đều đã khiến cho Điện Biên là tỉnh tập trung những vấn đề xã hội bức xúcnhất trong cả nước mà đôi khi, do công tác thu thập số liệu, thông tin còn kém,những vấn đề ấy chưa được đưa ra và giải quyết Nghiên cứu nghèo đa chiều trẻ
em của tỉnh hi vọng sẽ giải quyết được những vấn đề ấy
Trang 372.2.2 Tỉnh Điện Biên nằm trong ưu tiên của Chương trình mục
tiêu quốc gia về giảm nghèo
“Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống củangười nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;tạo sự chuyển biến mạnh mẽ,toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cáchchênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhómdân cư” Đây là mục tiêu tổng quát của Nghị quyết 80/NQ-CP về định hướnggiảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
Có thể nói, một trong những sự kiện của năm 2011 là Chính phủ ban hànhChính sách giảm nghèo theo Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướnggiảm nghèo bền vững giai đoạn 2011- 2020 Nếu trước đây chỉ làm 1 chương trìnhmục tiêu quốc gia về giảm nghèo, thì bây giờ, Nghị quyết 80 đã tách ra để huyđộng được nhiều nguồn lực xã hội, nâng cao trách nhiệm của các cấp, còn tập trung
ưu tiên cho các huyện nghèo Bên cạnh đó việc triển khai Đề án 30a của Chính phủ
về hỗ trợ 62 huyện nghèo giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững Hiện nay,khoảng cách chênh lệch giữa các huyện nghèo với các huyện phát triển vẫn còn rấtlớn, cả về hạ tầng và sản xuất Cần phải cố gắng hẹp khoảng cách này
Quốc hội đã thông qua danh mục Chương trình mục tiêu quốc gia cho 5năm tới, trong đó có chương trình giảm nghèo, bắt đầu từ năm 2012 Chươngtrình tập trung cho 62 huyện nghèo cộng với 7 huyện mới được Thủ tướng bổsung thêm vào diện 30a Các xã nằm trong Chương trình 135, các xã biên giới,ngang biển, hải đảo cũng tiếp tục được tập trung đầu tư
Tỉnh Điện Biên là một tỉnh miền núi, đa dạng về các dân tộc, có 7 huyện trong
đó có 4 huyện nằm trong 62 huyện nghèo được hỗ trợ của Chỉnh phủ trong Đề án 30a
và vì vậy cần tận dụng sự hỗ trợ và ưu tiên này để có kết quả giảm nghèo tốt hơn
2.2.3 Tỉnh Điện Biên tiềm ẩn những nguy cơ của nghèo đa chiều
Đặc điểm địa lý cách biệt, mật độ dân cư không đồng đều, quá thưa thớt ởmột số nơi và địa hình đồi núi hiểm trở có ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc cungcấp các dịch vụ xã hội cơ bản Đó là bởi chi phí đầu tư hạ tầng, chi phí giao dịch,chi phí cấp phát dịch vụ tính theo đầu người (như chi phí nhân sự, chi phí đi lạihay chi phí vận chuyển vật liệu,…) cao hơn hẳn Tuy nhiên, chi phí đội lên củaviệc cung cấp dịch vụ ở vùng sâu vùng xa đều không được phản ánh đầy đủ trong
Trang 38quá trình xây dựng và lập ngân sách thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế xã hộicủa địa phương cũng như trong hệ thống định mức chi tiêu của Chính phủ.
Trong những năm gần đây, tỉnh đã đầu tư đáng kể vào lĩnh vực kinh tế và hạtầng xã hội Mặc dù vậy, hạ tầng thấp kém vẫn được xem là rào cản cho việc pháttriển kinh tế và cung cấp dịch vụ xã hội, nhất là đối với các xã và huyện vùng sâuvùng xa Theo số liệu từ Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2010 của tỉnh, trongkhi phần lớn các xã khu vực nông thôn có đường tới trung tâm xã, cũng chỉ cókhoảng 70% số đó có đường ô tô đến xã; khoảng 77% số xã có điện lưới quốc gia.Tuy vậy, cũng còn nhiều bản và nhiều hộ vẫn chưa có điện ngay cả khi họ thuộcnhững xã đã có điện đi qua Các xã và thị trấn đều có bưu điện và điện thoại Tínhđến năm 2010, mặc dù 100% số xã có trạm y tế, mới chỉ có 42% số đó đạt chuẩnquốc gia Ước tính, có khoảng 75% dân số nông thôn và 78% dân số thành thị tiếpcận được với nước sạch Mặc dù hệ thống cấp nước đã được cải thiện, vẫn còn nhiềungười dân vùng cao rơi vào cảnh thường xuyên thiếu nước, nhất là vào mùa khô
Vấn đề dân tộc thiểu số là yếu tố then chốt nhất ảnh hưởng tới sự khácbiệt về nghèo đói cũng như các chỉ tiêu về sự sống còn và phát triển của trẻ trênđịa bàn tỉnh Tuy nhiên một thực tế là tỉnh thiếu nghiêm trọng số liệu chínhthống để khám phá các dạng khác biệt đó, làm cơ sở xây dựng kế hoạch và phân
bổ nguồn lực Điều này một phần là do Điện Biên mới được tách ra từ tỉnh LaiChâu từ đợt tổng điều tra dân số năm 1999 Do vậy số liệu liên quan đến dân sốrất khó ngoại suy Niên giám thống kê của tỉnh chỉ có 2 thông tin chính liênquan đến dân tộc thiểu số đó là tổng số giáo viên và học sinh dân tộc thiểu sốtrong giáo dục phổ thông, và số cặp vợ chồng có trên 2 con
Các hộ gia đình của tỉnh nhìn chung có tỷ lệ chi tiêu từ nguồn thu nhập cũngnhư tiết kiệm của mình cho lương thực, thực phẩm và nhiên liệu cao (58,7% trongnăm 2008) hơn các khu vực khác và hơn cả mức bình quân quốc gia (46,1% năm2008) Tỷ trọng chi tiêu hộ gia đình cho lương thực và ăn uống là một tiêu chí hữuích để đánh giá mức sống Tỷ trọng chi càng nhiều có nghĩa là mức sống càng thấp.Tiếp theo, các hộ gia đình ở đây này dành ít thu nhập của mình để chi cho điện,nước và vệ sinh (2,3% so với mức bình quân chung của quốc gia là 6,4%), giáo dục(3,8% so với mức bình quân chung của quốc gia là 6,2%) (Phụ lục 3) Điều này chỉ
ra một thực trạng là nhiều hộ gia đình của tỉnh có rất ít tiết kiệm bằng tiền mặt haycác nguồn thu nhập thay thế để cải thiện cuộc sống Trong bối cảnh như vậy, ưu
Trang 39tiên hàng đầu của các hộ gia đình thường là phải đảm bảo được cung ứng lươngthực và an ninh lương thực hơn là giáo dục và chăm sóc y tế
2.3 Phương pháp đánh giá nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên
2.3.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu
Phương pháp này nhằm đo lường nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biêntheo các thước đo nghèo đa chiều trẻ em đã được giới thiệu bởi UNICEF Trongbài học kinh nghiệm của báo cáo “Trẻ em nghèo Việt Nam sống ở đâu?”,UNICEF đã khuyến nghị “Cố gắng thu thập số liệu ở cấp tỉnh sẽ giúp tăng tínhhữu dụng của Chỉ số nghèo đa chiều trẻ em” Bởi vì, hiện nay, Tỷ lệ nghèo đachiều trẻ em và Chỉ số nghèo đa chiều trẻ em mới chỉ được tính toán ở cấp quốcgia và cấp vùng do số liệu ở các đơn vị địa lý thấp hơn là không có Vùng đượccoi là vùng giám sát những không đại diện cho một cấp thiết kế và thực thi chínhsách Ngoài ra, tỉnh là cấp chính sách thứ hai sau cấp quốc gia, ở đó, các nhàhoạch định chính sách có thể trả lời cho các kết quả chính sách Việc tính toán Tỷ
lệ nghèo và Chỉ số nghèo đa chiều trẻ em ở cấp tỉnh và xếp hạng các tỉnh theo chỉ
số này có khả năng đưa ra các hàm ý chính sách trong vấn đề nghèo trẻ em
Với lý do trên bài nghiên cứu tiến hành điều tra chọn mẫu để tính toán haithước đo đo lường nghèo đa chiều trẻ em đối với tỉnh Điện Biên như khuyếnnghị của UNICEF Theo đó, cuộc điều tra sẽ tiến hành phát phiếu điều tra hoặchỏi trực tiếp (với người không có khả năng đọc) để điều tra tình trạng mức sốngcủa từng cá nhân trong cuộc điều tra Phiếu điều tra được chia thành hai loại,một là dành cho trẻ em từ 11 đến 16 tuổi do chính các em điền, một là cho trẻ
em từ 0 đến 10 tuổi do bố mẹ các em điền Cuộc điều tra tiến hành với 192phiếu ở 3 địa điểm: TP Điện Biên Phủ, huyện Điện Biên, huyện Mường Chàtheo thứ tự về mức độ phát triển kinh tế - xã hội từ cao đến thấp Điều tra đượctiến hành với 4 em mỗi độ tuổi từ 0 đến 15 tuổi và mỗi địa điểm sẽ tiến hànhđiều tra 64 em Các câu hỏi tập trung vào các chỉ số nghèo trẻ em đã được giớithiệu bởi MICS Cuộc điều tra này được sự hỗ trợ của các trưởng bản
2.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu thống kê
Để đánh giá tổng quan thực trạng nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biêntrong giai đoạn 2005 - 2010, bài nghiên cứu đưa ra các thống kê, số liệu, tìnhhình được phân tích bởi Sở Lao động Thương binh và Xã hội (Sở LĐTBXH) vàUNICEF Việt Nam trên các lĩnh vực Trong từng lĩnh vực này, tình hình trẻ em,những điều còn chưa biết về trẻ em miền núi, vùng sâu vùng xa nói chung và trẻ
Trang 40em tỉnh Điện Biên nói riêng sẽ được nêu lên Điều này không chỉ có ý nghĩa đưa
ra một cái nhìn đầy đủ, sâu sắc về cuộc sống nghèo khổ của trẻ em mà còn là cơ
sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chính sách phù hợp với đặc thùcủa tỉnh và giải quyết các khó khăn của trẻ em
2.4 Đánh giá nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên
2.4.1 Đo lường nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên
Phần này đo lường nghèo đa chiều trẻ em tỉnh Điện Biên theo phươngpháp điều tra chọn mẫu
2.4.1.1 Tỷ lệ nghèo trẻ em tỉnh Điện Biên (CPR)
Bài nghiên cứu này sử dụng cách nhận diện nghèo nghèo đa chiều như thể
hiện trong bảng 1.1 mục 1.2.3.
2.4.1.1.1.Xác định cỡ mẫu điều tra
Để xác định Tỷ lệ nghèo trẻ em, tức để tính CPR, ta cần có số liệu vi mô ởcấp độ từng trẻ, tức là phải có thông tin về từng chỉ số cho từng trẻ Cần phải
“đếm” xem đứa trẻ đó nghèo ở một hay nhiều chỉ số và do đó nghèo ở một haynhiều lĩnh vực để xác định tình trạng nghèo của nó Kết quả là không thể tínhtoán CPR dựa trên các số liệu tổng hợp như số liệu hành chính Năm 2011, sốtrẻ em dưới 16 tuổi ở tỉnh Điện Biên là 187.501 em Việc nghiên cứu (hơn)
187501 trẻ là điều không khả thi ở cuộc nghiên cứu quy mô nhỏ Do đó, bàinghiên cứu này sử dụng cách xác định cỡ mẫu điều tra của nhà thống kê họcTaro Yamane (1967-1986) để tiến hành điều tra một nhóm trẻ em đại diện từ đóxác định CPR một cách gần đúng
Công thức xác định cỡ mẫu đầy đủ của Yamane:
Trong đó:
là số trẻ em cần chọn làm đại diện để điều tra (số đơn vị mẫu)
là tổng số trẻ em của tỉnh (số đơn vị tổng thể)
là khoảng tin cậy tương ứng với mức độ tin cậy
là Tỷ lệ trẻ em nghèo trong tổng thể trẻ em của tỉnh
là giới hạn sai số của kết quả
Theo thống kê số liệu cơ bản năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội đối với tỉnh Điện Biên, số trẻ em dưới 16 tuổi của tỉnh năm 2011 là
187501 em Do đó: