tuy nhiên, vẫn còn những lĩnh vực tồn tại sự chênh lệch và cần phải nỗ lực nhiều hơn, như vấn đề suy dinh dưỡng trẻ em, chăm sóc y tế cho trẻ em dân tộc thiểu số và con em các hộ nghèo,
Trang 1LỜi cẢm Ơn
báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ chương trình tỉnh bạn hữu là một phần của chương trình hợp tác Quốc gia giữa chính phủ Việt nam và Quỹ nhi đồng Liên hợp Quốc (UniceF) chu kỳ 2006-2011 Ấn phẩm là sự hợp tác giữa tỉnh điện biên và UniceF Việt nam
nghiên cứu do nhóm tư vấn gồm hai tư vấn là edwin Shanks và Dương Quốc hùng hoàn thành
Kết quả nghiên cứu thu được từ nhiều cuộc tham vấn sâu rộng với địa phương trong suốt quá trình nghiên cứu thực địa vào tháng 9 năm 2009 và tại hội thảo tham vấn tại điện biên vào tháng 9 năm 2010 báo cáo đã nhận được góp ý từ các chuyên gia của các Sở, ban ngành có liên quan của tỉnh bao gồm Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Lao động thương binh và
Xã hội, Sở Giáo dục và đào tạo, Sở Y tế, cục thống kê, Sở tài chính, trung tâm bảo trợ Xã hội, hội Phụ nữ, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trung tâm nước và Vệ sinh nông thôn, Ủy ban Dân tộc, đại diện của các huyện điện biên, tủa chùa và tuần Giáo cùng đại diện của các xã thanh Xương, Quài nưa và mường bang
các cán bộ UniceF Việt nam chịu trách nhiệm rà soát và hiệu chỉnh báo cáo
tỉnh điện biên và UniceF Việt nam xin trân trọng cảm ơn tất cả những người đã đóng góp vào bản báo cáo này
Trang 2LỜi nÓi đẦU
báo cáo phân tích tình hình trẻ em tỉnh điện biên là một trong những nghiên cứu phân tích
tình hình trẻ em cấp tỉnh đầu tiên mà UniceF Việt nam hỗ trợ các tỉnh trong khuôn khổ
chương trình tỉnh bạn hữu Sáng kiến này nhằm góp phần cung cấp thông tin cho quá trình
lập Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội 5 năm 2011-2015 cũng như kế hoạch hàng năm và kế
hoạch của các ngành, giúp cho các bản kế hoạch chú trọng hơn tới các vấn đề của trẻ em
và dựa trên minh chứng thuyết phục
báo cáo phân tích tình hình trẻ em tỉnh điện biên cung cấp một bức tranh toàn diện về tình
hình của trẻ em nữ và trẻ em nam, bao gồm những phân tích sâu về những thách thức mà
trẻ em vẫn đang phải đối mặt báo cáo cũng phân tích những nguyên nhân có thể gây nên
tình trạng hiện thời, phân tích tình hình của tỉnh trong bối cảnh vùng tây bắc nói riêng và
của Việt nam nói chung báo cáo nhằm góp phần vào việc xây dựng một cơ sở kiến thức
vững chắc về trẻ em bằng cách thu thập và phân tích những thông tin và số liệu liên quan
đến các vấn đề của trẻ em hiện đã có nhưng chưa được tổng hợp và phân tích một cách
toàn diện
những phát hiện trong báo cáo khẳng định những tiến bộ đáng kể của tỉnh trong việc quan
tâm đến các vấn đề của trẻ em trên nhiều khía cạnh gắn với những thành tựu trong phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh trong những năm gần đây tuy nhiên, vẫn còn những lĩnh vực tồn
tại sự chênh lệch và cần phải nỗ lực nhiều hơn, như vấn đề suy dinh dưỡng trẻ em, chăm
sóc y tế cho trẻ em dân tộc thiểu số và con em các hộ nghèo, tỷ lệ nhiễm hiV/AiDS ngày
càng gia tăng, thiếu cung cấp nước sạch tới các xã, các bản làng miền núi, tiếp cận vệ sinh
của người dân nông thôn còn hạn chế, giáo dục cho trẻ dân tộc thiểu số ở các cấp còn nhiều
khó khăn, tiếp cận của các nhóm trẻ dễ bị tổn thương tới các dịch vụ bảo trợ còn hạn hẹp
chúng tôi mong rằng bản báo cáo phân tích tình hình này sẽ được tỉnh điện biên sử dụng
như một tài liệu tham khảo thường xuyên trong suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện Kế
hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội của tỉnh và kế hoạch của các ngành chúng tôi cũng khuyến
khích các tổ chức phát triển hiện đang làm việc trên địa bàn tỉnh tham khảo kết quả báo cáo
Trang 3mỤc LỤc
LỜi cẢm Ơn 1
LỜi nÓi đẦU 2
mỤc LỤc 3
DAnh SÁch hình 6
DAnh SÁch bẢn đỒ 7
DAnh SÁch hỘP 7
DAnh SÁch bẢnG 8
CHỮ ViẾt tẮt 9
tÓm tẮt VÀ KhUYẾn nGhỊ chính 10
1 GiỚi thiệU 24
1.1 mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 24
1.2 Khung và phương pháp phân tích 25
1.3 các địa điểm nghiên cứu thực địa 26
1.4 nội dung của báo cáo 27
2 tỉnh điện biên - bỐi cẢnh Kinh tẾ - XÃ hỘi 30 2.1 đặc điểm địa lý và hạ tầng cơ sở 30
2.2 đặc điểm và xu thế dân số 30
2.3 Sự đa dạng và khác biệt về dân tộc thiểu số 33
2.4 thực trạng và xu thế nghèo 34
2.5 Kinh tế, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình 37
Trang 42.6 chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt nam giai đoạn 2001-2010 41
3 KhPtKtXh cỦA tỉnh - LẬP KẾ hOẠch VÀ nGân SÁch chO trẻ em 46
3.1 tổng thu và chi của tỉnh 46
3.2 ngân sách đầu tư phát triển KhPtKtXh 48
3.3 đầu tư cho các mục tiêu cụ thể cấp quốc gia và cấp tỉnh 50
3.4 các chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án lớn 50
3.5 Sự sống còn của trẻ em 51
3.6 Phát triển – Giáo dục trẻ em 53
3.7 bảo vệ trẻ em 55
3.8 Kế hoạch ngân sách huyện 56
3.9 Kinh phí cho các hoạt động “phần mềm” 57
4 SỰ SỐnG cÒn VÀ chẢm SÓc SỨc KhỎe cỦA trẻ em 60
4.1 tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi và trẻ em 61
4.2 Sức khỏe sinh sản và làm mẹ an toàn 63
4.3 tiếp cận chăm sóc sức khỏe có chất lượng 64
4.4 Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế 67
4.5 hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe 68
4.6 Dinh dưỡng và suy dinh dưỡng trẻ em 69
4.7 cấp nước và vệ sinh 72
4.8 Phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em 74
5 PhÁt triỂn - GiÁO DỤc trẻ em 78
Trang 55.2 tình hình chung về giáo dục mầm non, tiểu học và trung học 78
5.3 trường bán trú dân tộc thiểu số 85
5.4 chuyển cấp lên trung học đối với học sinh dân tộc thiểu số và học sinh nữ 86
5.5 các chi phí giáo dục 87
5.6 cơ sở vật chất trường học, đồ dùng và các hoạt động ngoại khóa 87
5.7 Giáo dục thường xuyên và tỷ lệ biết chữ của người lớn 88
6 bẢO Vệ trẻ em 90
6.1 Số liệu và thông tin về bảo vệ trẻ em 90
6.2 đánh giá năng lực hệ thống bảo vệ trẻ em 91
6.3 chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt 92
6.4 nhận thức và phòng ngừa hiV/AiDS 94
6.5 Lao động trẻ em 98
6.6 đăng ký khai sinh 99
6.7 Lạm dụng trẻ em và trẻ em vi phạm pháp luật 100
7 SỰ thAm GiA cỦA trẻ em 104
7.1 Góc độ văn hóa và dân tộc 104
7.2 tham gia trong bối cảnh gia đình 105
7.3 tham gia trong các hoạt động ngoài cộng đồng 105
DAnh mỤc tÀi LiệU thAm KhẢO 107
DAnh SÁch PhỤ LỤc 111
Trang 6DAnh SÁch hình
hình 1 tháp dân số 1999 và 2008 32
hình 2 Dân số là người dân tộc thiểu số và số hộ nghèo, 2008 36
hình 3 tỷ lệ trẻ em nghèo tiền tệ và đa chiều theo khu vực, 2008 (phần trăm) 37
hình 4 trình độ học vấn của chủ hộ ở 12 tỉnh, 2008 (phần trăm) 39
hình 5 nguồn thu nhập hộ gia đình và mức trợ cấp công ở 12 tỉnh, 2008 (phần trăm) 39
hình 6 cơ cấu nguồn thu nhập hàng tháng ở 9 tỉnh, 2008 (phần trăm) 40
hình 7 thu của tỉnh theo nguồn và năm, 2005 - 2009 (tỷ đồng) 46
hình 8 chi ngân sách nhà nước của tỉnh theo hạng mục chi, 2005 - 2008 (tỷ đồng) 46
hình 9 chi ngân sách nhà nước của tỉnh cho các lĩnh vực xã hội, 2005 - 2009 (tỷ đồng) 47
hình 10 cơ cấu của kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, 2007 - 2009 (phần trăm) 49
hình 11 cơ cấu ngân sách giáo dục năm, 2008 (phần trăm) 54
hình 12 So sánh tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi cả nước, vùng và theo tỉnh, 2008 (trên 1,000 trẻ sinh ra sống) 61
hình 13 So sánh tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân mức vừa ở trẻ dưới 5 tuổi cả nước,
vùng và theo tỉnh, 2009 (phần trăm) 61
hình 14 So sánh các chỉ số y tế cả nước, vùng và theo tỉnh, 2008 (phần trăm) 64
hình 15 nguyên nhân suy dinh dưỡng trẻ em ở điện biên 71
Trang 7hình 16 So sách phạm vi bao phủ cấp nước và vệ sinh nông thôn cả nước, vùng
và theo tỉnh, 2009 (phần trăm) 73
hình 17 tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số theo cấp học, 2006 - 2009 (phần trăm) 81
hình 18 tỷ lệ học sinh nữ theo cấp học, 2006 - 2009 (phần trăm) 81
hình 19 tỷ lệ học sinh nữ dân tộc thiểu số theo cấp học, 2006 - 2009 (phần trăm) 82
hình 20 So sánh tỷ lệ nhập học cấp trung học cơ sở cả nước, vùng và theo tỉnh, 2009 (phần trăm) 83
hình 21 So sánh tỷ lệ nhiễm mới hiV / 100.000 cả nước, vùng và theo tỉnh, 2008 95
DAnh SÁch bẢn đỒ bản đồ 1 Dân số theo huyện, 2009 31
bản đồ 2 tỷ lệ hộ nghèo, 2009 (phần trăm) 35
bản đồ 3 tỷ lệ các xã đạt chuẩn y tế quốc gia, 2009 66
DAnh SÁch hỘP hộp 1 Số liệu về dân tộc thiểu số 34
hộp 2 nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em tại xã mường bang 62
hộp 3 Quan điểm về chất lượng dịch vụ y tế từ xã thanh Xương 68
hộp 4 các trường hợp trẻ bị đuối nước 76
hộp 5 Phụ nữ thái và khả năng dễ bị lây nhiễm hiV ở điện biên 97
hộp 6 thực hiện các hoạt động với trẻ em một cách hiệu quả tại xã thanh Xương 106
Trang 8DAnh SÁch bẢnG
bảng 1 các địa điểm nghiên cứu, 2009 26
bảng 2 tỷ lệ nghèo theo huyện, 2007 - 2009 (phần trăm) 35
bảng 3 huyện tủa chùa: đặc thù dân tộc thiểu số của các hộ gia đình nghèo, 2008 36
bảng 4 cơ cấu chi tiêu cho tiêu dùng của hộ gia đình, 2008 (phần trăm) 41
bảng 5 các mục tiêu và thành tựu của tỉnh thực hiện chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, 2001-2010 42
bảng 6 Kế hoạch ngân sách đầu tư phát triển của tỉnh, KhPtKtXh 2007 – 2009 49
bảng 7 chi cho các ctmtQG, 2006 – 2009 51
bảng 8 tỷ lệ chi theo kế hoạch cho cung cấp dịch vụ và đầu tư theo các ctmtQG và các dự án lớn, KhPtKtXh 2008 & 2009 51
bảng 9 Vốn sự nghiệp theo ctmtQG về phòng chống các bệnh xã hội, bệnh dịch và hiV/AiDS, 2006 – 2009 52
bảng 10 một số chỉ số sức khỏe sinh sản và sống còn trẻ em, 2006-2008 62
bảng 11 Xếp hạng các huyện theo các chỉ số dịch vụ y tế, 2009 65
bảng 12 tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, 2005 – 2009 (phần trăm) 69
bảng 13 tai nạn và thương tích ở trẻ em theo báo cáo của bệnh viện tỉnh và huyện, 2008 75
bảng 14 tỷ lệ nhập học, 2005 - 2010 80
bảng 15 tỷ lệ hoàn thành cấp học, 2008 - 2009 (phần trăm) 82
bảng 16 điện biên: các trường hợp nhiễm hiV/AiDS, 2006 - 2009 95
Trang 9chỮ ViẾt tẮt
Tỷ giá: 1 US$ = VND 19,490
Trang 10tÓm tẮt VÀ KhUYẾn nGhỊ chính
1 báo cáo này đưa ra một phân tích tình hình của trẻ em tại tỉnh điện biên mục tiêu tổng
thể của nghiên cứu là cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà lập kế
hoạch thông tin về các vấn đề và ưu tiên trẻ em ở tỉnh hiện nay các mục tiêu cụ thể là:
(i) tập hợp thông tin và phân tích tình hình trẻ em trong bối cảnh phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh; (ii) xác định các vấn đề có liên quan ảnh hưởng đến sự hiểu biết về quyền
trẻ em và tiến bộ của việc thực hiện các quyền trẻ em, và (iii) đưa ra các khuyến nghị
nhằm cải thiện tình hình trẻ em có thể được đưa vào Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội
(KhPtKtXh) và các kế hoạch ngành và ngân sách cho y tế, giáo dục và bảo vệ trẻ em
của tỉnh
2 Phương pháp phân tích sử dụng trong nghiên cứu này có hai yếu tố chính thứ nhất,
các vấn đề trẻ em được phân tích theo các nhóm quyền trẻ em liên quan đến các lĩnh
vực khác nhau của hoạt động ngành, bao gồm quyền sống còn, phát triển, bảo vệ và
tham gia Việc này tuân theo các định nghĩa về quyền trẻ em được đưa ra trong công
ước về Quyền của trẻ em cũng như trong pháp luật và các chính sách của Việt nam,
trong đó có Luật bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em, và Kế hoạch hành động Quốc
gia vì trẻ em (2001-2010) thứ hai, nghiên cứu kết hợp phương pháp dựa trên quyền
này với một phân tích được cấu trúc về lập chương trình và ngân sách cho những vấn
đề liên quan tới trẻ em trong KhPtKtXh của tỉnh Việc này là nhằm xác định những
khía cạnh đã được giải quyết và có ngân sách tương đối tốt, và những khía cạnh còn
chưa được giải quyết và phân bổ nguồn lực đầy đủ trong các kế hoạch và ngân sách
hiện tại
3 Phần báo cáo tóm tắt này trình bày các kết quả chính của nghiên cứu và các
khuyến nghị cho việc tăng cường lồng ghép các vấn đề của trẻ em vào kế hoạch
của tỉnh và ngành những nội dung này được trình bày theo các ưu tiên của ngành;
những lĩnh vực phối hợp liên ngành, hợp tác và xây dựng năng lực; và các ưu tiên
nhằm lấp những khoảng trống về số liệu và thông tin báo cáo chính sẽ đưa ra nhiều
khuyến nghị khác nhau, còn phần này chỉ đưa ra những khuyến nghị mà chúng tôi
cho là các khuyến nghị chính tham khảo được làm trong dấu ngoặc vuông [] tới các
phần của báo cáo chính nơi trình bày và phân tích đầy đủ từng vấn đề được phát hiện
Các chỉ số so sánh về y tế, nước sạch và vệ sinh, và giáo dục (2008)
Trang 11Chỉ số Tỉnh Điện Biên Toàn quốc Vùng Tây Bắc Nguồn
tỷ lệ nhập học đúng tuổi cấp trung học 2008-09
Nguồn: (a) tctK (2010) ĐTMSHGĐ 2008; (b) bộ Y tế (2008); (c) hệ thống Giám sát Dinh dưỡng Quốc gia; (d) trung tâm Quốc
gia nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (2008); (e) bộ Giáo dục & đào tạo
SỰ SỐnG cÒn VÀ chĂm SÓc SỨc KhỎe cỦA trẻ em
4 Chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em [Phần 3.5 và 4.3] đã có những cải thiện đáng kể trong cơ sở hạ tầng y tế, trong hệ thống chẩn đoán và điều trị và cung cấp các chương trình sức khỏe ban đầu ở điện biên trong những năm gần đây chi phí công về
y tế đã tăng từ 42,7 tỷ đồng năm 2005 lên khoảng 249 tỷ đồng năm 2009 (483%) theo
Sở tài chính, kinh phí cho các dịch vụ cơ bản chẩn đoán và điều trị bệnh trẻ em dưới 6 tuổi đã tăng từ khoảng 4,32 tỷ đồng năm 2006 lên 7,86 tỷ đồng năm 2008 trong những năm gần đây, khoảng một nửa (47%) kinh phí cung cấp dịch vụ của chương trình mục tiêu quốc gia (ctmtQG) Phòng chống các bệnh xã hội, bệnh dịch và hiV/AiDS đã được phân bổ cho ba dự án có liên quan mật thiết nhất đến sự sống còn của trẻ em – các dự
án phòng chống suy dinh dưỡng, tiêm chủng mở rộng và chăm sóc sức khoẻ sinh sản
5 Kinh phí cho dự án chăm sóc sức khoẻ sinh sản theo ctmtQG này được bổ sung các nguồn ngân sách từ ctmtQG về Dân số và Kế hoạch Gia đình (được phân bổ 4 tỷ
đồng trong năm 2009), và lĩnh vực này dường như đã được phân bổ nguồn lực tương đối tốt ngược lại, có thể quan sát rằng dự án tiêm chủng mở rộng (được phân bổ 400 triệu đồng năm 2009) và dự án phòng chống suy dinh dưỡng (được phân bổ 1,29 tỷ
đồng năm 2009) có vẻ chưa có đủ nguồn lực Quan sát này dựa trên việc hiểu rằng các
dự án về suy dinh dưỡng và tiêm chủng mở rộng cần phải được tăng cường cấp thiết nhất ở các xã và thôn bản vùng nông thôn xa xôi, nơi mà các chi phí trực tiếp và chi phí giao dịch cho cải thiện việc cung cấp dịch vụ là cao nhất như được chỉ ra dưới đây, xét
về tầm quan trọng then chốt của những vấn đề này đối với sự sống còn của trẻ, việc
phân bổ nguồn lực cho phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em và tiêm chủng mở rộng cần phải được tăng lên hơn nữa, có vẻ các nguồn lực phân bổ cho các ctmtQG về vệ
sinh an toàn thực phẩm còn tương đối ít, mặc dù đây là một vấn đề quan tâm chung trên
cả nước và có tác động trực tiếp đến sức khỏe và dinh dưỡng trẻ em
6 Chăm sóc sức khoẻ sinh sản [Phần 4.2] ngân sách cho các dự án và chương trình kế hoạch gia đình và chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được tăng lên trong những năm gần đây mặc dù vậy, số liệu của tỉnh cho thấy những thay đổi hoặc cải thiện đối với một số các chỉ số quan trọng về chăm sóc sức khoẻ sinh sản mới chỉ ở mức độ hạn chế, chẳng hạn như tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai thường xuyên; tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ tuổi sinh đẻ; tỷ lệ phụ nữ sinh con có sự trợ giúp của cán bộ y tế có chuyên môn
và tỷ lệ tử vong mẹ có sự khác biệt rõ ràng trong các mô hình sức khoẻ sinh sản và
chăm sóc sức khỏe sinh sản giữa các nhóm dân tộc điều này cho thấy các yếu tố xã hội và văn hóa xác định hành vi chăm sóc sức khoẻ sinh sản rất quan trọng nâng cao hiệu quả của công tác thông tin, giáo dục và truyền thông chăm sóc sức khoẻ sinh sản
sẽ đóng vai trò quan trọng để giải quyết các vấn đề này, cũng như cung cấp dịch vụ một cách thích hợp cho phụ nữ dân tộc thiểu số Ví dụ, cung cấp dịch vụ khám phụ khoa và khám thai trong một khung cảnh riêng tư và thân thiện; cung cấp các hỗ trợ cần thiết cho các cuộc sinh đẻ tại nhà bao gồm cung cấp gói đỡ đẻ sạch; và nhắm tới các nhà lãnh đạo truyền thống và những người có ảnh hưởng (già làng, những người đứng đầu tôn giáo, các lương y dân gian) để tăng cường tác động của thông tin, giáo dục và truyền thông chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Trang 127 Tiêm chủng trẻ em [Phần 4.3] theo thống kê chính thức, điện biên đã phần lớn đạt
được các mục tiêu quốc gia về tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới một tuổi tuy nhiên,
các nguồn tin không chính thức cho thấy tỷ lệ thực tế thấp hơn các con số báo cáo chính
thức (ví dụ như tỷ lệ khoảng 70% được tính cho các xã nông thôn của huyện tủa chùa
và tuần Giáo) những lý do cho sự khác biệt giữa số liệu báo cáo chính thức và tỷ lệ
thực tế có thể do chính quyền địa phương thường có xu hướng báo cáo lên để đạt các
mục tiêu, và báo cáo tỷ lệ đăng ký ban đầu và tỷ lệ vắc-xin chứ không báo cáo số trẻ em
được tiêm chủng đầy đủ theo thời gian chương trình tiêm chủng vẫn còn gặp khó khăn
ở các xã và thôn bản vùng xa vì cha mẹ chưa nhận ra tầm quan trọng của tiêm chủng,
thiếu cán bộ y tế, thiếu dây truyền lạnh để lưu trữ vắc-xin, và các hoạt động thông tin,
Giáo dục và truyền thông chưa hiệu quả cho người dân tộc thiểu số điều này cho thấy
chính quyền địa phương phải chú ý nhiều hơn đến nâng cao nhận thức người dân về
tầm quan trọng của tiêm chủng đầy đủ, và đảm bảo các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ này
một cách hiệu quả đặc biệt khuyến nghị rằng nên tăng nguồn lực cho hoạt động của
các đội tiêm chủng di động của huyện cho các xã có nhiều thôn bản, kể cả gửi cán bộ từ
các huyện đã thành công để giúp các huyện khó khăn hơn cải thiện phạm vi bao phủ
8 Phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính [Phần 4.3] mặc dù đã có những cải thiện
về số lượng và chất lượng dịch vụ chẩn đoán và điều trị cơ bản, vẫn còn những khoảng
trống trong độ bao phủ của dịch vụ thăm khám cơ bản và y tế dự phòng cho trẻ em một
lĩnh vực đặc biệt đáng quan tâm là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, đây tiếp tục là nguyên
nhân chính của bệnh tật và tử vong ở trẻ em nói chung trong tỉnh chẩn đoán và điều trị
nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính không nằm trong ctmtQG về bệnh xã hội, bệnh dịch và
hiV/AiDS còn thiếu kinh phí cho can thiệp này và cho các can thiệp liên quan đến chỗ
ở và quần áo cho trẻ em các hộ gia đình nghèo nên phân bổ thêm các nguồn lực để
giải quyết vấn đề nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một nhân tố chính ảnh hưởng đến sức
khỏe và sự sống còn của trẻ em tương tự như vậy, có những khía cạnh khác của sức
khỏe trẻ em không được đưa vào các ctmtQG và ngân sách hiện tại còn hạn chế, bao
gồm vấn đề kiểm soát thiếu iốt và nha học đường
9 Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo [Phần 4.4] trong các cuộc thảo luận
nhóm với người dân địa phương, nhiều ý kiến đã bày tỏ về chất lượng dịch vụ y tế và
việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo người dân địa phương công nhận
những cải thiện trong việc khám bệnh miễn phí cho trẻ em dưới sáu tuổi và thẻ bảo
hiểm y tế cho hộ nghèo tuy nhiên, có vẻ như vẫn còn có khá nhiều yếu tố hạn chế
việc sử dụng hiệu quả thẻ bảo hiểm y tế thứ nhất là việc không có giấy đăng ký khai
sinh ảnh hưởng tới việc cấp phát thẻ bảo hiểm y tế thứ hai, việc cung cấp thông tin và
hiểu biết của cha mẹ về các quyền lợi được hưởng bảo hiểm vẫn còn hạn chế thứ ba,
người dân địa phương vẫn lo ngại về hệ thống chuyển viện để sử dụng thẻ bảo hiểm y
tế trong các trường hợp nghiêm trọng hoặc khẩn cấp (tức là hệ thống chuyển viện từ xã
lên huyện và từ quận, huyện lên tỉnh) trong một số trường hợp, người dân chưa hiểu
biết rõ ràng, hoặc không được cung cấp thông tin rõ ràng về hệ thống chuyển tuyến bảo
hiểm người dân cũng còn quan ngại về các khoản phí không chính thức phải trả để
được điều trị tại bệnh viện cấp tỉnh
10 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và bình đẳng [Phần 4.5] có vẻ có
những sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân tộc về tình trạng sức khỏe của trẻ em
và tỷ lệ trẻ em được kiểm tra sức khỏe thường xuyên và tiêm chủng đầy đủ các yếu tố
xã hội liên quan đến tình hình của người dân tộc thiểu số cũng đóng một vai trò quan
trọng trong các quyết định của cha mẹ để tìm kiếm sự chăm sóc cho trẻ bị ốm có vẻ có
một loạt các yếu tố làm tăng sự do dự và lo âu của nhiều người dân tộc thiểu số khi đi
đến các cơ sở y tế công lập, gây tác động bất lợi đến sự sống còn của trẻ em các yếu
Trang 13/ tỉnh từ các bản xa; (ii) không quen với các thủ tục do rào cản ngôn ngữ và thiếu giải
thích và thông tin về cách thực hiện theo các thủ tục này; (iii) thiếu kiến thức trong các cộng đồng này về các bệnh thông thường và bệnh tật nói chung, các bệnh này nghiêm trọng đến đâu và điều trị như thế nào; (iv) vẫn tồn tại các quan niệm và thực hành chăm sóc sức khỏe truyền thống – cho dù các quan niệm và thực hành này xét trong một
chừng mực chăm sóc sức khỏe nào đó có thể phù hợp, nhưng đối với những trường
hợp nghiêm trọng thì có thể cản trở các hành vi tìm kiếm việc chăm sóc sức khoẻ tốt
hơn, và (v) trong một số trường hợp người bệnh phải trả các khoản phí không chính
thức để được điều trị ở bệnh viện các vấn đề này cho thấy cần nỗ lực nhiều hơn để
đảm bảo bình đẳng trong việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ở tất cả các nhóm dân số
11 Dinh dưỡng và suy dinh dưỡng trẻ em [Phần 4.6] theo thống kê của tỉnh, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở điện biên đã giảm từ 28,4% năm 2006 xuống 24,3% năm 2009 theo hệ thống giám sát dinh dưỡng trên toàn quốc, điện biên xếp hạng 52 trong số 63 tỉnh về tỷ lệ trẻ em thiếu cân mức vừa năm 2009 mặc dù vậy, cần lưu ý rằng
tỷ lệ suy dinh dưỡng trên địa bàn tỉnh không hề cao một cách không cân xứng so với
các tỉnh và khu vực khác Dinh dưỡng và suy dinh dưỡng trẻ em là một vấn đề nghiêm trọng trên toàn quốc, và điện biên cũng là tỉnh gặp phải vấn đề này đặc biệt, suy dinh dưỡng trẻ em vẫn tiếp tục là một vấn đề lớn đối với một số nhóm dân tộc thiểu số và các
hộ gia đình nghèo Khoảng 25% kinh phí cho cung cấp dịch vụ của ctmtQG về bệnh xã hội, bệnh dịch và hiV/AiDS được phân bổ cho Dự án Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ
em những hoạt động này được thực hiện tại tất cả các xã, tuy nhiên, hiệu quả của dự
án còn hạn chế do thiếu kinh phí thường xuyên để thực hiện đồng bộ các hoạt động tại tất cả các địa phương
12 Giải quyết suy dinh dưỡng trẻ em đòi hỏi một nỗ lực toàn diện và phối hợp giữa các
ngành khác nhau bao gồm y tế, giáo dục, khuyến nông, và thương mại v.v… cần nỗ lực hơn để đảm bảo sẵn có đầy đủ các thực phẩm dinh dưỡng cho trẻ em với giá cả phải chăng, đảm bảo các bữa ăn đủ dinh dưỡng tại các cơ sở trường học bán trú, và nâng cao năng lực sản xuất của hộ nghèo trong việc trồng rau quả và chăn nuôi nhằm cải
thiện việc cung cấp thực phẩm và dinh dưỡng hộ gia đình điều này cần phải được kết hợp với việc cải thiện thu thập số liệu điều tra để hiểu biết tốt hơn về các mô hình suy dinh dưỡng trẻ em giữa các nhóm dân tộc khác nhau, để ưu tiên việc phân bổ nguồn lực cho các nhóm dân cư nghèo nhất
13 Cấp nước và vệ sinh [Phần 4.7] trong những năm gần đây đã có những tiến bộ ổn
định trong việc mở rộng cung cấp nước sạch cả ở thành thị và nông thôn theo ước
tính, tỷ lệ dân số nông thôn được tiếp cận với nước sạch đã tăng từ 54% năm 2005 lên 75% năm 2009, và đang trên đường đạt được mục tiêu của tỉnh là 85% như đề ra trong
Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em 2001-2010 tuy nhiên, cấp nước thường xuyên
ở nhiều xã và bản miền núi là một vấn đề khó khăn vì thiếu nước tuyệt đối trong mùa
khô nhiều hệ thống cấp nước ở những địa bàn này sử dụng các phương pháp lắng/
lọc, có nghĩa là chất lượng nước và vệ sinh không được đảm bảo, đặc biệt là trong mùa mưa Việc thiếu vận hành và bảo dưỡng thường xuyên cũng có nghĩa là ở một số địa phương cung cấp nước thường xuyên không được đảm bảo cần phải đảm bảo có các
hệ thống vận hành và bảo dưỡng và tổ chức quản lý hiệu quả để duy trì các công trình đầu tư và những tiến độ đã đạt được trong việc cung cấp nước sạch trong những năm gần đây
14 mặt khác, các chỉ số về vệ sinh vẫn tiếp tục tụt hậu so với các tiêu chuẩn và mục tiêu
quốc gia theo số liệu của tỉnh, tính đến năm 2009 khoảng 53% dân số nông thôn và
75% dân số đô thị sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh; thấp hơn chỉ tiêu tương ứng tỉnh là
70% và 90% tương ứng theo Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em 2001-2010 Số
Trang 14liệu từ trung tâm Quốc gia về nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn đưa ra tỷ lệ
sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh ở nông thôn thấp hơn, khoảng 40% trong năm 2008 các
phương pháp tiếp cận tốt hơn về thông tin, giáo dục và truyền thông về vệ sinh và Vệ
sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ đã được giới thiệu ở một số địa phương thí điểm
thông qua các dự án do các nhà tài trợ hỗ trợ các phương pháp tiếp này có thể đưa ra
được những mô hình thành công về làm việc với các cộng đồng dân tộc thiểu số về các
vấn đề vệ sinh và có thể nhân rộng trong hệ thống chính phủ điều này nên được kết
hợp với tăng cường nhận thức về vấn đề vệ sinh trong trường học, kết hợp với các hoạt
động thông tin, giáo dục và truyền thông sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng và
các phương pháp truyền thông trực tiếp
15 Phòng chống thương tích trẻ em [Phần 4.8] trong những năm gần đây chính phủ
đã chú trọng việc tăng cường các chương trình vì an toàn trẻ em mặc dù vậy, trên cả
nước, số trường hợp tử vong do thương tích đối với trẻ em và thanh thiếu niên dưới 19
tuổi vẫn liên tục tăng từ 6.938 năm 2005 lên gần 8.000 trong năm 2008, với 48% số ca
tử vong do đuối nước và 28% do tai nạn đường bộ Do đó, đây là một vấn đề nghiêm
trọng cho tất cả các cơ quan chính quyền và cộng đồng địa phương các số liệu có sẵn
về thương tích trẻ em ở điện biên còn rải rác tuy nhiên, nhìn chung mô hình thương
tích trẻ em cũng phản ánh tình hình như ở nhiều nơi khác một vấn đề đáng báo động là
khoảng 20% thương tích trẻ em như báo cáo của tỉnh và các bệnh viện huyện là do tai
nạn giao thông điều này cho thấy rõ rằng cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về an
toàn đường bộ cho cả cha mẹ và trẻ em mặc dù các hoạt động nâng cao nhận thức về
phòng chống thương tích cho cha mẹ và trẻ em đang được tập trung tiến hành ở một số
địa phương, nhìn chung ngân sách của tỉnh còn thiếu hụt cho các hoạt động này tính
đến năm 2008, chỉ có 4/9 huyện, 4/106 xã, phường đã có ban chỉ đạo, kế hoạch hoặc
các hoạt động phòng chống thương tích trẻ em cần phải ưu tiên nhân rộng các hoạt
động này trong tương lai, đặc biệt là đối với an toàn đường bộ và luật giao thông, đuối
nước, và bảo vệ trẻ em khỏi bị thương tích có liên quan đến lao động
PhÁt triỂn - GiÁO DỤc trẻ em
16 Cải thiện tiếp cận và chất lượng giáo dục [Phần 3.6 & 5.2] cải thiện tiếp cận với
trường học và nâng cao chất lượng giáo dục là ưu tiên hàng đầu đối với chính quyền
tỉnh điện biên Lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã chiếm một tỷ trọng ngày càng lớn trong
chi tiêu công hàng năm, tăng từ 15% (258 tỷ đồng) năm 2005 lên 28.3% (763 tỷ đồng)
năm 2008 Phần lớn đầu tư cơ bản dành cho việc mở rộng và nâng cấp chất lượng cơ
sở hạ tầng và phương tiện dạy học của các trường mẫu giáo, tiểu học và trung học trên
địa bàn tỉnh Xây dựng năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, các phương
tiện giảng dạy tốt hơn, và cải tiến phương pháp giảng dạy cũng đã được thực hiện với
sự hỗ trợ của ctmtQG về Giáo dục và đào tạo và một số các dự án do các nhà tài trợ
/ Phi chính phủ hỗ trợ điều này được phản ánh trong những tiến bộ đã đạt được trong
việc thực hiện các mục tiêu phát triển trẻ em đặt ra trong chương trình hành động quốc
gia vì trẻ em 2001-2010, bao gồm tỷ lệ trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo và tỷ lệ nhập học và
hoàn thành tiểu học và trung học
17 Đi học nhà trẻ và mẫu giáo [Phần 5.2] trong năm học 2008-09, tỷ lệ trẻ em 5 tuổi học
mẫu giáo là 94,2%; tỉnh do đó đã gần như đạt được mục tiêu 95% đề ra trong chương
trình hành động quốc gia vì trẻ em tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em đi nhà trẻ chỉ là 10,3% trong
năm học 2008-09 điều này cho thấy vẫn có những khó khăn trong việc tiếp cận các
trường mầm non và chuẩn bị đi học cho trẻ em Số lượng các lớp nhà trẻ và mẫu giáo
ở cấp xã và làng bản đang được tăng lên; ngay cả như vậy, tại một số địa bàn, việc
Trang 15lập điều này hạn chế sự lựa chọn của các bậc cha mẹ khi họ phải dựa vào các trường công lập điều này cũng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh và chất lượng giáo dục
và chăm sóc trẻ em giữa các thành phần công lập và ngoài công lập những lý do của tình hình này cần được nghiên cứu thêm, trong đó xem xét đến các yếu tố về nhu cầu có thêm các cơ sở, và chính sách hỗ trợ cá nhân và tập thể để đầu tư thành lập nhà trẻ và trường mẫu giáo ngoài công lập
18 Giáo dục cho trẻ em và trẻ em gái dân tộc thiểu số [Phần 5.2 đến 5.4] tỷ lệ học
sinh dân tộc thiểu số theo học tiểu học và trung học cơ sở tại điện biên (80% đến 90%) tương ứng với tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số trong dân số nói chung tuy nhiên, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số theo học trường trung học phổ thông lại giảm (60% đến 70% trong những năm gần đây) trong khi tỷ lệ trẻ em gái đi học tiểu học là một chỉ báo tích cực (48,6% năm 2008-09), tỷ lệ trẻ em gái theo học trung học cơ sở (40%) và trung học phổ thông (khoảng 37,5% năm 2008-09) lại thấp hơn hiện chưa thấy có sự gia tăng đáng kể
tỷ lệ trẻ em gái theo học ở cấp trung học cơ sở trong những năm gần đây có sự khác biệt đáng kể trong các số liệu báo cáo của mỗi huyện, với tỷ lệ trẻ em gái theo học trung học cơ sở và trung học phổ thông thấp ở các huyện tủa chùa, mường nhé và điện
biên đông
19 đối với trẻ em gái dân tộc thiểu số, những khác biệt này rõ rệt hơn trong khi trẻ em
gái dân tộc thiểu số chiếm khoảng 39% tổng số học sinh tiểu học, tỷ lệ này giảm xuống khoảng 31% tổng số học sinh trung học cơ sở và thấp hơn ở cấp trung học phổ thông (23% năm 2008-09) những con số tổng thể không cho thấy được những sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc, với tỷ lệ học sinh và học sinh nữ người Kinh và thái tiếp tục học lên trung học cao hơn các nhóm dân tộc thiểu số khác nên có những nghiên cứu thêm
để xác định cần nỗ lực và phối hợp hành động như thế nào để cải thiện cơ hội học trung học cho những nhóm dân tộc thiểu số nào
20 tất cả những số liệu này cho thấy vẫn còn những rào cản đối với tiếp cận học trung học cho trẻ em dân tộc thiểu số, đặc biệt là cho các em gái những phát hiện này xác nhận kết quả của các nghiên cứu khác cho thấy trẻ em gái dân tộc thiểu số tiếp tục có khó
khăn trong việc chuyển tiếp lên trung học có nhiều lý do giải thích tại sao việc chuyển tiếp này lại có vấn đề Lao động trẻ em thường liên quan đến việc tạm nghỉ học vào
mùa nông nghiệp cao điểm, cũng như là một trong những nguyên nhân chính của việc thôi học vĩnh viễn trẻ em làm việc ít có khả năng hưởng lợi từ các lớp học thêm dạy
ngoài giờ học chính khóa trẻ em cảm thấy khó bắt kịp thường cảm thấy tự ti và có thể
tự bỏ học vĩnh viễn Khi cần có người chăm sóc cho các thành viên gia đình, trẻ em gái thường bị cha mẹ ép ở nhà các giá trị truyền thống vẫn còn ưu tiên hoàn thành việc
học cho con trai, mặc dù việc đầu tư vào giáo dục cho trẻ em gái là một quyết định kinh
tế quan trọng, vì trẻ em gái nếu được giáo dục tốt có khả năng mang lại thu nhập tốt
hơn, lập gia đình muộn hơn và có ít con hơn nhưng trẻ con lại khỏe mạnh hơn mặc dù trường học và giáo viên đã có nhiều nỗ lực, họ đều báo cáo rằng tình trạng này là khó giải quyết
21 Trường bán trú cho học sinh dân tộc thiểu số [Phần 3.6 và 5.3] các cơ sở bán trú đã trở thành một phần quan trọng để tăng tiếp cận trường học cho trẻ em từ các làng hẻo lánh hiện số lượng các trường học với các cơ sở bán trú đang tăng trưởng ổn định từ
84 trường năm 2004 lên 181 năm 2009 (50% số trường tiểu học và 74,5% trường trung học cơ sở có các cơ sở bán trú) Số lượng học sinh bán trú đã tăng từ 8.619 năm 2004 lên 17.456 năm 2009 (tức là khoảng 16,6% tổng số học sinh hiện nay) Kinh phí cho
các cơ sở bán trú từ các nguồn bên ngoài đã gia tăng trong những năm gần đây từ các nguồn lực của chính quyền địa phương và một số dự án do các nhà tài trợ / tổ chức phi chính phủ hỗ trợ hỗ trợ của tỉnh cho học sinh bán trú đã tăng từ 4 tỷ đồng năm 2004-05 lên 7,855 tỷ đồng năm 2008-09 Kinh phí cũng đã được phân bổ theo hợp phần iV của
Trang 16chương trình 135-ii để cải thiện các cơ sở bán trú và hỗ trợ học sinh nghèo bằng tiền
mặt hoặc bổ sung thực phẩm mặc dù vậy, hỗ trợ của nhà nước vẫn chỉ chiếm 6% kinh
phí cho các cơ sở trường học, và 94% còn lại là từ các khoản đóng góp của địa phương
nhiều cơ sở bán trú vẫn còn trong tình trạng nghèo, thiếu các cơ sở phụ trợ như nhà
bếp và cung cấp nước, với nguồn cung cấp hạn chế về chăn và màn vv
22 bộ Giáo dục và đào tạo gần đây đã ban hành hướng dẫn mới về thành lập, tổ chức và
hoạt động của các trường học bán trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số thông tư này
quy định rằng ngoài nhà ở, cấp nước và vệ sinh môi trường, trường học bán trú phải
được trang bị các thiết bị thể thao và giải trí và có tủ thuốc tuy nhiên, thông tư không
xác định cụ thể mức hỗ trợ tài chính cho các bữa ăn và chỗ ở cho học sinh hoặc nguồn
tài chính cho việc thành lập hoặc hoạt động các trường học cần phải tăng kinh phí của
tỉnh cho vấn đề này trong khi không phải tất cả các trường đều có thể được nâng cấp
để đạt tiêu chuẩn cao về xây dựng, cần phải đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo các bữa
ăn đủ dinh dưỡng, khu sinh hoạt riêng biệt và an toàn cho trẻ em gái, và cung cấp nước
sạch và vệ sinh
23 Kinh phí vận hành và bảo dưỡng cho các trường học [Phần 3.6] 80-90% ngân sách
thường xuyên cho các trường mẫu giáo, tiểu học và trung học là chi tiền lương nhân
viên và các chi phí liên quan đến tiền lương điều này gây ra khó khăn về ngân sách
thường xuyên và ngân sách cơ bản cho tất cả các loại chi phí xây dựng và bảo dưỡng
trường học khác đặc biệt, trong bối cảnh cần lượng ngân sách lớn cho cơ sở hạ tầng
của các trường học mới, có khả năng trong tương lai sẽ thiếu ngân sách thường xuyên
cho việc duy trì hoạt động và bảo dưỡng Phân bổ thêm kinh phí cho hoạt động duy trì
và bảo dưỡng và chi phí thay thế cho các cơ sở trường học, thiết bị, vật liệu là rất quan
trọng để duy trì chất lượng cơ sở hạ tầng các trường học và chất lượng giáo dục trong
những năm tới hiện nay, ngân sách ngành giáo dục chưa nhấn mạnh đầy đủ các loại
chi phí này Khi chi phí cho cơ sở hạ tầng giảm, cần đặc biệt chú ý đánh giá những nhu
cầu này
bẢO Vệ trẻ em
24 Trách nhiệm và tài chính cho bảo vệ trẻ em [Phần 3.7] bảo vệ trẻ em bao gồm một
loạt các vấn đề và hoạt động bao gồm việc chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt,
nhận thức và phòng chống hiV/AiDS, kiểm soát lao động trẻ em đăng ký khai sinh, và
phòng chống lạm dụng và buôn bán trẻ em trách nhiệm thực hiện các hoạt động bảo
vệ trẻ em được chia xẻ giữa nhiều lĩnh vực và cơ quan bao gồm Sở Lao động, thương
binh và Xã hội, Sở Y tế, Sở công an, Sở tư pháp, chính quyền xã, các đoàn thể và các
lãnh đạo cộng đồng truyền thống theo đó, việc phân bổ tài chính rất phân tán và do vậy
rất khó xác định tổng phân bổ ngân sách cho công tác bảo vệ trẻ em tuy nhiên, rõ ràng
là trong điều kiện các nguồn lực của tỉnh và quận còn hạn chế, một số khía cạnh của
bảo vệ trẻ em ở điện biên tiếp tục thiếu nguồn lực
25 Kinh phí bảo trợ xã hội cho việc chăm sóc dựa vào cộng đồng [Phần 3.7 và 6.3] từ
năm 2007 đã có một sự hợp nhất về các thủ tục cấp và phân bổ kinh phí cho bảo trợ xã
hội và bảo vệ trẻ em ở cấp xã theo nghị định no.67/2007/nD-cP về chính sách hỗ trợ
các mục tiêu bảo trợ xã hội có vẻ quy định hợp nhất này đã đơn giản hóa và cải tiến
các thủ tục hỗ trợ các hộ gia đình nghèo tuy nhiên, tỉnh cần thực hiện một cuộc điều tra
chi tiết hơn để xác định tính hiệu quả của các tiêu chí và chiến lược mục tiêu và mức độ
đầy đủ của kinh phí bảo vệ trẻ em theo nghị định no.67 để phục vụ việc lập kế hoạch
KhPtKtXh
Trang 17nam là sự thiếu vắng một hệ thống bảo vệ xã hội đủ mạnh và hiệu quả, thiếu các dịch
vụ xã hội chuyên nghiệp đủ năng lực để đáp ứng cho trẻ em dễ bị tổn thương, và sự
vắng mặt của một “tổ hợp dịch vụ” có thể đảm bảo bảo vệ trẻ em ở mọi thời điểm và
cho nhiều vấn đề bảo vệ trẻ em nghiên cứu này đã xác định một số vấn đề về năng lực trong hệ thống bảo vệ trẻ em như sau:
bảo vệ trẻ em, bao gồm việc thiếu kinh phí cho mạng lưới này, thiếu cán bộ xã hội chuyên nghiệp ở cấp cộng đồng, và người dân địa phương có các kỹ năng và kinh nghiệm công tác xã hội
nhu cầu bảo vệ trẻ em trong cộng đồng, và các cán bộ pháp lý xã gặp khó khăn
trong việc cập nhật các yêu cầu đăng ký khai sinh
phương đều thiếu kinh nghiệm với các cách tiếp cận hiệu quả hơn để xử lý các vấn
đề xã hội và bảo vệ trẻ em mới và đang nổi lên (ví dụ như hiV/AiDS và lạm dụng
ma túy)
tục đăng ký khai sinh ngoài việc thực hiện các trách nhiệm khác; và mặc dù các
phòng khám y tế xã và bệnh viện chịu trách nhiệm chứng sinh, việc chứng sinh
thường không được làm ngay khi sinh vì vì nhiều trường hợp sinh con tại nhà
27 Chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt [Phần 6.3] trong những năm gần đây, hỗ trợ của chính phủ cho việc chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt đã được mở rộng mặc dù vậy, trong điều kiện các nguồn lực của tỉnh và huyện còn hạn chế, một số khía cạnh của bảo vệ trẻ em tiếp tục không đủ nguồn lực đa số trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt được chăm sóc trong cộng đồng và hỗ trợ tài chính được cung cấp cho một số gia đình, trong khi các chăm sóc mang tính thể chế được thực hiện cho một số trẻ em tại
các trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh theo Sở LđtbXh, trong giai đoạn 2007-08, khoảng
308 trẻ em đã được nhận hỗ trợ tài chính thường xuyên, tương đương với khoảng 12% tổng số trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt trong số này, 198 trẻ em (64%) đã được chăm sóc và hỗ trợ tài chính dựa vào cộng đồng năm 2007, khoảng 50% trẻ em hoàn toàn
mồ côi và bị bỏ rơi nhận được hỗ trợ dưới một hình thức nào đó (bao gồm 34% trẻ được chăm sóc mang tính thể chế hoặc chăm sóc nuôi dưỡng, và 16% khác nhận được hỗ trợ tài chính trong cộng đồng) hỗ trợ trẻ em khuyết tật thay đổi tùy theo loại khuyết tật
và tình trạng nghèo của hộ gia đình các hộ nghèo có người lớn hoặc trẻ em khuyết tật
và thiếu lao động đủ tiêu chuẩn để được hỗ trợ tài chính tuy nhiên, độ bao phủ của hỗ trợ dựa vào cộng đồng này có vẻ còn hạn chế: năm 2007 chỉ có 6,6% trẻ em khuyết tật nhận được hỗ trợ tài chính trong cộng đồng
28 Nhận thức và phòng chống HIV/AIDS [Phần 6.3] tỷ lệ nhiễm hiV/AiDS đang tăng
nhanh ở vùng tây bắc năm 2008 điện biên có tỷ lệ nhiễm mới hiV cao nhất trong cả nước với mức 149/100.000 người thực hiện các biện pháp can thiệp toàn diện là rất quan trọng trước khi dịch hiV/AiDS trong vùng này đạt đến mức tương đương như tại các trung tâm đô thị và các dịch bệnh trước đây các trường hợp nhiễm hiV/AiDS xảy ra
ở tất cả các huyện và 86/112 xã phường năm 2009 tỷ lệ lây nhiễm trong nhóm người tiêm chích ma túy là cao, đi kèm với việc phổ biến lạm dụng ma túy Lạm dụng ma túy không chỉ giới hạn trong dân số đô thị, mà còn ở các vùng nông thôn và người dân các dân tộc thiểu số cũng có bằng chứng về tỷ lệ nhiễm hiV ngày càng tăng trong số gái mại dâm ở các vùng nông thôn Dự kiến tỷ lệ lây nhiễm theo đường tình dục sang dân
số nữ và số trẻ em bị lây nhiễm từ mẹ sang con sẽ tăng trong vài năm tiếp theo
Trang 1829 Việc nâng cao nhận thức, phòng ngừa và điều trị hiV/AiDS đã được tăng cường đáng
kể ở tỉnh Khoảng 35% kinh phí tỉnh trong ctmtQG về Phòng chống bệnh xã hội, bệnh
dịch và hiV/AiDS đã được phân bổ cho dự án hiV/AiDS từ năm 2006 đến 2008 Kinh
phí này bao gồm đầu tư vào một trung tâm Phòng chống hiV/AiDS và tăng chi phí hàng
năm cho cung cấp dịch vụ từ 620 triệu đồng năm 2006 lên 1,1 tỉ đồng năm 2009 mặc dù
vậy, cần phải tăng cường các hoạt động này trên địa bàn toàn tỉnh trong vài năm tới, đòi
hỏi nguồn lực đáng kể về tài chính và con người
30 có lẽ những nỗ lực phòng chống hiV/AiDS sẽ gặp khó khăn hơn ở điện biên so với ở
một số địa phương khác điều này là do một trong những nhóm có nguy cơ cao hơn
nằm trong dân cư nông thôn và dân tộc thiểu số đây rất có thể là một yếu tố làm dịch
bệnh lây truyền nhanh hơn so với ở trong các trung tâm đô thị có dịch vì dân cư nông
thôn nằm rải rác, và có nhiều thách thức trong việc thông tin, giáo dục và truyền thông
có hiệu quả đối với dân tộc thiểu số một điều rất quan trọng là không được bỏ qua
nhóm dân cư chủ yếu là ở nông thôn này, đặc biệt là phụ nữ và những người trẻ tuổi
dân tộc thiểu số cần phải có các phương pháp truyền thông nâng cao để tiếp cận được
cả nam giới và phụ nữ trong các nhóm này, và để giải quyết các vấn đề khó khăn của
việc sử dụng ma túy ở nông thôn Dự án phòng chống hiV/AiDS cho thanh niên đã giới
thiệu một phương pháp tiếp cận tổng thể để nâng cao chất lượng thông tin và nâng cao
nhận thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình kết hợp với phòng chống hiV/AiDS cho
thanh thiếu niên cần phải xem xét việc nhân rộng các bài học từ các hoạt động thí điểm
một cách có hiệu quả
31 Lao động trẻ em [Phần 6.5] Lao động trẻ em là một trong những vấn đề bảo vệ trẻ em
ít nhất được biết đến nhất ở điện biên Ước tính tổng thể chỉ có cho số trẻ em nông thôn
tham gia vào công việc nông nghiệp và làm việc nhà cho gia đình các em tuy nhiên, số
liệu về số trẻ em nông thôn hoặc thành thị tham gia vào các loại hình lao động có tiền
lương trong nông nghiệp, hoặc trong các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp địa
phương lại rất hạn chế chính phủ đã có những quy định rõ ràng về các quy định pháp
luật về lao động trẻ em và các hình thức lao động nguy hiểm bị cấm cho trẻ em tuy
nhiên, không có số liệu có sẵn về số lượng trẻ em ở điện biên tham gia vào các hình
thức lao động nguy hiểm thu thập và phân tích số liệu là một ưu tiên quan trọng đầu
tiên và trước hết là cần phải có các số liệu tốt hơn về số trẻ em có thể tham gia vào các
hình thức lao động độc hại, kết hợp với hành động trực tiếp để cải thiện tình trạng này
nếu nó tồn tại thứ hai, cần tăng cường các biện pháp phòng chống để giảm số lượng
trẻ em tham gia vào lao động trẻ em, bao gồm (i) tiếp tục cải thiện việc tiếp cận và các
cơ hội học trung học, đặc biệt đối với trẻ em gái; (ii) tăng cường các biện pháp khắc
phục hậu quả, theo đó trẻ em tạm thời nghỉ học có thể bắt kịp và hoàn tất việc học và (iii)
tiếp tục nâng cao nhận thức trong các cộng đồng địa phương
32 Đăng ký khai sinh [Phần 6.6] đăng ký khai sinh là điều cần thiết để đảm bảo nhiều khía
cạnh về phúc lợi và và cơ hội sinh kế trong tương lai của trẻ em bao gồm giáo dục, y tế
và việc làm nhiều nguồn thông tin cho thấy một tỷ lệ khá cao của trẻ em ở điện biên
vẫn không được đăng ký khai sinh trên toàn quốc, theo điều tra micS năm 2006, tỷ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi được đăng ký khai sinh là 87,6%, trong khi ở khu vực tây bắc tỷ lệ
này thấp hơn ở mức 75,3% được ghi nhận theo Sở tư pháp, tỷ lệ đăng ký khai sinh ở
điện biên chỉ khoảng 60-70% trong năm 2007, trong khi ở một số xã nông thôn tỷ lệ này
có thể thấp tới 30-40% nâng cao nhận thức của nhân dân về pháp luật và các quyền
lợi liên quan đến đăng ký khai sinh phải được thực hiện một cách thường xuyên và toàn
diện bởi chính quyền địa phương, kết hợp với các sáng kiến khác như xây dựng gia
đình và làng văn hóa năng lực của cán bộ ngành tư pháp cần phải được cải thiện nên
áp dụng các cơ chế cụ thể để tạo điều kiện đăng ký khai sinh cho người dân tộc thiểu
Trang 19nhỮnG VẤn đề chỦ YẾU Về PhỐi hợP Liên nGÀnh VÀ XâY DỰnG nĂnG LỰc
33 Đánh giá năng lực nhiều nhu cầu về xây dựng năng lực và đào tạo đã được xác định trong nghiên cứu này tuy nhiên, chưa có đủ thời gian để điều tra đầy đủ những nhu cầu này tất cả các sở ban ngành và các cấp chính quyền địa phương đều nói rằng cần phải xây dựng năng lực và xây dựng năng lực hiệu quả hơn tương tự, nhiều người dân địa phương thể hiện sự cần thiết phải nâng cao năng lực của các cơ quan và cá nhân tham gia vào công tác xã hội ở cấp độ cộng đồng, cũng như nhu cầu phải có các nguồn thông tin tốt hơn Vì vậy, đề nghị tỉnh cần thực hiện một đánh giá năng lực toàn diện đối với
các tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề và mối quan tâm của trẻ
em
34 Dựa trên các bằng chứng từ nghiên cứu này, có ba lĩnh vực xây dựng năng lực nổi bật
là ưu tiên cao nhất trong vài năm tới đầu tiên là cải thiện và đẩy mạnh phối hợp và hợp tác liên ngành trong các vấn đề quan trọng đối với sự sống còn và bảo vệ trẻ em, bao gồm: (i) kết nối giữa kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản và nhận thức
và phòng chống hiV/AiDS; và (ii) kết nối giữa dinh dưỡng trẻ em, phòng chống suy dinh dưỡng và cấp nước sạch vệ sinh thứ hai là xây dựng hệ thống công tác xã hội chính thức ở cấp tỉnh, huyện và cộng đồng theo chính sách mới của chính phủ thứ ba là
đánh giá và tăng cường hệ thống cộng tác viên thôn bản tham gia vào vấn để bảo vệ và sống còn của trẻ em
35 Xây dựng hệ thống công tác xã hội [Phần 3.7 và 6.2] Việc ban hành Quyết định
no.32/QD-ttg (ngày 25/03/2010) về phê duyệt đề án phát triển công tác xã hội giai
đoạn 2010-2020, đưa đến một cơ hội tuyệt vời để phát triển toàn diện hơn và có hiệu
quả hệ thống bảo vệ trẻ em cần phải có những quyết định về nội dung công việc, tuyển dụng và triển khai đội ngũ nhân viên xã hội; phạm vi hoạt động và dịch vụ mà họ tham gia vào; tổ chức và quản lý hoạt động ở cấp cơ sở; và cách phối hợp với các tổ chức
dựa vào cộng đồng tham gia vào vấn đề phúc lợi và bảo vệ trẻ em cần phải phát triển
và thực hiện các chương trình đào tạo và huấn luyện có hiệu quả cho cán bộ xã hội đáp ứng nhu cầu học tập cụ thể và yêu cầu xã hội của các nhóm dân cư khác nhau trong
tỉnh tất cả các hoạt động này yêu cầu phải có nguồn lực đầy đủ từ KhPtKtXh trong những năm tới
36 Các cộng tác viên thôn bản về sự sống còn và bảo vệ trẻ em nên đặc biệt chú ý
tới việc nghiên cứu lại vai trò và trách nhiệm của các cộng tác viên thôn bản tham gia vào các hoạt động vì sự sống còn và bảo vệ trẻ em theo nghị định 32 Việc này cần có
sự phối hợp giữa Sở Lao động và Sở Y tế mục đích là kết hợp vai trò và trách nhiệm của các cộng tác viên thôn bản nhằm tăng cường sự đồng bộ trong việc cung cấp dịch
vụ trong nội bộ ngành và giữa hai ngành Ví dụ, Sở Y tế đề xuất rằng có thể sẽ hiệu
quả hơn nếu các cô đỡ thôn bản đồng thời chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe sinh
sản, tăng cường nhận thức về hiV/AiDS cho bà mẹ, trợ giúp khi sinh, và dinh dưỡng
và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh và trẻ em cần tập trung những nỗ lực tăng cường hệ thống các cộng tác viên thôn bản này cho những thôn làng xa và các
cộng đồng người dân tộc thiểu số
37 Quyết định 32 cũng sẽ tạo cơ hội cho chính quyền tỉnh và Sở Lđtb & Xh đánh giá và nhân rộng các yếu tố thành công của các phương pháp tiếp cận cải tiến đang giới thiệu thông qua các dự án khác nhau, chẳng hạn như các hoạt động của mạng lưới bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng nhiều nghiên cứu khẳng định lợi thế của việc chăm sóc và
hỗ trợ tại gia đình và dựa vào cộng đồng rõ ràng, với bối cảnh xã hội ở điện biên,
đây sẽ là cách thích hợp và hiệu quả nhất để mở rộng dịch vụ bảo vệ trẻ em, đặc biệt
là trong các cộng đồng dân tộc thiểu số các thách thức chính trong tương lai sẽ là: (a)
Trang 20tăng cường cơ sở nguồn nhân lực để tạo điều kiện cho sự phát triển của các tổ chức
bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng; (b) cung cấp sự hỗ trợ thích hợp để giúp họ có thể
chịu trách nhiệm nhiều hơn và lãnh đạo các hoạt động bảo trợ xã hội ở địa phương; và
(c) tăng cường mức độ tham gia của trẻ em trong các tổ chức này
38 cấp huyện chịu trách nhiệm chính thực hiện các chính sách và dịch vụ bảo vệ chăm sóc
trẻ em trên địa bàn tuy nhiên, nguồn vốn cho các hoạt động này tại cấp huyện tùy thuộc
vào nguồn vốn nhà nước thông qua các quỹ bảo trợ xã hội Sự tham gia của cấp huyện
còn hạn chế trong các chương trình, dự án bổ sung nguồn lực cho bảo vệ trẻ em và
nhằm giới thiệu các cách tiếp cận mới Việc tăng thêm ngân sách cấp huyện cho bảo vệ
trẻ em là điều quan trọng để mỗi huyện có thể triển khai linh hoạt các dịch vụ theo tình
hình thực tế địa phương
39 Tăng cường nâng cao nhận thức và cung cấp thông tin trong những năm gần đây,
tỉnh đã quan tâm nâng cao nhận thức và thông tin về các vấn đề liên quan đến quyền
trẻ em, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và hiV/AiDS đây không chỉ bao gồm các hoạt
động thông tin và tuyên truyền thường xuyên, mà còn là các phương pháp tiếp cận mới
sử dụng “truyền thông lồng ghép thay đổi hành vi” và “truyền thông cá nhân dựa vào
cộng đồng” kết hợp với huy động và cung cấp dịch vụ dựa vào cộng đồng trước đây
tỉnh chủ yếu dựa vào các dự án ODA và các nguồn tài chính của các ctmtQG trong
lĩnh vực này, và phạm vi bao phủ và quy mô của các hoạt động này trong một số trường
hợp còn hạn chế Kinh phí chung của tỉnh còn thiếu để nhân rộng những phương pháp
tiếp cận này cho tất cả các xã và thôn cần phải tăng kinh phí cho các hoạt động này từ
ctmtQG là quan trọng trong những năm tới đặc biệt cần phải mở rộng sự hiểu biết
về quyền tham gia của trẻ em, đặc biệt là thông qua các cơ chế khuyến khích trẻ em và
thanh thiếu niên dân tộc thiểu số tham gia đóng góp vào các công việc của địa phương
CÁc VẤn đề VÀ ƯU tiên Về SỐ LiệU VÀ thônG tin
40 có ba khía cạnh chính còn thiếu thông tin thống kê, phân tích và hiểu biết về mặt chất
lượng về tình hình của trẻ em ở điện biên cần phải tiến hành các bước để lấp đầy
những khoảng trống này để phục vụ tốt hơn quá trình lập kế hoạch và các nội dung của
KhPtKtXh trong năm 2010 và 2011
41 Phạm vi bao phủ và chất lượng của số liệu của các chỉ số bảo vệ trẻ em [Phần 6.1]
các thông tin thống kê sẵn có về một số chỉ tiêu bảo vệ trẻ em còn phân tán và không
đưa ra được một bức tranh đầy đủ đáng tin cậy về tình hình hiện nay ngoài ra còn thiếu
thông tin định tính chuyên sâu và sự hiểu biết về một số vấn đề bảo vệ trẻ em quan
trọng có lẽ có nhiều lý do cho việc này thứ nhất, trách nhiệm thu thập số liệu về một
số vấn đề bảo vệ trẻ em được phân công cho các cơ quan ngành khác nhau khiến cho
sự tổng hợp số liệu còn khó khăn thứ hai, không có số liệu của một số chỉ số vì chưa
thực hiện các cuộc điều tra đầy đủ (ví dụ như đối với tình hình lao động trẻ em) thứ ba,
do nhạy cảm xã hội xung quanh các vấn đề như hiV/AiDS, lạm dụng trẻ em và sử dụng
ma túy, có khả năng chỉ có một số thông tin được báo cáo, ngoài ra là không báo cáo
thứ tư, do thiếu cộng tác viên địa phương xử lý cụ thể với công tác xã hội và năng lực
yếu kém của cán bộ xã và thôn, việc thu thập số liệu cho các chỉ số bảo vệ trẻ em ở cấp
cộng đồng gặp khó khăn cuối cùng, có những mâu thuẫn trong các báo cáo về hỗ trợ
bảo vệ trẻ em giữa các cấp hành chính và địa phương Về mặt này, có bốn ưu tiên cho
việc cải thiện thu thập số liệu và phân tích:
Trang 21• có thông tin và hiểu biết tốt hơn về các mô hình lạm dụng trẻ em ở tỉnh, giữa các nhóm dân cư thành thị và nông thôn.
cần sự bảo vệ đặc biệt theo nghị định no.67 (2007) nên kết hợp với một cuộc khảo sát để hiểu rõ hơn về tính hiệu quả của các tiêu chí và chiến lược mục tiêu, và bố trí đầy đủ kinh phí cho việc chăm sóc và bảo vệ dựa vào cộng đồng
42 Số liệu phân tổ tốt hơn theo dân tộc [Phần 2.3] một trong những phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu này là có sự thiếu thông tin thống kê quan trọng được phân tổ theo dân tộc về sự sống còn và phát triển của trẻ em ở điện biên tất cả các bằng chứng cho thấy rằng dân tộc là yếu tố nổi bật nhất ảnh hưởng đến các mô hình phân hóa về nghèo đói và các chỉ số về sự sống còn và phát triển của trẻ em tuy nhiên, còn thiếu dữ liệu chính thức để kiểm tra toàn diện các mô hình phân hóa này, và dựa trên cơ sở đó ra
quyết định về lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực Về mặt này, cụ thể cân phải phân biệt các chỉ số chính một cách rõ ràng hơn giữa: (a) phần lớn dân tộc thiểu số người thái
của tỉnh; (b) người mông là nhóm dân tộc thiểu số lớn thứ hai trên địa bàn tỉnh; và (c)
các nhóm dân tộc thiểu số ít người hơn có thể đang gặp hoàn cảnh khó khăn
43 cần phải cân nhắc cẩn thận về việc cần phải giải quyết vấn đề thông tin này như thế
nào rõ ràng sẽ không thực tế nếu hi vọng rằng việc thu thập và báo cáo số liệu thường xuyên của tất cả các tỉnh và huyện đều kết hợp phân tổ theo dân tộc cần phải xác định được những loại số liệu cấp thiết nhất, và cách tốt nhất để thu thập những thông tin này Dựa trên phân tích của báo cáo này, có bốn ưu tiên chính:
gồm: (i) tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, (ii) tỷ lệ tiêm phòng đầy đủ, (iii) các chỉ số về
chăm sóc tiền thai sản và trước khi sinh, và (iv) tiếp cận nước sạch và tình hình vệ
sinh hộ gia đình
số liệu chính xác về tỷ lệ trẻ nam và nữ từ các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau tham gia và hoàn thành tiểu học và trung học
tộc thiểu số, bao gồm cả trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi, và tình hình của cha mẹ đơn thân và hộ gia đình nghèo
nhau trong tỉnh (cần lưu ý rằng những số liệu này có sẵn từ tổng điều tra Dân số năm 2009)
44 trong ngắn hạn, cách tốt nhất để làm đầy khoảng cách thông tin này là thực hiện một
cuộc điều tra mẫu tại một số xã mục tiêu của điều tra này là có được một sự hiểu biết tốt hơn về những sự khác biệt về dân tộc đối với tình hình của phụ nữ và trẻ em các
xã được chọn sẽ phải mang tính đại diện của các đặc điểm nhân khẩu học lớn của tỉnh, cũng như bao gồm một số nhóm dân tộc thiểu số ít người hơn
45 Số liệu dân số ban đầu và số liệu phân tổ theo giới tính hiện nay, một trong những khó khăn chính trong việc đánh giá tình hình trẻ em ở điện biên là thiếu số liệu dân số cập nhật có thể được dùng để thực hiện một phân tích sâu sắc hơn về xu hướng sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em đặc biệt, thiếu các số liệu về dân số trẻ em được phân
Trang 22tổ theo giới tính có thể được dùng để thực hiện một phân tích kỹ lưỡng về giới Không
có sẵn số liệu về số lượng trẻ em nam và nữ của các nhóm tuổi khác nhau, ở các địa
phương khác nhau, giữa các nhóm dân cư khác nhau (ví dụ như loại thu nhập và các
nhóm dân tộc) trong tỉnh điều này khiến cho khó có thể phân tích đầy đủ các xu hướng
của các tỷ lệ nhập học và hoàn thành cấp học một lý do cho việc thiếu số liệu dân số là
điện biên được tách ra từ Lai châu kể từ sau tổng điều tra dân số năm 1999 Vấn đề
này được giải quyết khi các kết quả của tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009 được
công bố trong năm tới, cục thống kê cần ưu tiên chuẩn bị các bộ số liệu cơ bản về
dân số trẻ em những bộ số liệu này có thể được cung cấp cho các sở ban ngành để
giúp họ thực hiện một phân tích chi tiết hơn phục vụ quá trình lập KhPtKtXh và phân
bổ nguồn lực
Trang 23chƯƠnG 1 GiỚi thiệU
Trang 241 GiỚi thiệU
1.1 mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
trong thập kỷ qua, chính phủ Việt nam đã bắt đầu và thực hiện quá trình phân cấp trách
nhiệm lập kế hoạch và ngân sách cho cơ quan chính quyền tỉnh theo một nghiên cứu về
phân cấp ở đông Á do ngân hàng thế giới thực hiện năm 2005, chi tiêu ở cấp địa phương
chiếm 48% tổng chi tiêu công ở Việt nam, đó là mức độ phân cấp cao thứ hai trong khu
chính quyền tỉnh và từng cơ quan ban ngành trong quản lý quá trình lập kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội theo những cách hiệu quả nhất, trong phân bổ nguồn lực và thực hiện các dự
án và chương trình đạt được kết quả cho những người nghèo nhất, những người thiệt thòi
và các bộ phận dễ bị tổn thương nhất của xã hội vẫn còn yếu mặc dù các cơ quan chính
quyền địa phương có thẩm quyền cao hơn trong việc ra quyết định và ngân sách, họ chưa
tận dụng được nhiều cơ hội để tối đa hóa nguồn lực sẵn có để giải quyết mối quan tâm của
địa phương Việc ưu tiên các vấn đề của trẻ em đòi hỏi phải lập kế hoạch và ngân sách vì
trẻ em dựa trên bằng chứng thông qua tiến trình KhPtKtXh đáng tiếc rằng mặc dù tại cấp
tỉnh có số liệu và thông tin về các vấn đề xã hội nói chung và trẻ em nói riêng, các số liệu và
thông tin này không phải lúc nào cũng có hệ thống và thống nhất để có thể dùng để phân
tích bức tranh một cách đầy đủ
nghiên cứu này phân tích tình hình trẻ em tại tỉnh điện biên mục tiêu tổng thể của nghiên
cứu là cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và lập kế hoạch thông tin về các vấn đề
và ưu tiên của trẻ em trong tỉnh các mục tiêu cụ thể là: (i) tổng hợp thông tin, phân tích tình
hình trẻ em trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của tỉnh; (ii) xác định các vấn đề có liên
quan ảnh hưởng đến kiến thức về quyền trẻ em và tiến bộ của các quyền này; và (iii) đưa
ra các khuyến nghị cải thiện tình hình trẻ em có thể được đưa vào KhPtKtXh, kế hoạch
ngành và ngân sách các câu hỏi nghiên cứu cụ thể được giải quyết trong nghiên cứu này
như sau:
phương có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của trẻ em trên địa bàn tỉnh là gì, cả
hiện tại và trong tương lai?
là gì và đâu là nguyên nhân của những vấn đề và thách thức đó?
và đâu là khoảng cách năng lực của người chịu trách nhiệm khi thực hiện những yêu
cầu này?
sách và các chương trình hiện tại hỗ trợ trẻ em là gì, và hiệu quả của chúng ra sao?
thực hiện các quyền của trẻ em chưa?
hàng năm và 5 năm của tỉnh là gì?
Trang 251.2 Khung và phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích sử dụng cho nghiên cứu này có hai yếu tố chính thứ nhất, vấn đề của trẻ em được phân tích theo nhóm quyền trẻ em có liên quan đến các lĩnh vực ngành
khác nhau, bao gồm: (1) quyền sống còn - bao gồm y tế, cấp nước, vệ sinh môi trường và nơi ở; (2) quyền phát triển – bao gồm giáo dục và học tập; (3) quyền bảo vệ - bao gồm chăm sóc trẻ em cần bảo vệ đặc biệt, lao động trẻ em, và các khía cạnh pháp lý của bảo vệ trẻ em;
và (4) quyền tham gia - bao gồm quyền đóng góp ý kiến trong gia đình, cộng đồng và tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề của trẻ em cách này tuân theo các định nghĩa
về quyền trẻ em được đưa ra trong công ước về Quyền trẻ em (crc) cũng như trong pháp luật và các chính sách của Việt nam, trong đó có Luật bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ
em, và chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em (2001 - 2010)
thứ hai, nghiên cứu này kết hợp phương pháp tiếp cận dựa trên quyền với phân tích cấu trúc lập chương trình và ngân sách cho các vấn đề liên quan đến trẻ em trong KhPtKtXh của tỉnh điều này nhằm xác định những khía cạnh đã được giải quyết và cung cấp nguồn lực tương đối đầy đủ, cũng như những khía cạnh dường như chưa đủ nguồn lực và chưa được giải quyết thỏa đáng trong kế hoạch và ngân sách hiện tại
nghiên cứu này kết hợp các nguồn thông tin định lượng và định tính Số liệu thống kê ban đầu đã được đối chiếu từ các nguồn thứ cấp bao gồm các cơ quan thống kê quốc gia, tỉnh
và địa phương thông tin và hiểu biết định tính được thu thập từ các nguồn sơ cấp trong quá trình nghiên cứu thực địa cho nghiên cứu này, cũng như từ các báo cáo khác nhau của tỉnh
và nghiên cứu các tài liệu có liên quan các yếu tố chính về phương pháp luận như sau:
đến các vấn đề trẻ em từ nhiều nguồn thứ cấp, bao gồm các hệ thống cơ sở dữ liệu
và các báo cáo cấp quốc gia và cấp tỉnh và từ các cuộc điều tra cấp quốc gia thông tin ngân sách đã được ngoại suy từ KhPtKtXh tỉnh cho giai đoạn 3 năm 2007-2009 trong mức độ có thể, các số liệu đã được kiểm tra chéo và xác nhận từ nhiều nguồn các mâu thuẫn về số liệu được xác định khi xảy ra, cũng như những khoảng trống
trong các số liệu thống kê hiện có Khi có thể, số liệu và các xu hướng được phân tích theo thời gian
3 huyện và 3 xã, cũng như các cuộc họp và phỏng vấn cấp tỉnh thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn được tổ chức với 88 người bao gồm cả cán bộ cấp tỉnh, huyện và
xã, cán bộ y tế xã và giáo viên, và nhóm của cha mẹ, người dân địa phương và các
em học sinh từ các xã nghiên cứu thảo luận nhóm được tổ chức với 40 học sinh từ các trường trung học cơ sở ở từng xã trong mọi trường hợp, các em được hỏi và trả lời tự do nếu muốn tham gia vào các cuộc thảo luận nhóm, và các em đã được yêu
cầu ký một thư xác nhận rằng những ý tưởng và ý kiến của các em có thể được sử
dụng trong nghiên cứu này
chính quyền địa phương và các cơ quan ngành chuẩn bị đã được sử dụng các báo cáo tóm tắt cho nghiên cứu này cũng được các cơ quan chính phụ trách vấn đề trẻ
em chuẩn bị sẵn sàng Việc kiểm tra chéo và xác nhận số liệu thống kê đưa ra trong các báo cáo này được chú ý đặc biệt, và phân tích định lượng những thuận lợi, khó
khăn và giải pháp được đưa ra trong các báo cáo này đã được tích hợp vào phân tích ngoài ra, có tham khảo một số nghiên cứu nghiên cứu cung cấp phân tích và khuyến nghị có liên quan
Trang 261.3 các địa điểm nghiên cứu thực địa
nghiên cứu thực địa được tiến hành ở xã thanh Xương huyện điện biên, xã Quài nưa
huyện tuần Giáo, và xã mường bang trong huyện tủa chùa (bảng 1) Việc lựa chọn các
huyện, xã đã được thống nhất với ban QLDA của chương trình tỉnh bạn hữu trẻ em
(PcFP) của UniceF thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư (Sở Kh&đt)
các tiêu chí lựa chọn xã như sau: (i) các xã nên đại diện cho các điều kiện nhân khẩu học,
dân tộc và địa lý trong tỉnh, bao gồm đồng bằng, trung du và vùng cao, và (ii) phải đại diện
cho các vấn đề lớn như suy dinh dưỡng trẻ em, trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, trẻ em nghèo
và các yếu tố khác phản ánh hoàn cảnh xã hội và tình hình của trẻ em ở các vùng nông
thôn tuy nhiên, cần lưu ý rằng các xã này không đại diện cho tình hình tại các phường đô
thị, cũng như các xã và làng xa và bị cô lập nhất như ở huyện mường nhé hoặc mường
chà
Bảng 1 Các địa điểm nghiên cứu, 2009
các nhóm dân tộc thiểu số thái (58%), mông (38%),
Khơ mú (5%) thái (70%), Kinh (14%), các nhóm khác (16%) thái (47%), mông (46.5%) Khơ mú (4.5%), Kinh (2%)
Nguồn: UbnD các huyện / xã
tất cả ba xã nhìn chung có tính đại diện về thành phần nhân khẩu học ở các vùng nông thôn
của tỉnh Dân tộc thái chiếm đa số, với mông và Kinh là các dân tộc đông dân thứ hai và thứ
ba Dân tộc Khơ mú đại diện cho một trong các nhóm dân tộc thiểu số có dân số nhỏ hơn
trong khi ở toàn bộ khu vực dãy núi phía bắc, trung bình mỗi xã có khoảng 10 làng, các
xã trong vùng tây bắc nói chung có số làng lớn hơn Xã thanh Xương nằm ở một khu vực
thung lũng, với đường đi vào tốt, mật độ dân số cao hơn, và tỷ lệ nghèo tương đối thấp vào
khoảng 11% thanh Xương được công nhận là xã đã đạt nhiều chuẩn quốc gia và là một
trong những xã ‘hàng đầu’ của tỉnh điện biên hai xã khác, Quài nưa và mường báng, đại
diện cho vùng trung du và vùng cao cả hai đều có đường đi vào đến trung tâm xã, nhưng
với mật độ dân số thấp hơn và tỷ lệ nghèo cao hơn
Trang 271.4 nội dung của báo cáo
Sau phần giới thiệu này, báo cáo được chia thành sáu phần chính như sau:
Phần 2 giới thiệu bối cảnh xã hội và kinh tế của tỉnh, bao gồm tình hình địa lý và các điều
kiện cơ sở hạ tầng, đặc điểm và các xu hướng nhân khẩu học, sự đa dạng về dân tộc, tình trạng nghèo và trẻ em nghèo, kinh tế tỉnh và các mô hình thu nhập và chi tiêu hộ gia đình đặc biệt, phần này liên hệ tình hình kinh tế xã hội ở điện biên với các xu hướng và các chỉ
số khu vực và quốc gia, sử dụng các nguồn số liệu thống kê quốc gia
Phần 3 phân tích chương trình và ngân sách dành cho trẻ em trong KhPtKtXh tỉnh Phần này bao gồm các xu hướng trong các hợp phần ngành xã hội trong chi phí tổng thể của tỉnh; ngân sách đầu tư phát triển thuộc KhPtKtXh; vốn của chương trình mục tiêu quốc gia
(ctmtQG); tài chính ngành cho sự sống còn, phát triển và bảo vệ trẻ em; các kế hoạch
ngân sách huyện; và tài trợ cho các hoạt động phần mềm
những phần sau phân tích các nhóm quyền trẻ em và việc cung cấp dịch vụ ở mức độ sâu hơn bao gồm sự sống còn và chăm sóc sức khỏe trẻ em (Phần 4); phát triển và giáo dục trẻ
em (Phần 5); bảo vệ trẻ em bao gồm chăm sóc trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt, nhận thức và phòng ngừa hiV/AiDS, lao động trẻ em, đăng ký khai sinh, và lạm dụng trẻ em và trẻ em vi phạm pháp luật (Phần 6); và sự tham gia của trẻ em (Phần 7) mỗi phần đưa ra một bản tóm tắt các số liệu thống kê sẵn có, kết hợp với thông tin và phân tích định tính thu được trong quá trình nghiên cứu Phân tích luôn được dẫn chiếu tới các bảng số liệu thống kê được
trình bày trong Phụ lục 1
Trang 29chƯƠnG 2 bỐi cẢnh Kinh tẾ
XÃ hỘi tỉnh điện biên
Trang 302 tỉnh điện biên - bỐi cẢnh Kinh tẾ - XÃ hỘi
2.1 đặc điểm địa lý và hạ tầng cơ sở
điện biên có đường biên giới tiếp giáp với Lào dài 360 km và đường biên giới tiếp giáp với
tỉnh Vân nam trung Quốc dài 40 km toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính bao gồm thành phố
điện biên Phủ, thị xã mường Lay và 7 huyện vùng nông thôn với tổng số 112 xã phường và
thị trấn Về mặt địa hình, điện biên là tỉnh đồi núi chia cắt nằm ở độ cao trên 1.800m; 70%
nhiều khe và suối đổ ra sông mã và sông đà của Việt nam, và sông mê Kông chảy qua Lào
điện biên có lợi thế phát triển các đường giao thông liên lạc và mối quan hệ kinh tế với các
nước láng giềng khu vực tiểu vùng sông mê Kông tỉnh có vị trí chiến lược trong việc kết
nối với các nhánh chính của hành lang kinh tế bắc-nam khu vực tiểu vùng sông mê Kông
Phongsalay của Lào đã được nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế và tại đây một khu vực kinh
tế đang được xây dựng các cửa khẩu khác tiếp giáp với tỉnh Luang Prabang và Vân nam
đang dần được mở cửa hoặc nâng cấp thành các cửa khẩu quốc gia Gần đây điện biên đã
mở văn phòng xúc tiến thương mại tại Luang Prabang, và cả Luang Prabang và Vân nam
đều có văn phòng xúc tiến thương mại tại thành phố điện biên Phủ đây là điều kiện tiền đề
để điện biên và các tỉnh phía bắc của Việt nam mở rộng hợp tác và liên kết kinh tế trong
khu vực đồng thời, việc phát triển hành lang kinh tế khu vực cũng mang đến nhiều thách
thức trong việc đảm bảo lợi ích công bằng cho các lĩnh vực của địa phương, và đặc biệt
trong việc kiểm soát dịch bệnh xuyên quốc gia là ưu tiên hàng đầu cho việc hợp tác trong
lĩnh vực y tế khu vực tiểu vùng sông mê Kông
trong những năm gần đây, tỉnh đã đầu tư đáng kể vào hạ tầng kinh tế và xã hội cơ bản mặc
dù vậy, hạ tầng thấp kém vẫn tiếp tục được xem là rào cản cho việc phát triển kinh tế và
cung cấp dịch vụ xã hội, nhất là đối với các xã và huyện vùng sâu vùng xa
thôn có đường tới trung tâm xã, chỉ có khoảng 70% số đó có đường ô tô đến xã tiếp cận
được trong mọi thời tiết Khoảng 77% số xã có điện lưới quốc gia tuy vậy, cũng còn nhiều
bản và nhiều hộ vẫn chưa có điện ngay cả ở những xã đã được kết nối với lưới điện các
xã và thị trấn đều có bưu điện và điện thoại tính đến năm 2009, mặc dù 100% số xã đã
có trạm y tế, mới chỉ có 42% số đó đạt chuẩn y tế quốc gia Ước tính, có khoảng 75% dân
số nông thôn và 78% dân số thành thị tiếp cận được với nước sạch mặc dù hệ thống cấp
nước đã được cải thiện, vẫn còn nhiều người dân vùng cao rơi vào cảnh thường xuyên thiếu
nước sạch, nhất là vào mùa khô
2.2 đặc điểm và xu thế dân số
tính đến năm 2009, dân số toàn tỉnh là 493.000 người (Phụ lục 1.1 & 1.2), trong đó dân số
khu vực nông nghiệp chiếm 85% (418.287 người) và dân số khu vực thành thị chiếm 15%
(74.720 người) Phụ nữ chiếm 49,8% và trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 35,24% tỷ lệ giới tính
khi sinh hiện là 111,5, cao hơn một chút so với mức quốc gia (110,8) (Phụ lục 1.26) Dân tộc
thiểu số chiếm khoảng 80% tổng dân số toàn tỉnh, tập trung chủ yếu ở các huyện và xã nông
thôn
Trang 31Bản đồ 1 Dân số theo huyện, 2009
HuyệnMường Nhé54.770
Huyện Mường Lay11.666
HuyệnTùa Chùa47.445
Huyện Mường Chà52.655
Huyện Tuần Giáo74.287
HuyênMường Àng40.241Thành Phố ện Biên Phủ
48.836
Đi
Huyện
ện Biên106.398
ện Biên ông56.709
Bản ồ từ Vietinfo đ Đi
láng giếng Lai châu và tỉnh Kon tum ở tây nguyên có mật độ dân trung bình thấp hơn tuy
chà chiếm gần một nửa diện tích đất tự nhiên của tỉnh (45%) nhưng chỉ chiếm 20% dân số toàn tỉnh
Ở khu vực địa lý này, mật độ dân cư thưa thớt và địa hình đồi núi hiểm trở có ảnh hưởng
nghiêm trọng lớn cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản theo nhiều cách khác nhau thứ nhất, việc tiếp cận các dịch vụ xã hội khó khăn hơn đối với dân cư nông thôn Ví dụ, theo điều
trung bình từ nhà đến trường trung học phổ thông ở điện biên là 16,7 km, trong khi khoảng cách bình quân của 12 tỉnh là 9,6 km thứ hai, chi phí đầu tư hạ tầng, chi phí giao dịch, chi
Khoa học Lao động (iLSSA) (2009) Những đặc điểm của kinh tế nông thôn Việt Nam: Thực tế từ điều tra hộ gia đình nông thôn tại 12 tỉnh.
Trang 32phí cấp phát dịch vụ tính theo đầu người cũng cao hơn hẳn (như chi phí nhân sự, chi phí đi
lại hay chi phí vận chuyển vật liệu) nhiều phần của báo cáo này đều nói lên rằng các chi phí
phụ trội của việc cung cấp dịch vụ ở vùng sâu vùng xa đều không được phản ánh đầy đủ
trong quá trình xây dựng và lập ngân sách thực hiện KhPtKtXh của địa phương, cũng như
trong hệ thống định mức chi tiêu của chính phủ
trong thập kỷ qua, điện biên đã có những bước chuyển lớn về cơ cấu độ tuổi dân số giống
như nhiều tỉnh nông thôn khác trên cả nước (hình 1 và Phụ lục 1.3) trước hết, trong khi
dân số trẻ em dưới 10 tuổi chiếm 29,5% tổng dân số trong năm 1999, con số này đã giảm
xuống còn 20,53% trong năm 2008 và được dự báo là sẽ còn giảm tiếp điều này cũng
tương đồng với việc giảm tỷ suất sinh chung từ 24,3 phần nghìn năm 2006 xuống 23,7 phần
người năm 2008) (Phụ lục 1.5) thứ hai, dân số trong độ tuổi lao động và lực lượng lao động
đã tăng trong giai đoạn này và sẽ tiếp tục tăng đáng kể trong hai thập kỷ tới Do vậy việc tạo
cơ hội việc làm và kiếm sống cho số lượng ngày càng tăng học sinh tốt nghiệp các trường
học và lực lượng lao động trẻ sẽ là vấn đề ưu tiên của chính quyền địa phương trong những
năm tới
trong khi xu thế này đang rất phổ biến ở các vùng nông thôn Việt nam, tình hình của điện
biên cũng như một số tỉnh vùng núi phía bắc có điều kiện tương tự lại khá đặc biệt do có tỷ
lệ sinh và quy mô hộ gia đình tương đối cao (Phụ lục 1.4 & 1.5) tỷ lệ gia đình có 5 người trở
lên của điện biên là 46,3%, trong khi tỷ lệ này của quốc gia chỉ là 31%; và tình trạng tương
tự như Lai châu (52%), hà Giang (51%) và Sơn La (46%) Kết quả từ điều tra mức sống
hộ gia đình Việt nam (đtmShGđ) năm 2008 cho thấy quy mô hộ gia đình có liên quan mật
thấp nhất của điện biên là 7.9 người – cao hơn nhiều so với mức bình quân chung cả nước
là 4.12 người trong khi đó quy mô hộ gia đình ở nhóm thu nhập cao của tỉnh là 3.6 người –
thấp hơn so với mức bình quân quốc gia là 3.8
Số liệu này dấu đi những sự khác biệt đáng kể về xu thế nhân khẩu học giữa các nhóm dân
số khác nhau của tỉnh tỷ lệ sinh tiếp tục tương đối cao trong nhóm dân sống ở khu vực
nông thôn và những nơi có nhiều dân tộc thiểu số với quy mô gia đình lớn tập trung ở những
nhóm nghèo nhất người dân địa phương thường gắn quy mô gia đình lớn với điều kiện
sống nghèo khó “Ông QVS có 5 con Không có nhà, chỉ có mỗi cái lều Năm vừa rồi Nhà
Trang 33nước cho tấm lợp 134, nhưng cũng chỉ lợp tạm lên cái lều đó chứ chưa có gỗ để xây nhà
Con vẫn đi học Hai vợ chồng đang tuổi lao động, nhưng nhà đó đói quanh năm Đông con là nguyên nhân nghèo đói Dù Nhà nước quan tâm cho 140.000 đ mỗi tháng nhưng không thể đáp ứng được nhu cầu Đất đai thì ngày càng bạc màu, người dân không biết áp dụng khoa học kỹ thuật mới, nên dù Nhà nước có quan tâm nhiều cũng không thể đáp ứng được hết
nhu cầu.” (thảo luận nhóm với người dân xã Quài nưa, huyện tuần Giáo).
Xu thế dân số như vậy cho thấy cần tiếp tục tập trung nỗ lực và nguồn lực cho các chương trình sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình, ưu tiên cho những nhóm người nghèo
nông thôn đồng thời cũng cần nhận ra rằng việc tăng cường sử dụng lực lượng lao động
hộ gia đình sẽ cần tiếp tục được xem là chiến lược ưu tiên cả trong trung hạn và dài hạn để
đa dạng sinh kế cho các hộ gia đình nghèo và các nhóm dân cư nghèo
2.3 Sự đa dạng và khác biệt về dân tộc
điện biên có 21 dân tộc trong đó dân tộc thái chiếm 40,5%, mông – 29% và Kinh – 20%
(Phụ lục 1.7) tỷ lệ người dân tộc thiểu số thay đổi, từ 21% ở thành phố điện biên Phủ tới trên 99% ở huyện điện biên đông và mường nhé (Phụ lục 1.2) Dân tộc thái và mông là
phổ biến nhất trong các nhóm dân tộc còn lại thì phổ biến hơn cả là dân tộc Khơ mú, Dao, Giáy, hà nhì, Lào và La hú tỉnh cũng có một nhóm dân tộc thiểu số ít người – nhóm Si La,
mà chính phủ đang hỗ trợ các dự án phát triển và bảo tồn đặc biệt nhóm này hiện trên cả nước chỉ còn không tới 1.000 người trong đó có khoảng 200 người sinh sống tại một bản
thuộc huyện mường nhé
cũng giống như các tỉnh khác khu vực miền núi phía bắc, điện biên là tỉnh có mức độ đa
xã và thôn bản có những nhóm dân tộc thiểu số sống cạnh nhau một hình mẫu sinh sống phổ biến ở nông thôn miền núi điện biên là các bản người thái (chiếm phần lớn dân số)
thường sống ở vùng thấp hơn gần trung tâm xã, và một hoặc hai bản của các nhóm dân tộc khác sống ở vùng cao hơn hẻo lánh hơn ngay trong một xã Phương thức sống như vậy đều thấy ở 3 xã tiến hành nghiên cứu (bảng 1)
cách thức định cư phức hợp và sự gắn kết giữa các nhóm dân tộc thiểu số như vậy có ảnh hưởng lớn tới việc định hướng ưu tiên cho các chương trình mục tiêu cũng như việc cung cấp dịch vụ Ví dụ, các phương pháp tiếp cận chuẩn để tăng cường sự tham gia của người dân, giáo dục song ngữ, cung cấp thông tin bằng văn bản, chăm sóc sức khỏe sinh sản là khó thực hiện và khó đạt ở những vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống và đa dạng về
ngôn ngữ điều này đã được người dân xã thanh Xương mô tả như sau: “Trong xã có một
số người chỉ nói được tiếng Thái hoặc tiếng Mông hoặc tiếng Khơ Mú … Khi vào các hộ kém tiếng Kinh, cách tuyên truyền là đưa tranh ra để xem, hỏi mọi người trong tranh đang làm
gì Có nên làm hay không nên làm” (thảo luận nhóm với người dân địa phương xã thanh
Xương, huyện điện biên)
một trong những phát hiện quan trọng của nghiên cứu này là thiếu nghiêm trọng thông tin thống kê về sự sống còn và phát triển của trẻ được phân tổ theo các nhóm dân tộc (hộp 1) tất cả các bằng chứng đều cho thấy vấn đề dân tộc thiểu số là yếu tố then chốt nhất ảnh
hưởng tới sự khác biệt về nghèo cũng như các chỉ số về sự sống còn và phát triển của trẻ trên địa bàn tỉnh tuy nhiên một thực tế là tỉnh thiếu nghiêm trọng số liệu chính thống để xem xét các dạng khác biệt đó, làm cơ sở xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực
tộc thiểu số báo cáo cho UniceF và Ủy ban Dân tộc
Trang 34Hộp 1 Số liệu về dân tộc thiểu số
trong quá trình tiến hành nghiên cứu rất khó thu thập số liệu cơ bản về các nhóm dân tộc thiểu
số trong tỉnh, chẳng hạn như số liệu cập nhật về tổng số dân là người dân tộc thiểu số điều này
một phần là do điện biên mới được tách ra từ tỉnh Lai châu sau đợt tổng điều tra dân số năm
1999 Do vậy số liệu liên quan đến dân số rất khó ngoại suy niên giám thống kê của tỉnh chỉ có
2 thông tin được phân tổ theo dân tộc đó là tổng số giáo viên và học sinh dân tộc thiểu số trong
giáo dục phổ thông, và số cặp vợ chồng có trên 2 con niên giám thống kê này sử dụng mẫu do
tổng cục thống kê quy định tuy vậy, đây cũng nói lên sự thiếu hụt số liệu thống kê liên quan
đến sự khác biệt về dân tộc thiểu số
báo cáo của các ngành (ví dụ chương trình hành động quốc gia về trẻ em) cũng rất hạn chế
khi phân tích sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc tương tự, các kế hoạch PtKtXh của tỉnh và
huyện cũng rất ít thông tin bóc tách theo dân tộc để làm cơ sở hoạch định các chiến lược mục
tiêu của địa phương Số liệu thống kê về dân tộc thiểu số thường có ở văn phòng UbnD huyện
cán bộ địa phương cũng nắm khá rõ về những sự khác biệt ấy và ảnh hưởng đối với việc thực
hiện và thành công của nhiều dự án và chương trình Vấn đề ở đây là không có số liệu chính
thống sử dụng trong phân tích để xác định mục tiêu và phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả
trong KhPtKtXh ở các cấp khác nhau
2.4 thực trạng và xu thế nghèo
cũng giống như các vùng khác trong cả nước, điện biên đã đạt được tốc độ giảm nghèo
nhanh trong những năm gần đây (bảng 2 & Phụ lục 1.8) mặc dù vậy, tỷ lệ nghèo ở khu vực
tây bắc vẫn tiếp tục nằm trong số cao nhất trong cả nước theo chuẩn nghèo của chính
phủ, tỷ lệ nghèo chung của 4 tỉnh trong khu vực này giảm từ 39,4% năm 2006 xuống 35,4%
năm 2008 và ở điện biên giảm từ 42,9% xuống 39,3% trong cùng giai đoạn đó theo chuẩn
nghèo về chi tiêu của đtmShGđ, vùng tây bắc có tỷ lệ nghèo cao hơn nhưng cũng giảm từ
49% năm 2006 xuống 45,7% năm 2008
có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ nghèo trong nội bộ tỉnh, đặc biệt là theo (a) nơi sinh sống
(thành thị hoặc nông thôn) và (b) giữa các nhóm dân tộc với nhau (bảng 2 và bản đồ 2)
theo thống kê của tỉnh, năm 2009 tỷ lệ nghèo có sự chênh lệch đáng kể từ 1,1% ở thành
phố điện biên Phủ, 5,3% ở thị xã mường Lay tới 55,1% ở huyện mường chà và 58,5% ở
huyện mường nhé (bảng 2) trong giai đoạn này, tỷ lệ nghèo gần như đứng yên ở một số
huyện (như điện biên đông hoặc tủa chùa), một số huyện khác (như mường nhé, tuần
Giáo, điện biên) có sự giảm đáng kể trong khi ở huyện mường chà tỷ lệ này lại gia tăng
nguyên nhân của sự khác biệt này cũng chưa được rõ ràng và cần phải có nghiên cứu để
đánh giá một cách cụ thể
Trang 35Bảng 2 Tỷ lệ nghèo theo huyện, 2007 - 2009 (phần trăm)
Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư
Bản đồ 2 Tỷ lệ hộ nghèo, 2009 (phần trăm)
Trang 36theo thống kê của tỉnh, một điều đáng nói là từ năm 2008, gần 100% số hộ nghèo ở điện
biên là hộ gia đình dân tộc thiểu số điều đó cho thấy còn lại rất ít hộ gia đình người Kinh
thuộc các hộ gia đình nghèo (Phụ lục 1.9) Giữa dân số dân tộc thiểu số và số hộ nghèo
nông thôn/đô thị có mối quan hệ chặt chẽ và được thể hiện ở hình 2
Hình 2 Dân số là người dân tộc thiểu số và số hộ nghèo, 2008
Nguồn: Số liệu phân tích từ KhPtKtXh tỉnh 2008
nghèo thường không phân bố đồng đều giữa các nhóm dân tộc trong cùng huyện nghèo
tập trung nhiều ở một số nhóm dân tộc của huyện tủa chùa (bảng 3) trên địa bàn huyện
này, nghèo tập trung cao nhất ở dân tộc mông (60,45%) và các nhóm dân tộc ít người hơn
như Phù La và Khơ mú (84,13%), trong khi nhìn chung thấp hơn ở nhóm người thái và
Kinh cần chú ý là nhóm người hoa (trung Quốc) có tỷ lệ nghèo khá cao (45,3%) trong khi
đó nhiều báo cáo gộp cả người hoa và người Kinh tỷ lệ nghèo của các nhóm dân tộc ít
người hơn là một vấn đề đáng quan tâm và điều này cũng cho thấy cần tìm hiểu kỹ nguyên
nhân làm cơ sở xây dựng các giải pháp cho phù hợp
Bảng 3 Huyện Tủa Chùa: Đặc thù dân tộc thiểu số của các hộ gia đình nghèo, 2008
Nhóm dân tộc thiểu số Dân số % so với tổng
dân số Số hộ gia đình Số hộ nghèo Tỷ lệ nghèo (%)
Nguồn: UbnD huyện tủa chùa Văn kiện chương trình XĐGN bền vững và PTKTXH (2009-2020)
Phương pháp truyền thống để tính tỷ lệ trẻ em nghèo là tập trung vào thu nhập của hộ gia
đình so với chuẩn nghèo về tiền tệ Phương pháp này rất hạn chế bởi vì nó không chỉ ra
Trang 37cách toàn diện cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ.8 Do vậy, phương pháp tiếp cận nghèo mới – nghèo đa chiều là cần thiết để đo lường và tìm hiểu vấn đề nghèo trẻ em một cách đầy đủ đtmShGđ 2008 xác định tỷ lệ nghèo trẻ em là tỷ lệ trẻ em không được đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho ít nhất 2 trong số 6 lĩnh vực: giáo dục, y tế, nhà ở, nước và vệ sinh, việc làm/lao động, cách biệt xã hội, và bảo vệ trẻ em (hình 3 và Phụ lục 1.10) theo điều tra này, tỷ lệ trẻ
em nghèo đa chiều ở khu vực tây bắc năm 2008 là 64,6%, cao hơn hẳn so với tỷ lệ chung của quốc gia đối với vùng nông thôn (34,3%) và mức bình quân chung cả nước là 28,9%
Hình 3 Tỷ lệ trẻ em nghèo tiền tệ và đa chiều theo vùng, 2008 (phần trăm)
Đồng bằng
sông Hồng Đôngbắc Tâybắc Bắc trungbộ Nam trungDuyên hải
bộ
Tây Nguyên Đông nambộ Đồng bằngsông cửu
Nguồn: tctK (2010) Điều tra mức sống hộ gia đình 2008
báo cáo đtmShGđ cho thấy trong giai đoạn 2006-2008 ở một số vùng miền trên cả
nước, tỷ lệ giảm nghèo trẻ em rất khiêm tốn, trong khi ở một số vùng còn gia tăng (Phụ lục 1.10) điều đó cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghèo trẻ em Số liệu từ
đtmShGđ chỉ ra rằng nghèo trẻ em ở khu vực tây bắc đặc biệt liên quan đến các yếu tố như giáo dục, cấp nước và vệ sinh, nhà ở và lao động trẻ em ngược lại, tỷ lệ nghèo về bảo trợ xã hội lại rất thấp ở khu vực này so với các khu vực khác trên cả nước
2.5 Kinh tế, thu nhập và chi tiêu hộ gia đình
điện biên được hưởng lợi từ mức tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây tiềm năng kinh tế của một số ngành đã được phát triển với hiệu quả cao như nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản, du lịch, thủy điện và khai khoáng GDP của tỉnh tính theo giá bất biến tăng từ 1,156 nghìn tỷ đồng năm 2005 lên 1,779 nghìn tỷ đồng năm 2009 (Phụ lục 1.11) năm 2008, tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản là 6%, công nghiệp và xây dựng là 16,2%, và dịch vụ là 12,6% cơ cấu kinh tế địa phương đã được duy trì ổn định trong giai
đoạn này với nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản chiếm 37,1%, công nghiệp và xây dựng
chiếm 25,7%, và dịch vụ chiếm 37,2% tổng sản phẩm GDP năm 2008 mức đóng góp tăng trưởng của công nghiệp và xây dựng chậm hơn các tỉnh nông nghiệp khác có vị trí thuận lợi hơn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và hàng hóa
theo kết quả đtmShGđ, thu nhập bình quân đầu người/tháng ở điện biên đã tăng gấp đôi
8 tổng cục thống kê (2010) Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2008.
Trang 38từ 224.000 đồng năm 2004 đến 485.000 đồng năm 2008 (Phụ lục 1.12) KhPtKtXh của
tỉnh năm 2009 cũng đưa ra mức thu nhập bình quân đầu người là VnD 7,7 triệu/người/năm
vậy, mức thu nhập của điện biên vẫn trong cả nước và thấp hơn hẳn so với mức bình quân
chung của cả nước là 995.000đồng/người/tháng năm 2008 như báo cáo đtmShGđ đã chỉ
ra điều này phản ánh mức độ gia tăng khoảng cách bất bình đẳng giữa các vùng miền thu
nhập bình quân đầu người ở vùng đông nam bộ cao gấp 3 lần so với vùng tây bắc
Kết quả từ điều tra việc tiếp cận với các nguồn lực hộ gia đình năm 2008 cũng khẳng định
như chỉ ra trong hình 4, cả điện biên và Lai châu đều có tỷ lệ thấp chủ hộ có trình độ trung
học phổ thông hoặc chứng chỉ dạy nghề, và có tỷ lệ cao chủ hộ không biết đọc hoặc viết
bằng tiếng phổ thông những yếu tố này làm giảm cơ hội việc làm phi nông nghiệp hoặc
ngoài lĩnh vực nông nghiệp do không có kỹ năng và trình độ cần thiết
nhưng dù sao, việc đa dạng hóa các nguồn thu nhập là yếu tố quan trọng trong chiến lược
sinh kế hộ gia đình ở khu vực tây bắc như đề cập trong hình 5, 94,3% hộ gia đình nông
thôn ở điện biên có từ 2-3 nguồn thu nhập, so với mức bình quân của 12 tỉnh là 81% Phần
lớn các hộ gia đình khu vực này cũng nhận được hỗ trợ tài chính của nhà nước (89,8% ở
Lai châu và 75,5% ở điện biên) so với mức bình quân chung của các tỉnh trên là 41% mặt
khác, tỷ lệ hộ gia đình nông thôn tham gia các hoạt động kinh doanh ở điện biên (17%) thấp
hơn mức bình quân chung của 12 tỉnh (25%) thêm vào đó, như nêu trong hình 6, thu nhập
ở các vùng nông thôn khu vực tây bắc sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nông nghiệp, lâm nghiệp,
và sản xuất thủy hải sản hơn các khu vực nông thôn khác ở vùng đông bắc và tây nguyên
(Phụ lục 1.12)
Trang 39Hình 4 Trình độ học vấn của chủ hộ ở 12 tỉnh, 2008 (phần trăm)
Nguồn: Điều tra việc tiếp cận với nguồn lực hộ gia đình của Việt Nam 2008
Hình 5 Nguồn thu nhập hộ gia đình và mức trợ cấp công ở 12 tỉnh, 2008 (phần trăm)
Nguồn: Điều tra việc tiếp cận với nguồn lực hộ gia đình của Việt Nam 2008
Trang 40Hình 6 Cơ cấu nguồn thu nhập hàng tháng ở 9 tỉnh, 2008 (phần trăm)
Nguồn: tctK (2010) Điều tra mức sống Hộ gia đình Việt Nam 2008
tóm lại, một điều có thể thấy rõ là trong khi đa dạng nguồn thu nhập được xem là chiến lược
sinh kế quan trọng của các hộ gia đình nông thôn ở điện biên, các giải pháp cho vấn đề
này còn hạn chế do thiếu cơ hội lao động có tiền lương, thiếu cơ hội kinh doanh hộ gia đình
và chất lượng nguồn nhân lực chưa cao mức độ chuyên môn hóa các nguồn thu nhập và
việc đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp còn hạn chế điều này có ảnh hưởng quan
trọng đến việc hoạch định các chính sách tạo việc làm cho học sinh tốt nghiệp phổ thông và
lực lượng thanh niên nông thôn là những người sẽ tham gia vào thị trường lao động và tìm
kiếm việc làm trong thập kỷ tới
Số liệu đtmShGđ về các hình thức chi tiêu hộ gia đình chỉ ra một số vấn đề quan trọng liên
quan đến sự sống còn và phát triển của trẻ em ở điện biên so với các khu vực khác (bảng
4)
trước hết, các hộ gia đình ở khu vực tây bắc nhìn chung chi tiêu nhiều cho lương thực,
thực phẩm và nhiên liệu từ nguồn thu nhập cũng như tiết kiệm của mình (59,9% trong năm
2008) hơn các khu vực khác và hơn cả mức bình quân quốc gia (53% năm 2008) tỷ trọng
chi tiêu hộ gia đình cho lương thực và ăn uống là một tiêu trí hữu ích để đánh giá mức sống
tỷ trọng chi càng nhiều có nghĩa mức sống nhìn chung càng thấp thứ 2, các hộ gia đình ở
khu vực này dành ít thu nhập của mình để chi cho nhà cửa, điện, nước và vệ sinh – 2,3% so
với mức bình quân chung của quốc gia là 3,9%; cho chăm sóc sức khỏe – 5,2% so với mức
bình quân chung của quốc gia là 6,4%, và cho giáo dục – 3,8% so với mức bình quân chung
của quốc gia là 6,2%