LỜI MỞ ĐẦUỞ Việt Nam vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu to lớn của Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu
to lớn của Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong hiến pháp qua các thời kỳ và đã được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Có thể hiểu bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và hưởng thụ như nhau
về thành quả của sự phát triển đó Biểu hiện của bình đẳng giới không chỉ là sự bình đẳng giữa nam và nữ trong việc tham gia các vấn đề của xã hội mà còn là sự bình đẳng giữa vợ
- chồng, giữa con trai - con gái, giữa các thành viên trong gia đình Và để có cái nhìn đầy
đủ, toàn diện hơn về thực trạng thực hiện bình đẳng giới, chúng ta hãy cùng nhau đi sâu
phân tích đề tài “Vấn đề bình đẳng giới giữa trẻ em trai, trẻ em gái trong gia đình Việt Nam hiện nay”.
NỘI DUNG
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1 Định nghĩa bình đẳng giới
Theo tài liệu, bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc
điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới, nam và nữ có vị thế bình đẳng và đều được tôn trọng như nhau Nam và nữ cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực, lợi ích của sự phát triển; được hưởng tự
do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng
Dưới góc độ Luật bình đẳng giới, theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật bình
đẳng giới năm 2006: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau
Trang 2được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình trong sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau thành quả của sự phát triển”.
2 Khái niệm bình đẳng giới trong gia đình
Bình đẳng giới trong gia đình thực chất là bình đẳng giữa vợ, chồng, con trai,
con gái, các thành viên nam và các thành viên nữ trong gia đình có vị trí, vai trò ngang nhau, có quyền được tạo điều kiện, cơ hội phát huy năng lực cho phát triển của gia đình như nhau, có quyền được thụ hưởng về thành quả phát triển của gia đình và xã hội là ngang nhau, có quyền được tham gia các vấn đề về bản thân và gia đình ngang nhau Điều đó có nghĩa là đảm bảo bình đẳng giới trong gia đình giúp cho các thành viên nam và thành viên nữ đều được tạo cơ hội để phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng và xã hội
Như vậy, bình đẳng giới giữa em trai và em gái trong gia đình được hiểu là trong gia đình giữa trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng trong việc được chăm sóc bảo
vệ quyền được sống, bình đẳng về quyền được học tập, bình đẳng trong việc thực hiện các công việc trong gia đình, bình đẳng về quyền được nghỉ ngơi, được vui chơi
và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí phù hợp với lứa tuổi Các thành viên khác trong gia đình không được có hành vi phân biệt đối xử giữa trẻ em trai và trẻ
em gái
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI GIỮA TRẺ
EM TRAI VÀ TRẺ EM GÁI TRONG GIA ĐÌNH.
Bình đẳng giới không phải là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà đó là vấn đề
chung của toàn nhân loại Xuất phát từ sự phân biệt, đối xử giữa nam và nữ diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, ngay từ khi thành lập, Liên hợp quốc đã xác định rõ mục tiêu hành động của họ là phấn đấu thực hiện việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và
nữ nói chung, giữa trẻ em trai và trẻ em gái riêng Điều này thể hiện rõ trong Điều 1
Hiến chương Liên hợp quốc: “…khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con
Trang 3người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”.
Quyền bình đẳng này tiếp tục được khẳng định và ghi nhận tại Điều 2 Tuyên
ngôn thế giới về nhân quyền: “Mọi người đều được hưởng các quyền tự do nêu
trong bản Tuyên ngôn này, không có bất kì sự phân biệt, đối xử nào về màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, giống nòi hay các tính trạng khác”.
Hiến pháp năm 1946 đã trịnh trọng tuyên bố: “Tất cả quyền bính trong nước
là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều
9) Đây là điều không thể có được trong suốt chiều dài lịch sử Nhà nước phong kiến Việt Nam Sau hàng ngàn năm phải sống theo lễ giáo phong kiến hà khắc, nguyên tắc bình đẳng nam, nữ được khẳng định đã trở thành hiện thực Quyền bình đẳng nam, nữ là một trong những giá trị bất hủ của Hiến pháp năm 1946 Điều này đồng nghĩa với việc trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình cũng có quyền bình đẳng như nhau Tư tưởng tiến bộ này đã lần lượt được cụ thể hóa trong các bản Hiến pháp năm
1959, năm 1980, năm 1992
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, trẻ em là những người dưới 18 tuổi Gia đình đóng vai trò quan trọng, cơ bản trong việc hình thành nhận thức, thái độ về các quan hệ giới – mối tương quan xã hội giữa địa vị, vị thế xã hội giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực cuộc sống Thực hiện bình đẳng giới trong gia đình sẽ là cơ hội tốt, là đòn bẩy quan trọng để tăng cường khả năng nhận thức bình đẳng giới của mỗi
cá nhân, đặc biệt là trẻ em Trẻ em khi sinh ra có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập và tham gia vui chơi, giải trí…Để bảo vệ quyền lợi của các con một cách bình đẳng cũng như đảm bảo quyền bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái, Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đưa vấn đề “không thừa nhận sự phân biệt, đối xử
giữa các con” thành một nguyên tắc độc lập trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản
Trang 4của pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam Tại khoản 4 Điều 18 Luật bình đẳng
giới năm 2006 đã quy định: “con trai và con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục,
và tạo điều kiện học tập, lao động, vui chơi giải trí và phát triển” Do đó, nội dung
của bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Trong gia đình, trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng trong việc đảm bảo quyền được sống Tại khoản 2 Điều 5 Luật bình đẳng giới năm 2006 quy định giới
tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ Giới tính mang tính chất bẩm sinh được hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở di truyền, là sản phẩm của quá trình tiến hóa tự nhiên về sinh học của con người không bị thay đổi theo thời gian và môi trường xã hội Khi sinh ra không phân biệt trẻ em trai và trẻ em gái đều có quyền được sống, bình đẳng về quyền được tôn trọng thân thể và nhân phẩm Gia đình phải
áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo vệ trẻ em trai và trẻ em gái khỏi mọi hình thức bạo lực về thể xác hoặc tinh thần; không phân biệt đối xử, gây tổn thương hay xúc phạm, ngược đãi dù là trẻ em trai hay trẻ em gái Cha mẹ và những người khác trong gia đình có trách nhiệm bảo đảm điều kiện sống cần thiết cho sự phát triển của chúng
- Quyền bình đẳng về học tập giữa trẻ em trai và trẻ em gái: Quyền học tập là
một quyền cơ bản của trẻ em Theo quy định tại Điều 33 Luật bình đẳng giới năm
2006 thì gia đình phải đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau cho con trai và con gái trong học tập Sự quan tâm, giáo dục của gia đình đối với trẻ em là môi trường quan trọng giúp mỗi con người hòa nhập vào cộng đồng và xã hội, thích ứng với đòi hỏi
về nghề nghiệp, đạo đức, vốn sống của mỗi con người.Trẻ em trong gia đình được cha mẹ tạo điều kiện được học tập, giữa trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng với nhau
về độ tuổi đi học cũng như trình độ học Các thành viên khác trong gia đình không được đối xử không công bằng, thiên vị giữa trẻ em trai và trẻ em gái về độ tuổi được đến trường học tập Hiện nay, tại Điều 16 Luật chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
Trang 52004 quy định trẻ em học tiểu học trong các cơ sở công lập không phải đóng học phí Điều này thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đảm bảo bình đẳng về học tập giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa trẻ em ở nông thôn, vùng dân tộc thiểu số so với trẻ
em ở thành thị Trẻ em trai và trẻ em gái được tạo điều kiện học tập ở môi trường an toàn, gần gũi và không phân biệt đối xử với tất cả các trẻ em thuộc mọi thành phần khác nhau, là môi trường để trẻ phát triển về sức khỏe, lợi ích và tinh thần đảm bảo bình đẳng nâng cao quyền lợi của các trẻ em gái trong việc nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn
- Bình đẳng về quyền chăm sóc y tế giữa trẻ em trai và trẻ em gái Trẻ em có
quyền ngang nhau trong việc được hưởng sự quan tâm, chăm sóc của gia đình Hiện nay, việc chăm sóc cho trẻ em đã được luật hóa trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Gia đình không được bỏ mặc, sao nhãng trong sự chăm sóc đối với trẻ em gái Trẻ em dù là trai hay gái, bị tàn tật về tinh thần hay thể chất đều được chăm sóc, được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và tử tế Điều đó có nghĩa không có trẻ em nào dù là trẻ em gái đều được hưởng chăm sóc chế độ dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi như nhau trong gia đình
- Bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong việc thực hiện các công việc trong gia đình Điều này có nghĩa là giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình
bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các công việc của gia đình Các thành viên khác trong gia đình phân công đồng đều các công việc phù hợp với lứa tuổi, năng lực của trẻ em trai và trẻ em gái như nhau
- Trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng với nhau về thời gian nghỉ ngơi, được vui chơi và tham gia các hoạt động giải trí, văn hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi Gia đình tạo điều kiện cho trẻ em trai cũng như trẻ em gái có thời gian nghỉ
ngơi hợp lý, được vui chơi và tham gia các hoạt động khác như nhau
III THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI GIỮA TRẺ EM TRAI VÀ TRẺ
EM GÁI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY.
Trang 61 Thành tựu
Ngày nay, mặc dù những định kiến giới vẫn còn tồn tại, nhưng vị trí, vai trò của phụ nữ và trẻ em gái nói chung trong gia đình và xã hội đã được nâng lên so với trước Cùng với sự phát triển của xã hội nhiều chuyên ngành khoa học ra đời trong
đó có khoa học giới và các khoa học có liên quan như Tâm lý học, Xã hội học, Dân
số học… nghiên cứu tiếp cận các vấn đề giới dưới nhiều góc độ khác nhau, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về giới trong sự phát triển của xã hội Có thể nhận thấy khoa học giới ra đời là cơ sở quan trọng để nghiên cứu các vấn đề giới trong gia đình và xã hội, là cơ sở để hoạch định chính sách, ban hành các văn bản pháp luật về vấn đề bình đẳng giới Những quan điểm và chủ trương, chính sách, Pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề bình đẳng giới đã được ban hành như Hiến pháp, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Bình đẳng giới… Trong nhiều năm nay, Việt Nam dẫn đầu khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới qua việc cung cấp các dịch vụ y tế - giáo dục tới trẻ em trai và trẻ em gái Đến nay, các tỉnh đều có trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, công tác phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em từng bước đẩy lùi
Sự ra đời của Pháp lệnh dân số, Luật bình đẳng giới, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã giúp các gia đình ở cả thành thị và nông thôn có nhận thức đúng đắn về bình đẳng giới Từ đó, trong các gia đình tình trạng phân biệt đối xử giữa trẻ
em trai và trẻ em gái giảm đi đáng kể Nhiều gia đình mặc dù sinh hai bé gái nhưng vẫn thực hiện chính sách kế hoạch hóa không sinh thêm con nữa để đảm bảo đời sống tốt, chăm sóc và giáo dục trẻ
Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chính sách đi học ở các trường tiểu học công lập không phải đóng phí để tạo điều kiện cho trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình đều được đến trường học tập như nhau Số lượng học sinh phổ thông từ năm 2000 đến 2009, số trẻ em gái đi học cấp III có tăng lên Đây là một dấu hiệu tích cực để đánh giá sự bình đẳng trong học tập Gia đình ở nông thôn và các vùng dân tộc thiểu
Trang 7số đã quan tâm tới việc học tập của cả trẻ em gái cũng như trẻ em trai Nên số lượng trẻ em gái được tham gia học tập cũng tăng lên Trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với trẻ em nam trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Tỷ lệ trẻ
em gái biết chữ trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể Chênh lệch về số trẻ em trai và trẻ em gái trong tất cả các cấp bậc được thu hẹp (báo cáo quốc gia của Việt Nam, tháng 8 năm 2005 đã khẳng định điều này) Trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình đã được đảm bảo các quyền được sống, học tập, chăm sóc sức khỏe, nghỉ ngơi
và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí…
Năm 2000-2001 2005-2006 2006-2007 2007 - 2008 2008 - 2009
Tiểu
học 5127 4615 3781 3523 3622 3408 3576 3284 3501 3231 Trung
học cơ
sở
3123 2741 3277 3094 3415 2965 2973 2830 2808 2661
Trung
học phổ
thông
1156 1016 1507 1468 1560 1515 1465 1557 1385 1543
Nguồn số liệu www.gso.gov.vn
Ta thấy từ 2000 cho đến năm 2009 thì số học sinh nữ đi học cấp 3 đã có chiều hướng tăng lên đáng kể Đây chính là dấu hiệu tích cực để đánh giá về bình đẳng giới giữa trẻ em nam và trẻ em nữ trong gia đình trên phương diện giáo dục
Vấn đề bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong gia đình Việt Nam còn được thể hiện trong lĩnh vực giáo dục, việc trẻ em gái được đến trường, học hành đến nơi đến chốn để có việc làm ổn định đã không còn là chuyện hiếm, nó đã
Trang 8rất phổ biến Việc này đã được các bậc cha mẹ quan tâm, không còn sự quá phân biệt đối xử giữ con trai và con gái trong nhà Và hiện nay cũng do những tư tưởng tiến bộ, các ông bố bà mẹ của nhiều các gia đình cũng đã không còn quá chú trọng đến việc phải sinh con trai để nối dõi tông đường
Vấn đề bình đẳng giới giữa trẻ em trai và trẻ em gái còn được thể hiện khá bình đẳng trong công tác văn hóa – xã hội Ngày nay không còn có sự phân biệt đối
xử giữa trẻ em trai và trẻ em gái trong việc tham gia vui chơi giải trí, tham gia công tác xã hội Các trẻ em trai và em gái ngày nay bình đẳng và có quyền ngang nhau trong việc thực hiện vai trò của mình đối với gia đình và xã hội
2 Hạn chế
- Trong việc đảm bảo quyền sống của trẻ em.
Hiện nay, đa số người dân khi có bầu họ sẵn sang đến các phòng khám tư nhân để siêu âm giới tính thai nhi – mặc dù việc này đã bị nghiêm cấm Nhiều trường hợp khi phát hiện thai nhi là bé gái họ không ngần ngại bỏ đi để chờ lần sau
là con trai Tình trạng nạo phá thai, lựa chọn giới tính của thai nhi trước khi sinh đã làm cho nhiều đứa trẻ khi còn trong bụng mẹ đã bị tước đoạt quyền được sinh ra và được sống Phần lớn do áp lực từ phía gia đình Do nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng
bởi ý thức của hệ tư tưởng phong kiến “trọng nam kinh nữ”, các gia đình hay dòng
họ từ xưa và nay vẫn có tư tưởng coi trong việc sinh con trai Họ quan niệm “nhất
nam viết hữu, thập nữ viết vô” tức là con trai thì một là có, mười con gái thì vẫn là
không và nếu không có con trai để nối dõi thì bị xem là tuyệt tự và khi bố mẹ, ông
bà chết đi sẽ không có người thờ cúng Điều này dẫn đến ở nước ta vẫn còn bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái về các điều kiện đảm bảo cuộc sống ổn định Việc các gia đình coi trọng con trai dẫn đến khi sinh con ai cũng muốn sinh trẻ em trai Điều đó vô hình chung đang dẫn đến sự mất cân bằng giới tính
Ở Việt Nam những năm gần đây tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) lại tiếp tục tăng Năm 2000, TSGTKS của Việt Nam ở mức 106 nam/100 nữ Kết quả Tổng
Trang 9điều tra dân số năm 2009 cho thấy, TSGTKS đã tăng đến ngưỡng là 110,5 nam/100
nữ Như vậy hiện tượng mất cân bằng giới tính ở nước ta hiện nay đã đến mức đáng báo động
Nghiên cứu của Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em (2005) về tình trạng giới tính khi sinh tại 6 tỉnh: Ninh Bình, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Đồng Nai và Cần Thơ thì tỉ lệ giới tính của trẻ khi sinh trong thời kỳ 5 năm (1999-2003) tại những tỉnh này là 115,6 nam/100 nữ Tỉ lệ này cao hơn tỉ số tự nhiên của trẻ khi sinh, trung bình 104 - 106 nam/100 nữ, tỉ lệ này được coi là cân bằng đối với bất kỳ quốc gia nào
Một nghiên cứu khác của Viện nghiên cứu Phát triển xã hội (2007) được thực hiện trên cả nước cho thấy, tỉ lệ giới tính khi sinh đã có sự chênh lệch đáng kể Có tới 16 tỉnh, thành có tỉ lệ giới tính khi sinh từ 115 - 128 nam/100 nữ; ở 20 tỉnh, thành khác là 111- 120 nam/100 nữ Cụ thể, tại Kiên Giang, cứ 125 nam thì có 100 nữ; tại Sóc Trăng là 124 nam/100 nữ; tại Bắc Ninh là 123 nam/100 nữ; tại Bình Định 107 bé trai/100 bé gái…
Tại hội thảo truyền thông về công tác dân số (15/6/2011) cho biết, Hà Nội hiện có tỉ lệ sinh cao nhất đồng bằng sông Hồng Trong 6 tháng đầu năm 2011, toàn thành phố có 49.830 trẻ em ra đời, tăng gần 3.000 trẻ so với cùng kỳ năm 2010 Tỉ lệ giới tính khi sinh mất cân bằng ở mức báo động khi có 118 nam/100 nữ
- Bình đẳng quyền học tập giữa trẻ em trai và trẻ em gái
Sự chênh lệch về tỉ lệ mù chữ của trẻ em trai so với trẻ em gái ngày càng giảm Tuy nhiên sự bất bình đẳng giới ở nước ta vẫn tồn tại ở nhiều dạng khác nhau,
ở từng thời gian và không gian khác nhau Cuộc sống của hàng triệu trẻ em gái vẫn còn bị phân biệt đối xử Một số vùng khó khăn, gia đình đông con, trẻ em gái ít có
cơ hội đi học hơn Phổ biến nhất ở nước ta hiện nay là số đông vẫn còn tư tưởng trọng nam kinh nữ Những hệ quả của bất bình đẳng giới trong giáo dục khi có những bất bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn lực của cuộc sống thì tất yếu dẫn đến
Trang 10những hệ quả tiêu cực Thực tế đã cho thấy điều này diễn ra ở Việt Nam, cho thấy trẻ em chịu thiệt thòi trực tiếp từ việc các bà mẹ mù chữ hoặc không được đến trường dẫn đến chất lượng chăm sóc con cái thấp, khiến tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh Những bà mẹ có trình độ học vấn cao thường có hành
vi chăm sóc con cái mình phù hợp hơn Bất bình đẳng giới trong gia đình về quyền học tập của trẻ em làm giảm chất lượng nguồn nhân lực trung bình của xã hội Giả định rằng, trẻ em trai và trẻ em gái có khả năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai và trẻ em gái có nghĩa là những trẻ em có tiềm năng thấp hơn, như thế chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế
Tỷ lệ đi học chung của nữ và nam trong cả nước ở bậc tiểu học đạt mức cao
và có xu hướng tăng trong những năm gần đây Năm học 2003-2004, tỷ lệ đi học chung của nữ là 102,6%, của nam là 107,4%
Tỷ lệ đi học chung của nữ và nam trong cả nước ở cấp trung học cơ sở cũng đạt mức cao và có xu hướng tăng trong những năm gần đây Số liệu cho thấy mặc
dù đạt nhịp độ tăng ổn định trong những năm gần đây, song giữa tỷ lệ đi học chung của nữ và nam bậc trung học cơ sở vẫn còn một khoảng cách chưa được thu hẹp, cụ thể năm học 2003-2004, tỷ lệ này ở nữ là 86,5%, ở nam là 90,2%
Đáng chú ý là ở một số địa phương khoảng cách này có xu hướng gia tăng, ví
dụ Cà Mau, tỷ lệ đi học chung năm học 2001-2002 của nữ là 58%, của nam là 67,3% thì đến năm học 2003-2004 tỷ lệ trên đối với nữ là 60%, trong khi tỷ lệ đối với nam tăng lên 74% Tình hình trên cho thấy tỷ lệ đi học chung của nữ ở bậc trung học cơ sở còn chưa bền vững Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là tỷ lệ nữ học sinh vào trung học cơ sở thấp hơn mặc dù tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học cao hơn so với nam Năm học 2002-2003 trong cả nước, tỷ lệ hoàn thành cấp tiểu học của học sinh nữ là 82,7%, trong khi của học sinh nam là 78,9% Cũng trong