LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Những năm gần đây, chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn trong các trường phổ thông THCS và THPT nói chung và Sách giáo khoa Ngữ văn 8 nói riêng đã được đổi mới,
Trang 1A - ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Những năm gần đây, chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn trong các trường phổ thông (THCS và THPT) nói chung và Sách giáo khoa Ngữ văn 8 (nói riêng) đã được đổi mới, tạo nên những thay đổi lớn trong việc dạy và học, đồng thời cũng tạo ra những yêu cầu mới đối với giáo viên
và học sinh trong quá trình dạy và học môn văn Trong Sách giáo khoa Ngữ văn 8 có một số nội dung mới lạ khiến nhiều giáo viên không khỏi bỡ ngỡ và e ngại Có những văn bản chưa được tiếp xúc bao giờ, lại có những văn bản thoạt đọc lên chưa thể khám phá được ngay cái hay, vẻ đẹp của nó, vậy làm sao hướng dẫn, chuyển tải để học sinh hiểu và cảm thụ với tác
phẩm? Bộ sách Thiết kế bài giảng Ngữ văn 8 dùng cho giáo viên hay Sách giáo viên Ngữ văn 8 đã góp phần không nhỏ trong việc định hướng cảm thụ
và giảng dạy từng bài, song nếu bản thân người dạy không lĩnh hội và rung động sâu sắc với tác phẩm thì làm sao có được những tiết dạy “có hồn”, làm sao khơi gợi sự rung động và cảm xúc của người học Thêm nữa, chuyện văn chương thiếu gì việc một câu thơ, câu văn có thể dẫn tới nhiều cách hiểu, cách cảm thụ khác nhau trong người đọc, người thầy phải hiểu thế nào cho thật đúng để bài dạy có sức thuyết phục, tránh được khuynh hướng chủ quan, áp đặt trong dạy học Đôi nét trên đây mới chỉ là một vài khó khăn của người giáo viên dạy Ngữ văn 8, và cũng mới chỉ trong lĩnh vực nội dung, chương trình, còn bao nhiêu việc khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá, tích hợp những nội dung giáo dục khác trong một tiết học Ngữ văn…
Xuất phát từ những khó khăn đó, sau hai năm được giao nhiệm vụ giảng dạy Ngữ văn 8 tại Trường THCS Định Tân – Yên Định, bản thân tôi
đã suy nghĩ, nghiên cứu và áp dụng thành công Mét sè biÖn ph¸p n©ng
cao chÊt lîng giê gi¶ng v¨n ë líp 8 THCS, xin được nêu ra để đồng
nghiệp tham khảo
Trang 2II THỰC TRẠNG VIỆC GIẢNG DẠY – HỌC TẬP VĂN HỌC NGỮ VĂN 8 Ở TRƯỜNG THCS ĐỊNH TÂN
1 Thực trạng việc dạy và học phân môn Văn học trong Chương trình Ngữ văn 8 tại Trường THCS Định Tân:
1.1 Thực trạng việc dạy tác phẩm văn học 8:
Qua trao đổi với các đồng nghiệp và qua dự giờ thao giảng, chúng tôi tôi nhận thấy các thầy cô giáo giảng dạy văn học (nói chung) và giảng dạy Ngữ văn 8 (nói riêng) thường có một số biểu hiện sau:
- Giáo viên đôi khi còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều Nhiều giáo viên chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh cũng như việc chỉ ra cho người học con đường tích cực chủ động để thu nhận kiến thức
- Có thầy cô khi lớp chưa được trang bị kỹ càng, đồng bộ về quan điểm và lý luận phương pháp dạy học Văn mới Có khi thầy, cô giáo còn
lúng túng trước trước những văn bản khó hoặc mới lạ như Chiếc lá cuối cùng, Hai cây phong, Hịch tướng sĩ, Chiếu dời đô, Thuế máu, Đi bộ ngao
du,
- Cơ sở vật chất nhà trường còn có sự thiếu thốn về phương tiện thiết
bị dạy học như: tranh, ảnh, sơ đồ, dụng cụ nghe, nhìn để minh họa cho bài giảng, tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học, nhất là văn học nước ngoài đã khiến cho việc áp dụng phương pháp dạy học mới gặp nhiều bất lợi, dẫn đến tình trạng dạy chay, học chay
1.2 Thực trạng học văn học lớp 8 của học sinh:
Qua trao đổi với đồng nghiệp và khảo sát tại lớp mình phụ trách, chúng tôi nhận thấy:
- Học sinh hiện nay hầu hết các em hết sức lơ mơ về kiến thức ngữ văn Có một thực tế là hiện nay rất ít học sinh biết rung động trước những
tác phẩm văn học hay nhưng khó cảm thụ như Hai cây phong, Chiếu dời
đô, Hịch tướng sĩ, Thuế máu…, nhiều khi học sinh thường suy luận chủ
Trang 3quan, dung tục hoá văn chương, bên cạnh đó là tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, viết sai tên tác giả, tác phẩm, nhầm tác phẩm của nhà văn này
với nhà văn khác ( Ví dụ: “Thuế máu là tác phẩm nổi tiếng của Ngô Tất
Tố” hay “Ngô Tất Tố là con của Ngô Thì Nhậm”…)
- Tồn tại lớn nhất của học sinh (không chỉ riêng học sinh lớp 8) là thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên đã giảng Đa phần học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học Học sinh chưa có hào hứng và chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể, cho nên khi phải nói và viết, học sinh cảm thấy khá khó khăn
- Tâm lí thờ ơ, vô cảm coi thường môn văn của học sinh và thậm chí
cả của các bậc phụ huynh Một học sinh lớp 8, khi được chọn dự thi vào Đội tuyển văn tham gia bồi dưỡng tại Trường THCS Lê Đình Kiên đã từng
kể với tôi rằng em đã có một biện pháp " tiêu cực" là liên tục làm các bài tập làm văn điểm kém để bị loại
Thờ ơ, vô cảm coi thường môn văn đẫn đến các em học sinh không
có được say mê, hứng thú học văn, đọc văn, như một nhu cầu tự thân Không còn nữa những giờ giảng văn mà cả thầy và trò đều xúc động trước một câu thơ hay, một áng văn đẹp, một số phận nhân vật Học sinh bây giờ đọc tác phẩm văn học, đọc sách có định hướng quá ít, học sinh bây giờ học văn thậm chí còn không đọc cả tác phẩm được học trong sách giáo khoa
2 Kết quả khảo sát tình hình dạy học tác phẩm văn học ở Trường THCS Định Tân:
Từ thực trạng việc dạy văn học và học văn học ở lớp 8 – Trường THCS Định Tân, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tình hình dạy và học tác phẩm văn học ở trường THCS Định Tân Cụ thể như sau:
2.1 Khảo sát tình hình dạy tác phẩm văn học:
Chúng tôi đưa ra mẫu phiếu khảo sát gồm 8 câu hỏi:
1- Bạn có thường đọc kĩ tác phẩm văn học (gồm toàn bộ tác phẩm) không?
Trang 4A Có B Không C Không thường xuyên 2- Bạn có cho việc nắm tiểu sử tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm là rất quan trọng không?
A Có B Không C Tùy vào mỗi tác phẩm 3- Bạn có chắc chắn mình nắm vững đặc điểm mỗi loại thể không?
A Chắc chắn nắm vững B Không chắc chắn.
4 Khi giảng văn, bạn có thấy mình thật sự rung động không?
A Có B Không C Không thường xuyên 5- Bạn có thực sự gần gũi học sinh trong giờ học không?
A Có B Không C Tùy từng tiết dạy.
6 Bạn có chú trọng tái hiện không khí tác phẩm không?
A Có B Không C Tùy mỗi tác phẩm.
7 Dạy Ngữ văn 8, bạn cảm thấy “ngại” nhóm tác phẩm nào?
A Không ngại B Chính luận
C VH nước ngoài C Trữ tình
8 Bạn có chú trọng bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho HS không?
A Có B Không C Tùy từng tiết dạy
Sau khi tổng hợp kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy:
Tổng số GV ngữ văn tham gia trả lời khảo sát: 9 đồng chí
Chọn lựa Câu 1 Câu 2 Câu 3 Câu 4 Câu 5 Câu 6 Câu 7 Câu 8
Chọn A: Kết quả giờ dạy sẽ tốt.
- Chọn B: Hiệu quả giờ dạy kém - Chọn C: Hiệu quả giờ dạy không cao.
Với kết quả trên, có thể nhận thấy chất lượng giảng dạy tác phẩm Ngữ văn 8 ở trường THCS Định Tân mới chỉ đạt trên 60% giờ dạy đạt loại tốt, vẫn còn trên 30% giờ dạy hiệu quả chưa tốt hoặc có chất lượng thấp
2.2 Tình hình học tác phẩm văn học:
Trang 5Chúng tôi phát phiếu khảo sát cho 112 học sinh khối lớp 8 với mẫu phiếu như sau:
1- Em có đọc kĩ tác phẩm văn học trước khi đến lớp không?
A Có B Không C Không thường xuyên 2- Em có nắm vững tiểu sử tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
A Có B Không C Nắm được ít.
3 Khi học văn, bạn có thấy mình thật sự rung động không?
A Có B Không C Rất ít khi.
4- Em có thấy đồng cảm với thầy/ cô trong giờ học văn học không?
A Có B Không C Tùy từng tiết dạy.
5 Em có tư tưởng, tình cảm mới tốt đẹp sau giờ học văn học?
A Có B Không C Tùy từng tiết dạy
6 Em có thể diễn đạt tự nhiên trước các bạn về một đoạn văn/ thơ không?
A Có B Không C Có thể.
7 Em có thực sự coi trọng môn Văn không?
A Có B Không.
Học sinh chọn câu trả lời như thế nào sẽ cho thấy thực trạng việc học văn của học sinh:
- Chọn A: HS coi trọng và có thể học tốt văn học
- Chọn B: HS không coi trọng, chất lượng học văn học thấp
- Chọn C: HS học văn học ở mức trung bình yếu hoặc trung bình Kết quả khảo sát ở thời điểm học kì II năm học 2009 - 2010:
Học sinh
được KS
HS chọn (A) HS chọn (B) HS chọn (C)
Với kết quả khảo sát như vậy, rõ ràng tình hình học văn học ở lớp 8 Trường THCS Định Tân còn khá nhiều học sinh có tâm lí ngại học văn học
và đương nhiên, kết quả học văn sẽ không cao
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 6I SƠ LƯỢC NỘI DUNG VÀ MỤC TIÊU CỦA PHÂN MÔN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8
Chương trình Ngữ văn 8 xét riêng ở phân môn Văn học (Đọc – hiểu
văn bản) bao gồm 29 tác phẩm (hoặc đoạn trích) được nâng cấp và phát
triển từ chương trình Văn học lớp 6 và lớp 7 (theo nguyên tắc đồng tâm) Trong đó:
- Có 8 văn bản tự sự (truyện ngắn, đoạn trích tiểu thuyết): Tôi đi học (Thanh Tịnh); Trong lòng mẹ (Nguyên Hồng); Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố); Lão Hạc (Nam Cao); Cô bé bán diêm (An – đéc – xen); Đánh nhau với cối xay gió (Xéc – van – tét); Chiếc lá cuối cùng (O’ Henry) và Hai cây phong (Ai – ma – tốp) Các văn bản có sự kết hợp các phương thức biểu đạt
một cách nhuần nhuyễn: tự sự - miêu tả - biểu cảm
- Văn bản nghị luận gồm 7 văn bản, đoạn trích: Bài toán dân số (Thái An); Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn); Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn); Nước Đại Việt ta (Nguyễn Trãi); Bàn luận về phép học (La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp); Thuế máu (Nguyễn Ái Quốc) và Đi bộ ngao du (G Ru – xô) Đây
là những văn bản “di sản quý báu” của dân tộc và thế giới, giúp giáo viên
và học sinh thấy được sự phông phú về đề tài, thể văn và sự kết hợp các phương thức diễn đạt của văn bản nghị luận
- Văn bản thuyết minh lần đầu được đưa vào chương trình qua hai
văn bản nhật dụng: Ôn dịch, thuốc lá (Nguyễn Khắc Viện); Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000 (tài liệu của Sở KH& CN Hà Nội); Các văn bản
này giúp người dạy, người học nâng cao hiểu biết về một số vấn đề đời sống xã hội và hiểu biết bước đầu về văn thuyết minh
- Văn bản biểu cảm gồm có 11 văn bản thơ giai đoạn từ đầu thế kỉ
XX đến 1945, các văn bản này không chỉ có ý nghĩa giáo dục to lớn mà còn giúp giáo viên và học sinh thấy được những vẻ đẹp khác nhau của tác phẩm trữ tình Có thể tạm chia nhóm văn bản này như sau:
Trang 7+ Thơ yêu nước đầu thế kỉ: Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (Phan Bội Châu); Đập đá ở Côn Lôn (Phan Châu Trinh); Hai chữ nước nhà (Á
Nam Trần Tuấn Khải)
+ Thơ Mới giai đoạn 1930 – 1945: Muốn làm thằng Cuội (Tản Đà); Nhớ rừng (Thế Lữ); Quê hương (Tế Hanh); Ông đồ (Vũ Đình Liên).
+ Các tác phẩm khác: Khi con tu hú (Tố Hữu); Tức cảnh Pác Bó (Hồ Chí Minh); Ngắm trăng (Vọng nguyệt – Hồ Chí Minh); Đi đường (Tẩu lộ
-Hồ Chí Minh)
- Sách giáo khoa Ngữ văn 8 chỉ có một văn bản kịch ( Ông Giuốc – đanh mặc lễ phục của Mô – li – e) nhưng phần nào giúp cho giáo viên và
học sinh nâng cao hiểu biết về thể loại này (đã làm quen ở lớp 7)
Với nội dung và mục tiêu cơ bản như vậy, có thể thấy phân môn văn học Ngữ văn 8 so với ở lớp 6 và lớp 7 không phải là sự lặp lại các nội dung một cách giản đơn mà là sự tiếp nối và phát triển lô-gic, nâng cao Do đó,
để dạy và học tốt phân môn này, tôi xin nêu ra một số biện pháp sau:
II MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VÀ HỌC VĂN HỌC Ở LỚP 8 – TRƯỜNG THCS ĐỊNH TÂN
1 Những yêu cầu chung đối với việc dạy và học tác phẩm văn học 8:
1.1 Trước hết, GV và HS phải đọc kỹ TPVH:
Dạy tác phẩm văn học (TPVH) mà giáo viên (GV) và học sinh (HS)
không đọc kỹ, không nghiền ngẫm tác phẩm thì thật là vô lý ! Tình trạng hiện nay, HS (và cả GV) rất ngại đọc TPVH; mà số lượng TPVH có trong chương trình Ngữ văn 8 (chỉ có 29 văn bản, đoạn trích) không phải là nhiều! TPVH ngắn hay dài, thuộc bất cứ thể loại nào, HS đều ngại đọc Ngay khi đến giờ giảng văn, HS cũng chưa hề đọc tác phẩm Khi thầy, cô gọi một vài HS đọc tác phẩm trước khi giảng, thì rất nhiều HS khác vẫn chỉ nói chuyện riêng, hoặc để “tâm hồn treo ngược trên cành cây”, thành thử không biết gì về nội dung tác phẩm! Còn GV thì chỉ đọc sơ qua, rồi dựa vào sách hướng dẫn, mà soạn giáo án và lên lớp Với những tác phẩm dài,
Trang 8được trích giảng, thì GV và HS càng ngại đọc toàn tác phẩm Thế cho nên, khi kiểm tra kiến thức văn học của học sinh, mới có những chuyện “râu ông nọ cắm cằm bà kia” và những bài văn ngô nghê, tức cười Chẳng hạn
như: “chị Dậu căm thù bọn cường hào ác bá nên đã lãnh đạo nhân dân đứng lên đập tan ách thống trị của chúng”; “Tố Hữu nghe tiếng chim tu hú gọi bầy không chịu được cảnh tù ngục đã đạp tan tường nhà giam trốn thoát ra ngoài làm cách mạng” v v Cho nên, việc đọc trước và đọc kỹ
tác phẩm- phải là điều bắt buộc đối với giáo viên và học sinh
1.2 Phải nắm được tiểu sử của tác giả và hoàn cảnh ra đời của TPVH.
Tác giả nào, tác phẩm ấy TPVH là thế giới nội tâm của nhà văn,
thể hiện tư tưởng, thái độ, tình cảm của nhà văn đối với cuộc sống, thể hiện khát vọng Chân- Thiện- Mỹ của nhà văn Mỗi nhà văn đều sinh ra trong một hoàn cảnh gia đình, với những sở thích, lối sống nào đó và sống trong một bối cảnh lịch sử- xã hội nhất định Môi trường gia đình và xã hội, với những biểu hiện đa dạng của nó về chính trị, kinh tế, văn hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng và tình cảm của nhà văn, và điều này được phản ánh trong tác phẩm ở một phạm vi nào đó Vì không nắm được tiểu sử tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, cho nên HS viết rất lung tung; ví như:
“Trần Hưng Đạo là vị chủ soái đại tài, cùng với Trần Nguyên Đán đã lãnh đạo quân dân nhà Trần chống giặc Nguyên Mông”; hay “Nguyễn Thiếp đã thay mặt Bộ giáo dục và đào tạo viết văn bản Bàn luận về phép học để chấn chỉnh việc học của nước nhà”! V v Không nắm được tiểu sử tác giả
và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, thì không thể hiểu đúng, đánh giá đúng được tác phẩm
2 Áp dụng biện pháp giảng dạy văn học 8 theo loại thể của TPVH
Nói cách khác, phải vận dụng kiến thức lý luận văn học (những vấn
đề cơ bản nhất) về cấu trúc của TPVH và loại thể của TPVH trong việc giảng văn Đây là vấn đề nguyên tắc, có ý nghĩa phương pháp luận Về cấu trúc, TPVH nào cũng có đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm, các biện pháp
Trang 9thể hiện, hình tượng cảm xúc (đối với tác phẩm trữ tình), cốt truyện, các tính cách nhân vật (đối với tác phẩm tự sự), và hệ thống lập luận (đối với các tác phẩm nghị luận có giá trị văn học) Mặt khác, TPVH nào cũng thuộc một loại thể nhất định (cũng có khi tác giả sử dụng đồng thời vài thể loại, nhưng bao giờ cũng có một thể loại chính) Mỗi loại thể (gồm nhiều thể loại) lại có những đặc điểm thi pháp riêng Vì thế, giảng giải, phân tích, bình luận các yếu tố để làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm phải căn
cứ theo loại thể văn học của tác phẩm
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP TÁC PHẨM VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8:
1 Dạy, học tác phẩm văn học 8 phải nắm vững tác phẩm.
1.1 Cách thức thực hiện biện pháp đọc tác phẩm trước khi lên lớp:
Như phần trên đã trình bày, việc đọc trước và đọc kĩ tác phẩm là vô cùng quan trọng trước khi lên lớp, do đó giáo viên phải là người đọc trước
và yêu cầu học sinh đọc tác phẩm trước khi đến lớp Đối với các văn bản là đoạn trích học, giáo viên lại cần phải sưu tầm toàn văn tác phẩm và đọc để thấy rõ hơn vị trí và nội dung của văn bản trong tác phẩm Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần đọc thêm tài liệu liên quan để làm phong phú thêm kiến thức cho bài giảng
Ví dụ: Khi dạy Tiết 101 – văn bản Bàn luận về phép học (Luận
học pháp – trích bài tấu của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp gửi vua Quang
Trung), giáo viên cần:
+ Đọc kĩ văn bản
+ Nắm vững bố cục và nội dung toàn bài tấu
+ Tìm đọc thêm tài liệu liên quan như: Thư của vua Quang Trung gửi Nguyễn Thiếp để nghị bàn chính sự và mời Nguyễn Thiếp ra giúp nước
(để thấy tài năng Nguyễn Thiếp rất được đề cao), Chiếu lập học của vua
Trang 10Quang Trung (để thấy được việc học đương thời đang được cải cách và đề cao)…
Trước khi giảng bài, GV phải kiểm tra việc này, thông qua việc xem
vở chuẩn bị bài (trong đó có phần tóm tắt nội dung tác phẩm, hoặc phát biểu cảm nghĩ ban đầu về tác phẩm)
V í dụ: Đầu giờ học Tiết 97 (Đọc – hiểu văn bản Nước Đại Việt ta),
giáo viên có thể nêu câu hỏi: Đọc văn bản Nước Đại Việt ta, em thấy nội dung gần gũi với văn bản nào đã học? Nếu học sinh đã đọc và chuẩn bị bài tốt sẽ trả lời: - Văn bản Nam quốc sơn hà trong Chương trình Ngữ văn 7.
Có đọc trước và đọc kỹ tác phẩm, thì mới bước đầu cảm- hiểu tác phẩm, mới sơ bộ nắm được chủ đề, kết cấu, trạng thái cảm xúc, hay cốt truyện, tính cách các nhân vật và các biện pháp thể hiện của tác giả
1.2 Nhận thức được vai trò của việc nắm vững tiếu sử và hoàn cảnh ra đời của văn bản khi dạy – học tác phẩm văn học:
Môi trường gia đình (tiểu sử tác giả) và xã hội (hoàn cảnh ra đời của tác phẩm) ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng và tình cảm của nhà văn, và điều này được phản ánh trong tác phẩm Nhất định người giáo viên phải nắm được điều này và đặt ra yêu cầu đối với học sinh của mình là cũng phải nắm vững, hiểu rõ Ngoài chú thích ( ) trong Sách giáo khoa, giáo
viên cần đọc kĩ Những điều cần lưu ý trong Sách giáo viên và các tài liệu
liên quan để nắm vững hơn và cung cấp cho học sinh
Ví dụ: Dạy tiết 93 – văn bản Hịch tướng sĩ:
- Nắm được tiểu sử Trần Quốc Tuấn (năm sinh, năm mất, xuất thân,
sự nghiệp) để thấy được:
+ Trần Quốc Tuấn là đại diện cho bộ phận quý tộc phong kiến triều Trần nên trong Hịch tướng sĩ, ông tỏ rõ ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng quân Nguyên Mông ngoài mục đích cao cả là gìn giữ giang sơn xã tắc mà một phần còn để bảo vệ quyền lợi (thái ấp, bổng lộc…) của giai cấp