1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN Ngữ Văn Trần Dương

21 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy học văn nghị luận vì vậy có giá trị đặc biệt trong nhà trường.Kiến thức và kĩ năng được rèn luyện trong quá trình học tập về văn nghị luận và cách nghị luận không chỉ giúp học s

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

Tạo lập văn bản là mảng kiến thức trọng tâm, là nội dung quan trọng trongphân môn Tập làm văn Tạo lập văn bản nghị luận - một trong sáu kiểu vănbản là một phần không thể thiếu trong mảng kiến thức đó Bởi, văn nghị luận

là dạng văn phổ biến trong nhà trường và đời sống Sự mạch lạc trong tư duy,năng lực phân tích, tổng hợp khám phá các vấn đề, năng lực thuyết phục trên

cơ sở lí lẽ chặt chẽ có căn cứ xác thực là một hướng tiếp cận hết sức quantrọng đang đặt ra đối với con người hiện đại

Việc dạy học văn nghị luận vì vậy có giá trị đặc biệt trong nhà trường.Kiến thức và kĩ năng được rèn luyện trong quá trình học tập về văn nghị luận

và cách nghị luận không chỉ giúp học sinh khả năng làm văn mà có tác dụnghình thành năng lực cả về tư duy và sự thành công trong giao tiếp Ảnh hưởngcủa văn nghị luận không chỉ trong phạm vi môn Ngữ văn mà lan tỏa đối vớitất cả các môn học khác ở trường phổ thông

Tuy nhiên, viết văn nghị luận không phải là chuyện dễ Để viết cho hay,cho đúng, có sức thuyết phục cao thì lại càng khó Muốn tạo lập được một vănbản nghị luận thì người viết phải nắm chắc vấn đề, có đủ lí lẽ và dẫn chứngcần thiết để giải quyết vấn đề, có khả năng sắp xếp dẫn chứng và lí lẽ trongmột bố cục hợp lí và chặt chẽ

Để giúp học sinh đạt được mục đích đó, trong khi giảng dạy, tôi rất chútrọng tới việc rèn kĩ năng tạo lập văn nghị luận cho học sinh Sau hai nămthực hiện, tôi thấy việc làm đó có khả năng vận dụng và đã đạt kết quả cao Vì

thế, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm trong việc Rèn kĩ năng tạo lập văn nghị luận văn học qua bốn bước để đồng nghiệp tham khảo.

II Thực trạng dạy học văn nghị luận ở trường THCS Định Tân

1 Thực trạng:

Qua nhiều năm dạy Ngữ văn lớp 9, tôi nhận thấy việc dạy và học vănnghị luận ở trường Trung học Cơ sở Định Tân còn những hạn chế sau:

Trang 2

- Một số giáo viên còn nhiều lúng túng khi giảng dạy lí thuyết tập làm vănnghị luận Họ lúng túng về mặt phương diện nội dung khoa học cũng nhưphương pháp tiến hành Cá biệt có một số giáo viên không hứng thú với việc

dạy văn nghị luận Họ không ngại ngùng khi phát biểu rằng: “Tôi rất ngại dạy văn nghị luận Nó rất khó Chẳng bao giờ tôi thao giảng về văn nghị luận”.

- Điều đó đã dẫn đến tình trạng học sinh mù mờ về lí thuyết văn nghị luận.Các em làm văn nghị luận một cách vô ý thức, theo kinh nghiệm vụn vặt củariêng từng em nên dẫn đến bài làm bị nhầm thể loại

- Bên cạnh việc coi nhẹ lí thuyết, không ít giáo viên, học sinh lại tách biệt

lí thuyết với thực hành Họ coi thường tiết luyện tập và tiết luyện nói.

- Học sinh làm văn nhưng không thấy được công việc mình đang làmtrong nhà trường sẽ có ích cho cuộc sống trước mắt và sau này cho bản thân.Học sinh làm văn mà chỉ sao chép những gì của người khác và lắp ghép mộtcách cơ học, khập khiễng để thành một bài viết của mình

- Hầu hết học sinh khi làm bài đều “đốt cháy giai đoạn” Các em không thông bốn bước khi tiến hành làm một bài văn Vì thế mà kĩ năng tìm hiểu đề

và tìm ý, lập dàn ý, viết bài, sửa lỗi trong bài làm của học sinh là rất kém.

2 Kết quả thực trạng:

Từ một số tồn tại trong việc dạy và học văn nghị luận như đã nêu dẫn đếnkết quả học tập môn Ngữ văn chưa cao, đặc biệt điểm những bài viết tập làmvăn nghị luận rất thấp

Kết quả viết bài văn nghị luận của lớp 9C trường THCS Định Tân năm học

Trang 3

Trong chương trình Ngữ văn Trung học Cơ sở, văn bản nghị luận đượcđưa vào học ở lớp 7 và lớp 9 Nhìn vào phân phối chương trình Ngữ văn 9,chúng ta thấy dạng văn nghị luận văn học chiếm số tiết nhiều hơn nghị luận

xã hội (nghị luận xã hội: 8 tiết, nghị luận văn học: 12 tiết) Mặt khác, bảng số

liệu trên lại cho thấy điểm bài viết nghị luận văn học thấp hơn bài viết nghịluận xã hội Ngoài ra, trong các kì thi tuyển sinh vào lớp 10, kì thi chọn họcsinh giỏi lớp 9 thì đều thấy đề văn nghị luận văn học là chủ yếu

Với những thực tế trên, trong đề tài này, tôi xin tập trung trình bày kinh

nghiệm của bản thân trong việc rèn kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận văn học qua bốn bước.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trang 4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN

I Khái niệm văn nghị luận

Trong thực tế, có nhiều cách hiểu, định nghĩa về văn nghị luận Tuy nhiên,

cách hiểu được xem là chuẩn xác đó là khái niệm được nêu ở Sách giáo khoa

Ngữ văn 7 Ngữ văn 7 đã nêu “văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác

lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đó”.

II Đặc trưng của văn nghị luận

Văn nghị luận xây dựng trên cơ sở của tư duy logich Nếu trong loại vănsáng tác, những cảm xúc của tác giả và sự mô tả những bức tranh của đờisống chiếm vai trò quan trọng thì trong văn nghị luận những vấn đề, nhữngluận điểm, luận cứ, lập luận… là điều quan trọng nhất

1 Luận đề

Luận đề là vấn đề cần nghị luận Đó là ý kiến được nêu ra trong đề bài,

yêu cầu người làm bài cần giải quyết

2 Luận điểm

Nhiệm vụ của bài văn nghị luận là phát biểu ý kiến dưới hình thức các luận

điểm Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu

ra dưới hình thức khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán Luận điểm là linh hồn của bài viết Luận điểm đúng đắn, chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục.

3 Luận cứ

Luận cứ là những lí lẽ và dẫn chứng hình thành nên luận điểm Luận cứ

phải chân thực, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyếtphục

4 Lập luận

Có luận điểm, luận cứ rồi còn cần phải biết tổ chức, phối hợp, trình bàychúng theo những quan hệ nhất định sao cho luận cứ làm nổi bật được luậnđiểm, luận điểm thuyết minh được luận đề một cách mạnh mẽ, đầy sức thuyết

Trang 5

phục Việc tổ chức, liên kết này được gọi chung là lập luận Lập luận là cách nêu luận cứ để đẫn đến luận điểm

III Ngôn ngữ trong văn nghị luận

Bên cạnh những câu ngắn gọn, hoặc có độ dài trung bình để biểu đạt nộidung khẳng định (hay phủ định) cho gọn chắc, cô đúc, câu văn nghị luậnthường là những câu triển khai, chứng minh hay minh họa Những câu nàythường là câu nhiều vế, có cấu trúc tầng tầng, lớp lớp với nhiều thành phầnchêm xen, phụ chú, để biểu hiện các quan hệ logich đa dạng, phức tạp củahiện thực, của nhận thức

Mặt khác, văn nghị luận thường sử dụng câu ghép với những cặp liên từ hô

ứng và phụ thuộc (tuy…nhưng; vì…cho nên;…) nhằm làm cho sự diễn đạt tư

tưởng được rành mạch, rõ ràng, chặt chẽ; thường sử dụng những liên từ, liên

ngữ rất đa dạng đứng ở đầu mỗi câu hoặc mỗi đoạn (nhìn chung, xét cho cùng, ) để tạo tính liên kết; và cũng hay dùng các quán ngữ biểu hiện các

phương diện khác nhau của nhận thức như (chủ yếu là, về cơ bản…)

3 Đoạn văn nghị luận

Một ý trong đoạn văn nghị luận thường được triển khai thành nhiều câu theo một trật tự hợp lí, mạch lạc Thông thường, một đoạn văn gồm ba phần: một câu mở đoạn, một số câu phát triển đoạn (thân đoạn), và một câu kếtđoạn

Trang 6

IV Các dạng văn nghị luận:

Căn cứ vào nội dung nghị luận, thì văn nghị luận được chia thành hai loại:

1 Nghị luận chính trị xã hội:

Nghị luận xã hội vô cùng phong phú và đa dạng về vấn đề nêu ra Tuynhiên, có thể khái quát thành hai kiểu tương ứng với hai đối tượng nghị luận:

a Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống là bàn luận về một sự việc,hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đángsuy nghĩ

b Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí

Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnhvực tư tưởng, đạo đức, lối sống… của con người

2 Nghị luận văn học

Là dạng nghị luận mà nội dung của nó đề cập đến một vấn đề văn học.Vấn đề văn học ấy có thể là một ý kiến về lí luận văn học, một nhận định vềmột nền văn học, một thời kì văn học, một xu hướng, một trào lưu văn học,một tác giả, một tác phẩm hay một nhân vật, một chi tiết văn học…

Trong chương trình Ngữ văn 9, học 2 dạng nghị luận văn học:

a Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày nhữngnhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật củamột tác phẩm cụ thể

b Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá củamình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy

Trang 7

CHƯƠNG 2: RÈN KĨ NĂNG TẠO LẬP

VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC QUA BỐN BƯỚC

Tạo lập văn bản dù ở thể loại nào cũng phải trải qua bốn bước: tìm hiểu đề

và tìm ý; lập dàn ý; viết bài; đọc và sửa lỗi Tạo lập văn bản nghị luận văn

học cũng không ngoại lệ Khi học lí thuyết, học sinh nắm rất vững bốn bướctrong quá trình làm bài văn Nhưng trong thực tế, khi gặp một đề tập làm văn,hầu hết học sinh không tuân thủ các bước nói trên Đa số học sinh không cầntìm ý, lập dàn ý, không nháp bài, mà viết bài luôn vào giấy thi và cũng khôngcần đọc và sửa lỗi, cho dù thời gian làm bài đang còn Một số học sinh có ýthức hơn, cẩn thận hơn thì cũng chỉ gạch một vài ý cơ bản, sau đó nháp phần

mở bài rồi cắm đầu viết đến khi xong thì nộp bài

Chính vì thế, bài viết của các em bị xa đề, lạc đề, sai thể loại, diễn đạt lủngcủng, lan man Trước tình trạng trên, trong quá trình giảng dạy, tôi rất chú ýtới việc rèn kĩ năng tạo lập văn bản qua bốn bước

I Bước 1: Tìm hiểu đề, tìm ý

1 Mục đích của việc tìm hiểu đề, tìm ý

Đây là bước khởi đầu và góp phần quan trọng vào sự thành công của mộtbài văn Có thể so sánh rằng: nếu người thợ xây nhà, việc đầu tiên phải làm làxây móng; móng có vững nhà mới chắc thì người viết văn, việc đầu tiên và cótính quyết định là tìm hiểu đề, tìm ý một cách khoa học, chính xác

Mỗi đề văn nghị luận đều có sự khác nhau về nội dung và hình thức Vìvậy, trong quá trình làm văn nghị luận, việc xác định yêu cầu của đề bài làcông việc cần thiết Tìm hiểu kĩ đề, tìm ý khoa học sẽ tránh được tình trạnglạc đề, xa đề, thừa ý, thiếu ý trong bài làm

2 Cách tiến hành tìm hiểu đề, tìm ý: thông qua hai thao tác:

a Tìm hiểu đề

a 1 Một số dạng đề nghị luận văn học

Trong thực tế cho thấy có hai dạng đề văn nghị luận văn học tương ứng vớihai cách cấu tạo của đề văn

Trang 8

- Đề văn trực tiếp (đề nổi)

Là đề văn mà cấu tạo của đề có kèm theo những chỉ định cụ thể Đề vănnày có kết cấu rạch ròi, đầy đủ hai bộ phận Bộ phận A chứa đựng dữ kiện(tiền đề) Bộ phận B chứa đựng điều đề bài yêu cầu Bộ phận này thường diễn

đạt dưới dạng một câu cầu khiến hoặc thức mệnh lệnh như: hãy phân tích, hãy chứng minh, nêu suy nghĩ, cảm nhận của em….

Ví dụ: Hãy phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng (Kim

Lân)

- Đề gián tiếp (đề mở, đề chìm)

Là đề văn được cấu tạo không kèm theo những chỉ định (lệnh) cụ thể Đây

là dạng đề bài không có quy định cụ thể, chặt chẽ các yêu cầu về nội dung vàhình thức cũng như phương hướng, cách thức, mức độ, phạm vi giải quyết

Do đó, về mặt cấu tạo, những đề này không nêu đầy đủ, cụ thể bộ phận B Tất

cả tùy thuộc vào vốn hiểu biết và trình độ nhận thức của người làm bài để xácđịnh cụ thể yêu cầu của đề

Ví dụ: Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong bài Bài thơ về tiểu đội xe không

kính của Phạm Tiến Duật.

a 2 Cách tìm hiểu đề

Có thể tìm hiểu đề qua các thao tác sau:

Thao tác 1: Đọc kĩ đề văn, gạch chân những từ ngữ quan trọng trong đề bài Thao tác 2: Phân tích, xác định yêu cầu đề bài bằng cách trả lời các câu hỏi:

- Vấn đề nghị luận là gì?

- Thao tác nghị luận chính nào?

- Phạm vi dẫn chứng?

Ví dụ: Cảm nhận của em về nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra cho con người

và vẻ đẹp của tình cảm cha con trong đoạn trích Chiếc lược ngà (Nguyễn

Quang Sáng)

Trang 9

- Đọc kĩ đề văn, gạch chân những từ ngữ quan trọng: Cảm nhận của em

về nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra cho con người và vẻ đẹp của tình cảm

cha con trong đoạn trích Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.

- Vấn đề nghị luận: nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra cho con người và vẻ

đẹp của tình cảm cha con

- Thao tác nghị luận: chứng minh và phân tích

- Phạm vi dẫn chứng: qua đoạn trích Chiếc lược ngà

b Tìm ý

b 1 Việc tìm ý có thể dựa vào những căn cứ sau:

- Đề bài bao giờ cũng chỉ rõ vấn đề nghị luận là gì Có những đề còngợi ra các khía cạnh của vấn đề, thậm chí còn nêu lên một hoặc một số nhậnđịnh về vấn đề nghị luận Căn cứ vào đó để có định hướng lập ý

- Cùng với những chỉ dẫn về nội dung nghị luận, đề bài đều có chỉ dẫn

về phương pháp nghị luận (kiểu bài) Đây cũng là căn cứ để người làm bàiđịnh hướng lập ý

b 2 Cách tìm ý

Đối với mỗi bài văn nghị luận, khi tìm ý chúng ta phải biết đặt và trảlời câu hỏi Mỗi kiểu bài đòi hỏi một cách đặt câu hỏi thích hợp để tìm ý đượcthuận lợi và đáp ứng đúng yâu cầu của thể loại Việc vận dụng các câu hỏiphải linh hoạt sao cho phù hợp với đặc điểm của từng kiểu bài cụ thể Ví dụkhi nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) có thể đặt ra các câu hỏi

như: nhân vật có đặc điểm gì nổi bật? đặc điểm đó được tác giả biểu hiện cụ thể trong tác phẩm như thế nào? cách thể hiện tính cách nhân vật có gì sáng tạo, độc đáo? Giá trị nội dung của tác phẩm như thế nào?

Ví dụ: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng (Kim Lân).

Đối với đề trên, có thể đặt ra các câu hỏi và trả lời để được các ý sau:

Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bật, xuyênsuốt toàn truyện:

+ Chi tiết đi tản cư nhớ làng

Trang 10

+ Theo dõi tin tức kháng chiến.

+ Tâm trạng khi nghe tin đồn làng chợ Dầu theo Tây

+ Niềm vui khi tin đồn được cải chính

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

- Nhìn một cách bao quát nội dung chủ yếu mà bài làm cần đạt được

- Thấy được mức độ giải quyết vấn đề sẽ nghị luận và đáp ứng những yêucầu đề bài đặt ra, tránh bị xa đề, lạc đề,

- Thông qua việc lập dàn ý, người viết có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàndiện hơn để điều chỉnh hệ thống luận điểm, tránh bị thiếu ý hoặc thừa ý, triểnkhai ý không cân xứng

- Khi có dàn ý cụ thể, người viết chủ động phân chia thời gian cho hợp lí

2 Cách lập dàn ý cho bài văn nghị luận

a Xác định các luận điểm (ý lớn).

- Đề bài có nhiều ý thì tương ứng với mội ý là một luận điểm

- Đề bài có một ý, ý nhỏ hơn cụ thể hóa ý đó được xem là luận điểm

b.Tìm luận cứ (ý nhỏ) cho các luận điểm

- Mỗi luận điểm cần cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏ hơn gọi là luận cứ Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tùy thuộc vào ý lớn Ý nhỏ có khi được gợi từ

đề bài nhưng phần lớn từ kiến thức của bản thân

Trang 11

3 Cấu trúc của một dàn ý bài nghị luận văn học

a Đối với kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích):

- Mở bài: Giới thiệu tác phẩm (nhân vật, sự kiện…) và nêu ý kiến, đánhgiá sơ bộ của mình

- Thân bài: Nêu các luận điểm chính, có phân tích, chứng minh bằng luận

cứ tiêu biểu, xác thực và sinh động

- Kết bài: Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện(hoặc đoạn trích)

Ví dụ: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa

của Nguyễn Thành Long

Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Giới thiệu nhân vật anh thanh niên và nêu nhận xét khái quát về nhân vật.Thân bài:

- Một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao 2600 mét

- Công việc đòi hỏi lòng kiên trì, tinh thần trách nhiệm, sự tỉ mỉ, chính xác

- Biết vượt lên hoàn cảnh và giữ được lòng yêu đời

- Ý thức được trách nhiệm, muốn cống hiến nhiều cho đất nước

Kết bài:

- Khẳng định lại vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên

- Liên hệ đến thế hệ trẻ hôm nay

b Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:

- Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét, đánh giácủa mình (Nếu phân tích một đoạn thơ cần nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trongtác phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó)

- Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung vànghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ theo những luận điểm mà mình đã khái quát

- Kết bài: Khái quát giá trị (nội dung, nghệ thuật) và tác dụng của đoạnthơ, bài thơ

Ngày đăng: 10/11/2015, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w