Cách khám bệnh nhân chấn thương chi dưới Cho bệnh nhân đứng và chỉ mặc quần đùi khi khám bệnh. Kiểm tra dấu hiệu biến dạng ở cả mặt lưng và hai bên. Chú ý sự mất độ gù bình thường ở phần ngực và độ ưỡn của phần lưng, đó là dấu hiệu điển hình của viêm cứng đốt sống. Cũng nên chú ý đến những dấu hiệu của bệnh cong vẹo cột sống, một bờ cong ngoài của cột sống có thể biến dạng đơn giản (hình chữ C) hay phức tạp (hình chữ S). Đây là hậu quả của những chấn thương, sự phát triển bất thường, bệnh về đốt sống (ví dụ như còi xương, lao xương) hay cơ bất thường (điển hình như sốt bại liệt do virus polio). Cảm nhận độ mềm mại của từng đốt sống trên cơ thể và nắn nhẹ để kiểm tra độ co cứng của cơ. Chuyển động được đánh giá một cách chủ động. Động tác uốn người phần lớn thực hiện được nhờ các đốt sống, trong khi động tác xoay người chủ yếu có được nhờ các đốt sống ngực. Giới hạn của những chuyển động này được kiểm tra bằng cách quan sát (xem hình 24.28) và sử dụng nghiệm pháp Schober (xem hình 24.29). Hình 24.28: Chuyển động của đốt sống thắt lưng và ngực (a) Gấp; (b) Duỗi; (c)Uốn ngoài; (d) Xoay. Hình 24.29: Nghiệm pháp Schober Danh sách 24.6: Chẩn đoán phân biệt đau lưng Nhớ những nguyên nhân nghiêm trọng gây đau lưng mà hiếm xảy ra. Chú ý những chẩn đoán có thể xảy ra và những yếu tố nguy cơ. Tầm soát nhưng nguyên nhân gây đau lưng không đặc hiệu. (Mặc dù có thể nghi ngờ thoát vị đĩa đệm, nhưng có những trường họp chỉ thấy rõ ràng ở MRI trong khi chỉ 30% số bệnh nhân là xuất hiện triệu chứng) Không có dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khu trú Không có tổn thương tối thiểu Nghi ngờ Viêm đốt sống Triệu chứng hệ thống Đau khi nghỉ ngơi Đau mãn tính Đau trầm trọng hơn khi nghỉ ngơi Khởi phát hơn 4 tuần Sụt kí Nghi ngờ Ápxe Tệ hơn khi nghỉ ngơi Sốt Suy giảm miễn dịch Nghi ngờ gãy xương đốt sống Đau dữ dội một cách đột ngột Sử dụng Steroid Chấn thương Ấn mềm ở xương đốt sống Nghi ngờ đau thần kình tọa (Bị lún đốt sống L4 đến S1 chèn ép rể thần kinh Đau lan xuống giữa gối Nghi ngờ chèn ép tủy Đau nhiều hơn khi đi lại Đỡ đau khi uốn cong người Động tác co người được kiểm tra bằng cách yêu cầu bệnh nhân chạm ngón tay vào các đầu ngón chân trong khi gối họ vẫn trong tư thế duỗi. Giới hạn bình thường của động tác uốn rất rộng. Nhiều người chỉ có thể chạm vào nửa dưới cẳng chân khi gối họ đang thẳng. Khi bệnh nhân vặn người, bình thường sẽ có 1 đường cong mềm mại chạy dọc theo lưng từ vai đến xương chậu. Bệnh nhân bị viêm cứng đốt sống sẽ có cột sống bị cứng khớp, phẳng và bị cong vẹo ở phần hông. Động tác duỗi được khám bằng cách yêu cầu bệnh nhân nghiêng ra sau. Bệnh nhân bị đau lưng thường thấy không thoải mái bằng viêc hướng người về phía trước. Động tác nghiêng ra ngoài được đánh giá bằng cách cho bệnh nhân nghiêng ra ngoài và trượt tay phải của họ lên chân phải, nhưng không được cho bệnh nhân cúi ra phía trước, bên trái làm tương tự. Động tác này sẽ sớm bị hạn chế đối với bệnh nhân bị viêm cứng đốt sống. Động tác xoay người được khám bằng cách cho bệnh nhân nằm lên bàn (để chỉnh lại xương chậu) và yêu cầu họ xoay đầu và vai về hai bên tối đa có thể. Đo độ co của thắt lưng bằng nghiệm pháp Schober (xem hình 24.29). Đánh dấu 1 điểm ở mức gai chậu sau chiếu lên cột sống ( ở khoảng đốt sống thắt lưng L5). Đặt 1 ngón tay ở dưới điểm này 5 cm và 1 ngón khác ở trên điểm này 10 cm. Sau đó yêu cầu bệnh nhân cúi xuống chạm các ngón chân, nếu khoảng cách của 2 ngón tay nhỏ hơn 20 cm ngụ ý rằng bệnh nhân đã bị hạn chế co đốt sống thắt lưng. Khoảng cách từ ngón tới sàn nhà (trong tư thế cúi tối đa) có thể được đo qua từng kì để có thể theo dõi được diễn tiến của bệnh. Đánh giá động tác giơ chân thẳng (Nghiệm pháp Lasegue bao gồm cả động tác gấp cổ chân). Cho bệnh nhân nằm trên giường, nâng chân bệnh nhân từ từ lên (trong lúc nâng giữ cho đầu gối thẳng) nếu nghi ngờ bệnh nhân bị đau thần kinh tọa (bình thường sẽ nâng chân lên được khoảng 8090 độ). Nếu bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng, chân đang nâng sẽ bị ghì lại bởi bệnh nhân đau ( nâng được ít hơn 60 độ). Nhấn trực tiếp lên gai chậu trước trên ở cả hai bên và đẩy ra phía ngoài như thể đang cố gắng tách 2 cánh chậu ra ngoài. Ở bệnh nhân bị viêm cùng chậu, họ sẽ đau ở khớp cùng chậu khi thực hiện nghiệm pháp này. Lúc này cho bệnh nhân nằm nghiêng sang một bên. Ấn vào mào chậu một lực vừa phải, bệnh nhân cũng sẽ đau ở khớp cùng chậu trong trường hợp bị bệnh viêm cùng chậu. Khám toàn diện vùng lưng vô cùng cần thiết để đánh giá tổn thương thần kinh ở chi dưới. KHỚP HÁNG Khám về phương diện giải phẫu Khớp háng là một khớp hoạt dịch có hình tròn và có lõm ( xem hình 24.30). Lõm được hình thành bởi 3 xương: xương chậu, xương ngồi và xương mu. Phần tròn chính là đầu trên xương đùi, hay còn gọi là chỏm xương đùi. Bao bọc xung quanh là gân cơ và thần kinh, những thứ mà có thể gây ra những triệu chứng cần phải loại trừ được trong trường hợp khớp hang bị bất thường.
Trang 1Cách khám bệnh nhân chấn thương chi dưới
Cho bệnh nhân đứng và chỉ mặc quần đùi khi khám bệnh Kiểm tra dấu hiệubiến dạng ở cả mặt lưng và hai bên Chú ý sự mất độ gù bình thường ở phầnngực và độ ưỡn của phần lưng, đó là dấu hiệu điển hình của viêm cứng đốtsống Cũng nên chú ý đến những dấu hiệu của bệnh cong vẹo cột sống, một bờcong ngoài của cột sống có thể biến dạng đơn giản (hình chữ C) hay phức tạp(hình chữ S) Đây là hậu quả của những chấn thương, sự phát triển bất thường,bệnh về đốt sống (ví dụ như còi xương, lao xương) hay cơ bất thường (điểnhình như sốt bại liệt do virus polio)
Cảm nhận độ mềm mại của từng đốt sống trên cơ thể và nắn nhẹ để kiểm tra
độ co cứng của cơ
Chuyển động được đánh giá một cách chủ động Động tác uốn người phần lớn
thực hiện được nhờ các đốt sống, trong khi động tác xoay người chủ yếu cóđược nhờ các đốt sống ngực Giới hạn của những chuyển động này được kiểmtra bằng cách quan sát (xem hình 24.28) và sử dụng nghiệm pháp Schober(xem hình 24.29)
Trang 2Hình 24.28: Chuyển động của đốt sống thắt lưng và ngực (a) Gấp; (b) Duỗi;(c)Uốn ngoài; (d) Xoay.
Hình 24.29: Nghiệm pháp Schober
Danh sách 24.6: Chẩn đoán phân biệt đau lưng
Nhớ những nguyên nhân nghiêm trọng gây đau lưng mà hiếm xảy ra
Chú ý những chẩn đoán có thể xảy ra và những yếu tố nguy cơ
Tầm soát nhưng nguyên nhân gây đau lưng không đặc hiệu
(Mặc dù có thể nghi ngờ thoát vị đĩa đệm, nhưng có những trường họp chỉthấy rõ ràng ở MRI trong khi chỉ 30% số bệnh nhân là xuất hiện triệu chứng)Không có dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khu trú
Không có tổn thương tối thiểu
Nghi ngờ Viêm đốt sống
Triệu chứng hệ thống
Đau khi nghỉ ngơi
Trang 3Đau mãn tính
Đau trầm trọng hơn khi nghỉ ngơi
Khởi phát hơn 4 tuần
Sụt kí
Nghi ngờ Ápxe
Tệ hơn khi nghỉ ngơi
Sốt
Suy giảm miễn dịch
Nghi ngờ gãy xương đốt sống
Đau nhiều hơn khi đi lại
Đỡ đau khi uốn cong người
Động tác co người được kiểm tra bằng cách yêu cầu bệnh nhân chạm ngón tay
vào các đầu ngón chân trong khi gối họ vẫn trong tư thế duỗi Giới hạn bìnhthường của động tác uốn rất rộng Nhiều người chỉ có thể chạm vào nửa dướicẳng chân khi gối họ đang thẳng Khi bệnh nhân vặn người, bình thường sẽ có
1 đường cong mềm mại chạy dọc theo lưng từ vai đến xương chậu Bệnh nhân
bị viêm cứng đốt sống sẽ có cột sống bị cứng khớp, phẳng và bị cong vẹo ở
phần hông Động tác duỗi được khám bằng cách yêu cầu bệnh nhân nghiêng ra
sau Bệnh nhân bị đau lưng thường thấy không thoải mái bằng viêc hướng
Trang 4người về phía trước Động tác nghiêng ra ngoài được đánh giá bằng cách cho
bệnh nhân nghiêng ra ngoài và trượt tay phải của họ lên chân phải, nhưngkhông được cho bệnh nhân cúi ra phía trước, bên trái làm tương tự Động tácnày sẽ sớm bị hạn chế đối với bệnh nhân bị viêm cứng đốt sống Động tác xoayngười được khám bằng cách cho bệnh nhân nằm lên bàn (để chỉnh lại xươngchậu) và yêu cầu họ xoay đầu và vai về hai bên tối đa có thể
Đo độ co của thắt lưng bằng nghiệm pháp Schober (xem hình 24.29) Đánh dấu
1 điểm ở mức gai chậu sau chiếu lên cột sống ( ở khoảng đốt sống thắt lưngL5) Đặt 1 ngón tay ở dưới điểm này 5 cm và 1 ngón khác ở trên điểm này 10
cm Sau đó yêu cầu bệnh nhân cúi xuống chạm các ngón chân, nếu khoảngcách của 2 ngón tay nhỏ hơn 20 cm ngụ ý rằng bệnh nhân đã bị hạn chế co đốtsống thắt lưng Khoảng cách từ ngón tới sàn nhà (trong tư thế cúi tối đa) có thểđược đo qua từng kì để có thể theo dõi được diễn tiến của bệnh
Đánh giá động tác giơ chân thẳng (Nghiệm pháp Lasegue bao gồm cả động tác
gấp cổ chân) Cho bệnh nhân nằm trên giường, nâng chân bệnh nhân từ từ lên(trong lúc nâng giữ cho đầu gối thẳng) nếu nghi ngờ bệnh nhân bị đau thầnkinh tọa (bình thường sẽ nâng chân lên được khoảng 80-90 độ) Nếu bệnhnhân bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng, chân đang nâng sẽ bị ghì lại bởibệnh nhân đau ( nâng được ít hơn 60 độ)
Nhấn trực tiếp lên gai chậu trước trên ở cả hai bên và đẩy ra phía ngoài nhưthể đang cố gắng tách 2 cánh chậu ra ngoài Ở bệnh nhân bị viêm cùng chậu,
họ sẽ đau ở khớp cùng chậu khi thực hiện nghiệm pháp này
Lúc này cho bệnh nhân nằm nghiêng sang một bên Ấn vào mào chậu một lựcvừa phải, bệnh nhân cũng sẽ đau ở khớp cùng chậu trong trường hợp bị bệnhviêm cùng chậu
Khám toàn diện vùng lưng vô cùng cần thiết để đánh giá tổn thương thần kinh
ở chi dưới
KHỚP HÁNG
Khám về phương diện giải phẫu
Khớp háng là một khớp hoạt dịch có hình tròn và có lõm ( xem hình 24.30).Lõm được hình thành bởi 3 xương: xương chậu, xương ngồi và xương mu.Phần tròn chính là đầu trên xương đùi, hay còn gọi là chỏm xương đùi Bao bọc
Trang 5xung quanh là gân cơ và thần kinh, những thứ mà có thể gây ra những triệuchứng cần phải loại trừ được trong trường hợp khớp hang bị bất thường.
Hình 24.30: Xquang (a) Xương chậu và khớp háng; (b) Háng trong tư thế dạng
Bệnh sử
Từ “háng’ được sử dụng rộng rãi để miêu tả vị trí ở các vùng mấu chuyển, lưngdưới và vùng mông Hỏi bệnh thật kĩ để xác định được điểm đau (xem danhsách 24.7)
Danh sách 24.7: Chẩn đoán phân biệt cơn đau háng và đùi
Gãy cổ xương đùi
Trang 6Béo phì
Đau khi đi lại
Việc làm liên quan đến việc nhảy và đi lại nhiều
Nghi ngờ viêm khớp nhiễm trùng
Sốt
Khó chịu
Nghi ngờ viêm túi thanh mạc mấu chuyển
Đau liên quan đến đùi ngoài
Đau nhiều hơn khi leo cầu thang
Một bệnh nhân bị vấn đề về khớp háng thật sự sẽ đau nhiều ở vùng trướcháng và cơn đau lan xuống đầu gối Những vận động viên bị “đau háng”thường do bị viêm gân cơ khép hay viêm xương bởi chấn thương hoặc doluyện tập quá sức Cơn đau ở vùng mấu chuyển lớn thường là biểu hiện củaviêm thanh mạc mấu chuyển, viêm hay rách cơ mông ở phía trong Cơn đau sẽtăng dần xuống 2 chân Nhiệm vụ của bác sĩ là tìm ra môn thể thao nào màbệnh nhân đang tập luyện Thường thì nguyên nhân gây bệnh là do môn chạy
bộ Cơn đau thường xuất hiện vào lúc bệnh nhân bắt đầu khởi động, chỉ táidiễn sau một thời gian nghỉ ngơi Ghi nhận thật chi tiết quá trình làm việc, sinhhoạt của bệnh nhân Triệu chứng làm việc quá độ thường tệ nhất vào nhữngngày thứ 6 và đỡ hơn dần vào những ngày cuối tuần Nhảy ra khỏi bậc thềmhay xe đẩy đề có thể gây ra chấn thương tái diễn lên khớp
Một chi có thể được chú ý bởi chính người bệnh Khi kết hợp với cơn đau là cơ
chế bù trừ, nhưng có khi bớt đau bởi chiều dài giữa hai chi đã có sự khác biệt,
và mất đi sự vững chắc của khớp Bệnh nhân thường để ý những tiếng “táchtách” đến từ vùng háng Điều này có thể do bệnh viêm thanh mạc cơ hay do
gân cơ mông lớn bị trượt ra khỏi mấu chuyển lớn Sự suy giảm chức năng
thường được thể hiện qua việc bệnh nhân cảm thấy khó khan trong việc đi lạihay leo thang bộ Động tác đứng lên và ngồi xuống dần dần làm cho bệnh nhâncảm thấy không thoải mái bởi vì khớp bị cứng và đau
Bệnh sử của một bệnh nhân bị ngã và không thể đi lại hay mang tạ trên châncũng gợi ý đến gãy cổ xương đùi Bệnh sử bị viêm khớp dạng thấp và đau khi
Trang 7nghỉ ngơi cũng gợi cho chúng ta nghĩ đến viêm khớp háng dạng thấp Viêmxương khớp thường xảy ra ở người lớn tuổi và thường đi kèm với bệnh béo phì
và chấn thương tái hồi
Hỏi bệnh nhân về những triệu chứng hệ thống như sốt và sụt kí, đây có thể làdấu hiệu của viêm khớp nhiễm trùng
Những cơn đau đi kèm với rối loạn cảm giác và lan đến vùng chi phối cảm giáccủa thần kinh bì đùi ngoài gợi ý cho chúng ta nghĩ đến hội chứng đau đùi dịcảm
KHÁM
Quan sát bệnh nhân đi vào phòng khám, chậm chạp và hiển nhiên là dáng đi
không thoải mái hoặc đi chỉ bằng 1 chân với tó (nạn)
Cho bệnh nhân nằm xuống
Nhìn khớp háng là không hề dễ dàng vì khớp háng được rất nhiều cơ che phủ.
Tuy nhiên, bạn vẫn có thể xem kĩ những vết sẹo cũ và biến dạng Bệnh nhân cóthể chấp nhận tư thế 1 chân bị xoay bởi vì đau
Cảm nhận điểm chính giữa dây chằng bẹn để biết được sự trơn tru của khớp.
Điểm này nằm qua phần không nằm trong ổ cối duy nhất của xương đùi Lúcnày cảm nhận tiếp vị trí của mấu chuyển lớn Đặt ngón cái lên gai chậu trướctrên hai bên, ngón trỏ và ngón giữa di chuyển từ từ đến điểm chóp tại mấuchuyển lớn Khoảng cách giữa ngón cái và ngón trỏ và giữa của hai bên bìnhthường phải bằng nhau Nếu có 1 bên cao hơn bên còn lại, thì bên cao hơnthường là bên bất thường
Di chuyển khớp háng một cách bị động (xem hình 24.31) Động tác co được
kiểm tra bằng cách co gối bênh nhân và di chuyển đùi về hướng ngực Giữ choxương chậu ở trên giường và đảm bảo chân còn lại vẫn nằm trên giường Biếndạng co (không có khả năng duỗi khớp bình thường) có thể bị che mắt bởinhững bệnh nhân bị gù lưng và nghiêng xương chậu ra phía trước và tình trạng
ưỡn lưng bị trầm trọng thêm nếu không áp dụng nghiệm pháp Thomas Một
chân sẽ co tối đa để làm cho xương chậu thẳng Sau đó 1 chân duỗi Biến dạng
Trang 8duỗi ( kết quả của viêm xương khớp) sẽ khiến cho bệnh nhân không thể duỗi
thẳng chân kia Động tác xoay được kiểm tra ở gối và háng đã co Một tay giữ
gối, tay kia giữ chân Sau đó cho chân di chuyển vào trong ( khớp háng bìnhthường xoay ngoài được 45 độ), sau đó di chuyển ra ngoài ( khớp háng bình
thường xoay trong được 45 độ) Động tác dạng được kiểm tra bằng cách đứng
cùng bên với chân được kiểm tra Tay phải tóm lấy gót chân phải trong khi taytrái đặt lên gai chậu trước trên để cố định xương chậu Sau đó di chuyển chân
ra ngoài tối đa có thể Bình thường chân sẽ dạng ra ngoài được tới 50 độ
Động tác khép thì ngược lại Chân được nâng lên trước chân còn lại và bình
thường sẽ nâng được khoảng 45 độ
Hình 24.31: Chuyển động của háng
Trang 9(a) Gấp; (b) Duỗi; (c) Gấp, gối gấp; (d) Xoay trong; (e) dạng.
Yêu cầu bệnh nhân nghiêng người sang trái Động tác duỗi được kiểm tra bằngcách đặt một tay qua khớp cùng chậu trong khi tay còn lại nâng chân lên, bìnhthường có thể nâng được 30 độ Lúc này yêu cầu bệnh nhân đứng và áp dụngnghiệm pháp Trendelenburg Ban đầu cho bệnh nhân đứng bằng 1 chân, sau
đó cho đứng bằng chân còn lại Bình thường vùng chậu của chân không chạmđất sẽ cao, nhưng trong trường hợp có bệnh về cơ hay khớp háng, chậu bênchân không chạm đất sẽ sa xuống
Cuối cùng, chiều dài chân tuyệt đối (tính từ gai chậu trước trên tới mắt cá
trong) và chiều dài chân tương đối ( tính từ rốn đến mắt cá trong) của mỗichân cần được đo lường Sự khác biệt về chiều dài tuyệt đối gợi ý cho ta nghĩđến bệnh khớp háng ở bên ngắn hơn, trong khi sự khác biệt về chiều dài tươngđối gợi cho chúng ta nghĩ đến bệnh nhân bị nghiêng xương chậu
Ở bệnh nhân bị thoái hóa khớp thì động tác xoay trong, dạng và duỗi thường bịhạn chế Thoái hóa khớp thường thể hiện bằng việc giảm không gian trong ổkhớp, xơ cứng ( dày và tăng đậm độ xương trên phim xquang) ở bờ khớp vàhình thành chồi xương trên phim xquang thẳng
GỐI
Khám trên phương diện giải phẫu
Gối là một khớp bản lề được hình thành bởi đầu dưới xương đùi, xương bánhchè và đầu gần xương chày (xem hình 24.32) Xương được bao bọc bởi baokhớp với màng hoạt dịch lớn Sự vững chắc ở phía ngoài là nhờ những dâychằng bên ngoài, và vận động trước sau được giới hạn bởi những dây chằngchéo Có một phần sụn khớp lớn đóng vai trò hấp thụ shock và cho phép cácđầu tận cùng của xương trượt lên nhau một cách nhẹ nhàng
Trang 10Hình 24.32: Giải phẫu khớp gối
Bệnh sử
Đau là một vấn đề thong thường của gối (xem bảng 24.1) Thường gối đau là
do bệnh nhân gặp phải một chấn thương nào đó hay do bị bất thường cơ học.Bệnh do viêm thường gây ra những cơn đau lan truyền, tràn lan Hỏi bệnh
nhân để biết được điểm đau nào là đau nhất Cứng khớp thường bắt đầu dần
dần và là một triệu chứng điển hình của thoái hóa khớp Triệu chứng này
thường tồi tệ hơn sau một thời gian không vận động Khóa gối thường có
nghĩa là gối không thể duỗi tối đa một cách đột ngột Gối lúc này thường bị kẹtlại sau khi co 45 độ Mở khóa gối thường xảy ra một cách bất ngờ, thỉnhthoảng việc này còn tùy thuộc vào hình thái vận động của bệnh nhân Nguyênnhân là cơ học: lỏng thân và rách sụn chêm trở thành vật chêm ở giữa hai mặt
sụn khớp của khớp Sưng nề xảy ra một cách đột ngột sau một chấn thương,
thường là do tràn máu khớp bởi gãy xương hay đứt dây chằng; nếu sung nềxảy ra sau một vài giờ, sụn chêm bị rách thường là nguyên nhân gây khóa gốinhiều hơn cả Viêm khớp và viêm hoạt dịch gây ra sung nề mạn tính.Bệnh nhân
thường chú ý tới biến dạng khớp, gây ra bởi viêm khớp Thỉnh thoảng bệnh nhân phàn nàn rằng gối của họ không vững Xương bánh chè không vững và
Trang 11đứt dây chằng thường là một trong những nguyên nhân gây ra điều này Ngườikhám luôn cần khai thác từ bệnh nhân về sự mất các chức năng Thường thìbệnh nhân sẽ bị suy giảm khả năng đi bộ đường dài, leo bậc thang và đứng lênngồi xuống ghế.
Bảng 24.1: Chẩn đoán phân biệt đau gối
Mặt ngoài của gối
Rách mâm chày ngoài Bệnh sử chấn thương
Khóa và kêu răng rắcSưng nề sau chấn thươngRách dây chằng bên ngoài Gối lỏng
Căng cơ nhị đầu đùi Chấn thương hay làm việc quá độMặt trong của gối
Rách mâm chày trong Bệnh sử chấn thương
Khóa khớp hay khớp kêu rang rắcSưng nề sau chấn thương
Rách hay căng dây chăng cánh trong Gối lỏng
Căng cơ Hamstring Lao động quá đà hay chấn thươngHội chứng bánh chè đùi Lao đọng quá độ
Triệu chứng mạn tínhSau gối
Viêm túi thanh mạc Sưng nề khu trú và mềm
Căng cơ Hamstring Lao động quá độ hay chấn thươngThuyên tắc tĩnh mạch sâu Đau mạn tính
Chấn thương hay lao động quá độMặt trước gối
Gãy xương bánh chè Đau đột ngột hay mềm
Chấn thươngSưng nề
Sờ mất liên tục xương
Tệ hơn khi đi bộTiền sử chấn thương cũViêm túi cùng trước bánh chè Nghề nghiệp
Viêm túi cùng sau bánh chè Nghề nghiệp
Trang 12Thoái hóa khớp gối xảy ra rất thường xuyên Tuổi già, chấn thương cũ và cứnggối kéo dài ít hơn nửa giờ là những yếu tố giúp chẩn đoán Những người trẻ cóthể có những cơn đau và sưng nề ở dưới gối tại điểm bám của gân bánh chèvào lồi củ chày.
Hỏi bệnh nhân xem họ đã từng phẫu thuật hay nội soi khớp gối chưa
Lấy thông tin về nghê nghiệp cũng như những môn thể thao mà họ đã từngchơi Chấn thương và hội chứng lao động quá sức thường liên quan đến các bàitập thể dục thể thao và nghề nghiệp, kèm theo những chấn thương nhỏ lặp đilặp lại ở gối
Khám
Có thể khám bệnh nhân ở nhiều tư thế và hiển nhiên có cả đi bộ Điều đầu tiêncần làm là tìm hiểu, nhìn và khám chi lành trước Điều này giúp tách bạch đượcnhững thay đổi giữa chi lành và chi bị thương, từ đó giúp cho phẫu thuật viên
tự tin hơn và quá trình thăm khám sẽ bớt gây đau đớn hơn
Nhìn cách bệnh nhân nằm xuống với cả hai chân va đùi được bộc lộ toàn bộ.
Chân bị ảnh hưởng thường co theo tư thế giảm đau giúp bệnh nhân thoải máinhất Để ý sự hao mòn của cơ tứ đầu đùi Sự hao mòn này thường xảy ra khásớm sau khi bị bất thường gối dẫn đến suy nhược chức năng cơ Khám về sựthay đổi của da ở gối, sẹo (bao gồm cả sẹo mổ cũ và sẹo phẫu thuật nội soi),sưng nề và biến dạng So sánh với bên đối diện Sưng nề thường xảy ra rõ rànghơn khi co duỗi gối Tổn thương hay gặp phải là bị lỏng lẻo mặt sụn
Phù bao hoạt dịch hay tràn dịch gối thường được tìm thấy ở phía trong củaxương bánh chè Mất các rãnh của xương bánh chè trên da là dấu hiệu sớmcủa tràn dịch Đánh giá mức độ biến dạng co chân bằng cách cho bệnh nhânngổi chồm hổm, sau đó quan sát đầu gối mỗi bên Khoảng không gian dưới gối
sẽ được ghi nhận nếu có viêm khớp biến dạng co gối lâu dài
Biến dạng vẹo vào và vẹo ra cũng xuất hiện và dễ dàng ghi nhận hơn khi chobệnh nhân đứng Biến dạng vẹo trong thường liên quan tới loãng xương vàbiến dạng vẹo ngoài thường liên quan tới bệnh viêm khớp dạng thấp
Lúc này quan sát bệnh nhân co và duỗi thẳng gối từng bên một Khi gối duỗi,xương bánh chè sẽ trượt lên trên nhưng vẫn nằm trên đường thẳng giữa hốgian lầu cầu đùi Nếu như có trật xương bánh chè, xương bánh chè sẽ trượt rangoài khi gối gấp và trở lại vị trí ban đầu khi gối duỗi