1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sở hữu về tư liệu sản xuất ở nước ta

21 802 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sở hữu về tư liệu sản xuất ở nước ta
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 81,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sở hữu về tư liệu sản xuất ở nước ta

Trang 1

a - mở đầu

Sau khi đất nớc ta bớc vào công cuộc đổi mới toàn diện, vấn đề sở hữu

đã có sự thay đổi theo chiều hớng có lợi cho việc phát triển và đảm bảo lợiích cho ngời lao động Với sự tồn tại của nền kinh tế sản xuất hàng hoánhiều thành phần, quan hệ sở hữu khác nhau ngời lao động có điều kiện tự

do sản xuất, kinh doanh, phát huy tính năng động sáng tạo của mình, tìm

đ-ợc nơi làm việc thích ứng với hoàn cảnh sinh sống và năng lực củamình,bảo đảm cho lợi ích tốt hơn Kinh tế thị trờng với nhiều thành phầnkinh tế, sở hữu quy định tính chất của các hình thức tổ chức kinh doanh vàdựa vào đây để phân định các thành phần inh tế Trong bài này em chỉmuốn trình bày vấn đề quan hệ giữa sở hữu và các thành phần kinh tế Đạihội VI đã xác định quan điểm chính sách sử dụng và cải tạo các thành phầnkinh tế trong thời ký quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nớc ta Những chủ tr-

ơng chính sách đó đã đợc cụ thể hoá và thể chế hoá trong nhiều văn bảnpháp quy cuả Nhà nớc Đợc thực tiễn những năm qua kiểm nghiệm Đồngthời cuộc sống cũng đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ nhiều khía cạnh lý luận và

đề ra một hệ thống chính sách cụ thể chung quanh vấn đề sở hữu và cácthành phần kinh tế nhằm huy dộng mọi nguồn lực trong và ngoài nớc, phục

vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, vì cuộc sống ấm no hạnh phúc củanhân dân

Xem xét vấn đề "Sở hữu về t liệu sản xuất ở nớc ta" là đi sâu vào

nghiên cứu nhiều đề tài khoa học giúp ích cho việc xây dựng nền kinh tế thịtrờng phát triển theo định hớng XHCN

Quá trình tiếp cận thông tin cha đợc đầy đủ, đề án này còn nhiều hạnchế nên em rất mong đợc sự giúp đỡ của thầy giáo

Em xin trân thành cảm ơn !

Trang 2

b - Nội dung

I- Sở hữu về t liệu sản xuất và những nhận thức mới về

sở hữu t liệu sản xuất ở nớc ta hiện nay.

1.1 Lý luận chung về sở hữu

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã chỉ ra rằng, chế độ sở hữu t bảnchủ nghĩa vận động trong sự đối lập giữa hai cực: t bản và lao động Trongquá trình phát triển của nền sản xuất xã hội, sự đối lập giữa hai cực này sẽngày càng trở nên gay gắt và đến một giai đoạn nhất định, sự đối lập sẽ phá

vỡ hình thức tồn tại của nó, tức chế độ sở hữu TBCN Điều này đợc đánhdấu bằng một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa Giống nh mọi cuộc cáchmạng xã hội khác, cuộc cách mạng này có nhiệm vụ giải quyết vấn đề chế

độ sở hữu, xoá bỏ chế độ sở hữu cũ, xây dựng chế độ sở hữu mới Sứ mệnhlịch sử của giai cấp vô sản là thực hiện cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa,xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN, thiết lập chế độ sở hữu cộng sản chủ nghĩa.Lợi ích của giai cấp vô sản gắn liền với sự nghiệp xoá bỏ chế độ t hữu.Vì chế độ sở hữu TBCN tồn tại trên cơ sở tớc bỏ sở hữu của đại đa số c dântrong xã hội, nên khi thực hiện sứ mệnh lịch sử củng mình, đem lại lợi íchcho bản thân mình, giai cấp vô sản cũng đồng thời đem lại lợi ích cho toànxã hội Lợi ích của giai cấp vô sản phù hợp với lợi ích của tất cả những ngờilao động và quần chúng bị bóc lột

Vấn đề là ở chỗ: giai cấp vô sản sẽ thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình

nh thế nào, đặc biệt là trong việc giải quyết vấn đề sở hữu - một trongnhững nội dung cơ bản của cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa? "Tuyênngôn" nhấn mạnh rằng, mục đích của việc xoá bỏ chế độ sở hữu t bản lànhằm tạo điều kiện để giai cấp vô sản giành lấy lực lợng sản xuất, xoá bỏ sựtách rời ngời lao động khỏi những điều kiện lao động, thúc đẩy sự phát triểnmạnh mẽ hơn nữa của lực lợng sản xuất, cung cấp đầy đủ sản phẩm chomọi ngời trong xã hội Với chế độ sở hữu TBCN thì lao động sống phục vụcho lao động quá khứ, lao động làm thuê phục vụ cho sự sinh sôi, nảy nởcủa t bản Xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN, thiết lập chế độ sở hữu cộng sảnchủ nghĩa trong đó lao động quá khứ phục vụ cho lao động sống, "lao độngtích luỹ sẽ trở thành phơng tiện để mở rộng, làm phong phú và làm giảmnhẹ cho quá trình sống của những ngời lao động"

Nh vậy, quá trình xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN không phải là quá trìnhphủ định sạch trơn sở hữu, mà là quá trình xoả bỏ sự đối lập gay gắt giữahai cực mà sở hữu vận động trong đó là t bản và lao động

Đối với t bản, đó là quá trình chuyển biến tính chất xã hội của sở hữu,xoá bỏ tính chất t sản của sở hữu, xoá bỏ quyền dùng chiếm hữu để nô dịchngời khác

Trang 3

Đối với ngời lao động, đó là quá trình xoá bỏ tính chất bi thảm củachiếm hữu "Tuyên ngôn" khẳng định, những ngời vô sản- những công nhânlàm thuê - chỉ có thể giành đợc những lực lợng sản xuất xã hội bằng cáchxoá bỏ phơng thức chiếm hữ hiện nay của chính họ, thực chất là xoá bỏ

"tính chất bi thảm của cái phơng thức khiến cho ngời công nhân chỉ sống đểlàm tăng thêm t bản, và chỉ sống trong chừng mực mà những lợi ích củagiai cấp thống trị đòi hỏi"

Xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN là một quá trình, dựa trên những điềukiện hiện thực, là kết quả của hoạt động hiện thực

Tuyên ngôn của Đảng cộng sản chỉ ra rằng, mặc dù lực lợng sản xuất

xã hội của CNTB hiện đại cha phát triển đến mức có thể sản xuất đủ sảnphẩm cho mọi ngời và khiến cho chế độ t hữu trở thành xiềng xích ngăn cản

sự phát triển của các lực lợng sản xuất đó, thậm chí cho đến ngày nay nóvẫn còn tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển, nhng lực lợng sảnxuất ngày nay đã đợc tạo ra với quy mô lớn cha từng có và có điều kiện để

nó tiếp tục phát triển Cùng với quá trình đó, sự phân chia giai cấp trở nênsâu sắc hơn bao giờ hết Tuyệt đại đa số dân c bị tớc mất hết mọi sở hữu.Lực lợng sản xuất tập trung trong tay một số ít nhà t sản, của cải của t sảncàng tăng thì quần chúng nhân dân càng lâm vào tình cảnh nghèo đói vàkhông thể chịu đựng đợc nữa Lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ đếnmức mà những quan hệ xã hội cũ không chứa đựng nổi, dẫn đến nhữngchấn động, những khủng hoảng trong xã hội Những điều kiện hiện thực đókhiến cho việc xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN trở thành có thể và cần thiết.Tất cả chỉ còn phụ thuộc vào những hoạt động hiện thực của giai cấp vôsản Điều này cũng đã đợc "Tuyên ngôn" nêu lên thông qua việc phân tíchnhững bớc đi cần thiết trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng cộng sảnchủ nghĩa

Bớc đầu tiên là giai cấp vô sản phải "làm nổ tung toàn bộ cái thợngtầng kiến trúc bao gồm những tầng lớp cấu thành xã hội quan phơng" giànhlấy dân chủ, giành lấy chính quyền, biến thành giai cấp thống trị Sau đó,với công cụ chính quyền Nhà nớc trong tay, giai cấp vô sản sẽ "từng bớcmột" thực hiện quá trình thay đổi tính chất xã hội của sở hữu, chuyển chế

độ sở hữu t nhân TBCN sang chế độ sở hữu cộng sản chủ nghĩa, "đoạt lấytoàn bộ t bản trong tay giai cấp t sản, tập trung tất cả những công cụ sảnxuất vào trong tay Nhà nớc", để tăng thật nhanh số lợng những lực lợng sảnxuất xã hội

Trong quá trình thực hiện sự chuyển biến chế độ sở hữu, tuỳ theo điềukiện cụ thể của những nớc khác nhau mà áp dụng những biện pháp khácnhau, thậm chí "khác nhau rất nhiều"

Trang 4

Nhấn mạnh về khả năng sử dụng những biện pháp linh hoạt, phù hợpvới hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đi tới mục tiêu chiến lợc cuối cùng mà

"Tuyên ngôn" ra đời, Ăng-ghen đã viết: "Cho đến nay, xét về đại thể, nhữngnguyên lý tổng quát trình bày trong "Tuyên ngôn" này vẫn còn hoàn toàn

đúng ở chỗ, có một vài chi tiết cần thiết phải xem lại Chính ngay "Tuyênngôn" cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc ápdụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đơng thời".Mặc dầu giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng trong tất cả cácgiai cấp hiện đang đối lập với giai cấp t sản, nhng để có thể thực hiện tốt

đẹp sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp này cũng cần phải có một quá trìnhchuẩn bị về mọi mặt

Về mặt nhận thức, giai cấp vô sản cần có một ý thức "hết sức sáng rõ

về sự đối kháng kịch liệt giữa giai cấp t sản và giai cấp vô sản"; phải nhậnthức đợc tính tất yếu, hợp qui luật khách quan của việc xoá bỏ chế độ sởhữu TBCN; có một niềm tin đầy tinh thần lạc quan cách mạng vào thắng lợicuối cùng của cuộc cách mạng vô sản

Về mặt tổ chức, cần đoàn kết, tập hợp mọi lực lợng có chung lợi íchtrong việc xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN Trong hoạt động thực tiễn, giai cấpvô sản cần ủng hộ tất cả các phong trào cách mạng chống lại trật tự xã hội

và chính trị hiện hành, luôn luôn "đa vấn đề chế độ sở hữu lên hàng đầukhông kể là nó đã có thể phát triển đến trình độ nào"; trong khi đấu tranhcho những mục đích và lợi ích trớc mắt, không bao giờ đợc xao lãng mụctiêu cuối cùng của cuộc cách mạng; xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN, xây dựngchế độ sở hữu cộng sản chủ nghĩa - nhân tố cơ bản của chế độ xã hội cộngsản chủ nghĩa

150 năm đã trôi qua, tính đúng đắn của những nguyên lý trong Tuyênngôn của Đảng cộng sản ngày càng đựơc thực tế chứng minh Chế độ sởhữu TBCN ngày càng tỏ ra bất lực, không bao chứa nổi lực lợng sản xuất xãhội ngày càng phát triển nh vũ bão, tình trạng thất nghiệp, phân cực giàunghèo quá xa trong từng nớc t bản Những vấn đề cấp bách toàn cầu nhnạn đói ở Châu Phi, tình trạng huỷ hoại môi trờng sinh thái, mối quan hệbất bình đẳng giữa các nớc phát triển với các nớc chậm phát triển, cuộckhủng hoảng tiền tệ, những cuộc chiến tranh kinh tế đang đòi hỏi phải có

sự thay đổi căn bản chế độ sở hữ TBCN, thay đổi cả chế độ xã hội t bản.Nguyên lý về tính tất yếu phải xoá bỏ chế độ sở hữu TBCN, xây dựng chế

độ sở hữu cộng sản chủ nghĩa của "Tuy ngôn" cho đến ngày nay vẫn giữnguyên giá trị

1.2 Sở hữu về t liệu sản xuất ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay

Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc, theo

Trang 5

định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay, vấn đề chế độ sở hữu và cáchình thức sở hữu luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lýluận Song, đây lại là vấn đề hết sức phức tạp và cho đến nay vẫn còn cónhững ý kiến khác nhau.

Trong bài viết này, chúng tôi không có tham vọng trình bày cặn kẽ vấn

đề hết sức phức tạp, mà chỉ nêu lên một số ý kiến về các hình thức sở hữutrong nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiệnnay

Hơn mời năm đổi mới đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc

ta đã chứng tỏ tính đúngđắn của đờng lối đổi mới, của chính sách đa dạnghoá các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo toàn dân thựchiện Thực tiễn đã cho thấy, một nền kinh tế nhiều thành phần, đơng nhiênphải bao gồm nhiều hình thức sở hữu, chứ không thể chỉ có hai hình thức sởhữu - toàn dân và tập thể - nh quan niệm trớc đây Trong giai đoạn hiệnnay, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủnghĩa mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm các hình thức sởhữu nh: sở hữu toàn dân, sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể , sở hữu cá thể, sởhữu t bản t nhân và các hình thức sở hữu hỗn hợp Trong các hình thức sởhữu này, khái quát lại, chỉ có hai hình thức sở hữu cơ bản là công hữu và thữu, còn các hình thức khác chỉ là những hình thức trung gian, quá độ hoặchỗn hợp ở đây, mỗi hình thức sở hữu lại có nhiều phơng thức biểu hiện vàtrình độ thể hiện khác nhau Chúng đợc hình thành trên cơ sở có cùng bảnchất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và năng lựcquản lý

Về sở hữu toàn dân ở nớc ta hiện nay, nh Hiến pháp và Luật đất đai

đã qui định rõ: "đất đai thuộc sở hữu toàn dẫn" Xét về mặt kinh tế, đất đai

là phơng tiện tồn tại cơ bản của cả một cộng đồng xã hội Xét về mặt xãhội, đất đai là lãnh thổ, là nơi c trú của cả một cộng đồng Thế nhng, khi xéttrên cả hai phơng diện, có thể nói rằng đất đai không thể là đối tợng sở hữucủa riêng ai Tuy nhiên, suy cho cùng, đất đai cũng là t liệu sản xuất, haynói cách chính xác hơn, nó là một bộ phận quan trọng của t liệu sản xuất.Bởi thế, dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hoá, nó vẫn phải vận độngtheo những qui luật của thị trờng và chịu sự điều tiết của những qui luật đó.Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nớc là ngời đại diện sở hữu

và quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao đổi quyền cho các hộ nôngdân, kể cả quyền đợc chuyển nhợng, quyền sử dụng đất đai Nếu biết giảiquyết cụ thể các vấn đề sở hữu, biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng,chẳng hạn nh ruộng đất vẫn thuộc sở hữu toàn dân, song ngời nông dân đợcquyền sử dụng ổn định, lâu dài, thì có thể đem lại một sức bật cho sự pháttriển của lực lợng sản xuất và sự tăng trởng kinh tế nói chung

Trang 6

Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần thì đơng nhiên là nó bao gồmnhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt,liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo hớng có lợicho quốc kế dân sinh Nhà nớc quản lý kinh tế với t cách là cơ quan quyềnlực đại diện cho lợi ích của nhân dân và là ngời đại diện đối với tài sảnthuộc sở hữu toàn dân.

Văn kiện Đại hội VII của Đảng ta đã chỉ rõ: "Trên cơ sở chế độ sở hữutoàn dân về đất đai, ruộng đất đợc giao cho nông dân sử dụng lâu dài Nhànớc qui định bằng luật pháp các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụngruộng đất Nh vậy, hình thức sở hữu toàn dân ở nớc ta hiện nay đã đợc xác

định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để thực sự trở thành nguồn lựcphát triển kinh tế

Về sở hữu Nhà nớc Trong thời kỳ bao cấp trớc đây, không chỉ ở nớc

ta, mà còn ở một số nớc khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, thờng đồngnhất sở hữu Nhà nớc với sở hữu toàn dân Do nhầm lẫn nh vậy mà có mộtthời gian khá dài, ngời ta thờng bỏ quên hình thức sở hữu Nhà nớc, chỉ quantâm đặc biệt tới hình thức sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dớihai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể Và cũng bởi sở hữu toàn dân đ ợcgắn kết với sự phát triển của khu vực kinh tế quốc doanh, vì vậy mà chúng

ta đã ra sức quốc doanh hoá nền kinh tế với niềm tin cho rằng chỉ có nh vậymới có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàndân đã trở thành thứ sở hữu không phải của một chủ sở hữu cụ thể nào cả.Trong một xã hội mà Nhà nớc còn tồn tại, thì sở hữu toàn dân cha có

điều kiện vận động trên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung Hình thức

sở hữu Nhà nớc, xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu.Còn kết cấu bên trong của sở hữu Nhà nớc ở nớc ta, có lẽ chủ yếu thể hiệnquyền sở hữu đó ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệpNhà nớc

Về sở hữu tập thể ở nớc ta trớc đây, hình thức sở hữu tập thể chủ yếu

tồn tại dới hình thức hợp tác xã (gồm cả hợp tác xã nông nghiệp và tiểu thủcông nghiệp), với nội dung là cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của đối tợng sởhữu đều là của chung, mà các xã viên là chủ sở hữu Chính vì vậy mà vớihình thức sở hữu này, quyền mua, bán hoặc chuyển nhợng t liệu sản xuất,trong thực tế sản xuất và lu thông ở nớc ta đã diễn ra hết sức phức tạp.Quyền của các tập thể sản xuất thờng rát hạn chế, song đôi khi lại có tìnhtrạng lạm quyền Sự không xác định, sự "nhập nhằng" với quyền sở hữuNhà nớc và với sở hữu t nhân trá hình cũng là hiện tợng phổ biến Để thoátkhỏi tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trờng hiện nay, theochúng tôi, phải xác định quyền mua bán và chuyển nhợng t liệu sản xuất

đối với các tập thể sản xuất, kinh doanh Chỉ có nh vậy thì sở hữu tập thểmới có thể trở thành một hình thức sở hữu có hiệu quả

Trang 7

Chúng ta đều biết, hợp tác xã không phải là hình thức riêng có, đặc

tr-ng cho chủ tr-nghiã, nhtr-ng nó là một hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trotr-ngthời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy chúng ta cần phải duy trì vàphát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhV.I.Lênin đã khẳng định, "chế độ của những xã viên hợp tác xã văn minh làchế độ xã hội chủ nghĩa"

Hợp tác xã là nhu cầu thiết thân của kinh tế hộ gia đình, của nền sảnxuất hàng hoá Khi lực lợng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏphát triển tới một trình độ nhất định, nó sẽ thúc đẩy quá trình hợp tác.Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá, các nhu cầu kinh tế về vốn, cungứng vật t, tiêu thụ sản phẩm, v.v đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác vớinhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển Chính nhu cầu đó đã lienekết ngời lao động lại với nhau và làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể Thựctiễn cho thấy, ở nớc ta hiện nay, đã có những hình thức hợp tác xã kiểu mới

ra đời do nhu cầu tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng "Hợp tác xã

đ-ợc tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếpcủa xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần, mỗi xã viên

có quyền nh nhau đối với công việc chung" Điều này cho thấy, kết cấu bêntrong của sở hữu tập thể đã thay đổi phù hợp với thực tiễn ở nớc ta hiện nay

Về sở hữu cá thể Đa dạng hoá các lực lợng sản xuất là một trong

những cơ sở để đa dạng hoá các quan hệ sở hữu, bởi nh chúng ta đã rõ, sởhữu biểu hiện quan hệ của con ngời không chỉ đối với t liệu sản xuất nóiriêng mà còn đối với toàn bộ lực lợng sản xuất nói chung ở nớc ta, hìnhthức sở hữu cá thể tồn tại chủ yếu dới hình thức kinh tế cá thể, tiểu chủ Tr-

ớc đây, kinh tế cá thể, tiểu chủ ở nớc ta chủ yếu có tính chất tự cấp, tự túc,lại bị trói buộc bởi cơ chế quản lý Hiện nay, nó đang đợc khuyến khíchphát triển và đang có xu hớng phát triển thuận lợi Kinh tế cá thể, tiểu chủ

có mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế hợp tác xã, vì thế hình thức sở hữu cáthể cũng liên quan mật thiết với hình thức sở hữu tập thể Kinh tế cá thể,tiểu chủ bao gồm những đơn vị kinh tế và những hoạt động kinh doanh dựavào nguồn vốn và sức lao động của mỗi cá nhân, nhóm nhỏ là chủ yếu đangchiếm một vị trí quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn cũng nh ởthành thị Nó có điều kiện phát huy nhanh và có hiệu quả tiềm năng về vốn,sức lao động, tay nghề của từng nhóm và từng ngời dân Tại Đại hội toànquốc lần thứ VIII, Đảng ta đã chỉ rõ: "Kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quantrọng, lâu dài Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn vềvốn, về khoa học và công nghệ, về thị trờng tiêu thụ sản phẩm sản phẩm.Hớng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thất và nhu cầu phát triểncủa sản xuất, từng bớc đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm

vệ tinh cho các doanh nghiệp Nhà nớc hay hợp tác xã"

Trang 8

Chúng ta đã biết, kinh tế cá thể, tiểu chủ, về thực chất, là thành phầnkinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ Đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ thữu nhỏ về t liệu sản xuất và lao động của bản thân và cho đến nay nó vẫn

đợc coi là sở hữu cá nhân Thứ sở hữu cá nhân đó không phải là một chế độ

sở hữu độc lập Bởi thế, nó không thể tạo ra quan hệ sản xuất, hoặc đại diệncho một quan hệ sản xuất mà chỉ là kết quả tất yếu của quan hệ sản xuất

đang tồn tại và phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất đó

Thành phần kinh tế này cũng luôn chịu sự tác động của những qui luậtkinh doanh và luôn bị phân tán, vì thế cần phải có các biện pháp kinh tế đểtác động, hớng dẫn và cải biến nó theo định hớng xã hội chủ nghĩa

Về sở hữu t bản t nhân ở nớc ta hiện nay, kinh tế t bản t nhân đang

hình thành và đợc phép phát triển Đây là thành phần kinh tế dựa trên chế

độ sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa về t liệu sản xuất Trong điều kiện của nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần sở hữu t bản t nhân, bao gồm cả doanhnghiệp của các nhà t sản và các đơn vị kinh tế mà phần lớn vốn do một hoặcmột sóo t nhân góp lại, thuê lao động sản xuất kinh doanh dới hình thức xínghiệp t doanh hoặc Công ty cổ phần t nhân Nó cũng bao gồm cả hình thứckinh tế t bản t nhân nớc ngoài đầu t 100% vốn, hoặc nắm giữ tỷ lệ vốnkhống chế Trong thời kỳ quá độ, phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩakhông còn nguyên vẹn nữa Bởi thế, kinh tế t bản t nhân ở nớc ta chỉ hoạt

động với t cách là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, đợc "bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp"

Về sở hữu hỗn hợp Sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu có sự tham gia

của nhiều loại chủ thể khác nhau về tính chất Có thể nói đây là một loạihình kinh tế trung gian, có tính chất đan xen giữa thành phần kinh tế t bảnchủ nghĩa và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện nền kinh

tế thế giới hiện đang có nhiều biến đổi, nhìn chung các nớc trên thế giới,trong đó có nớc ta, thờng có ba loại chủ thể kết hợp với nhau để tạo ra cáchình thức sở hữu hỗn hợp khác nhau Đó là sự kết hợp, liên kết giữa các chủthể; Nhà nớc, tập thể và t nhân để tạo nên các dạng sở hữu sinh động nh:Nhà nớc và nhân dân; Nhà nớc và tập thể; Nhà nớc, tập thể và t nhân; tậpthể và t nhân, v.v Thực chất đây cũng là các xí nghiệp (hoặc Công ty) cổphần, chỉ có sự khác biệt là ở chỗ các chủ thuể không đồng nhất về tínhchất Đó là các hình thức kinh tế không thuộc hẳn vào một thành phần kinh

tế nào - hình thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu dới dạng ty, xí nghiệp

cổ phần hùn vốn liên doanh hai bên và nhiều bên ở trong nớc với nớc ngoài.Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, chúng ta còn phải sử dụng chủ nghĩa t bản Nhà nớc, hay hìnhthức kinh tế t bản Nhà nớc làm phơng tiện và cứu cánh để phát triển Bởichủ nghĩa t bản Nhà nớc, theo V.I.Lênin, là một hình thức phổ biến trongthời kỳ quá độ, và sự tồn tại của nó là thực sự cần thiết Đây là một hình

Trang 9

thức tổ chức kinh tế, trong đó có phần tham dự của Nhà nớc và t nhân vớinhiều hình thức cụ thể, trên mọi lĩnh vực sản xuất, lu thông, dịch vụ, tíndụng, v.v ở nớc ta hiện nay, "kinh tế t bản Nhà nớc bao gồm các hình thứchợp tác liên doanh giữa kinh tế với t bản t nhân trong nớc và hợp tác liêndoanh giữa kinh tế Nhà nớc với t bản nớc ngoài" Nó có u thế mạnh hơn sovới t bản t nhân ở chỗ, nó đã kết hợp đợc sức mạnh tổng hợp của hai thànhphần kinh tế có tiềm lực lớn nhất trong thời kỳ quá độ Bởi vậy, hình thức

sở hữu hỗn hợp ở nớc ta là cái có khả năng thực hiện tập trung hoá, chuyênmôn hoá sản xuất và tạo ra sản phẩm có chất lợng cao, có sức cạnh tranhlớn trên thị trờng trong và ngoài nớc

Để cho "chủ nghĩa t bản Nhà nớc" có những đóng góp thực sự cho vịêcphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo định hớng xã hộichủ nghĩa, chúng ta cần phải tạo điều kiện, môi trờng thuận lợi cho sự tồntại và phát triển của nó Hiện nay, chúng ta đang chủ trơng cổ phần hoádoanh nghiệp Nhà nớc, đó chính là một giải pháp nhằm phát triển kinh tế tbản Nhà nớc, đa dạng hoá các hình thức sở hữu Tuy nhiên, vấn đề cổ phầnhoá ở nớc ta còn hết sức mới mẻ, cần phải nhận thức một cách đầy đủ, ápdụng từng bớc, cần "thí điểm việc bán cổ phần cho ngời nớc ngoài Tronghình thức sở hữu hỗn ohựp, mà nòng cốt là thành phần kinh tế t bản Nhà n-

ớc, còn tồn tại các thành phần kinh tế t nhân tự cấp, tự túc, kinh tế tiểu chủtrong các khu vực kinh tế còn lạc hậu, sản xuất hàng hoá chậm phát triển.Các thành phần kinh tế trong sở hữu hỗn hợp có mối quan hệ nội tại và tác

động qua lại lẫn nhau, nó là kết quả của công cuộc cải tạo và xây dựng kinh

tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, mỗi hình thức sở hữunói trên có vị trí và vai trò riêng của chúng Địa vị lịch sử của chúng phụthuộc vào sự phát triển của lực lợng sản xuất, vào trình độ quản lý, vào tiếntrình phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớngxã hội chủ nghĩa

1.3 Những nhận thức mới về sở hữu t liệu sản xuất ở nớc ta hiện nay

Cần hiểu rõ hơn định nghĩa sở hữu: Sở hữu là hình thức nhất định đợc

hình thành trong lịch sử về chiếm hữu của cải vật chất xã hội Chiếm hữu

thể hiện quan hệ giữa ngời với tự nhiên, là hành vi gắn liền với sự tồn tại vàphát triển của con ngời Chiếm hữu là phạm trù vĩnh viễn trong tất cả cácgiai đoạn khác nhau của lịch sử nhân loại

Sở hữu là quan hệ giữa ngời với ngời về sự chiếm hữu tự nhiên Sở hữu

là hình thức xã hội của hành vi chiếm hữu trong hình thức kinh tế - xã hộinhất định Sở hữu là phạm trù lịch sử, biến đổi cùng với sự biến đổi củahình thái xã hội trong lịch sử

Trang 10

Phân biệt giữa chiếm hữu và sở hữu là hết sức cần thiết để nhận thứckhoa học về phạm trù sở hữu t liêụ sản xuất Lý luận kinh tế học t sản đã lợidụng cách hiểu lập lờ giữa hai phạm trù nói trên để biểu lộ cho sự tồn tại

"Vĩnh viễn" của chế độ t hữu TBCN

Họ cho rằng sở hữu là quan hệ giữa ngời với vật, đồng nhất sở hữu vớichiếm hữu, không thấy (hoặc cố tình không thấy quan hệ giữa ngời với ngờithông qua chiếm hữu vật và mang tính đặc thù trong mỗi hình thái kinh tế -xã hội, không thấy trình độ chiếm hữu tự nhiên của con ngời gắn liền vớihình thức xã hội nhất định của con ngời - cái hình thức không phụ thuộcvào ý chí của con ngời Chính quan hệ sở hữu biến đổi là "sóng ngầm" bêntrong quyết định sự biến đổi của chế độ kinh tế - chính trị - xã hội

Sở hữu là quan hệ kinh tế chứ không phải là quan hệ ý chí của con ng

-ời trong xã hội Sở hữu quyết định hệ thống chính trị chứ không phải ngợclại

Chỉ trong mối quan hệ giữa ngời với ngời độc lập với quan hệ ý chí thìvật sở hữu mới trở thành đối tợng sở hữu thực tế, mới đem lại quyền lợi thực

tế của con ngời sở hữu, cho giai cấp nhất định và một hệ thống chính trị cómàu sắc muôn vẻ

Đối tợng của sở hữu luôn biến đổi, thích ứng Lịch sử cho thấy, đối ợng chủ yếu của sở hữu (sở hữu cái gì), đã từng chuyển dịch qua nhiều thứ:

t-từ sở hữu vật tự nhiên quý, hiếm, sở hữu nô lệ, đất đai, tiến đến sở hữu tiền,

t bản, t liệu sản xuất hiện đại (máy móc)

Đối tợng của sở hữu ngày càng đợc mở rộng, không chỉ sở hữu về tliệu sản xuất, vật phẩm tiêu dùng mà còn sở hữu vốn (tài chính, khả năngsinh lời v.v ) Việc "tiền tệ hoá" các đối tợng sở hữu là chủ yếu và là một b-

ớc tiến bộ lớn

Ngày nay, dới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, lực ợng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đối tợng chủ yếu của sở hữu xuất hiệnnhân tố mới "trí tuệ" Trí tuệ trở thành đối tợng của sở hữu là những thôngtin có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất ra của cải vậtchất xã hội Những "trí tuệ" đó có chủ sở hữu, chủ quản lý kinh doanh, đợcNhà nớc bảo hộ về mặt pháp lý Cuộc cách mạng tin học ngày càng pháttriển thì "trí tuệ" (theo cách hiểu nh trên) các trở thành đối tợng sở hữuquan trọng Vấn đề này không chỉ trong từng quốc gia mà cả trên lĩnh vựcquốc tế cũng ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều ngời, nhiều nớc Tuynhiên, không thể thấy sở hữu "trí tuệ" thay cho mọi đối tợng sở hữu

l-Cần phải biết nắm đối tợng sở hữu chủ yếu nào chi phối cả hệ thốngkinh tế để tác động, điều chỉnh quan hệ kinh tế theo định hớng xã hội chủnghĩa; phải tìm kiếm các hình thức sở hữu phù hợp cho từng đối tợng sở

Ngày đăng: 22/04/2013, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w