Luat thue - De cuong bai giang - Phan 2.doc
Trang 13.1 Người nộp thuế giá trị gia tăng:
Theo điều 4 luật thuế giá trị gia tăng quy định “Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (gọi là người nhập khẩu)”
Có thể khái quát 2 điều kiện cơ bản để một tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế giátrị gia tăng:
- Tổ chức, cá nhân phải có một trong các hành vi sau: sản xuất hàng hóa; kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ; nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
- Những hành vi trên phải tác động đến đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng mà cácanh (chị) sẽ được tìm hiểu ở mục tiếp theo
3.2 Đối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng:
a) Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng:
Theo quy định tại điều 3 luật thuế giá trị gia tăng thì “Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của luật thuế giá trị gia tăng”.
Như vậy, để trở thành đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì hàng hóa đó phải bị tác động bởi một trong các hành vi sau: hoặc là sản xuất, hoặc là kinh doanh hoặc là tiêu dùng
ở Việt Nam; dịch vụ đó phải bị tác động bởi một trong các hành vi hoặc là kinh doanh hoặc
là sử dụng ở Việt Nam.
Lý giải cho vấn đề này cũng đơn giản, bỡi vì thuế giá trị gia tăng không quantâm đến hành vi tác động vào đối tượng chịu thuế mà chỉ quan tâm đến giá trị tăng thêm của
đối tượng chịu thuế Vì vậy bất cứ khi nào, ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam, hàng hóa dịch vụ
có phát sinh giá trị tăng thêm do hành vi tác động của đối tượng nộp thuế thì hàng hóa, dịch
vụ đó là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.
b) Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng:
Có 25 trường hợp hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng được quy định tại điều 5 luật thuế giá trị gia tăng
3.3 Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng:
Theo quy định tại điều 6 Luật Thuế giá trị gia tăng thì căn cứ tính thuế giá trị gia tăng
là giá tính thuế và thuế suất.
Công thức tính thuế giá trị gia tăng:
Số thuế GTGT phát sinh = Giá tính thuế GTGT x Thuế suất thuế GTGT.
a) Giá tính thuế giá trị gia tăng: Căn cứ theo điều 7 Luật thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
Trang 2 Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bánchưa có thuế giá trị gia tăng Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá
bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng
Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu
(nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theoquy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu
Công thức: Giá tính thuế Giá trị gia tăng = Giá giá nhập khẩu + Thuế TTĐB + Thuế
Nhập khẩu
Lưu ý : Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính
thuế giá trị gia tăng là giá hàng hoá nhập khẩu cộng với (+) thuế nhập khẩu xác định theomức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm
Giá tính thuế trong một số trường hợp đặc biệt :
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ (Lưu ý : trừ trường hợp
hàng hóa, dịch vụ luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh không phảitính, nộp thuế giá trị gia tăng), biếu, tặng là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch
vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này
- Đối với hoạt động cho thuê tài sản (không phân biệt loại tài sản và hình thức cho thuê)
như cho thuê nhà, văn phòng, xưởng, kho tàng, bến, bãi, phương tiện vận chuyển; máy mócthiết bị v.v ), giá tính thuế là giá cho thuê chưa có thuế
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán chưa có thuế của hàng hoá
đó trả một lần (không bao gồm khoản lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ
- Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế (bao gồm tiền công, nhiên liệu,
động lực, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công)
- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá xây dựng, lắp đặt chưa có thuế của công
trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện;
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản : là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trị
gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước;
- Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa hồng : là
tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị gia tăng;
b) Thuế suất thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng có phạm vi tác động rất rộng, ảnh hưởng rất lớn đến giá cả, dịch
vụ Vì vậy, thuế suất thuế giá trị gia tăng thường thấp.Thuế suất thuế giá trị gia tăng có bamức: 0%, 5%, 10% cụ thể được quy định
Lưu ý đối với mức thuế suất 0%:
+ Khuyến khích hoạt động xuất khẩu do được hoàn thuế: Các cơ sở kinh doanh
khi thực hiện hành vi xuất khẩu hàng hóa dịch vụ sẽ được hưởng mức thuế suất 0% Theo
Trang 3công thức tính thuế giá trị gia tăng đầu ra thì : Thuế giá trị gia tăng đầu ra = giá xuất khẩu x0% = 0 đồng Áp dụng phương pháp nộp thuế giá trị giá trị gia tăng theo phương pháp khấutrừ thì :
Số thuế phải nộp = số thuế giá trị gia tăng đầu ra – số thuế giá trị gia tăng đầu vào = - số thuế giá trị gia tăng đầu vào
+ Kiểm soát hoạt động xuất khẩu nói chung và số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nói riêng.
+ Hạ giá thành hàng hóa, dịch vụ, giúp hàng hóa Việt Nam dễ cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
3.4 Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng:
a) Phương pháp khấu trừ thuế (điều 10 Luật thuế GTGT).
Công th c: ức:
Số thuế Giá trị
gia tăng phải nộp =
Thuế Giá trị gia tăng đầu ra -
Thuế Giá trị gia tăng đầu vào được khấu
- Thuế Giá trị gia tăng đầu vào = tổng số thuế Giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn Giá trịgia tăng mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanhhàng hóa, dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng, số thuế Giá trị gia tăng ghi trên chứng từ nộpthuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế Giá trị gia tăng thay cho phía nướcngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài cóhoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam
Điều kiện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ: căn cứ vào phương pháp
tính thuế, cơ sở kinh doanh muốn nộp thuế theo phương pháp khấu trừ phải chứng minhđược số thuế giá trị gia tăng đầu vào và số thuế giá trị gia tăng đầu ra Nếu cơ sở khôngchứng minh được thì không có căn cứ để khấu trừ thuế Để chứng minh được số thuế giá trịgia tăng đầu vào và số thuế giá trị gia tăng đầu ra, cơ sở kinh doanh phải sử dụng đầy đủ hệthống hóa đơn, chứng từ thanh toán theo quy định thống nhất của Bộ Tài chính Vì nộp thuếgiá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ là phương pháp mang lại lợi ích nhất cho đốitượng nộp thuế nên thông qua đó, nhà nước khuyến khích các cơ sở kinh doanh sử dụng đầy
Trang 4đủ hệ thống hóa đơn chứng từ, góp phần làm lành mạnh hóa hoạt động sản xuất kinh doanh,giúp nhà nước kiểm soát được giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đang lưu thông trên thịtrường Vì vậy tại khoản 2 điều 10 Luật thuế GTGT qu định: “Phương pháp khấu trừ thuế
áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế”.
b) Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên GTGT (Điều 11 Luật thuế GTGT.
Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là:
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam Hiện nay, tất cả mọi cá nhân làngười Việt Nam có hoạt động sản xuất kinh doanh đều không sử dụng hóa đơn chứng từ Vìvậy, họ phải nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng Đây là điều bất lợi chocác cá nhân sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ vì pháp luật chưa có hướng dẫn việc sử dụng hệthống hóa đơn chứng từ đối với cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh không theo Luật Đầu tư và các tổ chứckhác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theoquy định của pháp luật
- Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ Lưu ý là mọi trường hợp(không phân biệt chủ thể, không phân biệt có hay không sử dụng đầy đủ hệ thống hóa đơnchứng từ) kinh doanh, mua bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ đều phải nộp thuế giá trị gia tăngbằng phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng Bởi vì, bản thân vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
là vật ngang giá chung hơn là hàng hóa, bản thân nó không có sự gia tang giá trị trong quátrình lưu thông Giá trị gia tăng (nếu có) thực chất là biểu hiện thông qua sự gia tăng giá trịcủa một loại hàng hóa, dịch vụ khác
Lưu ý: Trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu
trừ thuế có hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý thì được tính và kê khai thuế phảinộp riêng đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý theo phương pháp tính trựctiếp trên giá trị gia tăng
Xác định thuế Giá trị gia tăng phải nộp:
Giá vốn của hàng hóa, dịch vụ bán ra
Trang 5- Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra là giá thực tế mua, bán ghi trên hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng.
- Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào bao gồm cả thuế giá trị gia tăng đã dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá,dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bán ra
Lưu ý: Giá trị gia tăng xác định đối với một số ngành nghề kinh doanh như sau:
- Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh bán hàng là số chênh lệch giữa doanh sốbán với doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh Trườnghợp cơ sở kinh doanh không hạch toán được doanh số vật tư, hàng hoá, dịch vụ mua vàotương ứng với doanh số hàng bán ra thì xác định như sau:
Giá vốn hàng bán ra = Doanh số tồn đầu kỳ + Doanh số mua trong kỳ - Doanh số tồncuối kỳ
Lưu ý: Khi nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng sẽ dẫn đến 3 trường hợp:
- Nếu Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ là một số âm (-): cơ sở kinh doanh
không được hoàn thuế Giá trị gia tăng đã nộp ở khâu trước
-Nếu Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bằng 0: cơ sở kinh doanh không phải
nộp thuế Giá trị gia tăng vì đã không phát sinh Giá trị gia tăng trong khâu này
- Nếu Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ là một số dương (+): cơ sở kinh doanh
sẽ nộp số thuế Giá trị gia tăng theo công thức trên
Vì vậy mà phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng sẽ làm nảy sinh những điểm sinh những điểm hạn chế sau:
- Vì lý do nào đó, cơ sở kinh doanh có số thuế phát sinh trong mkỳ tính thuế là một số
âm (-) thì cơ sở kinh doanh vẫn không được hoàn thuế
- Nếu nộp thuế giá trị gia tăng bằng phương pháp trực tiếp thì có hiện tượng trùng thuế
xảy ra do không tách bạch được giá trị gia tăng qua các khâu, tiền thuế giá trị gia tăng đã nộp
ở khâu trước đó lại cấu thành trong giá hàng hóa ở khâu tính thuế
3.5 Chế độ đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán Giá trị gia tăng:
3.6 Chế độ hoàn thuế giá trị gia tăng: để bảo đảm quyền lợi cho người nộp
thuế, khi số thuế mà họ có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước nhỏ hơn số tiền thuế
mà họ đã nộp vào ngân sách nhà nước thì họ phải được hoàn thuế
Những trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng: đối tượng nộp thuế
được hoàn thuế giá trị gia tăng trong những trường hợp sau đây:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế nếu sau thời gian 03 tháng liên tục trở lên có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết (áp dụng cho cả cơ sở kinh doanh có đầu tư mở rộng, đầu tư chiều
sâu)
Trang 6Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế Giá trị gia tăng có số thuế Giá trị gia tăng đầu
Tháng kê khai
thuế
Thuế đầu vào được khấu trừ trong tháng
Thuế đầu ra phát sinh trong tháng
Thuế phải nộp
Luỹ kế số thuế đầu vào chưa khấu trừ
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng
ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển
mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01năm trở lên thì được hoàn thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từngnăm Trường hợp, nếu số thuế GTGT luỹ kế của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu
tư từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT
Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theophương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanhphải kê khai bù trừ số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tưmới cùng với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện.Sau khi bù trừ nếu có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư màchưa được khấu trừ hết từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư
Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu thuế GTGTđầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồngtrở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng Cơ sở kinh doanh trong tháng vừa có hàng hoá,dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ bán trong nước, có số thuế GTGT đầu vào củahàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trởlên, nhưng sau khi bù trừ với số thuế GTGT đầu ra của hàng hoá, dịch vụ bán trong nước,nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ nhỏ hơn 200 triệu đồng thì cơ sở kinh doanhkhông được xét hoàn thuế theo tháng, nếu số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế GTGT theo tháng
Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi chia, tách, giải thể, phá sản, chuyển đổi
sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có số thuế GTGT đầu vào chưađuợc khấu trừ hết hoặc có số thuế GTGT nộp thừa
Hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợphát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo
Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh
Trang 7về Ưu đãi miền trừ ngoại giao mua hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoànthuế GTGT đã trả ghi trên hoá đơn GTGT hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán
đã có thuế GTGT
--
Trang 8Chương III PHÁP LUẬT THUẾ THU VÀO THU NHẬP
A Giới thiệu chung về pháp luật thuế thu vào thu nhập:
1 Khái niệm pháp luật thuế thu vào thu nhập:
-Con người muốn tồn tại - phải tiến hành lao động – tạo ra thu nhập – có nghĩa
vụ trích nộp một phần thu nhập của mình vào ngân sách nhà nước
Nhà nước ngày càng quan tâm đến thuế điều tiết vào thu nhập vì 2 lý do sau::
-Kinh tế thị trường – phân hóa giàu nghèo – Nhằm điều tiết thu nhập để thực
hiện công bằng xã hội
-Xu hướng toàn cầu hóa và để khuyến khích kinh tế thị trường – giảm thuế thu
vào hàng hóa, dịch vụ Đề ổn định nguồn thu cho ngân sách cần quan tâm đến điều tiếtvào thuế thu vào thu nhập
Trong quá trình lao động, con người tạo ra thu nhập dưới nhiều hình thức khác nhautùy thuộc vào tiêu chí phân loại mục đích cảu việc phân loại thu nhập là cơ sở cho việcphân định đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau cũng như đặt ra cơ chế hànhthu hiệu quả
Khái niệm: Thuế thu vào thu nhập là những sắc thuế mà nhà nước sử dụng để điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước với mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện công bằng xã hội Khái niệm pháp luật thuế thu vào thu nhập: Pháp luật thuế thu vào thu nhập là tổng hợp các qui phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế của các
cá nhân, tổ chức có phát sinh thu nhập theo qui định của pháp luật.
Có 3 sắc thuế điều tiết vào thu nhập của các chủ thể có phát sinh thu nhập, tuy nhiên
do sự thay đổi về cách xác định thu nhập nên đến ngày 1/1/2009, chỉ còn 2 sắc thuế thuvào thu nhập:
-Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (sau ngày 01/01/2009 đổi thành
thuế thu nhập cá nhân);
-Thuế chuyển quyền sử dụng đất (hết hiệu lực sau ngày 01/01/2009)
2 Đặc điểm chung của pháp luật thuế thu vào thu nhập có 3 đặc điểm cơ bản
a Thuế thu vào thu nhập là loại thuế trực thu:
-Điều tiết một cách trực tiếp một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào
ngân sách nhà nước: người có nghĩa vụ nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, người phảitrả tiền thuế và trực tiếp nộp thuế
Trang 9-Điều tiết trước khi tiêu dùng (trước khi chịu thuế hàng hóa, dịch vụ).
-Ưu điểm và nhược điểm của thuế trực thu.
b Thuế thu vào thu nhập có đối tượng chịu thuế là thu nhập chịu thuế.
-Thu nhập chịu thuế rất đa dạng và mỗi sắc thuế xác định những khoản thu nhập
cụ thể là đối tượng chịu thuế riêng biệt
-Thu nhập chịu thuế phải là thu nhập trực tiếp mà đối tượng nộp thuế có được
bằng chính hành vi của mình làm phát sinh thu nhập.
- Thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, hợp lý được
pháp luật công nhận bằng những hoạt động, những hành vi cụ thể của người chịu thuế tạo ra
Căn cứ xác định thu nhập phát sinh làm căn cứ tính thuế: được xác định dựa
vào 2 yếu tố:
-Yếu tố quốc tịch: cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch của quốc gia nào thì có
nghĩa vụ nộp thuế thu nhập phát sinh từ thu nhập của mình cho quốc gia đó không phânbiệt thu nhập đó phát sinh trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia
-Yếu tố chủ quyền quốc gia (yếu tồ lãnh thổ): thu nhập phát sinh ở lãnh thổ
thuộc chủ quyền của quốc gia nào thì quốc gia đó được quyền thu thuế thu nhập khôngphân biệt quốc tịch của chủ thể có thu nhập
Câu hỏi: Thu nhập của công nhân, doanh nghiệp trong khu chế xuất có là đối tượng
chịu thuế thu nhập theo pháp luật thuế thu nhập Việt Nam không?
Ví dụ: Công ty A (quốc tịch Việt Nam) có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Singapo
là 10.000 USD (tương đương 160.000.000 đồng Việt Nam), thuế suất thuế thu nhậpdoanh nghiệp tại Hàn Quốc là 19% Công ty A có nghĩa vụ nộp thuế như sau: Thứ nhất:nộp tại Singapo = 160.000.000 x 19% = 30.400.000 đồng; Thứ 2: nghĩa vụ nộp thuế tạiViệt Nam = 160.000.000 x (25% - 19%) = 9.600.000 đồng Ngược lại nếu một công ty B(quốc tịch Singapo) có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam là 10.000 USD (tươngđương 160.000.000 đồng Việt Nam), công ty B có nghĩa vụ nộp thuế như sau: Nộp thuếthu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam = 160.000.000 x 25% = 40.000.000 đồng; công ty Bkhông có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập tại Singapo và cũng không được hoàn lại số tiềnthuế đã nộp cho nhà nước Việt Nam Đây là cơ sở đảm bảo sự bình đẳng giữ các chủ thể
và bảo vệ lợi ích của các quốc gia trong việc xác lập mối quan hệ điều tiết theo quốc tịch
và theo lãnh thổ
Xác định khái niệm thu nhập chịu thuế: rất rộng và đa dạng tùy thuộc vào tiêu
chí phân loại:
- Nếu căn cứ vào hoạt động làm phát sinh thu nhập thì thu nhập gồm:
- Nếu căn cứ vào một số tiêu chí khác thì thu nhập gồm:
+Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
Trang 10+Thu nhập hợp pháp và thu nhập bất hợp pháp.
+Thu nhập thực tế đã phát sinh và thu nhập tiềm năng
+Thu nhập nhà nước có thể kiểm soát và thu nhập mà nhà nước chưa thể kiểm soátđược
+Thu nhập của tổ chức và thu nhập của cá nhân
+Thu nhập phát sinh trong nước và thu nhập phát sinh ở nước ngoài
+…
Chính vì tính chất đa dạng và phức tạp của thu nhập mà dưới góc độ pháp lý,
pháp luật xác định thu nhập chịu thuế là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và nằm trong giới hạn nhà nước có thể kiểm soát được.
Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế xã hội và chính sách kinh tế mà quốc gia
đó theo đuổi, các quốc gia thường có những quy định không giống nhau về các khoản thu nhập chịu thuế, loại thu nhập không thuộc diện chịu thuế, loại thu nhập tạm thời chưa thu thuế và thu nhập miễn thuế
c Trong thuế thu vào thu nhập, mức độ điều tiết thường rất lớn và chế độ miễn, giảm thuế rất linh hoạt.
3 Vai trò của thuế thu vào thu nhập:
a Thuế thu vào thu nhập có vai trò điều tiết thu nhập xã hội.
b Thuế thu vào thu nhập có vai trò thực hiện công bằng xã hội.
B Nội dung cơ bản của pháp luật thuế thu vào thu nhập:
Một số nội dung lưu ý trước khi nghiên cứu về từng sắc thuế thu vào thu nhập cụ thể.
Theo quy định của pháp luật trước ngày 1/1/2009, việc động viên thuế đối với thunhập của các cá nhân, tổ chức được thực hiện thông qua 3 sắc thuế:
Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có thực hiệnhoạt động sản xuất, kinh doanh;
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao áp dụng đối với cá nhân có thunhập từ tiền lương, tiền công (đến ngưỡng chịu thuế);
Thuế chuyển quyền sử dụng đất áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có thu nhập từchuyển quyền sử dụng đất
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới và cải cách hệ thống thuế Việt Nam, pháp luậtthuế thu nhập hiện tại đã bộc lộ một số bất hợp lý, nhất là trong việc xác định khoảng thunhập chịu thuế của cá nhân có thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập của
cá nhân có được từ hoạt động làm công ăn lương cũng như thu nhập của từ hoạt độngchuyển quyền sử dụng đất:
- Việc xác định thu nhập của cá nhân để tính thu nhập chịu thuế giữa các sắc thuế làchưa bình đẳng, công bằng về nghĩa vụ thuế
Trang 11- Sự không công bằng được thể hiện qua ví dụ sau: với cùng mức thu nhập 15 triệuđồng/tháng cá nhân có thu nhập từ kinh doanh phải nộp thuế 28% trên thu nhập, cá nhân
có thu nhập từ tiền lương nộp 10% trên thu nhập vượt ngưỡng chịu thuế Ngược lại, cánhân có mức thu nhập đến 100 triệu đồng/tháng thì cá nhân có thu nhập từ tiền lương nộpthuế 31,5% trên thu nhập, cá nhân có thu nhập từ kinh doanh chỉ nộp 28% trên thu nhập.Trên thực tế ỏ Việt Nam hiện nay, rất ít trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương 100triệu đồng/tháng, trong khi đó cá nhân kinh doanh có thể có thu nhập chịu thuế đến 100
triệu đồng/tháng Do đó nếu so sánh giữa các cá nhân kinh doanh thì nhận thấy có
nhược điểm là điều tiết cao đối với người có thu nhập thấp, điều tiết thấp đối với người có thu nhập cao Thực tế, đại bộ phận cá nhân kinh doanh có mức thu nhập dưới
20 triệu đồng/tháng phải chịu mức điều tiết thuế 28% nên dẫn đến hiện tượng hộ kinhdoanh thường tìm cách kê khai thấp doanh thu Chẳng hạn như các phòng mạch của bác
sỹ mở ra để thực hiện dịch vụ khám chữa bệnh: thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ sởkhám chữa bệnh tư nhân mỗi tháng chỉ một vài chục hoặc vài trăm nghìn tương ứng vớidoanh thu vài ba triệu/tháng, nhưng thực tế doanh thu của họ phải đến vài chục triệu mộttháng Việc kê khai không đúng doanh thu của cá nhân còn có ảnh hưởng đến việc tínhchưa đầy đủ thu nhập dân cư trong xã hội
- Áp dụng khởi điểm chịu thuế, biểu thuế khác nhau giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam
và tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Việc xác định thu nhập là đối tượng chịu thuế của các sắc thuế khác nhau chưa phùhợp với thông lệ quốc tế
Theo lộ trình cải cách thuế và chương trình làm luật của Quốc hội, đến nay, Quốchội đã ban hành 2 đạo luật thuế thu nhập quan trọng:
-Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (thay thế hoàn toàn Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp năm 2003 và một phần nội dung của Luật thuế chuyển quyền sử dụngđất năm 1994, sửa đổi năm 2000)
-Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (thay thế hoàn toàn Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001 – sửa đối năm 2004 và một phần nội dungcủa Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994, sửa đổi năm 2000)
Trong lần ban hành mới này, nội dung đối mới quan trọng là:
-Các khoản thu nhập của tổ chức, kể cả thu nhập có được từ hoạt động chuyển
quyền sử dụng đất là đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
-Các khoản thu nhập của cá nhân, kể cả thu nhập có được từ hoạt động chuyển
quyền sử dụng đất là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân
I Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế thu nhập doanh nghiệp có lịch sử hình thành từ rất sớm được thể hiện thôngqua nhiều hình thức khác nhau Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp làthuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ
Trang 12sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợinhuận) Từ năm 1990, Quốc hội ban hành Luật thuế Lợi tức áp dụng thống nhất chungđối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thànhphần kinh tế Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sảnxuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế.
Khắc phục những hạn chế trên, ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua Luật thuếthu nhập doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999
Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi cóhiệu lực từ ngày 01/01/2004
Ngày 3/6/2008 Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp mới (sau đâygọi là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008) có hiệu lực kế từ ngày 01/01/2009
1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp:
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 không đưa ra khái niệm cụ thể về thuếthu nhập doanh nghiệp Căn cứ vào điều 2 về người nộp thuế và điều 3 về thu nhập chịu
thuế thì có thể đưa ra khái niệm như sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu vào thu nhập phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
và các khoản thu nhập khác hợp pháp cuả các tổ chức (còn được gọi là các doanh nghiệp).
Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 thì thuế thu nhập
doanh nghiệp chỉ điều tiết vào thu nhập của các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ1, không còn điều tiết thu nhâp của cá nhân có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (đã được xác định là đối tượng chịu
thuế thu nhập cá nhân)
Đặc điểm cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp:
Đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập có nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh :
Như vậy, dưới góc độ lý luận, để thu nhập được coi là thu nhập chịu thuế phải thỏamãn 2 điều kiện:
-Có hành vi kinh doanh phát sinh trên thực tế không phân biệt tư cách chủ thể là
doanh nghiệp hay là các tổ chức khác, có đăng ký kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh (đăng ký dưới các hình thức khác theo Luật các tổ chứ tín dụng, Luật Luật sư, Luật Đầu tư…)
-Có thu nhập thực tế hợp pháp phát sinh trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh
doanh trên và các khoản thu nhập khác.
Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là mọi tổ chức và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Mức độ điều tiết của thuế thu nhập doanh nghiệp là rất lớn:
1 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008