Đối với các tiết quan sát tìm ý - lập dàn bài chi tiết: - Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết quan sát và tìm ý gồm hai mặt: + Chuẩn bị kiến thức phục vụ cho việc làm một đề văn the
Trang 1PHÒNG GD&ĐT HƯƠNG THUỶ
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 THUỶ PHÙ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Hương Thuỷ, ngày 10 tháng 05 năm 2011
SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT
Đề tài: Một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân
môn tập làm văn lớp 4
I Sơ lược lí lịch
- Họ và tên: Tô Đông Nhi
- Sinh ngày: 20 – 01 - 1987
- Quê quán: Vinh Xuân – Phú Vang – TTHuế
- Nơi thường trú: Vinh Xuân – Phú Vang – TTHuế
- Đơn vị công tác: Trường TH số 1 Thuỷ Phù
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: CĐSP
- Những khó khăn, thuận lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ
* Khó khăn:
- Đa số học sinh trong lớp là con em nông dân Phụ huynh chưa có điều
kiện bày vẽ nhiều Một số học sinh trong lớp có bố mẹ đi làm ăn xa, các em
sống với ông bà nên ảnh hưởng đến việc học tập ở nhà của các em
- Còn nhiều em yếu, chữ viết chưa đẹp
* Thuận lợi
- Được nhà trường biên chế nhiều năm liền giảng dạy chương trình lớp
4 nên bản thân tôi đã nắm bắt được khá kỹ về chương trình và có nhiều kinh
nghiệm trong việc thực hiện chương trình
- Đặc biệt trong năm học này tôi được giảng dạy chủ yếu hai môn toán
và Tiếng việt, vì vậy tôi có điều kiện hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ của
mình
II Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị
- Trường có bề dày về đội ngũ chuyên môn nhiều kinh nghiệm trong
giảng dạy Đây là môi trường tốt cho bản thân tôi có điều kiện học hỏi trong
việc giảng dạy của mình Mỗi giáo viên không ngừng nâng cao trách nhiệm
Trang 2học hỏi chuyên môn, nghiệp vụ, nổ lực hết mình trong công tác Nhạy bén tiếp cận với những thay đổi của ngành, áp dụng phương pháp đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
III Mục đích, yêu cầu, của sáng kiến cải tiến kỹ thuật
Do tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ trong chương trình tiểu học:
Phân môn tiếng Việt nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kiến thức sử dụng tiếng Việt( nghe, nói, đọc, viết) để hình thành và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi Thông qua dạy học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy, tri thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Vệt Nam xã hội chủ nghĩa Phân môn tập làm văn lóp 4 chú trọng vào hai loại: văn kể chuyện và văn miêu tả., trong đó văn miêu tả chiếm vị trí quan trọng trong chương trình
Tuy nhiên, qua thực tế nhiều năm giảng dạy và tình hình học tập HS lớp tôi trong năm học này, tôi nhận thấy rằng phần lớn kỹ năng viết văn của các
em còn nhiều hạn chế, các bài văn viết của các em chưa đạt kết quả về nội dung, cách diễn đạt trong lời văn, ý văn, bài viết còn mắc nhiều lỗi: Lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu, dùng hình ảnh so sánh, nhân hoá chưa chính xác, sắp xếp ý chưa logic Để khắc phục tình trạng này tôi nhận thấy rằng cần phải cố gắng tìm ra giải pháp hữu hiện giúp học sinh lớp tôi học tốt hơn
về phân môn Tập làm văn
Trang 3IV Những giải pháp chính:
1 Những giải pháp về phương pháp:
A Đối với các tiết quan sát tìm ý - lập dàn bài chi tiết:
- Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết quan sát và tìm ý gồm hai mặt:
+ Chuẩn bị kiến thức phục vụ cho việc làm một đề văn theo yêu cầu đầu bài đã cho:
+ Hình thành phương pháp và kĩ năng quan sát gắn với miêu tả
- Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh:
+ Khi quan sát phải sử dụng các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi để nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm nhằm nhận biết sự vật về hình dạng, màu sắc, âm thanh, mùi vị
+ Quan sát nhằm nhận ra nhữgn nét độc đáo đặc biệt của đối tượng chứ không phải thống kê tỉ mỉ trung thực mọi chi tiết về sự vật
+ Trong khi quan sát còn luôn gắn với cảm xúc, với kỉ niệm, với cuộc sống cá nhân của người quan sát Từ đó gắn chặt với các hoạt động liên tưởng so sánh, tưởng tượng, hồi tưởng của từng cá nhân
+ Từ việc quan sát học sinh tìm được từ ngữ diễn tả đúng và sinh động những điều đã quan sát được
+ Hướng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát:
Trình tự không gian: quan sát toàn bộ đến quan sát từng phần, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, ngoài vào trong hoặc ngược lại
Trình tự tâm lí: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc mạnh cho bản thân hứng thú hay khó chịu, yêu hay ghét ) thì quan sát trước, các phần khác quan sát sau
Phần trọng tâm bài thì quan sát kĩ lưỡng hơn
Trang 4+ Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát Đây là thao tác quan trọng nhất và có tính chất quyết định về nhiều mặt Thông thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát do đó kết quả thu được thường là các nhận xét và cảm xúc gắn liền vời thính giác (hình dáng, màu sắc, đường nét,
độ xa, gần ) đó là mặt mạnh và cũng là một nhược điểm của học sinh
+ Tổ chức quan sát và tìm ý:
Học sinh phải được quan sát trực tiếp cây cần miêu tả
Học sinh tự làm việc, tự quan sát, tự ghi chép là chính
Sự quan sát của học sinh phải được hướng dẫn cụ thể bằng hệ thống câu hỏi gợi ý
Ví dụ: để quan sát và tìm ý bài: "Tả cây bóng mát trong sân trường em " tôi đưa ra hệ thống câu hỏi sau:
Đọc kĩ đề bài, phát hiện thể loại?
Trọng tâm của đề bài là gì?
1) Đó là cây gì?
2) Cây đó như thế nào?( các bộ phận của cây, cây đó có đặc điểm gì nổi bật)
3) Ích lợi của cây dó
4) Cây đó cho em cảm xúc gì?
5) Em sẽ làm gì để chăm sóc cây đó?
Sau khi đã quan sát được học sinh sẽ tự sắp xếp ý để lập dàn bài chi tiết theo sự hướng dẫn của giáo viên trong tiết Lập dàn bài chi tiết cụ thể trong sách giáo khoa
Từ tiết Lập dàn bài cho đến tiết miệng học sinh tiếp tục quan sát trong các giờ ra chơi để bổ sung cho bài của mình mà qua tiết Lập dàn bài mình thấy còn thiếu
B. Tập làm văn (trả bài).
Để có thể làm tốt một bài tập làm văn (nói hay viết) ngoài những kỹ năng nói, học sinh còn cần được rèn luyện thêm kĩ năng sửa chữa, rút kinh nghiệm, nhằm đạt kết quả ngày một cao hơn Tập nhận xét bạn trong giờ
Trang 5Tập làm văn nói, tự rà soát và sửa chữa bài nháp của mình hay bài viết chính thức ở lớp, rút kinh nghiệm và tự sửa chữa trong giờ trả bài, tất cả đều giúp học sinh luyện tập hình thành kĩ năng và thói quen “tự điều chỉnh”, tự học tập để luôn tiến bộ Tiết “Trả bài viết” có ý nghĩa quan trọng đối với việc rèn luyện kĩ năng nói rong tiết Tập làm văn miệng
So với các tiết khác (Lập dàn bài – nói), tiết trả bài cần được giáo viên chuẩn bị công phu từ lúc chấm bài, thống kê lỗi, nhận xét khái quát về bài làm, chuẩn bị dẫn chứng, minh hoạ đến khi soạn giáo án cụ thể cho tiết trả bài Việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp cũng đòi hỏi sự gợi mở, dẫn dắt và ứng xử linh hoạt của giáo viên, nhằm giúp các em tự phát hiện nhận thức được ưu, khuyết điểm trong bài viết của mình Qua đó, học sinh có ý thức viết bài ngày càng tiến bộ và có kết quả cao hơn
Sau tiết học này tôi thường nhắc học sinh về làm lại và tôi chấm lại cẩn thận cho các em Cách làm này làm cho học sinh tăng thêm hứng thú khi học môn này
Các em không còn sợ môn này nữa, và có hứng thú khi học Tập làm văn Cụ thể trong tiết văn “Tường thuật lại tiết học lí thú” tôi giao thêm đề các em đều thuật lại tiết Tập làm văn rất sôi nổi, hóm hỉnh trong cách viết
2 Những giải pháp khác:
a Phân loại học sinh
Tập làm văn là một trong những phân môn thể hiện hoạt động giao tiếp Điều này đòi hỏi người giáo viên phải biết vai trò của mình trong hoạt động giao tiếp phải biết được những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, trình độ của học sinh lớp mình Ngay từ đầu nhận lớp phải phân loại ra từng đối tượng học sinh để có biện pháp dạy học thích hợp Đối với học sinh khá giỏi ngoài những bài tập trong SGK cần ra thêm các bài tập khác để nâng cao dần kiến thức Đối với học sinh yếu kém cần giảng giải kèm cặp giúp đỡ cho các em nhiều hơn, kể cả trong khi nói, viết, cách dùng từ ngữ miêu tả, cách viết câu v.v tổ chức cho các em nhóm học tập, học sinh khá giỏi giúp
đỡ học sinh yếu
3 Giúp học sinh miêu tả chân thực
Tính chân thực đòi hỏi bài văn miêu tả phải có các chi tiết sát thực tả đúng bản chất của đối tượng miêu tả, thể hiện được những nét đẹp đẽ, đúng đắn trong tư tưởng, tình cảm của học sinh khi các em đánh giá bộc lộ cảm
Trang 6xúc của mình đối với đối tượng miêu tả Nếu đối tượng miêu tả có những mặt xấu, mặt tiêu cực giáo viên cần giúp học sinh dần dần nhận ra những mặt cần phải phê phán và có thái độ phê phán đúng mức Chính qua việc làm như vậy chúng ta đã giúp học sinh luyện tập cách nhìn nhận phân tích cuộc sống góp phần hình thành nhân cách người học sinh xã hội chủ nghĩa
Muốn miêu tả chân thực đối với học sinh cần đảm bảo yêu cầu quan sát trực tiếp khi học và làm văn miêu tả Đối với học sinh lớp 4 vốn hiểu biết về đối tượng miêu tả của học sinh quá nghèo nàn, sơ lược Muốn giúp các em làm bài chân thật và phong phú, không có con đường nào khác ngoài việc tổ chức cho các em quan sát trực tiếp Yêu cầu này đòi hỏi phải tạo điều kiện cho các em quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả là công việc thuộc nguyên tắc khi dạy văn miêu tả Chỉ trên cơ sở có sự thu nhận trực tiếp các nhận xét,
ấn tượng cảm xúc của mình các em mới bắt tay vào làm bài Để đảm bảo yêu cầu trên, yêu cầu giáo viên phải hướng dẫn kỹ việc quan sát trước ở nhà hoặc ở trên lớp Ví dụ khi miêu tả chiếc cặp giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát kỹ chiếc cặp Giáo viên nên khéo léo khêu gợi để các em huy động vốn hiểu biết , khả năng liên tưởng , cảm xúc và vốn ngôn ngữ, giúp cho việc quan sát được tốt hơn Khi quan sát cần huy động nhiều giác quan
có thể bằng mắt nhìn , tai nghe, tay sờ Có như thế học sinh mới lột tả hết các nét đặc sắc của cái cặp (Ví dụ cái âm thanh tách tách của chiếc khoá cặp cái cảm giác mát lạnh khi sờ lên mặt cặp )
4 Học sinh là chủ thể của học văn miêu tả
Rèn luyện các kỹ năng sản sinh văn bản là nội dung chủ yếu của các tiết học văn miêu tả Để tránh tình trạng viết văn theo bài văn mẫu Khi dạy tiết làm văn giáo viên nên dùng đúng lúc, đúng chỗ, chỉ nên dùng ở một khâu nào của quá trình dạy văn miêu tả để khảo sát và phân tích để phụ trợ thêm cho việc thực hành Tuyệt đối không buộc học sinh phải viết như văn mẫu Học sinh phải thực sự làm chủ quá trình học văn miêu tả, làm chủ quá trình hình thành kỹ năng sản sinh văn bản miêu tả bằng hai hình thức nói và viết Các em phải được hoạt động luyện tập là chủ yếu trong các tiết học văn miêu tả Giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức hướng dẫn Thầy đưa ra những chỉ dẫn, những yêu cầu cụ thể để học sinh thực hiện Phần giảng giải cần hạn chế và chỉ dùng khi cần thiết Giáo viên cần dành thời gian nhiều cho học sinh làm bài tránh nói nhiều Muốn thực hiện yêu cầu trên phải đưa
Trang 7thực hành, luyện tập thành nội dung chính của tiết học Giáo viên cần rèn kỹ năng diễn đạt bằng lời cho học sinh
5 Xây dựng đoạn văn cho học sinh
Ở lớp 4 phân môn Tập làm văn danh nhiều thời gian cho 2 loại : Văn kể chuyện và văn miêu tả.Qua 2 loại này chú trọng dạy đoạn văn và kỹ năng các loại đoạn văn Đối với học sinh đoạn văn là khái niệm khá phức tạp, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ khái niệm về đoạn và dấu hiệu nhận biết
về đoạn văn Trong quá trình nhận diện đoạn văn giáo viên cần lưu ý học sinh không phải chỉ dựa vào dấu hiệu mà xem nó là đoạn văn, chúng ta chỉ coi nó là đoạn văn khi diễn đạt trọn một ý Vì vậy trong các văn bản miêu tả
để nhận diện đoạn văn cần căn cứ các ý trong bài để xây dựng một đơn vị đoạn Khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn giáo viên không yêu cầu các em viết đoạn văn như diễn dịch, quy nạp mà chỉ cần học sinh viết 3 - 4 câu làm sao các câu trong đoạn văn cần diễn đạt trọn một ý Từ dàn ý đã lập học sinh
sử dụng ngôn ngữ để dựng thành đoạn và bài Giáo viên nên hướng dẫn học sinh viết bài miêu tả theo nhiều đoạn, mỗi đoạn tả một bộ phận của đồ vật, con vật hay cây cối Hướng dẫn học sinh viết đoạn yêu cầu phải có sự liên kết chặt chẽ về ý nghĩa các câu trong đoạn Sự liên hệ giữa các câu về mặt ngôn ngữ là nhờ các biện pháp liên kết, phép nối đoạn nào không đảm bảo yêu cầu trên sẽ trở nên lộn xộn, thiếu mạch lạc Các đoạn trong bài liên kết với nhau thành một văn bản hoàn chỉnh Liên kết doạn văn làm cho nội dung văn bản chặt chẽ và liền mạch đây cũng là một điểm yếu của học sinh khi làm văn Vì thế khi hướng dẫn học sinh giáo viên cần phải giúp học sinh biết cách liên kết đoạn bằng cách dùng từ ngữ hoặc câu nối
6 Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn ngôn ngữ miêu tả và lựa chọn
từ ngữ khi miêu tả
Vốn từ ngữ miêu tả có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm văn miêu tả Giúp học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ là vấn đề quan tâm của mọi giáo viên Giáo viên cần tạo điều kiện để các em tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả Biện pháp đầu tiên là giúp các em tích luỹ vốn ngôn ngữ miêu
tả qua các bài tập đọc.Dạy các bài tập đọc giáo viên cần chỉ ra các từ ngữ miêu tả, chọn 1 hoặc 2 trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà văn khi sử dụng chúng
Trang 8Các tiết học Luyện từ và câu cũng là một dịp để giáo viên giúp các em không chỉ hiểu rõ nghĩa của từ mà còn mở rộng chúng khi tìm các từ ngữ gần nghĩa hoặc trái nghĩa Giáo viên hướng dẫn để các em thấy bên cạnh tính từ đẹp còn có rất nhiều từ ngữ khác : trông dễ mến, xinh xinh , xinh xắn, xinh đẹp lượng từ ngữ này giúp học sinh miêu tả đồ vật, con vật, cây cối
có hình ảnh hơn Giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ khi miêu tả
Có vốn từ ngữ rồi phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ Muốn vậy coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt, kết quả quan sát cũng như khi làm văn miêu tả Mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp do đó có tác dụng gợi hình ảnh, gợi cảm nhất Có khi ngay từ đầu các em đã nắm bắt được từ ngữ hay hình ảnh này Cách đặt câu hỏi của giáo viên khi hướng dẫn học sinh quan sát sự vật cây cối để biết được đặc điểm của sự vật đó cũng là cách giúp học sinh tìm tòi từ ngữ hình ảnh khi miêu tả Giáo viên cần tránh những câu chỉ hỏi về những kiến thức khoa học Ví dụ : Miêu tả cây bàng Khi cho học sinh quan sát tranh hoặc cây bàng giáo viên hỏi : cây bàng có những bộ phận nào Giáo viên nên đặt câu có tác dụng tìm
ra những chi tiết miêu tả Nhìn tán bàng xum xuê tỏa rộng em nghĩ đến hình ảnh nào? Đông đến xuân sang lá bàng thay đổi ra sao? Từ những câu hỏi như thế giáo viên sẽ giúp các em liên tưởng và tìm ra từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả Trả lời câu hỏi về cây bàng học sinh đưa ra những liên tưởng: cây bàng giống như chiếc ô xanh khổng lồ và thật thú vị khi được đứng dưới cái
ô xanh khổng lồ ấy mỗi khi trời nắng nóng
7 Hướng dẫn học tập lập dàn ý
Là một việc làm cần thiết với học sinh lớp 4 Muốn lập được dàn ý học sinh phải tiến hành 2 công việc chính: chọn lọc ý và sắp xếp thành dàn ý Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, tài liệu các em thu thập được Đối với bài miêu tả phải dựa vào ý định miêu tả, ý định đó sẽ trở thành chủ đề của bài miêu tả ý định miêu tả hình thành trên cơ sở đề bài và đặc điểm đối tượng miêu tả học sinh đang quan sát Căn cứ vào ý định này học sinh sẽ lược bỏ các chi tiết không cần thiết Quan sát cây bàng nhận thấy đây là một cây đ• trồng từ lâu năm nó to, cao Muốn nhấn mạnh ý này giáo viên cần giúp học sinh lược bỏ các chi tiết khác (thân cây hơi cong, khẳng khiu ) và chỉ giữ lại những chi tiết thân nó lớn hơn cột nhà, thân cây mốc xỉn lại, mùa
hè tán cây như một cái ô xanh, ánh nắng lọt qua và dọi xuống sân vài đóm nhỏ Từ đó học sinh viết thành đoạn miêu tả sinh động " Thân cây bàng lớn hơn cột nhà, cành lá xoè rộng ra nom như một cái ô lớn Trải qua bao mưa
Trang 9nắng Thân cây như mốc xỉn lại Mùa xuân đến cây đâm chồi nảy lộc Mùa
hè cây là một cái ô xanh che cho đám học trò tinh nghịch chơi đùa thoả thích bởi ánh nắng chói chang lọc qua tán lá xum xuê, dày đặc chỉ lọt được xuống sân trường một vài đóm nhỏ"
Các chi tiết miêu tả trong đoạn trên do được chọn lọc nên có sức gợi hình gợi cảm đối với người đọc Sau khi chọn lọc được ý rồi giáo viên hướng dẫn học sinh sắp xếp ý Dựa vào dàn ý chung của bài văn miêu tả để học sinh làm
8 Hướng dẫn học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh
Đây là khâu quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất Trên cơ sở dàn bài đã có, các em viết thành câu, đoạn và thành bài hoàn chỉnh Lời văn phải gọn gàng, ý tứ phải rõ ràng, rành mạch trong sáng Lại phải cố diễn đạt cho
có hình ảnh linh hoạt, sinh động và gợi cảm nữa Phải kết hợp giữa sắp xếp ý
và sử dụng từ, câu cho lời văn hàm súc và hấp dẫn
Muốn đạt được như thế, các em phải trên cơ sở quan sát tỉ mỉ, chính xác
và suy nghĩ, chọn lựa chi tiết cách diễn đạt tốt nhất
Ví dụ : Khi tả vườn hoa, mỗi em tả một khác
Học sinh A: Vườn hoa là một bản hoà tấu màu sắc của thiên nhiên Trước mặt em ngợp một màu đủ các sắc xanh, vàng, tím , đỏ , trắng, hồng sặc sỡ
Học sinh B: Vườn hoa như một chiếc mâm cỗ khổng lồ trên đó đủ các thứ hoa nở xoè như những món ăn hấp dẫn ai cũng muốn thưởng thức Học sinh C: Vườn hoa rực rỡ màu sắc trong nắng Hoa hồng đỏ thắm nồng nàn Hoa thược dược như những chiếc gương nhìn thẳng lên trời Hoa rực trắng thanh kiết, đôn hậu
Những điều kiện để viết một bài văn hay còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố - Về cách dùng từ : Phải dùng cho đúng, cho sát và chọn lựa từ ngữ nào hay nhất để làm cho câu văn có hồn
Trang 10Ví dụ : Tả một cành mai vàng ngày tết, nhiều em đã chọn lựa cách diễn đạt rất hay
- Cánh mai vàng "rung rinh" trước gió
- Những "hạt nắng" "đan" vào cánh hoa "lung linh"
- Màu vàng của hoa làm cho nắng cũng thêm "sóng sánh", "loang
loáng" ánh vàng
Muốn dùng từ được hay, các em, phải luôn luôn có sự liên tưởng sự vật với nhau, so sánh hiện tượng này với hiện tượng khác, sự vật này với sự vật khác để chọn lựa được từ ngữ có hình ảnh gợi cảm Đặc biệt các em nên mở rộng vốn từ đã học sử dụng nhiều từ láy và từ ghép nữa diễn tả
Ví dụ : Xanh ( xanh ngắt , xanh xanh)
Dịu ( dịu mắt, dìu dịu)
Hót ( hót như khiếu, hót líu lo)
Về viết câu : cần linh hoạt đừng viết theo kiểu công thức đơn điệu khi viết nên thay đổi chủ thể của câu
Ví dụ : Gà mẹ xoè cánh, che chỡ đàn con
Có thể đổi lại : đàn gà con vội vàng rúc vào đôi cánh xoè ra che chở của
gà mẹ
Muốn viết được câu hay, lại còn phải sử dụng cách so sánh nhân hoá nữa
Ví dụ về nhân hoá: - Lá trong vườn vẫy chào người bạn nhỏ
- Cây rung rinh trước gió, ngả nghiêng , hớn hở
Ví dụ về so sánh : - Những giọt sương đọng lại ở cánh hoa long lanh như những hạt ngọc