Thực tế qua việc dạy học phân môn TLV ở Trường Tiểu học Xuân Lộc thìhọc sinh đã đạt được những kĩ năng cơ bản như: viết được các văn bản nghệthuật tả cảnh, tả người và các văn bản thông
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Chương trình Tiểu học hiện hành ra đời chú trọng đặc biệt đến nhiệm vụhình thành và phát triển 4 kĩ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết (mụctiêu hình thành và phát triển kĩ năng được đưa lên hàng đầu) nhằm tạo ra ở họcsinh năng lực dùng tiếng Việt để học tập và giao tiếp Giúp trẻ sử dụng tốt TiếngViệt trong học tập và giao tiếp tức là làm cho việc dạy Tiếng Việt hoà nhập với
xu hướng chung của việc dạy tiếng trên thế giới, hướng vào việc chuẩn bị chohọc sinh thích ứng với đời sống xã hội hiện đại, đồng thời góp phần hình thànhnhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Phân môn Tập làm văn có thể nói là một trong những phân môn khó nhấtcủa bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học Đó là một phân môn mang tính thực hànhtổng hợp bởi nó mang tính tích hợp cao Muốn học tốt phân môn Tập làm văn,học sinh phải đọc và nghe tốt văn bản; nắm được các kiến thức cơ bản về từ vàcâu, về văn bản mà đây thường là những kiến thức khó, trừu tượng đối vớihọc sinh Tiểu học
Thực tế qua việc dạy học phân môn TLV ở Trường Tiểu học Xuân Lộc thìhọc sinh đã đạt được những kĩ năng cơ bản như: viết được các văn bản nghệthuật (tả cảnh, tả người) và các văn bản thông dụng ở mức độ đơn giản Nhưngbên cạnh đó thì việc dạy và học phân môn Tập làm văn còn nhiều bất cập và hạnchế như: giáo viên chỉ chú trọng đến việc rèn kĩ năng viết mà chưa chú trọnglắm đến việc rèn kĩ năng nói, nghe, học sinh chưa phân biệt được sự khác nhaugiữa lời văn trong văn bản nói và văn bản viết, giáo viên cũng mới chỉ hướngdẫn học sinh viết văn chủ yếu theo mẫu mà chưa có sự sáng tạo, chưa thể hiệnđược dấu ấn cá nhân của mình trong từng bài viết, trong từng hoàn cảnh cụ thể,nhất là ở những đề văn đòi hỏi bài làm phải mang tính sáng tạo cao thì phần lớnhọc sinh chưa làm được Bởi vậy, nhìn chung chất lượng dạy học phân mônTLV còn hạn chế Mặt khác, theo cấu trúc và ma trận đề kiểm tra Tiếng Việt lớp
4 và lớp 5 theo Thông tư số: 22/2016/TT-BGDĐT thì phân môn tập làm vănđược coi trọng cả về thời lượng và số điểm Đây là điều mà nhiều nhà giáo trăntrở đang tìm hướng giải quyết Với cương vị là một cán bộ quản lí chuyên môn
nhà trường tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập làm văn lớp 4 và lớp 5 ở trường tiểu học Xuân Lộc” để nghiên cứu cho bản thân
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm hiểu sâu hơn về các biện pháp chỉ đạo dạy học nâng cao chất lượngphân môn TLV ở lớp 4 và lớp 5 Tìm hiểu và đánh giá thực trạng và hiệu quảviệc dạy học phân môn TLV Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằmnâng cao hiệu quả công tác dạy học phân môn TLV, để góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về cấu trúc, vị trí và mục tiêu của phân môn TLVlớp 4 và lớp 5 ở trường tiểu học
Trang 3- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học phân môn TLV ở trường tiểu học Xuân Lộc
- Một số giải pháp và biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy họcphân môn TLV ở lớp 4 và lớp 5
- Kết luận qua nghiên cứu, ứng dụng
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu trong tài liệu
Trang 42 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận:
2.1.1 Vị trí, cấu trúc chương trình
Về vị trí : Phân môn TLV bao gồm cả hệ thống kiến
thức về ngữ âm, từ, câu, đoạn và văn bản Bởi vậy, trong một tuần, bao giờ tiếthọc TLV cũng được xếp học sau khi học các phân môn như Tập đọc, Chính tả,LTVC để không chỉ nhằm giúp học sinh được tiếp cận một cách có hệ thốngtheo chủ điểm học tập được đề cập đến trong tuần mà còn nhằm trang bị cho họcsinh một vốn kiến thức nhất định phục vụ cho tiết học TLV đó
Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4, lớp 5 [1];
1 10
11 (+3) 8 Các loại văn bản khác
- Viết thư
- Trao đổi ý kiến
- Giới thiệu hoạt động
- Tóm tắt tin tức
- Điền vào giấy tờ in sẵn
3 2
3 3
3 2 2 3 3
- Miêu tả cây cối (ôn tập)
- Miêu tả con vật (ôn tập)
- Miêu tả cảnh
- Miêu tả người
14 8
4 3 3 4 7
4 3 3 18 15 Các loại văn bản khác
- Báo cáo thống kê
3 3
2 3 2 3(bỏ 1 tiết)
6 3
Trang 5+ Đoạn văn trong bài văn kể chuyện Mở bài trong bài văn kể chuyện Kếtbài văn kể chuyện.
+ Trao đổi ý kiến
+ Giới thiệu hoạt động
+ Tóm tắt tin tức
+ Điền vào giấy tờ in sẵn
+ Báo cáo thống kê
2.1.2 Mục tiêu dạy học của phân môn TLV lớp 4 , lớp 5 gồm: [1]
* Về kĩ năng: Các kĩ năng làm văn:
- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp
+ Phân tích đề bài
+ Nhận diện kiểu văn bản
- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp
+ Xác định dàn ý bài văn đó cho sẵn
+ Tìm và sắp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
- Kĩ năng hiện thực hóa hoạt động giao tiếp:
+ Xây dựng đoạn văn
+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn
Trang 6+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêucầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
Như vậy, phân môn TLV giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng sử dụngTiếng Việt: Nghe; nói; đọc; viết; kĩ năng dùng từ đặt câu, dùng các từ ngữ giàu
âm thanh, hình ảnh, các từ ngữ có sức biểu hiện để giúp câu văn thêm sinhđộng, gợi cảm; dùng các biện pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hóa, điệp từ, điệpngữ ) để viết văn (cả lớp 4 và lớp 5); dùng các phép liên kết đơn giản để liênkết các câu trong đoạn, các đoạn trong bài để bài văn có sức lôi cuốn, hấp dẫn(Lớp 5) Tóm lại, phân môn TLV rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp qua việcchú trọng rèn đồng thời cả 4 kĩ năng: nghe, đọc (tiếp nhận văn bản), nói, viết(sản sinh văn bản) Điều này sẽ giúp học sinh không chỉ phát triển kĩ năng giaotiếp, kĩ năng ứng xử (các kĩ năng quan trọng trong cuộc sống thường nhật) màcòn giúp học sinh phát triển tư duy, làm tiền đề cho việc đào tạo nhân tài chođất nước v v
2.1.3 Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh.
2.1.4 Phân môn TLV còn giúp học sinh nâng cao óc thẩm mĩ và sự sáng tạo qua cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn sự vật
Cùng quan sát, chứng kiến, tiếp cận một sự vật hiện tượng nhưng mỗi cánhân lại biểu hiện một suy nghĩ riêng, một cách nhìn riêng Vì vậy, để tạo ra
những cái “Tôi” sáng tạo ở mỗi cá nhân học sinh thì vai trò của việc dạy học
phân môn TLV là vô cùng quan trọng
2.1.5 Định hướng xây dựng biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn TLV lớp 4 - 5:
Tuy phân môn TLV có vai trò quan trọng như vậy nhưng đây lại là một
môn học mà các giáo viên thường “Không hứng thú”dạy nhất và học sinh thường “Không ham mê ” học nhất vì bản thân nó là một môn học khó, dù các
nhà viết sách đã cố gắng biên soạn ở mức để học sinh có thể tiếp thu được song
đã là văn thì không có một công thức nào cả và viết văn cũng đòi hỏi sự khônglặp lại (của người khác và của chính bản thân mình) Mặt khác, hiện nay PPDHphân môn TLV dù đã tường minh hơn so với chương trình cải cách song cơ sởvật chất và điều kiện, phương tiện dạy học phân môn TLV hầu như còn nghèonàn, cập kênh, chưa đáp ứng nhu cầu dạy học nên chất lượng dạy học phân mônnày hầu như chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra
Vì tất cả những lí do đã nêu trên, ta thấy rằng: Việc đổi mới và nâng caochất lượng dạy học phân môn TLV là một đòi hỏi cấp thiết của các trường Tiểuhọc
2.2 Thực trạng
2.2.1 Hạn chế trong việc giảng dạy:
Mặc dù đổi mới chương trình dạy học đã tiến hành nhiều năm, song đểgiáo viên thực sự đổi mới PPDH như yêu cầu đề ra là một việc vô cùng khókhăn vì kiến thức môn học tương đối khó, yêu cầu về kĩ năng tương đối cao mà
Trang 7kiến thức từ vựng và ngữ pháp của học sinh còn hạn chế, trong khi đó vốn kiếnthức về văn và kĩ năng viết văn của giáo viên cũng còn nhiều vấn đề phải bàn vìthực tế có rất ít giáo viên có năng khiếu viết văn, Bởi vậy, giáo viên phải đầu
tư rất nhiều thời gian và công sức thì mới dạy tốt phân môn này được Đặc biệt,với những đề bài mang tính chất sáng tạo như: Cho sẵn cốt truyện, hoặc cho sẵnphần kết thúc truyện, hoặc cho sẵn phần mở đầu truyện hoặc tự tưởng tượng cốttruyện dựa vào tình huống gợi mở hoặc đề bài yêu cầu học sinh tả vật khôngquan sát trực tiếp mà được gợi ra nhờ một đoạn văn, bài thơ, câu chuyện như:
Ví dụ: Một buổi đến trường, em bỗng nghe thấy tiếng ve râm ran và thấy những chùm hoa phượng nở đỏ Hãy tả lại cảnh đó và cảm xúc của em khi mùa
hè đến.
Đây là những đề bài mang tính sáng tạo cao yêu cầu học sinh chú ý tậptrung tả nét tiêu biểu của cảnh đó, làm cho nó khác với cảnh khác Lồng với tảngười, tả vật để bài văn sinh động Tả không phải chỉ để tả mà qua tả ngườinghe, người đọc thấy được cảm xúc của người viết Nói thì dễ nhưng nhữngđiều này rất trừu tượng với học sinh nên học sinh thụ động, nhiều khi còn trôngchờ nhiều ở sự giúp đỡ của GV Bởi vậy kết quả học tập chưa cao Vì thế, họcsinh ngại học TLV và giáo viên "e ngại" dạy TLV vì lẽ đó
Mặt khác, mục tiêu của phân môn TLV trong chương trình SGK là giúp
học sinh rèn luyện đều cả bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt: Nghe, nói, đọc, viết
nhưng hiện nay khi dạy TLV, giáo viên thường thiên về dạy và rèn luyện chohọc sinh kĩ năng viết nhiều hơn Điều đó dẫn đến tình trạng học sinh thường có
kĩ năng nói kém hơn kĩ năng viết mà trong cuộc sống hiện nay, kĩ năng nói,
giao tiếp, ứng xử trực tiếp lại vô cùng quan trọng bởi đó là kĩ năng sống của con
người Do vậy, việc dạy học TLV vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu mà chươngtrình đề ra
Bên cạnh đó, việc sử dụng đồ dùng dạy học phân môn TLV của giáo viêncũng còn nhiều hạn chế, nhiều khi chưa khai thác hết được công dụng của đồdùng dạy học nên dẫn đến hiệu quả tiết dạy chưa cao
Qua kiểm tra, khảo sát tôi thấy những khó khăn của giáo viên khi dạy họcphân môn TLV là:
1 Xây dựng kế hoạch bài học theo hướng đổi mới PPDH 74.5
2 Lựa chọn và sử dụng PPDH (Phương pháp dạy học) 55.2
3 Kĩ năng sử dụng TBDH (Thiết bị dạy học) 67.5
Nguyên nhân của tình trạng trên là:
- Thứ nhất: Công tác bồi dưỡng giáo viên còn nhiều hạn chế, nội dung bồi
dưỡng về dạy học phân môn TLV chưa cụ thể, sát sao với tình hình thực tế củatừng địa phương
- Thứ hai: TBDH thiếu về số lượng, đặc biệt thiếu các TBDH hiện đại.
Trang 8- Thứ ba: Kĩ năng sử dụng PPDH, sử dụng TBDH và kĩ năng tổ chức các
hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động học tập trong tiết TLV còn hạn chế.Nhiều hoạt động học tập chưa giúp học sinh tìm tòi, khám phá ra cái mới, cáihay, cái sáng tạo của riêng mình mà chỉ mang tính giúp giáo viên biểu diễnPPDH
- Thứ tư: Công tác kiểm tra, đánh giá dạy học phân môn TLV của giáo viên
nhiều khi còn mang tính cảm tính, chưa toàn diện, thiếu chính xác, thiếu tínhkhách quan
2.2.2 Công tác chỉ đạo của CBQL để nâng cao chất lượng giảng dạy:
Chính vì những tồn tại trên nên trong những năm học qua, mặc dù đã rấtnhiều cố gắng để nâng cao chất lượng dạy học song hiệu quả thực sự khi dạyhọc phân môn TLV vẫn chưa tiến triển được là bao Đây là vấn đề mà các nhàquản lí trăn trở, suy nghĩ, tìm cách nâng cao chất lượng dạy học phân môn này
để việc dạy học thực sự là “Dạy thực – học thực” như cuộc vận động “ Hai không – bốn nội dung” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra.
Công tác chỉ đạo của CBQL để nâng cao chất lượng dạy học phân mônTLV ở đây là :
1 Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về mục tiêu phân môn TLV
và hiệu quả, chất lượng dạy học
2 Việc đổi mới cách quản lí, chỉ đạo dạy học môn Tiếng Việt nói chung
và cách quản lí chỉ đạo dạy học phân môn TLV nói riêng
3 Dạy phân môn TLV như thế nào được gọi là thực sự đổi mới PPDH?
4 Các biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung vàchất lượng dạy học phân môn TLV nói riêng
5 Làm thế nào để tạo động lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạynhằm nâng cao trách nhiệm của họ với học sinh và nâng cao chất lượng giảngdạy?
6 Cách đánh giá chất lượng dạy học phân môn TLV như thế nào là phùhợp, sát với thực tế địa phương và phù hợp với mục tiêu mà chương trình đề ra?
7 Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học và nâng cao chất lượng dạyhọc như thế nào là phù hợp?
Từ thực trạng trên, với việc nhận thức được những yêu cầu và nhiệm vụcấp bách của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trong sự nghiệp giáodục nói chung và phân môn TLV nói riêng, với lương tâm và trách nhiệm củaCBQL trường Tiểu học, qua quá trình vừa nghiên cứu vừa thực hành, tôi đã đúc
kết được: “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4 và 5” với hi vọng sẽ tháo gỡ được một phần khó khăn, lúng
túng cho giáo viên khi dạy phân môn này, nhằm góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả dạy học TLV; giúp học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt, tạotiền đề học tốt các môn học khác và làm nền tảng cho các cấp học trên
2.3 Các giải pháp, biện pháp và tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng dạy học phân môn TLV
Trang 9Sau quá trình điều tra, tìm hiểu và thực hành, tôi đã mạnh dạn đưa ra những
biện pháp chỉ đạo để nâng cao chất lượng dạy học phân môn này với hi vọng nó
có thể áp dụng cho những trường có điều kiện dạy học như trường tiểu họcXuân Lộc Cụ thể:
* Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh:
* Đối với giáo viên:
Ta thấy rằng: "Nhận thức đúng thì hành động mới đúng" Bởi vậy, cần làm
cho giáo viên thấy rõ vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc dạy học môntiếng Việt nói chung và phân môn TLV nói riêng
- Sử dụng mục tiêu phân môn TLV lớp 4; 5 để nâng cao nhận thức:
Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, làm cho giáo viên nắm vững mục tiêucần đạt của phân môn TLV để giáo viên có hướng thực hiện mục tiêu Cụ thể:
Mục tiêu về kiến thức:
Chương trình chỉ yêu cầu cung cấp cho học sinh lớp 4; 5 những kiến thức sơgiản về liên kết câu, liên kết đoạn văn; kiến thức về văn tả người, văn tả cảnh,văn bản thông thường: đơn, báo cáo thống kê, biên bản, chương trình hoạt động;một số quy tắc giao tiếp trong trao đổi nhóm, thảo luận
Mục tiêu về kĩ năng:
+ Viết: Yêu cầu học sinh có kĩ năng lập dàn ý cho bài văn miêu tả; viết đoạnvăn, bài văn miêu tả theo dàn ý; viết biên bản một cuộc họp, một vụ việc và viếttóm tắt văn bản (có độ dài vừa phải)
+ Nghe: Nghe và ghi chép một số thông tin, nhân vật, sự kiện,
+ Nói: Giới thiệu về lịch sử, văn hóa, các nhân vật tiêu biểu, của địa phương
* Đối với học sinh:
Qua các tiết dạy và các buổi sinh hoạt tập thể, giáo viên cần làm cho các
em thấy được tầm quan trọng của việc học TLV trong đời sống của các em đểcác em nâng cao ý thức tự học, tự trau dồi, rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếngViệt và ý thức quan sát, ghi chép, tìm tư liệu, sưu tầm đồ dùng học tập, tạođiều kiện thuận lợi hơn cho GV khi giảng dạy môn học này
- Đề cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên:
Cần làm cho giáo viên hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình trong giảngdạy nếu thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng dạy học, đạt mục tiêu đề ra
* Giải pháp 2: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường:
Như trên đã nói: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng dạy học”.
Bởi vậy, muốn nâng cao chất lượng dạy học thì cần tăng cường công tác bồidưỡng giáo viên Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy giáo viên còn gặp khókhăn trong dạy học phân môn TLV Vì vậy cần tăng cường công tác bồi dưỡnggiáo viên với một số nội dung chủ yếu và hình thức phù hợp
Nội dung bồi dưỡng:
- Nâng cao kiến thức môn Tiếng Việt cho giáo viên để giáo viên nắm chắckiến thức, từ đó mà xử lí tốt các tình huống dạy học trên lớp và nâng cao chấtlượng dạy học các phân môn trong đó có phân môn TLV
Trang 10- Nâng cao kĩ năng xây dựng kế hoạch bài học theo hướng đổi mới PPDH, kĩnăng lựa chọn và sử dụng các PPDH phù hợp với đặc trưng môn học, kĩ năng sửdụng TBDH và kĩ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chủ yếu trong tiết TLV.
Hình thức bồi dưỡng:
Để nâng cao kiến thức và kĩ năng dạy học cho giáo viên, đầu mỗi năm
học, tôi thường tổ chức các chuyên đề cụ thể như: Làm thế nào để rèn cho học sinh cách mở bài theo kiểu gián tiếp một cách hấp dẫn nhất nhằm hút hồn người đọc? Cách kết bài theo kiểu mở rộng trong bài văn miêu tả như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất? Hoặc: Làm thế nào nâng cao kĩ năng nói cho học sinh trong các tiết TLV, nhằm giúp giáo viên bổ sung các kiến thức, các kĩ năng cần thiết
khi tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp
Cụ thể, về mặt kiến thức và kĩ năng viết, tôi lưu ý giáo viên hướng dẫn họcsinh:
- Đối với thể loại tả người, cần chú ý tả hình dáng, hoạt động, tính tình Bamặt này thường thống nhất với nhau làm nổi rõ tính cách, thần thái của ngườiđịnh tả Nên hướng cho học sinh cách viết đan xen, không tách thành ba phầnriêng biệt hình dáng, hoạt động hay tính tình Những nét chọn để tả không nhấtthiết phải đẹp hay quá đẹp nhưng nhất thiết phải là những nét riêng biệt vàkhông bị xáo,
- Đối với những đề bài mang tính sáng tạo cao, yêu cầu học sinh chú ý tậptrung tả nét tiêu biểu của cảnh đó, làm cho nó khác với cảnh khác Lồng với tảngười, tả vật để bài văn sinh động Tả không phải chỉ để tả mà qua tả ngườinghe, người đọc thấy được cảm xúc của người viết,
Sau đây là một số biện pháp nhỏ mà tôi đã áp dụng chỉ đạo, hướng dẫncho giáo viên con đường, cách thức cụ thể cách dạy các dạng bài TLV nâng caochất lượng giảng dạy phân môn này qua các chuyên đề như sau:
+ Biện pháp 1: Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng làm văn kể chuyện thông qua các bài thơ:
Ở Tiểu học, Văn kể chuyện được giảng dạy từ lớp 3 nhưng trọng tâm củathể loại này được học ở lớp 4 Kiểu bài văn kể chuyện được xây dựng với những
đề bài cụ thể và những kĩ năng thực hành đặt ra cho từng đề bài cụ thể đó
Ở các tiết học chính khoá, giáo viên đã dạy cho học sinh một số kĩ năng kểchuyện như cốt chuyện, nhân vật trong truyện, tả ngoại hình nhân vật, tả hoạtđộng, tả nội tâm
Thông qua một số dạng đề bài như: Kể lại chuyện đã nghe, đã học, kể lạichuyện được chứng kiến tham gia, kể chuyện thay lời nhân vật, kể chuyện dựavào cốt chuyện có sẵn, viết tiếp câu chuyện cho hoàn chỉnh Học sinh được rèn
kỹ năng kể chuyện khá cụ thể cho từng kiểu, từng dạng Tuy nhiên thời giandành cho luyện tập của từng dạng không nhiều Các dạng bài kể chuyện này còn
mờ nhạt trong học sinh, đặc biệt là học sinh hoàn thành và chưa hoàn thành.Trong các tiết học ở buổi 2 tôi đã chỉ đạo giáo viên phụ trách thực hiện một sốbiện pháp giúp HS rèn kĩ năng kể chuyện và tổng hợp được nhiều yêu cầu của
kể chuyện vào bài viết mà mất ít thời gian đầu tư
Trang 11Ví dụ 1: Dựa vào bài thơ “Tiếng vọng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, em
hãy kể lại câu chuyện về cái chết của con chim sẻ trong cơn bão
Nội dung bài thơ (Trang 108-T/V lớp5, tập 1)
Để học sinh làm tốt đề bài luyện tập này, giáo viên nên chẻ nhỏ các yêucầu để học sinh thực hành
Cụ thể:
* Bài tập1: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cảnh cơn bão về trong đêm.
* Bài tập2: Dựa vào bài thơ, hãy kể lại cảnh chim mẹ tránh bão.
* Bài tập3: Dựa vào bài thơ hãy tả lại tâm trạng băn khoăn, day dứt của tác giả về cái chết của chim sẻ Ví dụ:
Bài tập1: Đêm khuya vắng vẻ, những vì sao trên trời dần dần ẩn khuất,
bóng đêm bao trùm khắp nơi Gần về sáng, trời nổi gió Rồi những tiếng rì rào bắt đầu mạnh dần, to dần Gió ù ù thổi qua mái nhà, gió vít những cành cây, gió làm va đập, cành cây gãy răng rắc, tiếng cánh chim đập cửa phành phạch Cơn bão đã thật sự đổ bộ về.
Bài tập2:
Chiếc tổ chim trong ống tre đầu nhà chiều nay còn ấm cúng, chim mẹ đang ấp ủ những quả trứng Bão về, gió xoáy thẳng vào mái nhà Chim mẹ giật mình thức giấc và bất chợt bị gió cuốn bật ra khỏi tổ Nó hoảng sợ dáo dác bay tìm nơi trú ẩn giữa màn đêm dày đặc và những trận gió gào thét điên cuồng Rồi như loé lên niềm hi vọng, chim mẹ lao tới cánh cửa của ngôi nhà Cánh cửa vẫn đóng chặt, con chim mẹ vẫn không mất niềm hi vọng, cứ cố sức chấp chới đôi cánh rã rời vỗ vào cánh cửa, mong ai đó mở cửa ra cho nó tránh bão qua đêm Cậu chủ nhỏ nằm trong chăn ấm nghe tiếng cánh chim đập cửa nhưng
sự ấm áp của gối chăn khiến cậu ngại dậy Không chống đỡ nổi cái dữ dội của cơn bão, chú chim sẻ nhỏ đã chết lạnh ngắt ngay trước cửa nhà, để lại những quả trứng trong tổ mãi mãi không thể nở thành những chú chim non.
Bài tập 3:
Sáng mai thức dậy, nhìn thấy chim mẹ đã chết ngay trước cửa và những quả trứng trong tổ bơ vơ nằm đó, cậu chủ nhỏ không khỏi ân hận, day dứt, băn khoăn Cậu day dứt mãi, giá như cậu chịu khó một chút, bớt vô tâm một chút, suy nghĩ một chút thì hậu quả thương tâm đã không xảy ra! Và hình ảnh cái chết lạnh ngắt của chú chim sẻ nhỏ với những quả trứng lăn lóc và những con chim non mãi mãi chẳng ra đời trở thành một lời cảnh tỉnh mỗi người chúng ta:
"Hãy biết sống có trách nhiệm hơn, đừng vô tình với những sinh linh bé nhỏ quanh mình" Đó cũng là thông điệp mà tác giả câu chuyện muốn gửi đến tất cả chúng ta trong cuộc sống.
Sau các bài tập nhỏ trên, giáo viên mới yêu cầu học sinh về làm cả bài Cónhư thế các em mới áp dụng được những kỹ năng đã học vào bài làm văn viết Các bài thơ có tính chất tự sự trong chương trình Tiểu học có nhiều nhưbài: Nàng Tiên Ốc, Ê-mi-li, con Ngoài ra, giáo viên nên sưu tầm thêm các bài
thơ của Trần Đăng Khoa (như bài: Đám ma bác giun, Em kể chuyện này, ),
Trang 12hay một số bài thơ của Bác Hồ (như: Con cáo và tổ ong, ) để học sinh luyện
có thể đưa ra một số dạng bài như sau:
- Đối với đối tượng học sinh chưa hoàn thành & hoàn thành:
a) Kể lại chuyện đã nghe, đã học bằng cách mượn lời nhân vật
Ví dụ: Em hãy mượn lời nhân vật vua Mi-đát kể lại câu chuyện: Điều ước
của Vua Mi-đát
Với đề bài này, HS đã được tập các kể chuyện theo vai nhân vật, bởi vậy,giáo viên chỉ cần yêu cầu một học sinh nhắc lại cách nhập vai mình vào nhân vậtvua Mi-đát để kể chuyện Giáo viên chỉ cần lưu ý học sinh: khi kể chuyện thìmọi sự việc diễn ra phải theo quan điểm và cách nhìn nhận sự việc của vua Mi-đát
Giáo viên có thể kể mẫu (với lớp có nhiều học sinh hoàn thành – chưa hoànthành) hoặc cho học sinh hoàn thành tốt kể mẫu một đoạn để học sinh nhớ lại vànắm vững cách kể chuyện theo hướng này
Chẳng hạn: "Tôi là vua Mi-đat - người trị vì đất nước Hi Lạp cổ đại Có lần, thần Đi-ô-ni-dốt hiện ra, cho phép tôi được ước một điều Tôi nghĩ: Vàng là thứ quý nhất Bởi vậy, tôi liền nói ngay:
- Xin thần cho mọi vật tôi chạm đến đều hoá thành vàng!
Thần Đi-ô-ni-dốt mỉm cười ưng thuận "
Với phương pháp hướng dẫn này, chắc chắn hầu hết học sinh đều hoànthành được yêu cầu của đề bài
- Đối với đối tượng học sinh hoàn thành tốt và học sinh hoàn thành
b) Dựa vào cốt chuyện có sẵn để kể lại câu chuyện theo trí tưởng tượng của em
*Ví dụ: Một chú ong mải mê hút nhụy hoa, không hay biết trời đang sập tối,
ong không về nhà được Sáng hôm sau khi trở về gặp các bạn, ong đã kể lại câu chuyện nó xa nhà trong đêm qua Em hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện của
chú ong xa nhà đó
c) Tưởng tượng để viết tiếp đoạn văn thành câu chuyện hoàn chỉnh
Giáo viên hướng dẫn hoc sinh hướng phát triển câu chuyện trên, cho họcsinh tưởng tượng và viết thêm từng đoạn: phần đầu chuyện, phần diễn biến hoặcphần kết thúc
d) Dựa vào ý nghĩa của một câu chuyện để kể lại chuyện theo trí tưởng tượngcủa em
Thực hiện tương tự quy trình trên
+ Biện pháp 3: Rèn kĩ năng tả ngoại hình, tả nội tâm, tả hoạt động của nhân vật.