1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chính sách thuế thu nhập cá nhân

32 2,5K 31
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích chính sách thuế thu nhập cá nhân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 244,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút điều chỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia và bản thân mỗi chúng ta.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thếgiới Những quy luật kinh tế khách quan và tất yếu đang từng giờ, từng phút điềuchỉnh nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của từng khu vực, từng quốc gia và bảnthân mỗi chúng ta Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàncầu hoá nền kinh tế đang dần chứng tỏ là một quy luật của loài người tiến bộ Đểbắt kịp với quá trình này thì mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằmlàm phù hợp và thích nghi với môi trường bên ngoài Trong công cuộc cải cách đó,cải cách về thuế luôn đươc các quốc gia chú trọng

Trong thời gian gần đây hệ thống thuế nước ta đã có rất nhiều thay đổi nhằmthích nghi với điều kiện mới Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1991,cho đến nay qua năm lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay chính phủ đang nghiên cứunhằm xây dựng thành Luật thuế thu nhập cá nhân là một trong những minh chứngcho công cuộc cải cách thuế của Việt Nam

Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế trực thu có vai trò hết sức quan trọng

Nó đã ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và ngày nay thì phát triển rộngrãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Sự phát triển của nó đồng hành với sự pháttriển của nền kinh tế và ngày càng khằng định được vai trò, chức năng là mộtnguồn thu quan trong trong ngân sách nhà nước và là công cụ góp phần đảm bảocông bằng xã hội một cách đắc lực Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn chỉnhpháp lệnh thuế thu nhập cá nhân, đồng thời sớm xây dựng thành Luật thuế thunhập cá nhân là một việc làm cần thiết từ bây giờ

Trang 2

Bởi vậy, mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về chính sáchthuế thu nhập cá nhân, chúng tôi đã chọn đề tài: “Phân tích chính sách thuế thunhập cá nhân”

A LÝ THUYẾT TỔNG QUAN CHUNG

1 Khái niệm về phân tích chính sách

Phân tích chính sách là hoạt động tạo ra sự nhận thức đúng và đủ về một vấn đềtrong quy trình chính sách Hoạt động nhận thức này bắt đàu từ sự phân tích mộtcách sâu sắc nguyên nhân, hậu quả và những vấn đề đặt ra khi thực hiện một chínhsách

2.1.2 Vấn đề chín muồi:

Là những vấn đề trở thành mâu thuẫn gay gắt hoặc trở thành vật cản đối với

sự phát triển của đất nước, những vấn đề trở thành mối quan tâm lo lắng củanhiều người, có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội hay là nhữngvấn đề sẽ trở thành nguy cơ trong tương lai ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

xã hội

Trang 3

2.1.3 Các giai đoạn của cấu trúc vấn đề chính sách:

- Cảm nhận vấn đề

- Tìm kiếm vấn đề

- Xác định vấn đề

- Định rõ vấn đề

2.2 Dự báo tương lai chính sách

Là thủ tục nhằm đưa ra các thông tin thực tế về bản chất tương lai của xã hộitrên cơ sở những thông tin sẵn có về các vấn đề chính sách

2.3 Đề xuất hoạt động chính sách

Đề xuất hoạt động chính sách giúp trả lời câu hỏi

2.4 Giám sát chính sách theo kết quả đầu ra

Phân tích chính sách

Do hạn chế về mặt thời gian và năng lực nên chúng tôi chỉ nghiên cứu

về ba bước trong khung phân tích chính sách là : cấu trúc vấn đề chính sách, đánh giá thực hiện chính sách và đề xuất hoạt động chính sách.

I CẤU TRÚC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH

Trang 4

1 Cảm nhận vấn đề

Hiện nay Việt Nam vẫn nổi lên hai vấn đề bức xúc và nổi cộm đó là bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập và sự thâm hụt Ngân sách Nhà nước

1.1 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Đối với Việt Nam, số liệu của ADB cho thấy hệ số Gini là 36,0% (1993),35,4% (1998), 37,5% (2002) và 37,0% (2009) Theo phân tích của ADB việc giatăng hệ số Gini ở khu vực châu Á không phải là do “người giàu ngày càng giàuthêm và người nghèo ngày càng nghèo đi” mà là người giàu ngày càng giàu lênnhanh hơn Một trong những vấn đề xã hội quan trọng nhất của Việt Nam liên quanđến phát triển kinh tế là vấn đề bất bình đẳng gia tăng Chênh lệch giàu nghèo 34,4lần 10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập và chi tiêu quốc gia.10% giàunhất chiếm 28,8% thu nhập và chi tiêu quốc gia 20% dân số nghèo nhất chiếm 9%tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia 20% dân số giàu nhất chiếm 44,3% tổng thunhập và chi tiêu quốc gia Chênh lệch giữa 10% dân số giàu nhất với 10% dân sốnghèo nhất là 6,9 lần, còn theo chỉ số Gini (chỉ số chênh lệch giàu nghèo) ở VN là34,4 lần (số liệu 2008) Có một câu hỏi đặt ra là tăng trưởng cao thu nhập đầungười tăng thì Nếu người dân đều trở nên giàu có hơn thì tại sao chúng ta lại phảiquan ngại về vấn đề bất bình đẳng? ADB (2007) lập luận rằng một trong những tácđộng tiêu cực của bất bình đẳng là làm cho tốc độ giảm nghèo diễn ra chậm lại vớimột mức tăng trưởng như nhau Tuy nhiên, trong bối cảnh tăng trưởng nhanh ở cácnước đang phát triển, lý do quan trọng nhất khiến các quốc gia này không mongmuốn có bất bình đẳng là những rủi ro về chính trị Nếu mọi người thấy sự bấtcông và đối xử không công bằng trong quá trình tăng trưởng, thì xã hội sẽ mất ổnđịnh và sự ổn định về chính trị sẽ bị đe dọa

Có một đặc điểm khác biệt nữa là giữa bất bình đẳng dựa trên nỗ lực và bất bìnhđẳng dựa vào hoàn cảnh Bất bình đẳng xuất phát từ sự khác biệt về mức độ nỗ lựcthường có thể chấp nhận được và thậm chí còn được mong muốn có sự bất bình

Trang 5

đẳng đó, nếu một xã hội muốn khuyến khích các doanh nghiệp phát triển vàkhuyến khích mọi người làm việc chăm chỉ Mặt khác, bất bình đẳng do có cáchoàn cảnh khác nhau, các cá nhân thường không thể tự chọn được hoàn cảnh chomình, những người sinh sống trong những môi trường và hoàn cảnh thuận lợi sẽ cónhiều cơ hội hơn, đây chính là bất bình đẳng và vì vậy bất bình đẳng do nguyênnhân này thường không được chấp nhận

1.2.Thâm hụt Ngân sách cũng là vấn đề rất đáng lo ngại.

Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2010 dự báo lạm phát trong năm nay

ở mức 8,5%, tăng trưởng GDP đạt 6,3% Theo kịch bản cao, lạm phát sẽ lên tới10,5% trong năm 2010 nếu Chính phủ không quyết liệt trong việc chống lạm phát

Theo TS Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chính sách và kinh

tế, Đại học Kinh tế cho biết, năm nay, kinh tế Việt Nam phải đối mặt với hai áp lựclớn về tỉ giá và thâm hụt ngân sách Cùng với đó, thâm hụt ngân sách là vấn đềđáng lo ngại trong trung và dài hạn vì bội chi của Việt Nam đã luôn ở mức 5%GDP từ nhiều năm gần đây Riêng năm 2009, bội chi ngân sách ước tính bằng 7%GDP Năm 2010, do nền kinh tế vẫn còn yếu nên thâm hụt dự báo vẫn ở mức cao

Cả hai vấn đề trên đều có những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế ở ViệtNam do đó đòi hỏi Chính Phủ cần đánh giá đúng đắn tác động của bất bình đẳngđối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và đưa ra các chính sách thích hợp để đảmbảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt

2 Cấu trúc vấn đề.

2.1 Cảm nhận vấn đề

Vào thời điểm của những năm 2007 đến nay, xã hội Việt Nam diễn ra một vấn đềlớn đang có xu hướng gia tăng và cần giải quyết Đó là khoảng cách giàu nghèo,bất bình đẳng trong phân phối thu nhập diễn ra ngày càng mạnh mẽ Trong bối

Trang 6

cảnh tăng trưởng nhanh chúng ta cũng như các nước đang phát triển khác đềukhông mong muốn có bất bình đẳng vì nó sẽ kéo theo những rủi ro về chính trị.Nếu mọi người thấy sự bất công và đối xử không công bằng trong quá trình tăngtrưởng, thì xã hội sẽ mất ổn định và sự ổn định về chính trị sẽ bị đe dọa Bên cạnh

đó, tình hình thâm hụt ngân sách cũng trở nên ngày càng trầm trọng hơn do khôngthu được thuế từ người giàu và phải thực hiện các chương trình trợ cấp, cải thiệnđời sống của người nghèo

2.2.Biểu hiện vấn đề

2.2.1 Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.

Số liệu thống kê của ADB cho thấy hệ số Gini là 36,0% (1993), 35,4%(1998), 37,5% (2002) và 37,0% (2009) Theo phân tích của ADB thì hệ số GINIcủa Việt Nam vẫn nằm trong khoảng an toàn, nhưng khoảng cách giàu nghèo vẫncòn tương đối lớn và việc gia tăng hệ số Gini không phải là do “người giàu ngàycàng giàu thêm và người nghèo ngày càng nghèo đi” mà là người giàu ngày cànggiàu lên nhanh hơn

Theo thống kê, chênh lệch giữa 5 nhóm thu nhập qua các năm được cho dưới bảng sau:

Trang 7

(Niên giám thống kê 2008)

Như vậy, ta có thể thấy được cùng với mức tăng trưởng nhanh của nền kinh tếthu nhập dân cư cũng có sự gia tăng Tuy nhiên, mức tăng của các nhóm dân cư lại

có sự chênh lệch khá lớn, khoảng cách cũng tăng lên đáng kể (Chênh lệch giữanhóm giàu nhất và nghèo nhất năm 2002 là 8.1 lần, đến năm 2008 là 8.94 lần và dựbáo các năm sau có khả năng chênh lệch nhiều hơn)

2.2.2 Tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước.

Ngân sách nhà nước là nơi thực hiện các khoản chi quan trọng nhằm nâng caophúc lợi xã hội và đảm bảo sự công bằng Thực tế các năm qua cho thấy việc mấtcân đối trong thu chi ngân sách nhà nước đã dẫn đến việc thâm hụt ngân sáchtương đối nghiêm trọng Cũng chính vì lẽ đó mà không ít các chương trình quốcgia bị hoãn hoặc phải từ bỏ vì thiếu ngân sách

Dưới đây là bảng so sánh thu chi ngân sách từ năm 2005 đến năm 2008: (Đơn vị: tỷ đồng)

(Niên giám thống kê 2008)

Từ những con số bội chi ngân sách, có thể thấy được việc mất cân đối trongthu và chi Các khoản thu chủ yếu từ thuế nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầuchi tiêu từ ngân sách Như vậy, nếu không tăng các khoản thu của nhà nước thì chỉcòn biện pháp giảm chi hoặc vay nợ Giảm chi sẽ dẫn đến việc không thực hiện

Trang 8

được các mục tiêu phúc lợi xã hội cũng như các chương trình quốc gia Vay nợ sẽlàm tăng sự phụ thuộc vào nước ngoài và khả năng vỡ nợ là tương đối lớn.

2.3 Xác định vấn đề (tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề )

Sau đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình hình trên:

Một là, do chênh lệch trình độ học vấn, kĩ năng, nghề nghiệp một người tốtnghiệp đại học có thể kiếm được mức thu nhập trên dưới 1000USD/ tháng trongkhi những người nông dân và công nhân trong các nhà máy thì chỉ có mức thunhập từ 1,5 triệu – 2,5 triệu/ tháng Còn nhóm doanh nhân, chủ đầu tư thì lại có thểkiếm được mức thu nhập cao gấp 10, 100 lần con số đó

Hai là, do chuyển dịch kinh tế là từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.quá trình chuyển dịch kinh tế cũng tạo ra sự chênh lệch về mức thu nhập củanhững nhóm ngưòi có điều kiện khác nhau

Ba là, do tự do hóa thị trường lao động

Bốn là, do toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Năm là, do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau của các vùng miền Sáu là, chưa có một chính sách thuế cụ thể nào nhằm làm giảm chênh lệch giữa người giàu và người nghèo tăng doanh thu thuế của ngân sách nhà nước

Và để đánh giá nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng bất bình đẳngtrong phân phối thu nhập, các nhà hoạch định đã tiến hành hỏi ý kiến các chuyêngia và thu được bảng đánh giá, cho điểm như sau:

Trang 9

) (

12

1

3 2

2)

m j

T n

n m

r r

m

j

ij W

Bảng xử lý kết quả đánh giá của các chuyên gia

2

704

803

506

605

1001

1

803

704

605

506

902

2.5

902.5

704

605.5

605.5

1001

Trang 10

E4 80

3.5

902

803.5

606

705

1001

1

902.5

705

705

705

902.5

Trang 11

thành tựu đáng kể Các chính sách thuế đối với thu nhập cá nhân (TNCN) ở nước

ta nhìn chung phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội đất nước, đã góp phần quantrọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, kiểm soát thu nhập của cánhân, phân phối lại thu nhập, thực hiện công bằng xã hội cũng như bước đầu tạothói quen và góp phần nâng cao nhận thức của các đối tượng nộp thuế về tráchnhiệm thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước (NSNN) Đến nay,khoảng hơn 300 nghìn người nộp thuế TNCN (trong đó khoảng 90 nghìn ngườinước ngoài), gần 100 nghìn tổ chức thực hiện khấu trừ thuế thu nhập tại nguồn, cánhân đăng ký mã số thuế vào khoảng 3,4 triệu cá nhân, hộ kinh doanh cá thể và đạtđược một số thành tựu đáng kể

- Huy động ngày càng nhiều thu nhập của cá nhân có thu nhập cao cho nhà nước:

Qua 6 lần sửa đổi pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân để bắt kịp với những thayđổi của đời sống kinh tế xã hội Ngành thuế Việt Nam đã tiến hành tổ chức thựchiện pháp lệnh, qua đó đã đem lại những kết quả bước đầu như sau:

Biểu: Kết quả thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở Việt Nam

từ năm 1991- 2005

Năm Số thu thuế

TNCN

Tổng thuthuế/phí

% thuế TNCN trêntổng thu thuế, phí

Trang 12

tỷ đồng, năm 2003 tăng lên 3253 tỷ đồng, năm 2004 dự toán là 3253 tỷ đồng, năm

2005 là 4400 tỷ đồng vượt 6,8% so với dự toán là là 4100 tỷ đồng và đạt mức độtăng trưởng 25% so với năm 2004 và số thu mà sắc thuế này đem lại mới chỉ bằng4,3% tổng số thu do ngành thuế quản lý, tiến tới năm 2006 được dự toán là số thuthuế thu nhập cá nhân tăng lên 5100 tỷ đồng Chúng ta có thể minh họa bằng biểu

đồ như sau:

Theo thống kê của Tổng cục thuế thì vào năm 1999, số đối tượng nộp thuếvào khoảng 200.000 người, đến năm 2005 thì đã có khoảng 300.000 người nộpthuế thu nhập cá nhân Số đối tượng nộp thuế này tập trung chủ yếu ở các doanh

Trang 13

nghiệp nước ngoài, các văn phòng đại diện nước ngoài và một số tổ chức quốc tế,các đối tượng lao động trong các ngành dầu khí và bưu chính viễn thông Đây lànhững khu vực mà người lao động có mức thu nhập tương đối cao so với mặt băngchung của xã hội Số đối tượng là người nước ngoài có thu nhập thuộc diện tínhthuế ở Việt Nam khoảng xấp xỉ 90.000 người, hoạt động chủ yếu trong các tổ chứcquốc tế và là các đại diện của nước ngoài tại Việt Nam Số đối tượng này cũngđóng góp một phần không nhỏ vào tổng thu thuế thu nhập cá nhân của cả nước.Nguồn thu thuế thu nhập cá nhân được đóng góp chủ yếu từ hai trung tâm lớn của

cả nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; Năm 2003 Thành Phố Hồ ChíMinh tăng thu thuế thu nhập cá nhân lên 27,5% so với năm trước, chiếm tỷ trọng5,74% so tổng thu thuế và phí và tăng 68% so với năm 2000; số lượng cơ quan chitrả thu nhập được quản lý thuế TNCN tăng 54% và cá nhân thuộc đối tượng nộpthuế TNCN tăng 95,7% so với năm 2000 Năm 2004 ước thu sắc thuế này đạt 1,6

tỷ đồng, tăng 6,67% so với kế hoạch năm và tăng 21,27% so với cùng kỳ năm2003

- Phương pháp khấu trừ tại nguồn giúp cho công tác thu thuế thuận lợi

Phương pháp quản lý thu thuế theo cách khấu trừ tại nguồn đã giúp giảm bớt

được số lượng cá nhân đăng ký nộp thuế tại các cục thuế, công tác quản lý thuthuếcũng thận lợi hơn Hệ thống thuế đang trong giai đoạn tiến hành cải cách bước

2 Biệnpháp thu thuế theo cách ủy nhiệm thu đã được cơ quan thuế thực hiện tốthơn do việc phối kết hợp với các cơ quan, các ban ngành khác chặt chẽ hơn, ngườinộp thuế đã có ý thức cao hơn trong vấn đề nộp thuế thu nhập Việc quản lý thuthuế thông qua kho bạc nhà nước đã tập trung nguồn thu cho ngân sách nhà nướcmột cách nhanh chóng, giảm dần tình trạng cán bộ thuế chiếm dụng, xâm phạmtiền thuế, giảm bớt thời gian và chi phí đi lại, kê khai nộp thuế của từng cá nhân,

ổn định về mặt tổ chức, giúp cán bộ thuế dễ dàng, thuận lợi trong công việc

- Cấp mã số thuế cá nhân trong vòng 1 giờ

Trang 14

Từ trước đến nay, việc cấp mã số thuế cá nhân mới chủ yếu thực hiện đối với

người nước ngoài Hiện nay, cơ quan thuế đã tiến hành cấp mã số thuế cá nhântrong vòng 1 giờ Các cá nhân có thu nhập ở nhiều nơi có thể liên hệ với phòngthuế để được cấp mã số thuế cá nhân Để hoàn thành thủ tục để được cấp mã sốthuế, các cá nhân chỉ cần có bản sao chứng minh nhân dân, điền một số thông tinvào mẫu đơn có sẵn tại cơ quan thuế Sau 1 giờ, cơ quan thuế sẽ cấp mã số thuế

Từ trước đến nay, việc cấp mã số thuế cá nhân mới chủ yếu thực hiện đối vớingười nước ngoài

- Thực hiện thuế thu nhập cá nhân đã góp phần phân phối lại thu nhập

Thuế thu nhập cá nhân với chức năng điều tiết và phân phối lại thu nhập trong

xã hội đã góp phần nâng cao được tính công bằng trong phân phối Một phần thunhập của những người có thu nhập cao đã được chuyển vào ngân sách, thông qua

đó, Nhà nước có thể sử dụng vào các mục đích phát triển chung của xã hội

- Công tác tuyên truyền, phổ biến thuế thu nhập cá nhân đã được thực hiện

Công tác tuyên truyền, phổ biến thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam đã bước đầu tạocho những người dân có thu nhập hiểu biết, làm quen với việc kê khai thu nhập, từ

đó có ý thức hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với nhà nước Số ngườinộp thuế qua các năm tăng dần thể hiện người dân đã dần nhận thấy trách nhiệmđóng thuế thu nhập của mình với Nhà nước

- Công tác thanh tra thuế thu nhập cá nhân đã bắt đầu phát huy hiệu quả

Đã bước đầu phát hiện ra những sai phạm và đã truy thu những khoản thu

nhập khá lớn mà các cá nhân cố tình trốn thuế Trong mấy tháng đầu năm 2005,các cán bộ thuế đã phát hiện nhiều trường hợp nhân viên thuộc các văn phòng đaidiện nước ngoài chỉ kê khai đóng thuê với mức thu nhập khoảng 1-2 nghìn USD/tháng trong khi số tiền thực nhận lên tới hành chục nghìn USD

Trang 15

2 Những hạn chế

Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đã có những bước tiến bộ đáng kểtrong thời gian vừa qua Bên cạnh đó, công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ởViệt Nam vẫn còn gặp phải những tồn tại cũng như việc thực hiện chính sách thuế

cụ thể như sau:

- Về chính sách thuế thu nhập cá nhân

Dù đã được ban hành 15 năm, chỉnh sửa rất nhiều lần nhưng pháp lệnh Thuế

thu nhập cá nhân vẫn không được người nộp thuế đồng tình Nguyên nhân thực sựkhiến luật thuế này vấp phải phản ứng của người nộp thuế là quy định thuế TNCNchưa thể hiện sự hợp lý, công bằng…

+ Phạm vi điều chỉnh chưa bao quát và áp dụng chưa đồng bộ, thống nhấtđối với các nguồn thu nhập Hiện nay, thu nhập của cá nhân được hình thành chủyếu từ lao động, kinh doanh, đầu tư gián tiếp, chuyển nhượng bất động sản và cácloại thu nhập khác (quà biếu, quà tặng, thừa kế, bản quyền, phát minh, sángchế…) Trong đó, các loại thu nhập từ lao động, kinh doanh và chuyển nhượng bấtđộng sản được áp dụng các chính sách thuế khác nhau Các khoản thu nhập của cánhân từ đầu tư gián tiếp như lãi tiền gửi tiết kiệm, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ tức, lãivốn tạm thời chưa thu thuế; trong khi đó các khoản thu nhập khác như thu nhập từchuyển nhượng tài sản (các loại chứng khoán, bất động sản), quà tặng, thừa kế…không thuộc đối tượng chịu thuế hoặc quản lý thu kém hiệu quả Điều này khôngđảm bảo tính công bằng, hiệu quả của thuế và không phù hợp với thông lệ quốc tế

về thuế TNCN Đấy là một trong những nguyên nhân dẫn đến mức động viên từthuế TNCN ở nước ta còn khá thấp so với các nước đang phát triển khác

Thêm vào đó là thuế thu nhập cá nhân bỏ sót các đại lý Tổng cục Thuế chobiết Bộ tài chính đã có công văn xác định các cá nhân làm đại lý bảo hiểm, đại lýbưu điện, đại lý mỹ phẩm, đại lý dược… nếu không có đăng ký kinh doanh thì phảinộp thuế thu nhập cá nhân thay vì nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức chỉ có

Trang 16

5% như hiện nay Chia ra hai trường hợp: cá nhân có hợp đồng đại lý ổn định thìnộp thuế theo biểu thuế TNCN lũy tiến; nếu làm cho nhiều đại lý hoặc có hợp đồnglàm thêm đại lý thì cơ sở chi trả phải tạm khấu trừ 10% đối với khoản chi trả trên500.000 đồng/lần trở lên Quy định này áp dụng từ ngày 1/1/2005 Khi ban hànhcác quy định hướng dẫn thuế TNCN, Bộ tài chính đã để sót các trường hợp có thunhập từ hoạt động làm đại lý Trong khi số cá nhân làm đại lý rất lớn, nhất là đại lýbảo hiểm, chỉ riêng một công ty bảo hiểm nhân thọ cũng có trên 40.000 người làmđại lý bảo hiểm.

Chính vì những hạn chế trong quy định về thu nhập tính thuế, tầm bao quátcủa thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam đã bị thu hẹp rất nhiều về số thu cũng như

số người nộp thuế Cho đến nay thuế thu nhập cá nhân vẫn chưa thể phát huy đượchết những vai trò và chức năng của mình Mặc dù thu nhập bình quân đầu người ởViệt Nam hiện nay là $ 450 nên tỷ lệ người nộp thuế nhỏ nhưng nguyên nhân quantrọng là tầm bao quát của chính sách thuế còn hẹp

Hiện nay, tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân chỉ chiếm khoảng 4,3% trong tổngthu thuế và phí như vậy là quá thấp vì nếu nhìn sang một số nước khác như Nhậttuy là một nước không đông dân nhưng tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân của họchiếm 30% trong tổng thu thuế và phí điều đó thể hiện họ quản lý thuế thu nhập cánhân tốt hơn chúng ta

+ Nghĩa vụ thuế còn khá cao, chưa công bằng giữa các loại thu nhập và đốitượng nộp thuế Hiện luật thuế TNCN quy định thuế suất TNCN với những ngườitrong nước là 10% nếu có thu nhập từ 5-10 triêu đồng/tháng; 20% (thu nhập từ 15-

25 triệu đồng/tháng), 30% (25-40 triệu đồng/tháng), thuế suất cao nhất lên đến40% (đối với người có thu nhập trên 40 triệu đồng/tháng) Thuế suất này cao hơnnhiều một số nước, lãnh thổ ở châu Á mà người dân có thu nhập cao hơn ngườidân Việt Nam rất nhiều lần, chẳng hạn như Singapore thuế suất cao nhất là 22%;Nhật 37%; Thái Lan:37%; Indonesia: 35%; Philippines: 32%; Malaysia: 28%;

Ngày đăng: 20/04/2013, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng xử lý kết quả đánh giá của các chuyên gia - Phân tích chính sách thuế thu nhập cá nhân
Bảng x ử lý kết quả đánh giá của các chuyên gia (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w