Bởi với tính chất là một loại thuế trực thu nên thuế TNCN đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế và điều tiết thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ, đảm bảo sự công bằ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM DUY LINH
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính-ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Ung Thị Minh Lệ
TP HỒ CHÍ MINH – Năm 2006
Trang 2MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội Một trong những thành tựu quan trọng không thể không nhắc tới đó là công cuộc cải cách hệ thống thuế Với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp giữa các ngành các cấp, và sự nỗ lực của cả cộng đồng, hệ thống chính sách thuế đã được xây dựng và không ngừng hoàn thiện Kết quả, chúng ta ban hành được hệ thống chính sách thuế bao quát hầu hết các nguồn thu, từng bước bổ sung hoàn thiện thuế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Thuế đã trở thành công cụ của Đảng và Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập quốc tế Thủ tục hành chính thuế được sửa đổi theo hướng rõ ràng, minh bạch, công tác quản lý thuế ngày càng được kiện toàn, củng cố về cơ chế quản lý, bộ máy, con người Số thu từ thuế và phí đã trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, năm sau cao hơn năm trước, nhất là các năm gần đây chẳng những đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên, còn tăng thêm cho đầu tư phát triển, trả nợ nước ngoài, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
Để góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhanh chóng Bộ Chính Trị đã thông qua chiến lược cải cách thuế đến năm 2010 và Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg phê duyệt chương trình cụ thể thực hiện chiến lược trên Theo đó chúng ta tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế bằng công cuộc cải cách lần thứ ba với việc sửa đổi
Trang 3một số sắc thuế và ban hành thêm một số sắc thuế mới Luật thuế Thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế mới mà công cuộc cải cách lần này đang hướng tới
Kể từ khi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được triển khai thực hiện từ năm 1991 đến nay Mặc dù đã trải qua năm lần sửa đổi nhưng kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, chưa phát huy đúng bản chất của sắc thuế này trong cuộc sống Trong giai đoạn tới thuế TNCN sẽ phải là một sắc thuế quan trọng, là một nguồn thu chính cho ngân sách khi mà một số sắc thuế hiện nay phải cắt giảm khi Việt Nam gia nhập WTO Do đó một thay đổi lớn về chính sách thuế TNCN là điều chúng ta phải tiến hành thực hiện, để có một sắc thuế hợp lý, phù hợp với nền kinh tế, và đem lại hiệu quả cho Ngân sách Nhà nước Với thực tế đó tác giả xin được chọn đề tài:
Hoàn Thiện Chính Sách Thuế Thu Nhập Cá Nhân Tại Việt Nam
làm bài luận văn tốt nghiệp cao học, nhằm nghiên cứu lý luận, thực trạng chính sách thuế TNCN hiện nay của Việt Nam, từ đó tìm ra các định hướng và giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện với các mục đích nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu một số lý luận về chính sách thuế TNCN để thấy được tầm quan trọng và tính tất yếu phải hoàn thiện chính sách thuế này tại Việt Nam
- Phân tích thực trạng triển khai áp dụng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện nay Đánh giá những thành tựu và các mặt tồn tại
- Đề ra một số định hướng cùng với những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNCN tại Việt Nam trong thời gian tới
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp biện chứng vận dụng các quan điểm khách quan, lịch sử vận động và phát triển Bên cạnh đó, các phương pháp
Trang 4thống kê, phân tích cũng được kết hợp với việc vận dụng, tham khảo kinh nghiệm của một số nước về chính sách thuế TNCN, từ đó giải quyết các vấn đề được đặt
ra tại luận văn
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về lý luận và thực tiễn về thuế TNCN tại Việt Nam hiện nay Đi sâu nghiên cứu những định hướng, quan điểm hoàn thiện chính sách thuế TNCN phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thời gian tới
Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu trên, nội dung của luận văn được bố cục như sau:
Mở đầu
Chương 1 Tổng Quan Về Thuế Thu Nhập Cá Nhân
Chương 2 Thực Trạng Triển Khai Chính Sách Thuế Thu Nhập Cá Nhân
Tại Việt Nam Thời Gian Qua
Chương 3 Định Hướng Và Các Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách Thuế
Thu Nhập Cá Nhân Của Việt Nam Trong Thời Gian Tới
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 THUẾ TNCN VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TNCN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1.1 Một số lý luận về thuế TNCN
1.1.1.1 Khái niệm về thu nhập và thuế TNCN
* Khái niệm về thu nhập
Thu nhập của từng cá nhân trong xã hội là thước đo, là cơ sở để thuế TNCN điều chỉnh, vì vậy cần phải tìm hiểu một cách tường tận về thu nhập Quan niệm thu nhập về lý thuyết dường như là khá đơn giản, nhưng cho đến nay trên thế giới còn nhiều ý kiến khác nhau nên chưa có một định nghĩa đầy đủ chính xác và tổng hợp về khái niệm thu nhập Có thể xem xét một vài quan điểm về thu nhập của một số các nhà kinh tế học sau:
Hai nhà kinh tế người Anh là R.M.Haig và H.C.Simons đã đưa ra định nghĩa về thu nhập: “Thu nhập là tổng giá trị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tiêu dùng của người đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm” Quan điểm này về mặt lý thuyết được chấp nhận rộng rãi, nhưng trên thực tế rất khó thực hiện bởi việc xác định một cách chính xác giá trị tăng thêm này rất khó khăn
Nhà kinh tế học người Mỹ Paul.A.Samuelson đưa ra khái niệm thu nhập như sau: “ Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định” Thuật ngữ “tiền” ở đây được hiểu là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hoặc hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tự tiêu dùng, phần nhận được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, từ lao động mà có
Trang 6Mỗi quan điểm về thu nhập đều có những ưu nhược điểm riêng của nó, tuy chưa phản ánh một cách đầy đủ tất cả các khía cạnh của thu nhập, nhưng tổng quát lại có thể thấy một số điểm chung trong nhận định về thu nhập như sau:
- Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế thể hiện tính sở hữu của thu nhập
- Thông thường, việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau từ các nguồn khác nhau trong một thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ
- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và nhà nước thực hiện
Qua một số quan điểm trên có thể đưa ra một khái niệm khái quát về thu nhập như sau:
Thu nhập là tổng các giá trị mọi tài sản được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một chủ thể nào đó trong nền kinh tế – xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm
* Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập
Thứ nhất: Trình độ phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia là nhân tố
quan trọng quyết định mức tăng thu nhập của cá nhân Do vậy ở các nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người thường rất cao, ngược lại trong số các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển thì thu nhập bình quân đầu người còn thấp
Thứ hai: Do cơ chế phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
trong những điều kiện kinh tế nhất định, trong đó có chế độ sở hữu về các yếu tố sản xuất chi phối mức thu nhập của các thành viên tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối thu nhập
Thứ ba: Do những nhân tố có tính xã hội khác tác động đến thu nhập của
các chủ thể như; khả năng đầu tư và tạo thêm việc làm của Nhà nước; chế độ phúc
Trang 7lợi của Nhà nước; trình độ nhận thức và nghề nghiệp của người lao động; quyền sở hữu về tài sản của các cá nhân; quan hệ tình cảm trong xã hội…
Việc nghiên cứu các nhân tố làm ảnh hưởng tới thu nhập nhằm giúp cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách có quan điểm đúng đắn khi đưa ra các quy định về phân phối thu nhập Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà thu nhập được chia thành các loại khác nhau dựa theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào nguồn tạo ra thu nhập có các loại: Thu nhập từ lao động, thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tài sản, thu nhập từ đầu tư, thu nhập từ thừa kế
- Căn cứ vào tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh thu nhập của các chủ thể có thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập có thu nhập phát sinh ở trong nước và thu nhập phát sinh từ nước ngoài
- Căn cứ vào chủ thể được hưởng thu nhập có thu nhập Công ty, thu nhập cá nhân, thu nhập của Chính phủ
- Căn cứ vào tính pháp lý của thu nhập có thể được chia thành thu nhập hợp pháp và thu nhập không hợp pháp
* Khái niệm về thuế TNCN
Hệ thống thuế một quốc gia thường được cấu trúc bởi ba nhóm đánh thuế: đánh thuế trên thu nhập, đánh thuế trên sự tiêu dùng và đánh thuế trên của cải Dựa trên đó mà các sắc thuế được thiết lập, loại thuế đánh vào tiêu dùng thường được sử dụng đó là thuế Giá trị gia tăng, thuế Tiêu thụ đặc biệt…Thuế đánh vào của cải như là thuế tài sản Đối với loại thuế đánh vào thu nhập thì hiện nay trên thế giới, hầu hết các nước sử dụng hai sắc thuế là thuế Thu nhập công ty và thuế Thu nhập cá nhân để điều tiết các khoản thu nhập trong xã hội Các sắc thuế này thường phức tạp, khó thu hơn thuế đánh vào tiêu dùng, nhưng nó được xem là sắc thuế bình đẳng bởi người có thu nhập cao nộp thuế nhiều, người có thu nhập thấp nộp thuế ít
Trang 8Nếu xét về bản chất thì thuế TNCN điều tiết từ đồng thu nhập đầu tiên của các cá nhân, tuy nhiên dù có nhiều nguồn hình thành nên thu nhập, nhưng không phải toàn bộ thu nhập này đều là đối tượng điều chỉnh của thuế thu nhập Thuế TNCN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập mà trên cơ sở đó tiến hành tính thuế thu nhập phải nộp, thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản thu nhập và chi phí Tùy vào chính sách thuế của mỗi nước mà nội dung, phương pháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau Có thể khái quát về thuế TNCN như sau:
Thuế Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, kể cả thu nhập của công dân nước ngoài phát sinh ở nước sở tại trong một khoảng thời gian nhất định
* Thuế TNCN có những đặc điểm sau
- Là loại thuế trực thu, người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Người chịu thuế sẽ phải gánh chịu toàn bộ số thuế theo luật định mà không có thể chuyển dịch cho người khác
- Có diện đánh thuế rất rộng, không phân biệt thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước, từ lao động hay không từ lao động
- Thuế TNCN có tính trung lập cao bởi việc tăng hay giảm thuế hầu như không ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường, và ngược lại sự tăng giá hay giảm giá của hàng hóa, dịch vụ cũng ít ảnh hưởng tới việc thu thuế Vì vậy áp dụng nó không gây ra những biến động nhiều trên thị trường và sự biến động về cơ cấu kinh tế
1.1.1.2 Nguyên nhân ra đời của thuế Thu nhập cá nhân
Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển thuế TNCN giữ vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước và thực hiện sự công bằng trong phân phối thu
Trang 9nhập Quốc gia đầu tiên áp dụng thuế TNCN là nước Anh vào năm 1799, sau đó nó đã nhanh chóng được lan truyền sang hàng loạt các nước khác như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Trung Quốc tính tới thời điểm này thì có khoảng 180 nước trên thế giới áp dụng Kể từ khi áp dụng đến nay, thuế TNCN ngày càng chứng tỏ nó là một sắc thuế cơ bản, giữ vai trò trung tâm không thể thiếu trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia Thuế TNCN ra đời xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Sự xuất hiện của thuế TNCN bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc họ cung cấp nhiều hay ít các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, công nghệ Trong điều kiện đó sự phân hóa giàu nghèo khi phân phối thu nhập là điều khó tránh khỏi Vì vậy, cần áp dụng thuế TNCN để điều tiết thu nhập nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Bởi với tính chất là một loại thuế trực thu nên thuế TNCN đánh trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế và điều tiết thu nhập của người nộp thuế theo khả năng của họ, đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc trong nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước
- Do nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng nhanh của Nhà nước, cùng với sự giảm dần các loại thuế khác trước yêu cầu tự do hóa thương mại, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, để Nhà nước tiếp tục thực hiện các chức năng của mình thì nhất thiết phải gia tăng nguồn thu qua các loại thuế thu nhập, trong đó thuế TNCN là loại thuế có thể mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách
- Thuế là một trong những công cụ hữu hiệu để điều tiết vĩ mô nền kinh tế,
do đó một trong những nguyên nhân ra đời của thuế TNCN cũng chính là việc nó sẽ được sử dụng như một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm hay tiêu dùng hoặc đầu tư để phát triển kinh tế theo những hướng có lợi hoặc theo những mục tiêu mà Nhà nước hướng tới
Trang 10Như vậy có thể thấy sự ra đời của thuế TNCN là một tất yếu khách quan trong sự phát triển của kinh tế-xã hội
1.1.1.3 Nội dung cơ bản khi tiến hành xây dựng chính sách thuế TNCN
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội ở mỗi quốc gia mà thuế Thu nhập cá nhân sẽ được xây dựng cho phù hợp về một số tiêu thức như thuế suất, thu nhập chịu thuế, miễn giảm thuế Tuy nhiên khi xây dựng chính sách thuế này hầu hết các quốc gia đều phải quan tâm tới những vấn đề cơ bản sau:
* Thứ nhất: Xác định thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế là cơ sở để tính thuế thu nhập, vì thế việc xác định thu nhập chịu thuế chính xác có ý nghĩa rất quan trọng Thường thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng các khoản thu nhập có được trừ đi các khoản được giảm trừ Để xác định được tổng thu nhập cần phải xác định từng khoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập cụ thể, tức xem xét tổng thu nhập đo được hình thành từ những nguồn nào Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập không đưa vào đối tượng đánh thuế, khi xây dựng các quy định tính thuế cần xác định rõ những khoản nào nằm trong tổng thu nhập chịu thuế và những khoản nào không nằm trong tổng thu nhập không chịu thuế Việc tính toán thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét tới các vấn đề như:
- Xác định nguồn gốc của thu nhập: Thu nhập của mỗi cá nhân có thể có được từ rất nhiều nguồn khác nhau, do đó phải dựa trên một số tiêu thức thực hiện việc phân loại chúng thành các nguồn cơ bản như: thu nhập từ lao động; thu nhập từ phúc lợi; thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu nhập từ vốn tài sản; các khoản thu nhập bất thường khác
- Thực hiện đánh thuế trên cơ sở cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập: Việc đánh thuế dựa vào tình trạng cư trú được sử dụng rộng rãi hiện nay Theo cách tiến hành này thì các cá nhân cư trú ở một nước phải nộp thuế tại nước đó và đánh trên mọi khoản thu nhập từ khắp nơi trên thế giới, còn những cá nhân không cư trú chỉ
Trang 11bị đánh thuế trên phần thu nhập phát sinh tại nước đó Còn nếu thực hiện việc đánh thuế trên cơ sở nguồn phát sinh thu nhập thì các cá nhân chỉ phải nộp thuế đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước sở tại mà không phải nộp thuế đối với những khoản thu nhập phát sinh ở nước ngoài
- Xác định thời gian tính thuế: Xác định đúng đắn thời gian tính thuế là vấn đề hết sức quan trọng để có thể tính toán tổng thu nhập chịu thuế của các cá nhân chính xác
* Thứ hai: Xác định các khoản thu nhập được miễn trừ
Một trong những tính chất của thuế TNCN là có tính tới hoàn cảnh của từng cá nhân, do vậy sẽ có một số khoản chi được giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Các khoản giảm trừ này có thể được thực hiện dưới hai dạng: miễn trừ cá nhân và miễn trừ tiêu chuẩn
Miễn trừ cá nhân được thực hiện theo phương pháp kê khai chi phí thực tế phát sinh đối với các khoản được phép giảm trừ Thông thường có hai loại giảm trừ cá nhân là giảm trừ có tính chất kinh tế và giảm trừ có tính chất xã hội Giảm trừ có tính chất kinh tế là các khoản giảm trừ mang tính chất chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập như chi phí đi lại, ăn ở Giảm trừ có tính chất xã hội là các khoản giảm trừ mang tính chất chi trợ cấp như giúp đỡ người khó khăn, chi nuôi dưỡng người già, tàn tật Xác định các khoản miễn trừ cá nhân là phương pháp hợp lý, đảm bảo được sự công bằng trong nghĩa vụ thuế
Phương pháp miễn trừ tiêu chuẩn được thực hiện dưới dạng quy định mức khởi điểm chịu thuế Tức tất cả các cá nhân sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế bắt đầu từ mức đó trở lên, về nguyên tắc mức khởi điểm chịu thuế là mức thu nhập trung bình trong xã hội bảo đảm trang trải đủ những chi phí cần thiết cho cuộc sống Tuy phương pháp này không đảm bảo sự công bằng nhưng nó khiến cho thuế thu nhập cá nhân được tính toán đơn giản, tiết kiệm được chi phí quản lý, chi phí hành thu
Trang 12* Thuế suất Thuế thu nhập cá nhân
Thuế suất thường được coi là linh hồn của một sắc thuế, bởi qua đó nó cho thấy mức độ đóng thuế là bao nhiêu, có phù hợp với điều kiện nền kinh tế, và với khả năng của đối tượng nộp hay không, có ảnh hưởng quá mức tới cuộc sống của các cá nhân và hạn chế sự mở rộng sản xuất kinh doanh Vì vậy đây là nội dung thường xuyên được cân nhắc, thậm chí là thường xuyên phải thay đổi trong quá trình xây dựng và áp dụng thuế TNCN Thông thường thuế suất thuế TNCN được quy định theo biểu thuế suất lũy tiến từng phần, tức thuế suất sẽ gia tăng theo sự gia tăng của thu nhập chịu thuế Biểu thuế lũy tiến từng phần có thể gồm nhiều bậc thuế, và cùng có thể đơn giản chỉ gồm vài bậc Biểu thuế nhiều mức thuế suất tương ứng với các mức thu nhập khác nhau đảm bảo công bằng hơn, bởi gánh nặng thuế mà người dân phải chịu sẽ giảm nhẹ do sự chia nhỏ của mức thuế, còn với biểu thuế ít bậc hơn tuy có có ưu điểm là thuận lợi trong việc tính thuế nhưng mức thuế giữa các bậc chênh lệch nhau nhiều dẫn tới không công bằng trong nghĩa vụ thuế Việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần xuất phát từ hai lý do: thứ nhất, nhu cầu công bằng xã hội Nhà kinh tế học Paul.A Samuelson chỉ ra rằng nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến phân hóa và bất bình đẳng Do vậy phải có chính sách phân phối thu nhập của Chính phủ, mà công cụ chủ yếu là thuế thu nhập lũy tiến để đánh vào người có thu nhập cao hơn người có thu nhập thấp; thứ hai, xuất phát từ khả năng: hữu dụng biên của thu nhập giảm dần khi thu nhập tăng Chính phủ có thể động viên thuế từ người giàu có với thuế suất cao hơn so với những người nghèo, vừa thực hiện được công bằng, vừa làm tăng hiệu quả việc phân phối thu nhập
Trang 13Thu nhập
Độ hữu dụng cận biên
của thu nhập cao hơn
Độ hữu dụng cận
biên của thu nhập
thấp hơn
Hàm hữu dụng
Thay đổi đơn vị thu nhập
Thay đổi đơn vị thu nhập
Độ hữu dụng
Hình 1 : Hữu dụng biên của thu nhập giảm dần khi thu nhập tăng
* Phương pháp quản lý thu nộp
Phương pháp quản lý thu nộp là một trong những nội dung không kém phần quan trọng khi xây dựng chính sách thuế, nếu chúng ta thực hiện tốt những nội dung trên nhưng không có một phương pháp quản lý thu nộp hợp lý thì không thể tránh khỏi việc thất thoát thuế và chồng chéo trong quản lý thuế Thuế TNCN có thể được thu theo phương pháp khấu trừ tại nguồn hoặc phương pháp thu trực tiếp
Phương pháp khấu trừ tại nguồn được áp dụng cho các khoản thu nhập phát sinh có tính chất ổn định dễ quản lý như thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ bất động sản Theo phương pháp này, tổ chức chi trả thu nhập phải khấu trừ số thuế phải nộp của cá nhân để nộp vào Ngân sách Nhà nước Áp dụng phương pháp khấu trừ tại nguồn tuy chi phí hành thu thấp, quy trình quản lý đơn giản nhưng không khai thác được hết nghĩa vụ thuế của các cá nhân vì chỉ thu được thuế từ những khoản thu nhập rõ ràng, chính thống còn những khoản thu nhập khác dễ bị bỏ qua do không kiểm soát được
Với phương pháp thu trực tiếp, người nộp thuế tự khai thu nhập của mình gửi cho cơ quan thuế Cơ quan thuế sau khi kiểm tra số liệu kê khai và các khoản
Trang 14được giảm trừ, sẽ xác định số thuế phải nộp Các cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ và đúng đắn của các khoản thu nhập đã khai Phương pháp này có thể đảm bảo tính chính xác và động viên được tối đa nghĩa vụ thuế của các cá nhân Tuy nhiên, trên thực tế để thực hiện phương pháp này hiệu quả, người nộp thuế phải hiểu rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, đồng thời cơ chế kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng đủ mạnh mới có thể nắm bắt được thu nhập của cá nhân
1.1.2 Vai trò của thuế Thu nhập cá nhân trong nền kinh tế
Sự ra đời và phát triển của thuế gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, từ đó tới nay, thuế thực sự trở thành một công cụ đắc lực trong việc điều hành, quản lý kinh tế-xã hội của Nhà nước Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước, thuế càng thể hiện những vai trò hết sức quan trọng như: tạo thu nhập cho Nhà nước, quản lý vĩ mô nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội
Thuế TNCN là một sắc thuế cụ thể trong hệ thống thuế nói chung nên nó cũng mang trong mình những vai trò của thuế như sau:
- Thuế Thu nhập cá nhân tạo nguồn thu ổn định ngày càng tăng cho Ngân sách nhà nước: Thu nhập của Nhà nước có thể được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau, trong đó thuế là một nguồn thu chủ yếu nhất, chiếm từ 70-80% trong tổng thu Ngân sách của các quốc gia Thuế TNCN là một hình thức thu quan trọng của Ngân sách tại các nước đang phát triển, cùng với sự tăng trưởng kinh tế thì ngày càng có nhiều nguồn thu nhập mới phát sinh, tài sản và thu nhập của dân chúng ngày càng tăng điều đó tạo cơ sở vững chắc để thuế TNCN phát huy vai trò huy động tài chính cho Nhà nước của mình Hiện nay, tại các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức số thu thuế TNCN chiếm khoảng 30-40% tổng số thu ngân sách, các nước có nền kinh tế chuyển đổi như: Các nước Đông Âu thuộc Liên xô cũ, Hung ga ri, Trung Quốc, số thu thuế TNCN chiếm 20-25% tổng thu Ngân
Trang 15sách Nhà nước, các nước trong khối ASEAN, như: Thái Lan, Ma-lay-xi-a,
Phi-lip-pin số thuế TNCN chiếm khoảng 15-20% (Nguồn: Tờ trình Chính phủ về Dự thảo
Luật thuế TNCN ngày 01/08/2006 – Bộ Tài chính) Trong tương lai, trước xu hướng
hội nhập kinh tế trên thế giới thì hầu hết các sắc thuế gián thu đang dần phải cắt giảm, điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới các nước đang phát triển, đặc biệt với một số nước mà nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm Với đối tượng chịu thuế rộng lớn, và có khả năng mang lại nguồn thu ổn định cho Ngân sách, thuế TNCN sẽ là sắc thuế chủ đạo trong hệ thống thuế tại các quốc gia đang phát triển
- Thuế Thu nhập cá nhân là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội:
Công bằng và bình đẳng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử Trong một xã hội dân chủ tính công bằng phải được thực hiện trước hết đối với việc phân chia gánh nặng của thuế Công bằng trong nghĩa vụ thuế là việc người có thu nhập cao hơn sẽ nộp thuế với tỷ lệ lớn hơn người có thu nhập thấp Với tính chất là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập nhận được của các cá nhân theo biểu thuế lũy tiến từng phần, thuế TNCN đã trở thành công cụ để Nhà nước điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư Nhất là trong cơ chế kinh tế thị trường, hiện nay, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt do đó khó có một sắc thuế nào thực
hiện vai trò này tốt hơn thuế TNCN
- Thuế Thu nhập cá nhân góp phần điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế: Bên
cạnh vai trò thu Ngân sách và thực hiện công bằng xã hội, thuế TNCN cũng là một công cụ được Nhà nước sử dụng để điều tiết nền kinh tế quốc dân Trong mỗi thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau, tùy theo mục tiêu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế TNCN được xây dựng và điều chỉnh thích hợp M Keynes là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh đã đề xướng tư tưởng cần có sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của nền kinh tế để đạt được “cầu hiệu quả” thông qua chính sách thuế, trong đó có thuế TNCN Ông cho rằng, tiêu dùng sẽ tăng một cách
Trang 16tương đối so với mức tăng của thu nhập Cùng với tốc độ tăng của thu nhập thì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn làm cho cầu có khuynh hướng giảm xuống, vì vậy biện pháp cần để kích thích tiêu dùng và tăng đầu tư thì phải có chính sách thuế đánh vào phần thu nhập dành tiết kiệm Keynes cho rằng khuynh hướng tiêu dùng
ở những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn ở những người có thu nhập cao, vì vậy, Nhà nước phải đánh thuế TNCN theo biểu thuế suất lũy tiến để phân phối lại thu nhập của những người có thu nhập cao Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-
1933, lý thuyết của M.Keynes được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước tư bản phát triển Đặc điểm của thuế TNCN trong thời kỳ này là biểu thuế suất khá cao
với nhiều bậc thuế và mức chênh lệch tỉ lệ điều tiết khá lớn giữa bậc thấp và bậc cao
Theo quan điểm của nhà kinh tế học A.Laffer, đại diện trường phái trọng cung, để tìm kiếm con đường cho tăng trưởng và duy trì năng suất lao động thì phải kích thích lao động, đầu tư và tiết kiệm Trên cơ sở đó, một mức thuế giảm sẽ kích thích hoạt động tích cực của con người, sẽ làm tăng sản phẩm, tăng thu nhập, kinh tế tăng trưởng, vì thế phải giảm nhẹ mức lũy tiến của thuế TNCN A.Laffer đã đưa
ra đường cong lý thuyết phản ánh sự phụ thuộc giữa thuế suất và tổng số thuế thu được, trên cơ sở đó đề nghị giảm mức lũy tiến đối với thuế TNCN
0
A
Thuế suất
Số thu
từ thuế
Hình 2: Biểu đồ đường cong A.Laffer
Trang 17Mô hình đường cong A.Laffer cho thấy quan hệ giữa thuế suất và tổng thu từ thuế Mức thuế bằng 0, thu Ngân sách từ thuế cũng bằng 0; mức thuế suất bằng 100% thì thu từ thuế cũng bằng 0, vì lúc đó sẽ không có ai làm việc, không có sản xuất thì không thể thu thuế Nếu Nhà nước duy trì mức thuế suất từ trên 0 đến mức
t*% thì kích thích được tăng trưởng kinh tế và đạt được sự ủng hộ của đối tượng nộp thuế, số thu từ thuế cũng đồng thời tăng lên Còn nếu mức thuế suất vượt quá
t*% thì tác động kìm hãm của mức thuế suất cao sẽ xuất hiện, nghĩa là sản lượng và thu nhập sẽ giảm làm cho số thu từ thu thuế cũng giảm
1.2 CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI MỘT SỐ NƯỚC
1.2.1 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Pháp
* Đối tượng nộp thuế
Cá nhân không phân biệt quốc tịch được coi là đối tượng cư trú tại Pháp nếu thỏa mãn một trong 3 tiêu thức: Có hộ gia đình tại Pháp; hoặc có thời gian sống chủ yếu tại Pháp (từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế); hoặc có hoạt động nghề nghiệp tại Pháp; hoặc có trung tâm lợi ích tại Pháp Các cá nhân phải nộp thuế TNCN trên toàn bộ thu nhập không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập ở trong nước hay ngoài nước
Cá nhân không phân biệt quốc tịch, không là đối tượng cư trú tại Pháp chỉ nộp thuế cho phần thu nhập có được tại Pháp hoặc trên phần thu nhập khoán
* Thu nhập chịu thuế
Luật thuế của Pháp xác định 8 loại thu nhập chịu thuế Thu nhập ròng để làm căn cứ tính thuế là tổng hợp thu nhập của từng loại thu nhập mà đối tượng nộp thuế có được trong năm Thu nhập ròng được xác định cụ thể như sau:
- Đối với thu nhập từ tiền lương là tổng thu nhập từ tiền lương, các khoản như tiền lương, tiền công và các khoản trợ cấp, kể cả các khoản trợ cấp cho các đối tượng hưu trí, tàn tật sau khi trừ đi các khoản chi phí cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp theo chứng từ hợp lệ hoặc theo các mức giảm trừ quy định
Trang 18- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh công thương nghiệp: Được xác định là các khoản lợi nhuận thu được từ các hoạt động này dưới các hình thức kinh doanh cá thể hay doanh nghiệp tư nhân Thu nhập ròng từ kinh doanh được xác định hoặc là áp dụng tỷ lệ % trên doanh thu, hoặc xác định bằng mức khoán, hay bằng cách lấy doanh thu trừ đi các khoản chi phí hợp lệ, tùy thuộc vào hình thức kê khai nộp thuế của đối tượng nộp thuế
- Thu nhập từ nông nghiệp: Các chủ trang trại và những người lao động khác có thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi chịu thuế TNCN theo loại thu nhập từ nông nghiệp, riêng thu nhập từ cho thuê đất, nhà xưởng trong nông nghiệp được xếp vào loại thu nhập từ đất đai Chính sách thuế áp dụng cho nông nghiệp có nhiều ưu đãi hơn so với các hoạt động khác
- Thu nhập từ hành nghề độc lập và từ các dịch vụ tư vấn nghề nghiệp: Loại thu nhập này bao gồm thu nhập của những người hành nghề độc lập như tư vấn pháp luật, kiến trúc, kế toán và các khoản thu nhập khác không được xếp vào một trong các loại thu nhập ở trên Đối với thu nhập loại này, thu nhập ròng chịu thuế được xác định theo hai cách: khoán thu nhập, hoặc tính theo thực tế tùy vào doanh số phát sinh
- Thu nhập từ đầu tư chứng khoán: Gồm hai khoản thu nhập chính là cổ tức và thu nhập từ tiền lãi Luật thuế Pháp quy định miễn thuế đối với một số loại thu nhập như tiền tiết kiệm dài hạn, tiền tiết kiệm mua nhà Riêng đối với khoản thu nhập từ tiền lãi, đối tượng nộp thuế có thể chọn lựa nộp thuế riêng cho loại thu nhập này theo thuế suất 15%, mà không phải gộp chung vào tổng thu nhập để tính thuế theo biểu thuế
- Thu nhập từ cho thuê bất động sản: Là các khoản thu nhập từ việc cho thuê nhà cửa, đất đai ở thành thị cũng như ở nông thôn, trừ khoản tiền thu được từ việc cho thuê nhà cửa đã ghi nhận trong bảng cân đối kế toán của công ty tư nhân, cho thuê nhà kèm theo trang thiết bị được xếp vào thu nhập từ kinh doanh công
Trang 19thương nghiệp Thu nhập ròng từ hoạt động cho thuê bất động sản được xác định bằng tổng số thu từ việc cho thuê trừ đi các khoản chi phí mà đối tượng nộp thuế phải chịu; ngoài các khoản chi phí này chủ bất động sản được tính trừ khoán 14% trên tổng số thu coi như khấu hao và cho phí quản lý Lỗ từ đất đai, nếu có, được trừ vào tổng thu nhập chịu thuế của đối tượng nộp thuế trong một giới hạn nhất định
- Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản: Thu nhập ròng từ chuyển nhượng tài sản được phân thành hai loại: thu nhập từ chuyển nhượng tài sản ngắn hạn (thời gian nắm giữ tài sản dưới 2 năm) và thu nhập từ chuyển nhượng tài sản dài hạn (thời gian nắm giữ từ hai năm trở lên) trừ một số tài sản đặc biệt đã chịu một loại thuế khác Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản ngắn hạn được xác định bằng chênh lệch giữa giá bán với giá mua cộng thêm các khoản chi phí nếu có, đối với chuyển nhượng tài sản dài hạn được xác định bằng giá bán trừ đi giá mua tính theo thời điểm hiện tại và trừ đi 5% giá mua cho mỗi năm sở hữu tính từ năm thứ ba Ngoài
ra đối tượng nộp thuế còn được trừ khỏi thu nhập từ chuyển nhượng dài hạn một số khoản giảm trừ khác
- Thù lao của người điều hành công ty:
+ Thu nhập tiền lương của các thành viên công ty tư nhân mà không thuộc diện nộp thuế thu nhập công ty thì phải gộp vào lãi của công ty và phân phối cho các thành viên để tính thuế thu TNCN dưới danh nghĩa từng người theo loại thu nhập từ sản xuất, thương mại
+ Thu nhập từ tiền lương của các Tổng giám đốc công ty vô danh và các lãnh đạo có cổ phần trong các công ty cổ phần được coi là thu nhập từ tiền lương và đối với công ty là các khoản chi phí được phép trừ khi xác định thu nhập công ty
* Xác định thu nhập chịu thuế
Tổng thu nhập chịu thuế của hộ nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thu nhập được xác định theo quy tắc trên cộng thêm với thu nhập của vợi hoặc chồng, các con trong hộ nếu có sau khi đã trừ đi các khoản lỗ
Trang 20của từng loại thu nhập Ngoài ra hộ nộp thuế còn được trừ ra khỏi tổng thu nhập chịu thuế một khoản chi phí nếu thỏa mãn các điều kiện quy định như: trợ cấp nuôi con bắt buộc theo phán quyết của tòa án đối với vợ hoặc chồng đã ly dị …
* Thuế suất
Luật thuế TNCN tại Pháp sử dụng biểu thuế lũy tiến từng phần, từ 0% cho mức thu nhập 26.600 FR/năm đến 53,25% cho mức thu nhập trên 299.200 FR
* Kê khai, tính thuế, và nộp thuế
Hộ nộp thuế phải tự kê khai thu nhập của họ trong năm tính thuế vào một tờ khai chung và nộp cho cơ quan thuế trước ngày 28 tháng 2 hàng năm Việc xác định thuế phải nộp do cơ quan thuế đảm nhiệm dựa trên hệ số gia đình (QF), và áp dụng biểu thuế lũy tiến Hệ số gia đình là tổng số phần phải chịu thuế của hộ nộp thuế
Thuế TNCN được nộp theo thời hạn ghi trong thông báo thuế, theo hình thức tạm nộp trước hai kỳ, mỗi kỳ 1/3 số thuế phải nộp dựa theo số thuế phải nộp năm trước, quyết toán vào cuối năm Hoặc theo hình thức tạm nộp hàng tháng, mỗi tháng nộp 1/10 số thuế phải nộp của năm trước, cuối năm sẽ quyết toán
1.2.2 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Trung Quốc
Mặc dù Luật thuế TNCN ở Trung Quốc mới được áp dụng từ 10/9/1980, nhưng nó đã đem lại nguồn thu đáng kể cho Ngân sách và được đa số người dân đồng tình Sau vài lần sửa đổi, hiện nay thuế TNCN tại Trung Quốc có một số nội dung cơ bản sau:
* Đối tượng nộp thuế
Các cá nhân có chỗ ở hoặc không có chỗ ở trong nước Trung Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm thì phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc
Các cá nhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuế với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc
* Thu nhập chịu thuế gồm 11 loại thu nhập:
Trang 21- Thu nhập về tiền lương, tiền công:là tổng số tiền lương, tiền công nhận được trong tháng trừ đi một khoản khoán chi phí là 800Yuan (nhân dân tệ)
- Thu nhập chịu thuế của hộ công thương cá thể: là tổng số thu nhập về sản xuất kinh doanh trong năm trừ đi các khoản chi phí và tổn thất có liên quan tới thu nhập chịu thuế
- Thu nhập của cá nhân hành nghề độc lập là tổng số thu nhập của cả năm trừ đi chi phí cần thiết tạo ra thu nhập chịu thuế Theo quy định, chi phí khoán mỗi tháng là 800Yuan, cả năm sẽ là 9.600Yuan
- Bốn loại thu nhập gồm: Thu nhập về thù lao dịch vụ; Thu nhập về nhuận bút; Thu nhập về chi phí sử dụng quyền đặc biệt; Thu nhập về cho thuê tài sản; là tổng tiền có được từ các hoạt động đó mang lại, nếu mỗi lần thu nhập không quá 4.000Yuan thì được trừ chi phí 800Yuan, nếu vượt quá 4.000Yuan thì được trừ chi phí bằng 20% thu nhập, số còn lại là thu nhập chịu thuế
- Thu nhập về chuyển nhượng tài sản là thu nhập mà người nộp thuế nhận được trừ đi nguyên giá tài sản và chi phí hợp lý tạo ra thu nhập
- Thu nhập về lãi tiền cho vay, cổ tức hoa hồng; Thu nhập ngẫu nhiên; Các khoản thu nhập khác mà ngành tài chính xác định phải chịu thuế là toàn bộ thu nhập mỗi lần nhận được của cá nhân nộp thuế
* Thuế suất
Luật thuế TNCN của Trung Quốc sử dụng biểu thuế lũy tiến từng phần cho thu nhập từ tiền lương, tiền công, không phân biệt giữa người nước ngoài và trong nước, bao gồm 9 bậc thuế, với mức thuế suất thấp nhất là 5% cho phần thu nhập chịu thuế từ 0 tới 500Yuan Thuế suất cao nhất là 45% tính cho phần thu nhập chịu thuế vượt quá 100.000Yuan
Đối với thu nhập của hộ kinh doanh cá thể và cá nhân hành nghề độc lập áp dụng biểu thuế suất riêng gồm 5 cấp, với mức thuế suất thấp nhất là 5% cho phần
Trang 22thu nhập chịu thuế dưới 5.000Yuan, và cao nhất là 35% cho phần thu nhập chịu thuế vượt quá 50.000Yuan
Đối với thu nhập từ dịch vụ, nhuận bút, cho thuê tài sản, lãi cho vay, cổ tức áp dụng mức thuế 20%, và được giảm trừ hoặc tăng lên trong từng trường hợp cụ thể
* Kê khai, nộp thuế
Cơ sở chi trả thu nhập cho các cá nhân có nghĩa vụ khấu trừ, nộp thay, đồng thời gửi tới cơ quan thuế biểu báo cáo nộp thay thuế Đối tượng nộp thuế có thu nhập tiền lương, tiền công từ nhiều nơi chi trả thì đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự khai báo nộp thuế
Thời hạn nộp thuế đối với thu nhập của hộ công thương cá thể tính theo năm và chia theo tháng để tạm nộp trước vào ngày 7 của tháng sau Ba tháng sau khi hết năm sẽ tổng hợp quyết toán, nếu thừa sẽ được Nhà nước hoàn lại, thiếu thì nộp bù vào Ngân sách Nhà nước
Đối với thu nhập từ hành nghề độc lập, nếu có thu nhập đều trong năm thì sẽ chia thành số lần nộp theo tháng như hộ công thương cá thể, nếu thu nhập phát sinh không đều đặn thì phải nộp thuế sau khi có thu nhập 30 ngày
Thu nhập nhận được từ bên ngoài Trung Quốc, trong vòng 30 ngày sau khi hết năm phải nộp khoản tiền thuế vào kho bạc và gửi báo cáo tới cơ quan thuế
1.2.3 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Thái Lan
Thuế TNCN tại Thái Lan được triển khai từ năm 1939, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung chính sách thuế này đã trở thành một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế của Thái Lan, với số thu chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trên tổng thu từ thuế Nội dung cơ bản của thuế TNCN hiện nay tại Thái Lan như sau:
* Đối tượng nộp thuế
Các cá nhân có tổng thời gian ở Thái Lan lớn hơn 180 ngày trong năm tính thuế thì được coi là cư trú Cá nhân cư trú sẽ phải chịu thuế TNCN đối với thu nhập nhận được, không phân biệt thu nhập phát sinh ở trong nước hay ở nước
Trang 23ngoài Ngược lại, đối với cá nhân không cư trú, họ chỉ phải nộp thuế TNCN đối với phần thu nhập phát sinh ở Thái Lan
* Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế gồm cả thu nhập bằng tiền và thu nhập dưới hình thức hiện vật hoặc hình thức khác phát sinh trong kỳ tính thuế Luật thuế TNCN tại Thái Lan quy định thu nhập chịu thuế gồm các loại sau:
Thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập mang lại do tính chất công việc, vị trí làm việc hoặc dịch vụ cung cấp; Thu nhập từ lợi thế thương mại, bản quyền, thu nhập phát sinh đều đặn hàng năm từ các nguồn khác do pháp luật hoặc tòa án quy định; Thu nhập từ lợi tức cổ phiếu, lãi tiền gửi ngân hàng, thu nhập hoặc các lợi ích được chia từ các công ty có tư cách pháp nhân, thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng cổ phiếu; Thu nhập từ việc cho thuê tài sản, thu nhập lãi bán hàng trả chậm hoặc từ các hợp đồng thuê mua tài sản; Thu nhập từ các hoạt động xây dựng hoặc các công việc khác dưới dạng hợp đồng; Thu nhập từ hoạt động kinh doanh, hoạt động thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, vận tải và các hoạt động khác chưa liệt kê ở trên
* Thuế suất
Thuế suất thuế TNCN được thiết kế theo biểu thuế lũy tiến từng phần gồm
5 bậc, thấp nhất là miễn thuế đối với khoản thu nhập chịu thuế dưới 100.000 Bath Cao nhất là 37% đối với khoản thu nhập từ 4.000.000 Bath trở lên
Thu nhập tính thuế trong biểu thuế là thu nhập được xác định sau khi đã trừ
đi các khoản khấu trừ như:giảm trừ cho người nộp thuế: 30.000 Bath; Vợ (chồng) của người nộp thuế: 30.000 Bath; Con đẻ hoặc con nuôi dưới 25 tuổi còn phải nuôi dưỡng: 15.000 Bath/người (tối đa 3 con); Trợ cấp phụng dưỡng cha mẹ:15.000 Bath/người
Trang 24Ngoài ra các khoản thu nhập từ việc bán bất động sản, thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi chứng khoán, trái phiếu, thu nhập từ cổ tức sẽ được đánh thuế theo những tỷ lệ riêng biệt
* Kê khai, nộp thuế
Người nộp thuế là đối tượng cư trú tại Thái Lan được cấp mã số thuế và phải ghi trên tất cả các bảng kê khai thu nhập Những công dân Thái Lan có số chứng minh nhân dân sẽ dùng số chứng minh đó để ghi lên các bảng kê khai thuế
Thuế TNCN ở Thái Lan được quản lý theo phương pháp khấu trừ tại nguồn Tùy theo từng loại thu nhập, tỷ lệ khấu trừ tại nguồn quy định khác nhau, đơn vị chi trả thu nhập có trách nhiệm giữ lại các khoản thu nhập này và nộp cho cơ quan thuế Đối tượng nộp thuế sẽ được kê khai khấu trừ số thuế đã khấu trừ khi thực hiện khai thuế phải nộp trong năm, nếu số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ tại nguồn thì phải nộp bổ sung, nếu nhỏ hơn thì được hoàn thuế
Thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế chậm nhất vào ngày 31/3 hàng năm dựa trên thu nhập nhận được trong cả năm Các cá nhân có thu nhập từ công việc như luật sư, kiến trúc, kế toán, y tế, kinh doanh thương mại v.v thì trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 phải lập bảng kê khai cho nửa năm và đóng thuế vào tháng 9 trong năm
1.2.4 Nhận định chung về chính sách thuế TNCN các nước
Có thể nhận thấy rằng thuế TNCN là một sắc thuế đã được áp dụng khá lâu và phổ biến tại các nước trên thế giới, từ những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Pháp, Anh đến các nước đang phát triển với điều kiện kinh tế-xã hội tương đối giống Việt Nam như Trung Quốc, Thái Lan Chính sách thuế này đã phát huy được vai trò của nó trong việc đảm bảo công bằng xã hội và đem lại nguồn thu cho ngân sách cho dù việc triển khai tại hầu hết các nước đều gặp những khó khăn ban đầu và chính sách thuế luôn phải bổ sung sửa đổi để ngày càng hoàn thiện Do điều kiện kinh tế-xã hội ở mỗi nước khác nhau, nên chính sách thuế TNCN được
Trang 25xây dựng khác nhau, tuy nhiên, một số đặc tính cơ bản thể hiện bản chất của thuế TNCN thì hầu hết các nước đều phản ánh trong chính sách thuế của mình Qua nghiên cứu chính sách thuế TNCN của các nước và kinh nghiệm áp dụng có thể rút ra một số nhận định như sau:
- Về đối tượng nộp thuế: Các nước áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo cư
trú, tức là các đối tượng được coi là cư trú tại nước sở tại sẽ phải nộp thuế đối với các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập là ở trong nước hay ngoài nước Mỗi nước có một quy định khác nhau về đối tượng cư trú, nhưng thường dựa vào các tiêu thức như thời gian sinh sống, có nhà ở, hay có việc làm tại nước sở tại
- Về thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế là tổng thu nhập có được
(không bao gồm các khoản thu nhập miễn thuế) trừ đi tổng các khoản được giảm trừ của đối tượng nộp thuế trong kỳ Đa số các nước xác định thu nhập chịu thuế và phân loại chúng theo nguồn hình thành gồm các loại chủ yếu như: Thu nhập từ tiền lương, tiền công; Thu nhập từ kinh doanh; Thu nhập từ cho thuê tài sản, chuyển nhượng tài sản, Thu nhập từ tiền lãi, cổ tức, các hoạt động góp vốn khác ; Thu nhập khác do pháp luật quy định thuộc diện tính thuế
Các khoản giảm trừ khi xác định thu nhập chịu thuế đều có trong chính sách thuế của các nước, và mỗi nước có quy định riêng của mình về các khoản giảm trừ này Đây là một nội dung tương đối phức tạp khi xây dựng chính sách thuế TNCN, nhìn chung, chính sách thuế của các nước đều có các khoản giảm trừ là các khoản chi phí để tạo ra thu nhập và đảm bảo sinh hoạt thường xuyên của đối tượng nộp thuế Chế độ giảm trừ thường được xác định theo nguyên tắc giảm trừ cho bản thân người nộp thuế, giảm trừ cho vợ/chồng không có thu nhập, giảm trừ để nuôi con, bố mẹ hay người tàn tật, giảm trừ đối với một số khoản như chi từ thiện, phí bảo hiểm, các chi phí hợp lý khác theo quy định
Trang 26- Về phương pháp tính thuế và thuế suất: Có hai phương pháp tính thuế là
xác định thuế phải nộp theo từng loại thu nhập và xác định thuế phải nộp trên tổng thu nhập sau khi đã giảm trừ các khoản theo quy định Hiện nay, các nước đều chọn cả hai cách tính thuế, với các biểu thuế suất riêng cho từng cách
Biểu thuế suất của các nước đều áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần nhiều bậc, trung bình từ 4 tới 6 bậc Đối với một số khoản thu nhập không được tính vào tổng thu nhập để áp dụng biểu thuế lũy tiến thì sẽ quy định cụ thể mức thuế suất phải nộp cho từng loại thu nhập đó
- Về quản lý thu, nộp thuế: Đa số các nước quản lý thuế dưới hình thức cấp
mã số thuế cho cá nhân, các cá nhân tự kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế theo từng năm tài chính Trong năm, cá nhân tạm nộp theo tháng và áp dụng hình thức khấu trừ tại nguồn khi các cơ quan, đơn vị chi trả thu nhập cho cá nhân Tỷ lệ khấu trừ tại nguồn thường được quy định cụ thể đối với từng loại thu nhập ở các nước có trình độ quản lý tiên tiến
1.3 CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM
1.3.1 Cơ sở hình thành thuế Thu nhập cá nhân
1.3.1.1 Cơ sở kinh tế- xã hội
Nhận thức đúng đắn về con đường phát triển, cùng với những nỗ lực toàn Đảng, toàn dân, Việt Nam không những thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng trong những năm của thập kỷ 80 mà còn đạt những thành tựu vượt bậc về kinh tế xã hội thông qua công cuộc cải cách của mình Có thể điểm qua một số thành tựu về kinh tế-xã hội thời gian 1986-1991 như sau:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Từ một nền kinh tế đang lâm vào lạm phát phi
mã lên tới ba con số, đến năm 1991 tỷ lệ lạm phát đã giảm gần 10 lần xuống còn 67,6% so với năm 1986 Có thể nói đây là thành công quan trọng của chính sách tài chính từ đó đã tác động trực tiếp tới kinh tế vĩ mô, nền kinh tế dần phục hồi, tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đạt 5,8% vào năm 1991
Trang 27- Về Tổng sản phẩm quốc nội: Sau hai năm cải cách, tổng sản phẩm quốc
nội tăng ngoạn mục, với tốc độ tăng cao nhất trong 10 năm, đạt 41.955 tỷ đồng năm 1990 và lên 76.707 tỷ đồng vào năm 1991 GDP bình quân đầu người đạt 130 USD/năm.Điều này cho thấy sự hưng thịnh của nền kinh tế và đời sống người dân đã được cải thiện đáng kể
- Tình hình xuất nhập khẩu: Bước ngoặt xảy ra vào năm 1989 khi kim ngạch
xuất khẩu đạt 1,14 tỷ USD với hai mặt hàng chủ yếu là gạo và dầu thô Tăng trưởng xuất khẩu trong các năm tiếp theo đạt mức rất cao, bình quân 35,7%/năm, kể từ năm 1991 trở đi thì hoạt động xuất nhập khẩu đã trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu đóng góp cho sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam
- Thu nhập bình quân đầu người: Với xuất phát điểm là nền kinh tế nông
nghiệp đại bộ phận lao động là nông dân, số còn lại là thành phần công chức nhà nước nên thu nhập bình quân đầu người rất thấp Sau năm năm thực hiện đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường, qua những kết quả đạt được về kinh tế vĩ mô như trên thì thu nhập của các tầng lớp dân cư được cải thiện đáng kể, thu nhập bình quân đầu người năm 1991 đạt92 nghìn đồng/tháng
Với những thành tựu về kinh tế xã hội như trên có thể thấy đời sống người dân được cải thiện đáng kể, không những đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt mà còn có tích lũy Hơn nữa nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho mọi người có thể làm giàu nhanh chóng Do vậy một sắc thuế nhằm để huy động một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư để đóng góp cho sự phát triển của đất nước là rất cần thiết Bên cạnh đó, nó sẽ là một công cụ góp phần phân phối lại thu nhập, thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Và trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới thì các chính sách tài chính cũng phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp Từ những cơ sở đó, chính sách thuế TNCN tại Việt Nam đã được hình thành
Trang 281.3.1.2 Cơ sở pháp lý
Chính sách thuế TNCN tại Việt Nam được Quốc hội ban hành vào ngày 27/12/1990, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/04/1991 với tên gọi: “ Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” Thực chất thì đây chính là thuế TNCN nhưng được triển khai ở phạm vi hẹp, tức chỉ điều chỉnh với các đối tượng có thu nhập cao theo quy định So với các sắc thuế hiện đại khác, thuế TNCN được ra đời khá sớm nhưng hiệu quả mang lại chưa như mong muốn, vì thế từ khi ban hành đến nay chính sách thuế này đã được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần cho phù hợp nhằm phát huy tác dụng của nó trong đời sống kinh tế-xã hội Các lần sửa đổi như sau:
- Pháp lệnh sửa đổi về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 19/05/1994
- Pháp lệnh số 01/1997/PL-UBTVQH ngày 06/02/1997 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
- Pháp lệnh số 14/PL-UBTVQH ngày 30/06/1999 được ban hành với một số thay đổi so với Pháp lệnh năm 1997
- Hiện nay cơ sở pháp lý thực hiện chính sách thuế TNCN là Pháp lệnh số 35/PL-UBTVQH ngày 19/05/2001 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều số 14/PL-UBTVQH ngày 24/03/2004 Nghị định số 147/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
1.3.2 Những nội dung cơ bản của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
* Đối tượng nộp thuế
Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài và cá nhân khác định cư tại Việt Nam có thu nhập Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thu nhập Nếu người nước ngoài cư trú ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm thì được coi là đối tượng cư trú tại Việt Nam và nộp thuế theo đối tượng cư trú
Trang 29* Thu nhập chịu thuế
Thu nhập của đối tượng nộp thuế thu nhập được phân làm hai loại:
- Thu nhập thường xuyên: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, tiền thưởng; các khoản thu nhập ngoài tiền lương, tiền công do tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thu nhập không thường xuyên dưới các hình thức: Quà biếu, quà tặng bằng hiện vật từ nước ngoài chuyển về; Chuyển giao công nghệ, bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, bí quyết kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật xây dựng, thiết kế công nghiệp và dịch vụ khác, trừ trường hợp biếu, tặng; Trúng thưởng xổ số
* Thu nhập không thuộc diện chịu thuế
- Phụ cấp làm đêm; phụ cấp độc hại, nguy hiểm; phụ cấp khu vực; phụ cấp thâm niên đối với lực lượng vũ trang; phụ cấp đặc biệt đối với một số đảo xa và vùng biên giới có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khó khăn; phụ cấp thu hút; tiền công tác phí; tiền ăn định lượng, phụ cấp đặc thù của một số ngành nghề theo chế độ Nhà nước quy định; các khoản phụ cấp của cán bộ, công chức nhà nước và các khoản phụ cấp khác từ ngân sách Nhà nước
- Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế phát minh, các giải thưởng quốc gia, quốc tế, tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng hoặc chế độ đãi ngộ khác từ NSNN
- Tiền trợ cấp xã hội, bồi thường bảo hiểm, trợ cấp thôi việc, trợ cấp điều động về cơ sở sản xuất theo quy định của pháp luật
- Thu nhập của chủ hộ kinh doanh cá thể thuộc diện chịu thuế TNDN
- Tiền nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật
Tạm thời chưa thu thuế đối với các khoản thu nhập về lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu
* Căn cứ tính thuế và biểu thuế
Trang 30- Căn cứ tính thuế là thu nhập chịu thuế và thuế suất
Thu nhập thường xuyên chịu thuế được quy định là tổng số tiền thu được của từng cá nhân bình quân tháng trong năm trên 5.000.000 đồng đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam, trên 8.000.000 đồng đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài Riêng người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng số thu nhập do làm việc tại Việt Nam
- Biểu thuế lũy tiến từng phần đối với thu nhập thường xuyên được quy định
như sau: (Phụ lục 1: Biểu thuế đối với người Việt Nam và nước ngoài)
Đối với người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, áp dụng thuế suất 25% tổng số thu nhập
- Đối với thu nhập không thường xuyên: Thuế suất được áp dụng đối với tổng thu nhập chịu thuế, 5% đối với thu nhập chịu thuế về chuyển giao công nghệ, 10% với thu nhập chịu thuế về trúng thưởng xổ số, trúng thưởng khuyến mại
* Kê khai nộp thuế
Thuế thu nhập đối với thu nhập thường xuyên được tính bình quân tháng trong năm Kê khai và tạm nộp hàng tháng Cuối năm hoặc hết thời hạn hợp đồng phải tổng hợp mọi khoản thu nhập chịu thuế, thực hiện thanh quyết toán với cơ quan thuế chậm nhất không quá ngày 28 tháng 2 năm sau hoặc sau 30 ngày kể từ ngày hết hạn hợp đồng
Người nước ngoài thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập trước khi rời khỏi Việt Nam phải xuất trình biên lai nộp thuế thu nhập
Thuế thu nhập đối với khoản thu nhập không thường xuyên nộp theo từng lần phát sinh thu nhập
Người nộp thuế thu nhập phải thực hiện kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn theo chế độ do Bộ Tài chính quy định Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế thu nhập để nộp thuế trước khi chi trả thu nhập
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 BỐI CẢNH KINH TẾ-XÃ HỘI VIỆT NAM
2.1.1 Thành tựu về kinh tế –xã hội giai đoạn 1991-2000
* Kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng tương đối cao, đưa đất nước ra khỏi siêu lạm phát và khủng hoảng kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 7,56% Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước đã gấp 2,07 lần năm 1990, không những đạt và vượt mục tiêu tổng quát đã được đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991- 2000: tổng sản phẩm trong nước gấp 2 lần, mà còn đưa đất nước đứng vào hàng các nền kinh tế trong khu vực có tốc độ tăng trưởng cao của thập niên 90
Bảng: 1
TỐC ĐỘ TĂNG TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC BÌNH QUÂN
MỖI NĂM THỜI KỲ 1991-2000
Đơn vị: %
Chia ra
Toàn bộ nền kinh tế
Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
Công nghiệp và Xây dựng
Dịch vụ
Tốc độ tăng bình quân mỗi
- Trong 5 năm 1991-1995 8,18 4,09 12,00 8,60
- Trong 5 năm 1996-2000 6,94 4,30 10,60 5,75
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Một trong những thành tựu kinh tế lớn nhất trong 10 năm này là phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực Sau nhiều năm kiên trì giải quyết vấn đề lương thực, an toàn lương thực đã được khẳng định Sản lượng lương thực
Trang 32quy thóc năm 2000 đạt 35,6 triệu tấn, tăng 14,1 triệu tấn so với năm 1990 Trong
10 năm 91-2000, sản lượng lương thực quy thóc tăng bình quân/năm trên 1,4 triệu tấn Sản xuất công nghiệp đi dần vào thế phát triển ổn định với tốc độ tăng bình quân/năm 13,6%, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,4%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 11,0%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5% Tính theo giá trị sản xuất, quy mô sản xuất công nghiệp năm 2000 gấp 3,6 lần năm 1990
Một thành tựu nổi bật nữa ở giai đoạn này là siêu lạm phát bị đẩy lùi Giá cả từ tốc độ tăng hai chữ số mỗi năm trong những năm 1991-1995 đã giảm xuống chỉ còn tăng một chữ số trong những năm 1996- 2000 Kết quả chống lạm phát vững chắc đã đưa nền kinh tế thoát được thời kỳ vô cùng khó khăn và tiếp đó là vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực năm 1997-1998
* Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong khi vẫn duy trì được tốc độ tăng của tất cả các khu vực và các ngành kinh tế, tỷ trọng giá trị tăng thêm của mỗi khu vực theo giá hiện hành chiếm trong tổng sản phẩm trong nước đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp Đó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng và phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hình 3: CƠ CẤU TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC QUA CÁC NĂM
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 33* Đã thành công trong việc mở cửa, hội nhập quốc tế, phá thế bao vây, cấm vận kinh tế và thương mại
Ngày 11-7-1995 Mỹ đã tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam và ngày 12-7-1995 hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao Ngày 28-7-
1995 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các nước Đông Nam Á Năm 1998 Việt Nam đã tham gia diễn đàn kinh tế các nước Châu á-Thái Bình Dương - APEC Đến tháng 7-2000, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, góp phần đưa tổng số nước có quan hệ ngoại thương với nước ta từ con số 50 nước năm 1990 lên 170 nước và vùng lãnh thổ vào năm
2000 Từ tháng 10-1993, quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam với Cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đã được nối lại Từ đó đến nay đã có 8 Hội nghị quốc tế về ODA dành cho Việt Nam, các nhà tài trợ đã cam kết số vốn ODA lên tới 17,5 tỷ USD và 1,2 tỷ USD cho hỗ trợ cải cách kinh tế
* Đời sống các tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác được củng cố và tăng cường
Do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tương đối cao nên đời sống dân cư
ở cả thành thị và nông thôn đều đã được cải thiện rõ rệt Kết quả các cuộc điều tra khảo sát mức sống dân cư, điều tra giàu nghèo và điều tra hộ gia đình từ năm 1992 cho thấy: Thu nhập bình quân mỗi người 1 tháng của các hộ đã tăng từ 92,1 nghìn đồng năm 1992 lên 206,1 nghìn đồng năm 1995 và 295,0 nghìn đồng năm 1999
Sự nghiệp giáo dục tiếp tục đạt được thành tựu mới Cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Theo đánh giá của Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thì Chỉ số Giáo dục của Việt Nam năm 1999 đứng thứ 92/174 nước, góp phần nâng Chỉ số Phát triển Con người- HDI từ vị trí thứ 122/174 nước năm 1995 lên 110/174 nước năm 1999 Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng có những tiến bộ đáng kể Nhờ đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ y tế, nhất là cán bộ y tế cho các cơ sở nên số thầy thuốc có trình độ
Trang 34trung cấp trở lên đã tăng từ 10,8 người/1 vạn dân năm 1990 lên 11,7 người/1 vạn dân năm 1999, số bác sĩ /1 vạn dân cũng tăng từ 3,6 người lên 4,9 người
2.1.2 Thành tựu về kinh tế –xã hội giai đoạn 2001-2005
- Phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế, vượt qua thời kỳ suy giảm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
6.54 6.1
4.04 4.36
3.62 4.17
2.98
10.22
10.48 10.39
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta Tổng sản phẩm trong nước trong những năm 1992-1997 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8-9% đã đột ngột giảm xuống chỉ còn tăng 5,8% vào năm 1998 và tăng 4,8% vào năm 1999 Nhưng từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước (Năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng
Trang 356,89%; năm 2002 tăng 7,08%; năm 2003 tăng 7,34%; năm 2004 tăng 7,79% và năm 2005 ước tính tăng 8,43%) Tính ra trong 5 năm 2001-2005, bình quân/năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,51%
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng giá trị tăng thêm theo giá thực tế chiếm trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 36,73% năm 2000 lên 41,04% vào năm 2005 Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tuy vẫn tăng trưởng, nhưng tỷ trọng trong tổng sản phẩm trong nước đã giảm từ 24,53% năm 2000 xuống 21,81% năm 2004 và ước tính năm 2005 chỉ còn 20,89% Khu vực dịch vụ vẫn duy trì được tỷ trọng khoảng 38% tổng sản phẩm trong nước
Bảng 2:
CƠ CẤU TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001-2005
THEO GIÁ THỰC TẾ PHÂN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
Đơn vị: %
Kinh tế ngoài Nhà nước 47,84 47,86 46,45 45,77 45,69
Nguồn:Tổng cục Thống kê
Bảng 2 trên cho thấy, mặc dù trong những năm 2001-2005, số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm đáng kể do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước
Trang 36vẫn duy trì ở mức trên 38% Kinh tế ngoài Nhà nước được khuyến khích phát triển nên thường xuyên tạo ra 46-47% tổng sản phẩm trong nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng Năm 2000 khu vực này tạo ra 13,28% tổng sản phẩm trong nước và đến năm 2005 đã tạo ra 15,89%
- Huy động vốn đầu tư đạt kết quả cao, tạo nguồn lực tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
Với nhiều chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ các nguồn vốn từ bên ngoài Do đó, tổng số vốn đầu tư phát triển 5 năm 2001-2005 theo giá thực tế đã đạt trên 1200 nghìn tỷ đồng, gấp trên 2 lần tổng số vốn đầu tư phát triển huy động được trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 Vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn này đạt trên 240 nghìn tỷ đồng/năm, bằng 201,6% mức bình quân mỗi năm trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 35,42% năm 2001 lên 38,45% năm 2004 và ước tính năm
2005 là 38,67% Tỷ lệ đầu tư của Việt Nam hiện nay chỉ thấp hơn Trung Quốc, cao hơn hầu hết các nước trong khu vực Trong tổng số vốn đầu tư 5 năm 2001-2005 thì vốn đầu tư trong nước chiếm tới 84%, cao hơn hẳn tỷ lệ 78,6% của những năm 1996-2000
Việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài tiếp tục được chú trọng, nhất là thu hút vốn FDI và vốn ODA Trong 5 năm 2001-2005, Nhà nước đã cấp giấy phép cho 3745 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với số vốn đăng ký 19,9 tỷ USD Đến nay trên lãnh thổ nước ta đã có các nhà đầu tư của trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 100 công ty đa quốc gia Số vốn ODA do các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Nam trong 5 năm 2001-2005 cũng lên tới trên 15 tỷ USD
- Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được nâng cao Chất lượng dịch vụ công như y tế, văn hóa, giáo dục và một số lĩnh vực khác có những tiến bộ đáng kể
Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ tương đối khá và việc điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 180 nghìn đồng cuối năm 2000 lên 210 nghìn đồng đầu năm 2001; 240
Trang 37nghìn đồng năm 2002; 290 nghìn đồng đầu năm 2003 và 350 nghìn đồng năm 2005 cùng với việc triển khai nhiều chương trình tạo việc làm, phát triển nông nghiệp và nông thôn, xoá đói giảm nghèo nên đời sống các tầng lớp dân cư ở cả thành thị và nông thôn nhìn chung tiếp tục được cải thiện
Tỷ lệ hộ nghèo lương thực, thực phẩm đã giảm từ 13,3% năm 1999 xuống còn 9,9% năm 2001-2002 và 6,9% năm 2003-2004, trong đó tỷ lệ nghèo của khu vực thành thị giảm từ 4,6% xuống 3,9% và 3,3%; của khu vực nông thôn giảm từ 16% xuống 11,9% và 8,1% Trong các Báo cáo thường niên của UNDP những năm gần đây, Việt Nam được xếp vào danh sách những quốc gia dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích giảm nghèo, và tiêu biểu cho nhóm các nước đang phát triển đã đạt được sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển các chính sách xã hội vì con người Báo cáo Phát triển Con người năm 2005 của tổ chức này đã xếp Việt Nam ở vị trí 108/177 nước được xếp hạng, tăng 4 bậc so với bảng xếp hạng năm 2004
Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển theo đúng định hướng Đến cuối năm 2005 đã cơ bản hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường học, lớp học
So với năm 2000, số trường dạy nghề tăng 70% với quy mô đào tạo tăng 40% Trong Báo cáo Giám sát Giáo dục Toàn cầu năm 2005, UNESCO đánh giá về tiến độ thực hiện mục tiêu “Giáo dục cho tất cả đến năm 2015” do Liên Hợp quốc đề
ra, chỉ số giáo dục cho tất cả của Việt Nam được xếp vị trí 64/127, đứng trên một số nước trong khu vực như In-đô-nê-xi-a, Phi-li-pin, Ấn Độ
Bên cạnh đó các hoạt động về y tế, văn hóa đã có những thành tựu đáng kể Công tác y tế và chăm lo sức khoẻ cộng đồng không ngừng mở rộng mạng lưới phục vụ Hoạt động của ngành Y tế những năm vừa qua đã góp phần đưa tuổi thọ bình quân của dân số nước ta tăng từ 67,8 tuổi trong năm 2000 lên 69,0 tuổi năm 2002; 70,5 tuổi năm 2003 và 71,5 tuổi năm 2005 Các hoạt động văn hoá thông tin triển khai tương đối rộng khắp, nhất là phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
Trang 38sống văn hoá ở cơ sở Việc bảo tồn, tôn vinh văn hoá truyền thống, nhất là văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người được chú trọng đặc biệt Trong những năm vừa qua, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã được thế giới công nhận thêm là Di sản Văn hoá Thế giới
2.1.3 Thực trạng thu nhập của cá nhân
Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, với chủ trương khuyến khích đầu tư sản xuất, tự do về hoạt động thương mại dịch vụ, Nhà nước đã tạo ra những tiền đề tích cực để tăng thu nhập cho cá nhân Thu nhập bình quân của người lao động trong thời kỳ này tăng lên rất nhanh, đời sống cải thiện rõ rệt, một số bộ phận dân cư còn có được mức thu nhập rất cao Kết quả các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành những năm vừa qua cho thấy thu nhập bình quân một người một tháng theo giá thực tế đã tăng từ 295 nghìn đồng/người/tháng năm 1999 lên 356,1 nghìn đồng/người/tháng năm 2001-2002 và 484,4 nghìn đồng/người/tháng năm 2003-2004 Thu nhập bình quân một người một
tháng theo giá thực tế năm 2003-2004 đã tăng 64,2% so với năm 1999 (Phụ lục 2:
Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân theo thành thị, nông
thôn và theo vùng) Thu nhập tăng đã tạo điều kiện tăng tiêu dùng và tăng tích luỹ
Chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng đã tăng từ 221,1 nghìn đồng năm 1999 lên 269,1 nghìn đồng năm 2001-2002 và 359,7 nghìn đồng năm 2003-
2004 (Phụ lục 3: Chi tiêu bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân
theo thành thị, nông thôn và theo vùng) Đáng chú ý là thu nhập cũng như chi tiêu
đều tăng ở cả khu vực thành thị và nông thôn, ở 8 vùng sinh thái và cả 5 nhóm thu nhập
Về thu nhập của lao động trong khu vực Nhà nước, là nơi chịu tác động của chính sách thuế TNCN nhiều nhất, do việc tăng lương tối thiểu trong những năm gần đây đã khiến cho thu nhập của người lao động có sự cải thiện Tính đến đầu năm 2006, thu nhập bình quân một tháng đạt 1.727.300đ/lao động, xét theo cấp quản lý thì thu nhập của lao động ở cấp Trung ương quản lý đạt 2.259.000đ/ lao
Trang 39động, tại địa phương là 1.364.200đ/lao động Trong 18 ngành kinh tế cấp I, có 9 ngành đạt mức cao hơn bình quân chung là khai thác mỏ; tài chính tín dụng; vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước; xây dựng; công nghiệp; khách sạn, nhà hàng; thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ
Hình 5:
THU NHẬP VÀ CHI TIÊU BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI MỘT THÁNG
THEO GIÁ THỰC TẾ (Đ/v: ngàn đồng)
295 221.1
73.9
356.1 269.1
87
484.4 359.7
Nguồn: Tổng Cục thống kê
Tuy đã đạt một số kết quả khả quan như trên nhưng thực trạng thu nhập của người lao động vẫn còn một số tồn tại sau:
So với các nước trên thế giới, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam rất thấp, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước nghèo Một lao động phải nuôi 1,8 người, nếu chỉ tính thu nhập của lao động thuộc khu vực Nhà nước như trên thì bình quân một nhân khẩu đạt dưới 960 ngàn đồng/tháng, tương đương 60 USD, bình quân chưa đạt 2 USD/ngày, tức chưa vượt qua mức chuẩn nghèo mới của thế giới
Tốc độ tăng thu nhập bình quân trong giai đoạn 2001-2005 thấp hơn so với giai đoạn 1996-2000, trong khi tốc độ tăng giá lại cao hơn Do đó, thu nhập danh nghĩa tăng nhưng thu nhập thực tế tăng không đáng kể Tiền lương tối thiểu hiện
Trang 40hành đạt 450.000đ/tháng nhưng vẫn chưa đủ chí phí bình thường cho tái tạo sức lao động, chưa kể phải nuôi dưỡng con cái và gia đình
Chênh lệch thu nhập ngày càng gia tăng, nếu tính hệ số GiNi - hệ số này càng tiến gần đến 0 thì sự bình đẳng cao, và ngược lại nếu càng tiến gần đến 1 Các chỉ số thống kê của Việt Nam cho thấy hệ số GiNi năm 1994 là 0,350, năm
1995 là 0,357, năm 1996 là 0,362, năm 1999 là 0,390, năm 2002 là 0,420, và 2004 là 0,423 Như vậy, sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm dân cư có xu hướng tăng Nếu tính chung cả nước chia theo các nhóm thu nhập, chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất là 8,3 lần Sự cách biệt này càng lớn nếu đem so sánh giữa thành thị và nông thôn Đây là một thực trạng đáng báo động
hiện nay (Phụ lục 4: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa các nhóm với
nhóm thu nhập thấp nhất)
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LỆNH THUẾ THU NHẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ THU NHẬP CAO TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Những kết quả đạt được
Sau 15 năm áp dụng, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao tại Việt Nam nhìn chung là phù hợp với điều kiện kinh tế, lịch sử của từng giai đoạn phát triển Tuy chưa thực sự phát huy hết tác dụng và chưa đạt được các mục tiêu như mong muốn, nhưng những gì mà Pháp lệnh thuế thu nhập đạt được thời gian vừa qua đã tạo một tiền đề vững chắc để chúng ta có cơ sở tiến tới xây dựng một chính sách thuế phù hợp hơn Kết quả đạt được trong quá trình triển khai thể
hiện trên các mặt sau: (chú thích: từ đây, Luận án sử dụng thuế TNCN – thay cho
“thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” cho ngắn gọn)
* Góp phần tăng thêm nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Việc thực hiện Pháp lệnh thuế thu nhập nói trên đã huy động được nguồn lực từ các cá nhân trong xã hội, góp phần tăng thêm nguồn thu cho Ngân sách Tuy mức khởi điểm được điều chỉnh tăng dần từ 0,5 triệu đồng (năm 1991) lên 5 triệu