ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐÀO THỊ THANH THỦY QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO THỊ THANH THỦY
QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐÀO THỊ THANH THỦY
QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Xuân Mới
HÀ NỘI – 2013
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Với những tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, trang bị cho tôi hệ thống tri thức rất quý báu về khoa học quản lý giáo dục, những phương pháp nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Quản lý giáo dục, Phòng Đào tạo - Công tác sinh viên trường Đại học Giáo dục; Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng; Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện An Lão; các trường Trung học phổ thông huyện An Lã , thành phố Hải Phòng cùng bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lưu Xuân Mới đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong được nhận sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý báu của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2013
Tác giả
Đào Thị Thanh Thủy
Trang 5iii
MỤC LỤC
T
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG – GIA ĐÌNH – XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
5 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
5 1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
6 1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 7
1.3 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông
19 1.3.1 Trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục học sinh 19
1.3.2 Gia đình trong công tác giáo dục học sinh 26
1.3.3 Xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh 28
1.3.4 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
29
Trang 6iv
1.4 Quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo
đức học sinh
33 1.4.1 Nội dung quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
34 1.4.2 Các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
35 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
37 1.5.1 Hiệu quả của việc quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
37 1.5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
37 1.6 Cơ sở pháp lí của quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
39 Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
43 2.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
43 2.1.1 Địa lí và dân số 43
2.1.2 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội 43
2.1.3 Tình hình văn hóa - giáo dục 43
2.2 Khái quát về các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng 45
Trang 7v
2.2.1 Trường THPT An Lão 45
2.2.2 Trường THPT Quốc Tuấn 46
2.2.3 Trường THPT Trần Hưng Đạo 46
2.2.4 Trường THPT Trần Tất Văn 47
2.3 Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
47 2.3.1 Thực trạng về sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
47 2.3.2 Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
54 2.3.3 Thực trạng về hiệu quả của các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường- gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
57 2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
58 2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng
62 2.5.1 Mặt mạnh 62
2.5.2 Mặt hạn chế 63
2.5.3 Nguyên nhân 63
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Trang 8vi
66
3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp chế 66
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 66
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 67
3.2 Một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
67 3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lí, giáo viên, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội về tầm quan trọng của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
67 3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh 71 3.2.3 Tăng cường nguồn lực cho hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
75 3.2.4 Thực hiện đa dạng các nội dung hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
76 3.2.5 Tăng cường kiểm tra - đánh giá sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
81 3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 83
3.3.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 83
3.3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
Trang 9vii
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ giáo viên và học sinh ở các trường THPT
huyện An Lão (Năm học 2012-2013 ) 44 Bảng 2.3 Kết quả xếp loại học lực 3 năm gần đây 45 Bảng 2.4 Mẫu khảo sát thực trạng 47 Bảng 2.5 Nhận thức của CB, GV và CMHS về tầm quan trọng của sự
phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
48 Bảng 2.6 Nhận thức của CB, GV và CMHS về vai trò của sự phối hợp
nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
39 Bảng 2.7 Mức độ thực hiện hoạt động phối hợp NT - GĐ - XH trong
giáo dục đạo đức học sinh
50 Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp NT-GĐ trong giáo
dục đạo đức cho HS theo đánh giá của CB, GV
51 Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp GĐ-NT theo đánh giá
của cha mẹ học sinh
52 Bảng 2.10 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp NT-XH trong
GDĐĐ cho HS theo đánh giá của CB, GV
53 Bảng 2.11 Đánh giá của CB, GV về các biện pháp phối hợp gia đình -
nhà trường trong giáo dục đạo đức học sinh
54 Bảng 2.12 Đánh giá của CB, GV về các biện pháp phối hợp nhà trường -
xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
56 Bảng 2.13 Đánh giá của CB, GV về hiệu quả quản lý các biện pháp phối
Trang 12x
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 85 Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã xuất 87
Trang 13Điều 3 chương I, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Điều 93 đến Điều 98 chương VI cũng đã quy định trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ý nghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội Sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược lại, sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ gây cản trở hoặc khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách học sinh
Thực tiễn giáo dục ở các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng cho thấy nhận thức về sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội chưa thực sự có hiệu quả cao trong giáo dục đạo đức học sinh Một số bậc phụ huynh còn xem nhà trường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ, vì vậy trẻ hư thì đổ lỗi hoàn toàn cho nhà trường là “thầy cô dạy như thế…!”, hoặc đổ lỗi cho xã hội “xã hội quá nhiều tiêu cực, cạm bẫy làm cho con tôi hư….” Một bộ phận giáo viên ở các trường học thì chỉ tập trung cho chất lượng học tập, xem nhẹ giáo dục đạo đức, dẫn đến chỉ biết đổ lỗi cho gia đình và xã hội, chưa thấy mối quan hệ giữa nhiệm vụ giảng dạy
Trang 14ở đây thực ra chỉ có tính bề nổi, còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là giải pháp phối hợp như thế nào để đạt hiệu quả, thường xuyên và đồng bộ
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý sự phối hợp nhà
trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng” với hi vọng đề xuất được
một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức và giáo dục toàn diện của các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sự kết hợp nhà trường - gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, đề xuất các biện pháp quản lý
sự phối hợp nhà trường - gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức và giáo dục toàn diện của các trường THPT trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng 3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
Trang 153
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng
5 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã được thực hiện, song, còn mang tính hình thức, lỏng lẻo, do đó hiệu quả giáo dục chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội Nếu vận dụng hợp
lí các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh do tác giả đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng trong 3 năm học: 2010-2011, 2011-2012, 2012-2013
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo, có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu; sàng lọc thông tin, tổng hợp những vấn đề cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài
7.1 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, khảo sát thực tế
- Thống kê số liệu, phân tích thực trạng
- Tổng kết kinh nghiệm
Trang 164
- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
- Lấy ý kiến chuyên gia, trao đổi, tọa đàm
7.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
Trang 171.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức đã và đang trở thành mối quan tâm của các nhà sư phạm và các nhà quản lý giáo dục nói riêng Trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến việc xây dựng con người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức của con người Việt Nam qua từng thời kì
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh, coi đó là nguyên tắc cơ bản đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này:
- “Sự kết hợp giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 Giáo trình Giáo dục học, Tập II, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
- “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới”, tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, thuộc Viện Khoa học Giáo dục, 1993
- “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Kỷ, Viện Khoa học Giáo dục, 1996
- “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, 1998
Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Các tác
Trang 186
giả đã dùng các khái niệm khác nhau: “thống nhất”, “hợp tác”, “kết hợp”, “phối hợp”, “liên kết”, các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp), mối tương quan giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục học sinh Các tác giả đã chỉ ra những lý luận về sự cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và
xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việc giáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội
1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh, như:
- “Tổ chức liên kết giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh của một số trường trung học cơ sở ở thành phố Huế”, Lê Thị Hoa, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Huế, 1999
- “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp”, Nguyễn Minh Tâm, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Huế, 2007
- “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Trần Thị Mai Hanh, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Giáo dục, 2010
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản, những
đề xuất về mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Những nghiên cứu trên đồng thời cũng làm rõ các chức năng quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội và đưa ra các biện pháp tăng cường quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh Tuy nhiên, trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này, đặc biệt trong bối cảnh vấn đề giáo dục đạo đức học sinh đang đặc biệt được quan tâm Vì vậy, trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần có sự nghiên
Trang 197
cứu về “Quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trên địa bàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm Nó xuất hiện từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ Nó là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung
Con người trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển với những hình thái xã hội khác nhau thì cũng có bấy nhiêu kiểu quản lý Quản lý vừa là biện pháp hành chính, vừa là nghệ thuật Sau này khi khoa học phát triển, quản lý thành khoa học ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
C.Mac đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay công đồng trực tiếp nào được thực hiện ở một quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý Quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chúng xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [26, tr 9] Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng
Nhiều nhà nghiên cứu lí luận Liên bang Nga cho rằng: Quản lý là một hệ thống
xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lý) vào hệ thống, chủ yếu
là vào con người, nhằm đạt những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định [26, tr 9]
Các tác giả nghiên cứu quản lý phương Tây cũng có những định nghĩa quản
lý rất cụ thể như: “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [17, tr 25]
Taylor PH.W (1856-1915) đã định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và dễ nhất” Đó cũng là tư tưởng của ông về quản lý
Trang 208
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lý Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung” [39, tr 880]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn” [19, tr 225]
Từ các khái niệm quản lý khác nhau, có thể hiểu một cách khái quát: quản lý
là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
Để đạt được những mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năng quản lý Chức năng quản lý chính là những nội dung, những phương thức hoạt động
cơ bản mà trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý sử dụng nó tác động đến đối tượng quản lý để thực hiện mục tiêu quản lý
Quản lý có bốn chức năng cơ bản Các chức năng này luôn có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lý, bao gồm: Chức năng Kế hoạch, chức năng Tổ chức, chức năng Chỉ đạo và chức năng Kiểm tra
Chức năng Kế hoạch: là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức vfa căn
cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kì, từng giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện háp, cách thức đưa tổ chức đạt được mục tiêu đó
Chức năng Tổ chức: là những nội dung phương thức hoạt động cơ bản trong việc thành lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch
Chức năng Chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức, (đơn vị) vận hành theo đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu quản lý
Trang 21lý là cơ sở đảm bảo hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên
cơ sở đó không ngừng phát triển
Trong Việt ngữ, quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các
chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa
Do đó, quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các
chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản
lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [16, tr 61]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế
hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32 tr 31]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý giáo dục là quy trình tác động có
kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đặt ra” [28, tr 16]
Trang 2210
Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn abnr quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, vì nhà trường là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Nó là tế bào căn bản của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là một tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và
do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [41, tr 205]
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người thầy; bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể của quản
lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện theo mục tiêu giáo dục và được xã hội thừa nhận
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD&ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là
Sở GD&ĐT ở các tỉnh/thành phố và Phòng GD&ĐT ở các huyện/quận Cấp quản lý quan trọng và trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường
Trang 2311
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục và tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo thế
hệ trẻ trở thành những người có tri thức, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội
Tóm lại, quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theo đường lối quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước” [7]
1.2.2 Đạo đức
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc
về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong ba phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này
Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý
thức xã hội, bao gồm những nguyênlý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc
ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện
ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [25, tr 145]
Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [25, tr 12]
Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [14, tr 170-171]
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ
Trang 2412
mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh
ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [25, tr 153-154]
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [25, tr 12]
Bản chất đạo đức là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội
Nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và
tự giác thực hiện Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ
xã hội được hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giai đoạn đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng Vì vậy, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa
là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật,
có nếp sống văn minh lành mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Tóm lại, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội
Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến
bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [25, tr 12]
Trang 2513
1.2.3 Giáo dục đạo đức
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến các
chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”
GDĐĐ là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội
Song, giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng “GDĐĐ cho học
sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” [10, tr 128]
Ngày nay, GDĐĐ cho học sinh là GDĐĐ xã hội chủ nghĩa Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
Quá trình GDĐĐ cho học sinh bao gồm tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong Có thể hiểu rằng có bao nhiêu mối quan
hệ trong nhà trường và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động thì có bấy nhiêu yếu
tố tác động đến học sinh Đó là gia đình, nhà trường và xã hội Mỗi lực lượng có tầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phương pháp và tính ưu việt riêng
- Gia đình là một tế bào xã hội, là nơi lưu giữ và phát triển vững chắc nhất giá trị truyền thống Từ gia đình có thể giáo dục tất cả các lứa tuổi lòng kính yêu cha mẹ, người thân trong gia đình, yêu thương đồng loại Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quí mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc và là chỗ dựa tinh thần cho mỗi thành viên
- Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách trẻ em theo những định hướng của xã hội
Quá trình thể hiện các chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, theo hệ thống chương trình, nội dung được tổ chức một cách chặt chẽ, có kế hoạch
Trang 26+ Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách + Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc
và tổ chức chặt chẽ
+ Nhà trường có lực lượng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp
+ Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác dụng tích cực trong quá trình GDĐĐ
1.2.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức và nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
- Mục tiêu giáo dục đạo đức học sinh
Mục tiêu của giáo dục đạo đức là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ của xã hội và phồn vinh của đất nước
+ Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kì mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó, giúp các em hình thành niềm tin đạo đức
+ Về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các qui phạm đạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúc đối với những hiện thực xung quanh, làm cho các em biết yêu, biết ghét và có thái
độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội, có thái độ đúng đắn về hành vi đạo đức của bản thân
Trang 2715
+ Về hành vi: Giúp học sinh có hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức,
có quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực làm điều thiện, tránh điều ác làm tổn thương đến vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội vì mục đích động cơ “ích
kỉ hại nhân”
- Nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh
Nhiệm vụ cơ bản của GDĐĐ cho học sinh nói chung và cho học sinh THPT nói riêng đó là:
+ Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục cho mọi người nhận thức đúng đắn các chuẩn mực đạo đức, những giá trị chân chính của các chuẩn mực đó và có ý chí đạo đức vững vàng
+ Giáo dục tình cảm đạo đức: Là khơi đậy ở người được giáo dục những rung động, những cảm xúc đối với hiện thực xung quanh; biết yêu ghét rõ ràng và
có thái độ đúng đắn với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể
+ Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức: Hình thành cho đối tượng giáo dục có hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực đạo đức trong mỗi cộng đồng, mỗi xã hội, chúng được thể hiện trong các hoạt động hàng ngày, như: trong học tập, trong lao động, trong quan hệ với mọi người và môi trường xung quanh
- Nội dung giáo dục đạo đức
Nội dung giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa bao gồm các phẩm chất đạo đức được thể hiện dưới dạng các biểu hiện về hành vi đạo đức, các khái niệm về các quy tắc đạo đức, các thói quen ứng xử trong các quan hệ đạo đức, Những yếu tố của tri thức, tình cảm và thói quen đạo đức đó được chứa đựng trong nội dung của tất cả các môn học trong nhà trường, trong yêu cầu về nội dung, thái độ của học sinh tham gia các loại hình hoạt động đa dạng trong và ngoài nhà trường, trong giao lưu với tập thể trong nhà trường và ngoài xã hội, nơi học sinh học tập và sinh sống Theo Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá (có thể xác định một cách tương đối) được chia thành 5 nhóm, phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như: có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước
Trang 2816
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc khác: nhân nghĩa, hiếu đễ, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọi người, thuỷ chung, giữ chữ tín
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ đối với công việc đó là: trách nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết
+ Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống (môi trường tự nhiên, môi trường văn hoá - xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo
vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng Mặt khác,
có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người và môi trường sống; bảo vệ hoà bình, bảo vệ và phát huy truyền thống, di sản văn hoá của dân tộc và của nhân loại
Tóm lại, giáo dục đạo đức là trang bị cho đối tượng giáo dục những hiểu biết
và niềm tin về các chuẩn mực và quy tắc đạo đức, giáo dục ý thức về lối sống cá nhân, ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội, ý thức
về cuộc sống lao động sáng tạo, về trách nhiệm trong công việc, về nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc
- Phương pháp giáo dục đạo đức học sinh
Phương pháp giáo dục đạo đức học sinh là cách thức tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Có nhiều phương thức giáo dục đạo đức khác nhau, nhưng có thể tạm phân thành ba nhóm chính:
+ Nhóm phương pháp thuyết phục: là nhóm các phương pháp tác động vào mặt nhận thức và tình cảm của con người nhằm khai sáng cho họ ý thức, thái độ tốt đẹp với cuộc sống Nhóm này bao gồm các phương pháp khuyên giải, tranh luận, nêu gương
+ Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động: đây là nhóm phương pháp đưa con người vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành vi thói quen Nhóm này bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện
Trang 2917
+ Nhóm phương pháp kích thích hành vi: đây là nhóm phương pháp tác động vào mặt tình cảm của đối tượng giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩy tích cực hoạt động, đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận ra và khắc phục những sai lầm Nhóm này gồm các phương pháp khen thưởng, trách phạt thi đua
Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng Nhà giáo dục cần vận dụng linh hoạt các phương pháp đó cho phù hợp với mục đích, với đối tượng giáo dục, với tình huống cụ thể
bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức
và liên quan đến thái độ và cách ứng xử, hành vi đạo đức trong xã hội Các môn khoa học tự nhiên cũng góp phần giáo dục đạo đức Nó có tác dụng giúp người học hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Con đường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân quả và ý thức nâng cao kiến thức xã hội… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, Giáo dục Quốc phòng…tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiên cường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân
+ Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các hoạt động đoàn thể và hoạt động xã hội Dựa vào đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt động, năng động và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức các hoạt động theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh để lôi cuốn họ tham gia, thông qua đó giáo dục đạo đức cho học sinh Các hoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các câu lạc bộ … Mỗi tổ chức đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 3018
+ Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua con đường tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh Mỗi học sinh từ chỗ là đối tượng của quá trình giáo dục đạo đức sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục đạo đức Đặc biệt đối với học sinh THPT, ở các em đã có những hiểu biết nhất định về những kiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con ng ười với con người thì nhà giáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính
+ Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua sự gương mẫu của người thầy Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tập thể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày và những ứng xử trong các tình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục đạo đức cho học sinh thiết thực nhất Chính
vì vậy, mỗi thầy giáo, cô giáo phải thực sự là một tấm gương sáng về đạo đức cho học sinh noi theo như Bác Hồ đã căn dặn
Các hình thức giáo dục trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sự phối hợp hài hoà Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm vụ của mình Trong đó, giáo dục cho học sinh tự giác thực hiện việc tự giáo dục là hình thức cơ bản Có như vậy những mục tiêu của giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng mới đạt kết quả cao
- Nguyên tắc giáo dục đạo đức
Một trong những yếu tố quan trọng để hoạt động giáo dục đạo đức có thể đạt hiệu quả cao là phải đảm bảo các nguyên tắc giáo dục đạo đức, đó là:
+ Phải bảo đảm tính mục đích, tính thống nhất trong toàn bộ hoạt động giáo dục;
+ Phải thông qua hoạt động thực tiễn;
+ Phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính và đặc điểm riêng của từng học sinh; + Phải phát huy tính tích cực, sáng tạo, khắc phục thiếu sót, nhược điểm; + Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể;
+ Giáo dục gắn với đời sống xã hội, thực tiễn của đất nước và địa phương; + Tôn trọng nhân cách và yêu cầu cao đối với học sinh;
+ Liên kết nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục học sinh
Trang 3119
1.3 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục học sinh
1.3.1.1 Vai trò, đặc điểm của giáo dục nhà trường
Nhà trường là cơ sở thực tế diễn ra các hoạt động giáo dục giữa giáo viên và hoạt động học tập của học sinh dưới sự quản lý của hiệu trưởng cùng với sự cộng tác của gia đình và xã hội Nhà trường trung học phổ thông là một cơ sở nằm trong
hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường luôn được gắn liền không thể tách rời hệ thống giáo dục và chịu sự quản lý của ngành giáo dục Nhà trường, bản thân nó cũng là một hệ thống, trong hệ thống này có ba thành phần chính: con người, các tổ chức chính trị, những phương tiện vật chất kĩ thuật
Đặc trưng của giáo dục nhà trường bao gồm: nhà trường là một thiết chế xã hội, có kỉ luật chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn; là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục học sinh một cách toàn diện theo các nội dung giáo dục: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động hướng nghiệp Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình
độ chuyên môn cao, có nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh; là nơi tổ chức các hoạt động học tập, rèn luyện và giáo dục học sinh một cách có tổ chức, có kế hoạch, căn cứ vào các mục tiêu giáo dục cụ thể được Nhà nước quy định Nhà trường phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Nhà trường là nơi đề ra nội dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáo dục học sinh Môi trường giáo dục của nhà trường trong chừng mực nhất định tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển tinh thần tập thể, tinh thần
kỷ luật, trách nhiệm đối với bản thân và với mọi người
Qua đó, ta thấy những mặt mạnh của giáo dục nhà trường đó là: tính mục đích mang tính xã hội cao được quán triệt trong suốt quá trình giáo dục, hệ thống tri thức, kỹ năng, nhất là phương pháp tư duy mang tính hệ thống cơ bản và có thể mở rộng, hệ thống phương pháp, phương tiện khoa học tạo cơ sở cho sự trưởng thành của học sinh, sự lập nghiệp và thành đạt cả đời người
Trang 3220
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh đó nhà trường cũng có những hạn chế là: một số nhà trường chỉ chú ý nhiều đến việc cung cấp kiến thức, chưa thường xuyên giáo dục đạo đức, nhất là trong quan hệ đối xử với gia đình, bạn bè, với người lớn tuổi Giáo dục nhà trường thường chú ý, quan tâm tình hình chung của học sinh nên chưa quan tâm và chưa đủ điều kiện quan tâm đúng mức đến giáo dục
cá biệt Giáo dục nhà trường nặng về lý thuyết, truyền đạt một chiều, chưa phát huy được tính chủ động của học sinh, quan hệ thầy trò chủ yếu trong giờ học, việc giúp
đỡ, trao đổi, chuyện trò với học sinh ngoài giờ còn hạn chế
1.3.1.2 Vị trí, mục tiêu của trường trung học phổ thông
Trường trung học phổ thông là một loại hình trường học nằm trong tổng thể các loại hình trường lớp trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta Trung học phổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông học sinh có thể thi vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động
Mục tiêu của trường Trung học phổ thông: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ
sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” [33] Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, bởi vì những nội dung, kiến thức ở bậc trung học
cơ sở chưa được đầy đủ và vững chắc, để giúp học sinh có thể tự giải quyết các vấn
đề ở mức độ phổ thông Mặt khác lứa tuổi trung học cơ sở chưa được phát triển đầy
đủ về mặt thể chất và tâm lý Vì vậy ở cấp học trung học phổ thông nhà trường phải hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông giúp cho các em có năng lực, kiến thức cơ bản để bước vào đời hay tiếp tục học lên các bậc học cao hơn Ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện và hướng nghiệp còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh
1.3.1.3 Lực lượng tham gia giáo dục học sinh trong trường trung học phổ thông
Lực lượng tham gia giáo dục học sinh trong trường trung học phổ thông bao gồm:
Trang 3321
- Cán bộ quản lý (Ban giám hiệu)
+ Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường chịu trách nhiệm quản lý các
hoạt động của nhà trường, do cơ quan Nnước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: tổ chức bộ máy nhà trường; xây dựng kế hoạch và tổ chức nhiệm vụ năm học; quản lý giáo viên, nhân viên học sinh; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra đánh giá, việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên; quản lý tổ chức giáo dục học sinh; quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường; thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành
+ Phó hiệu trưởng thực hiện và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về nhiệm
vụ được hiệu trưởng phân công; cùng với hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về phần việc được giao; thay mặt hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhà trường khi được ủy quyền; được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành
- Giáo viên bộ môn
Giáo viên bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm; kiểm tra đánh giá theo qui định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ; lên lớp đúng giờ; không tùy tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; tham gia công tác giáo dục trung học cơ sở ở địa phương; rèn luyện đạo đức học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn
và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy và giáo dục; thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh; đối xử công bằng với học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Trang 3422
- Giáo viên chủ nhiệm lớp
Giáo viên chủ nhiệm lớp có các nhiệm vụ như giáo viên bộ môn, ngoài ra còn có nhiệm vụ sau đây: tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để
có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp; cộng tác chặt chẽ với phụ huynh học sinh; chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh; nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối học kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề xuất danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải thi lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh; báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp với hiệu trưởng Bên cạnh các nhiệm vụ trên giáo viên chủ nhiệm lớp còn có những quyền hạn như: được dự các giờ học, các hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình; được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khi các hội đồng này giải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình; được
dự các lớp bồi dưỡng, các hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm; được quyền cho phép cá nhân học sinh nghỉ học không quá 3 ngày, nếu có lý do chính đáng
- Tổ chức Đảng và các đoàn thể trong trường trung học
+ Tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam trong trường trung học lãnh đạo nhà trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
+ Các đoàn thể (tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ) trong trường trung học hoạt động theo qui định của pháp luật nhằm giúp nhà trường thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
- Các lực lượng giáo dục khác: cán bộ công nhân viên… là những người hỗ
trợ đắc lực cho hoạt động giáo dục của nhà trường
1.3.1.4 Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Học sinh trung học phổ thông bao gồm các em ở độ tuổi 15 đến 18 là độ tuổi đầu của tuổi thanh niên, có những đặc điểm:
- Đặc điểm thể chất
Các em đã có sự trưởng thành về mặt cơ thể Tuy sự khác biệt cơ thể giữa thanh niên mới lớn và người lớn không đáng kể, nhưng sự phát triển thể lực của các
Trang 3523
em còn kém so với người lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối
êm ả về mặt sinh lý, được thể hiện ở các đặc điểm: sự phát triển của hệ xương được hoàn thiện, những cơ bắp tiếp tục phát triển, nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp…, của võ bán cầu đại não trong quá trình học tập và lao động Đa số các
em đã qua thời kỳ phát dục, hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường, sự không cân đối giữa trạng thái của các mạch máu với hoạt động của tim cũng mất dần Ở tuổi thanh niên vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự thể hiện của nó nói chung giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên, ở tuổi thanh niên, tính dễ bị kích thích không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý (như ở tuổi thiếu niên), mà còn do cách sống của cá nhân ở độ tuổi này
Nhìn chung, đây là lứa tuổi các em có sự phát triển cân đối, khỏe, đẹp, đa số các em có thể đạt những khả năng thành tích về cơ thể như người lớn
- Đặc điểm nhân cách
+ Sự phát triển của tự ý thức
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi thanh niên Quá trình này rất phong phú và phức tạp, nhưng vẫn có thể nêu lên một
số đặc điểm cơ bản: nhu cầu tự ý thức của các em được phát triển mạnh mẽ, các em chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh về thân thể mình là thành tố quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn Sự hình thành tự ý thức là một quá trình lâu dài và trải qua những mức độ khác nhau, quá trình phát triển tự ý thức diễn
ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão của mình Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, nội dung của tự ý thức khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình như thiếu niên, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội trong tương lai Thanh niên không chỉ đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính
Trang 3624
riêng biệt, mà biết đánh giá nhân cách mình nói chung trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự giáo dục ở thanh niên học sinh cũng được phát triển Tự giáo dục của các em không chỉ hướng vào việc khắc phục một số thiếu sót trong hành vi hay phát huy những nét tốt nào
đó, mà còn hướng vào việc hình thành nhân cách nói chung phù hợp với quan điểm khái quát đang được hình thành ở các em Các em cũng có thể chưa thật có lòng tin vào tự giáo dục hoặc chưa thành công trong tự giáo dục Nhưng vấn đề là tự giáo dục của học sinh trung học phổ thông thật sự cần thiết cho sự phát triển ở chính các em; nó khiến cho vị trí của các em thay đổi Học sinh từ chỗ là đối tượng của giáo dục thì dần dần đến giai đoạn này các em đã trở thành vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của giáo dục
+ Sự hình thành thế giới quan
Tuổi đầu thanh niên là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan Ở tuổi này, những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây dựng một hệ thống quan điểm riêng đã được hình thành và đang chín mùi Những cơ sở của thế giới quan được hình thành rất sớm ngay từ khi còn nhỏ Suốt thời gian học tập ở phổ thông học sinh được lĩnh hội những tri thức khoa học, những chuẫn mực, thói quen đạo đức, cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác…, dần dần những điều đó được ý thức và được quy vào hình thức, các tiêu chuẩn nguyên tác hành vi đó vào một hệ thống hoàn chỉnh Sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích cực nhận thức Các em cố gắng xây dựng những quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội, tư tưởng chính trị, đạo đức Chính nội dung các môn học ở trung học phổ thông giúp các em xây dựng thế giới quan tích cực về tự nhiên xã hội Nhìn chung học sinh trung học phổ thông có khuynh hướng sống một cuộc sống tích cực vì xã hội, muốn mang lại lợi ích cho người khác, quan tâm đến đời sống tinh thần nhiều hơn là phúc lợi vật chất Tuy vậy, một bộ phận thanh niên ngày nay chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, thế giới quan của họ còn chịu ảnh hưởng của những tiêu cực, sống không lành mạnh, đánh giá quá cao về cuộc sống hưởng thụ, hoặc một bộ phận khác lại chưa chú ý đến xây dựng thế giới quan, sống thụ động, ít trách nhiệm
+ Giao tiếp và đời sống tình cảm
Trang 3725
Tuổi học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi là cảm thấy mình cần của nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm Trong các lớp học dần dần xảy ra một sự “phân cực” nhất định, xuất hiện những người được lòng nhất (được nhiều người chọn lựa nhất) và những người ít được lòng nhất Những em
có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ nhiều về nhân cách của mình Ở tuổi này, quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn Điều này do lòng khao khát muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Cùng với sự trưởng thành nhiều mặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan
về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
Đời sống tình cảm của học sinh phổ thông rất phong phú, nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Tình bạn ở các em trở nên sâu sắc hơn, các em có nhu cầu cao đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởng nhau) tình cảm có nội dung hơn, bao gồm những phạm vi hứng thú và hoạt động rộng rãi Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy cảm hơn, không chỉ có khả năng xúc cảm thân tình, mà còn phải có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác (đồng cảm) Tình bạn của các em mang màu sắc xúc cảm nhiều hơn, rất bền vững Các em thường lý tưởng hóa tình bạn, nghĩ về bạn thường giống với điều mình mong muốn ở bạn hơn là thực tế Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến các em ít nhận thấy những đặc điểm thực tế ở bạn Một số các em ở lứa tuổi này có
sự xuất hiện tình yêu Tình yêu này thường trong trắng, tươi sáng hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành Tuy vậy, tình yêu mới nảy sinh này cũng có thể phát
Trang 3826
triển không bình thường khiến các em có thể bị phân tán quá mức, sao nhãng việc học tập
- Đặc điểm xã hội
Hoạt động của học sinh ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò xã hội
và hứng thú xã hội của các em không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi về chất lượng Ở các em ngày càng xuất hiện nhiều các vai trò của người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần trách nhiệm hơn
Ở gia đình, thanh niên đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề trong gia đình Về phía mình, các em cũng biết quan tâm một cách thực sự đến nhiều mặt sinh hoạt trong gia đình
Ở tuổi học sinh trung học phổ thông các em có thểtham gia vào các tổ chức đoàn thể, nhiều em đã bắt đầu lao động, các em đều có sự suy nghĩ về việc chọn nghề khi đứng trước quyết định đường đời của mình
1.3.2 Gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn Ngữ - 1992, “Gia đình là một tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [40, tr 409]
1.3.2.1 Vai trò và đặc điểm của giáo dục gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội hết sức quan trọng, một đơn vị kinh tế, một đơn vị cơ sở, đồng thời là một nhóm tâm lý đặc thù Đó là nhân tố tích cực thúc đẩy
sự phát triển của xã hội và sự hoàn thiện của cá nhân, thông qua việc thực hiện các chức năng quan trọng Một trong những chức năng hết sức quan trọng của gia đình
là giáo dục con cái Đây là sự đóng góp của gia đình vào sự phát triển của giáo dục nói riêng, sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung
Giáo dục gia đình có những đặc trưng như: giáo dục gia đình là giáo dục của cha mẹ với con em mình, nhằm hình thành cho họ những năng lực, phẩm chất nhân cách Quá trình giáo dục gia đình có thể thường xuyên liên tục, có được tổ chức một cách có khoa học hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm, trình độ hiểu biết, khả năng, kinh nghiệm hoàn cảnh,… của gia đình Giáo dục gia đình là cơ
Trang 3927
sở giáo dục đầu tiên, lâu dài và toàn diện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của mỗi học sinh Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ rệt, dựa trên cơ sở của cuộc sống tự nhiên, cởi mở trong gia đình Mỗi cá nhân sống trong gia đình thường
là thời gian lâu dài, nên rất thuận lợi và có hiệu quả trong việc giáo dục từ gia đình Gia đình giáo dục con em mình từ mọi khía cạnh của cuộc sống và trong các mối quan hệ vô cùng phong phú Cơ sở vật chất, trình độ văn hóa, sự hiểu biết của cha
mẹ, nề nếp, truyền thống của gia đình, quan hệ ông bà, cha mẹ và con cái…có tác động lớn đến quá trình học tập của con cái Ở gia đình trẻ được tiếp thu sự giáo dục của gia đình từ lúc còn thơ ấu, thời gian sống ở gia đình của trẻ là nhiều nhất cho đến tuổi trưởng thành, trẻ được tiếp thu những hành vi, ứng xử của các thành viên trong gia đình, trẻ có được những tình cảm mang tính huyết thống, tính sâu sắc Đó
là phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ Tuy nhiên, chính tình cảm này cũng làm cho giáo dục gia đình đôi khi thiếu nghiêm khắc, có khi làm cho trẻ không ngoan…
Động cơ thúc đẩy cha mẹ và các thành phần khác trong gia đình thực hiện nhiệm vụ giáo dục con cái không phải chỉ do trách nhiệm trước pháp luật mà còn xuất phát từ lòng yêu thương con em mình, luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừng mực có thể để con em mình được học tập và rèn luyện để trở thành người tốt, có ích cho xã hội Vì vậy, mặt mạnh của giáo dục gia đình là mang tính xúc cảm, tình cảm nên có khả năng cảm hóa rất lớn
1.3.2.2 Nhiệm vụ của giáo dục gia đình
So với giáo dục nhà trường nhiệm vụ của giáo dục gia đình cũng theo mục đích giáo dục toàn diện, nhằm thực hiện 5 nhiệm vụ:
- Giáo dục trí tuệ: giáo dục gia đình làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ của trẻ
từ mới lọt lòng, việc giúp trẻ quan sát đồvật xung quanh, tập nói, cho đến những kỹ năng sinh hoạt, lao động hàng ngày ở gia đình trong quá trình trẻ lớn lên là nhiệm
vụ hết sức cần thiết của gia đình Khi đến tuổi đi học gia đình có nhiệm vụ hướng dẫn trẻ thực hiện góc học tập, tổ chức học tập một cách khoa học, phân bố thời gian học tập là điều kiện để giáo dục trí tuệ
- Giáo dục đạo đức: gia đình đã thực hiện giáo dục đạo đức cho trẻ từ rất sớm Nhân dân ta có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, nhiệm vụ giáo dục đạo đức ở
Trang 40- Giáo dục thể chất ở mỗi gia đình việc đầu tiên là nuôi con khỏe, giúp cho trẻ nhận thức việc giữ gìn và bảo vệ sức khỏe trong học tập và trong lao động khi lớn lên
- Giáo dục lao động - hướng nghiệp: gia đình tùy theo điều kiện, hoàn cảnh
mà giúp trẻ có những lao động phù hợp với lứa tuổi, giáo dục cho con em hiểu được
ý nghĩa của lao động, tôn trọng lao động và hướng tới nghề nghiệp cho tương lai sau này
1.3.3 Xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách cá nhân bị chi phối và ảnh hưởng bởi các điều kiện khách quan và các yếu tố chủ quan như bẩm sinh - di truyền, môi trường, giáo dục, tự giáo dục và hoạt động của cá nhân Trong đó, các yếu tố sinh học là tiền đề, môi trường là điều kiện, giáo dục giữ vai trò chủ đạo và hoạt động của cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự phát triển nhân cách
Môi trường xã hội bao gồm: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Môi trường vĩ mô được coi là nguyên nhân chung của tính quyết định xã hội, còn môi trường vi mô là những hoàn cảnh xã hội trực tiếp, mang tính đặc thù của tính quyết định xã hội Đó có thể là hệ thống giáo dục địa phương, là nhà trường, gia đình Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội (trong đó có gia đình, nhà trường, bạn bè, ) có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất của con người không thể phát triển được
Như vậy, có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình lâu dài và phức tạp Trong quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, giữa cái sinh học và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người Trong quá trình sống, con người có được những kinh nghiệm sống, niềm tin, thói quen và ngược lại, khi tiếp nhận bất cứ việc gì, nhân cách cũng dựa trên chuẩn mực xã hội