Lý do chọn đề tài luận văn Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Ngân hàng Phục vụ ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là do tự bản thân thực hiện và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Học viên
Trần Thị Thu Nga
Trang 3Tiếp đến, tôi gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo và tập thể cán bộ nhân viên Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết làm cơ sở cho việc thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo, Khoa Sau Đại học
và Khoa Quản lý Tài chính công - Học viện Hành chính Quốc gia đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Học viên
Trần Thị Thu Nga
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài luận văn 1
Tình hình nghiên cứu đề tài 2
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 4
Những đóng góp mới của luận văn 5
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5
Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 7
1.1 Tổng quan NHCSXH và hoạt động quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội 7
1.1.1 Một số khái niệm 7
1.1.2 Vai trò của Ngân hàng chính sách 11
1.1.3 Đặc điểm tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội 14
1.2 Nội dung quản lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội 15
1.2.1 Nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu 15
1.2.2 Nội dung quản lý nợ xấu 17
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý nợ xấu 24
Trang 51.3 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu của Ngân hàng một số nước và bài học
cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch 28
1.3.1 Ngân hàng Grameen (GB) - Bangladesh 28
1.3.2 Kinh nghiệm của ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan 29
1.3.3 Kinh nghiệm của Ngân hàng nông nghiệp Malaysia 30
1.3.4 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch 30
Tóm tắt chương 1: 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 34
2.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2 Mô hình tổ chức và tình hình lao động 35
2.1.3 Kết quả hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 36
2.2 Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình 40
2.2.1 Thực trạng nợ xấu của Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 40
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 49
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch 58
2.3.1 Những kết quả đạt được 58
2.3.2 Những hạn chế 63
2.3.3 Nguyên nhân 67
Tóm tắt chương 2: 71
Trang 6Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 72
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 72
3.1.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 72
3.1.2 Phương hướng của Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về quản lý nợ xấu 73
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình 75
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 75
3.2.2 Nhóm giải pháp nghiệp vụ 81
3.2.3 Nhóm giải pháp điều kiện 87
3.3 Kiến nghị 90
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 90
3.3.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương 93
Tóm tắt chương 3: 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CB : Chiến binh ĐTN : Đoàn thanh niên GQVL : Giải quyết việc làm HĐND : Hội đồng nhân dân HĐQT : Hội đồng quản trị HSSV : Học sinh sinh viên LHPN : Liên hiệp phụ nữ NHCSXH : Ngân hàng Chính sách Xã hội NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng Thương mại NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn NSVSMT : Nước sạch vệ sinh môi trường
PGD : Phòng giao dịch PTNT : Phát triển nông thôn RRTD : Rủi ro tín dụng SXKD : Sản xuất kinh doanh TCTD : Tổ chức tín dụng TK&VV : Tiết kiệm và vay vốn UBND : Ủy ban nhân dân XĐGN : Xóa đói giảm nghèo XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu trong hoạt động của NHCSXH huyện Quảng Trạch 2014-2016 36 Bảng 2.2 Nguồn vốn huy động tại NHCSXH huyện Quảng Trạch 2014-2016 37 Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu hoạt động tín dụng tại NHCSXH huyện Quảng Trạch 2014-2016 38 Bảng 2.4 : Tình hình dư nợ, nợ xấu theo từng chương trình cho vay năm 2014-2016 42 Bảng 2.5: Nợ xấu theo nhóm của Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch năm
2014 – 2016 43 Bảng 2.6: Nợ xấu theo thời hạn vay của Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch 2014 – 2016 45 Bảng 2.7: Nợ xấu theo nguyên nhân của Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch 2014 – 2016 46 Bảng 2.8: Nợ xấu theo từng Hội đoàn thể ủy thác của Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch 2014 – 2016 48
Trang 92014 – 2016 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo Đây là sự nỗ lức rất lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và cam kết trước cộng đồng quốc tế về “xóa đói giảm nghèo”
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng, phản ánh hoạt động đặt trưng của Ngân hàng, mang lại thu nhập lớn nhất song cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có vấn đề nợ xấu Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì “nợ xấu” là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc tẩu tán tài sản Do vậy, quản lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu có nguy cơ phát sinh và xử lý nợ xấu đã phát sinh là một yêu cầu cấp thiết, có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý của Ngân hàng
Quản lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý như thế nào khi đã có nợ xấu
mà còn là quá trình dự báo trước tình hình nợ xấu, xây dựng chiến lược quản
lý, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững
Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Để thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã tập trung mọi nguồn lực nhằm chuyển tải nguồn vốn ưu đãi của Nhà nước đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác Mặc dù
có những khó khăn nhất định nhưng tập thể cán bộ, lãnh đạo Ngân hàng
Trang 11CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã quyết tâm phấn đấu không ngừng, tập trung sức mạnh trí tuệ xây dựng một khối đoàn kết thống nhất vượt qua những khó khăn trước mắt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong các năm qua và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong việc thực hiện chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác qua hơn 10 năm thành lập và đi vào hoạt động Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã giảm từ 0,41 năm
2014 xuống còn 0,14 năm 2016
Việc xây dựng hệ thống quản lý nợ xấu có vai trò hết sức quan trọng đối với họat động của NHCSXH nói chung cũng như NHCSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng, nhằm tạo ra sự tăng trưởng tín dụng một cách ổn định, bền vững
Bên cạnh những thành tích đã đạt được vấn đề Quản lý nợ xấu tại NHCSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình còn có những hạn chế sau đây: Nợ rủi ro còn tiềm ẩn lớn và có xu hướng gia tăng, việc xử lý nợ xấu, thu hồi nợ gốc và lãi gặp không ít khó khăn, nguy cơ phát sinh nợ quá hạn vẫn cao, phân tích đánh giá nợ xấu còn nhiều bất cập; hoạt động tín dụng vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro cần có biện pháp hạn chế, ngăn ngừa
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”
làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng với mong muốn những kiến thức có được trong quá trình nghiên cứu và thực tế công tác tại NHCSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình sẽ có ích khi đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc quản trị nợ xấu tại đơn vị Trong luận văn tác giả đưa ra hệ thống giải pháp mang tính khả thi, làm cơ sở để quản lý tốt chất lượng tín dụng của NHCSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch ra đời muộn so với một số Ngân hàng thương mại lớn và hoạt động đặc thù riêng so với các Ngân
Trang 12hàng khác nên số lượng nghiên cứu về hoạt động tín dụng của Phòng giao dịch nói chung còn ít Tên một số đề tài mà tác giả được biết và tham khảo qua như sau:
- Trần Thanh Ngọc Huyền, “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng chương trình cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2015
- Nguyễn Thị Hà Thương, “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách
xã hội huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạc sỹ Tài chính Ngân hàng, Học viện Hành chính Quốc Gia, năm 2014
- Nguyễn Ngọc Tuấn, “Một số giải pháp hạn chế nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Kom Tum”, Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, Đà Nẵng, năm 2011
- Nguyễn Thị Thanh Hà, “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạch sỹ Tài chính Ngân hàng, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016
Các luận văn trên cũng đã có viết về một số nội dung về tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội, về nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nhưng chưa có đề tài nào viết về công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Vì vậy tác giả chọn
đề tài này là không trùng lắp và là công trình khoa học độc lập của tác giả
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3 1 Mục đích
Luận văn căn cứ vào những cơ sở khoa học về quản lý nợ xấu để tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nợ xấu tại NHCSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình và đề xuất ra những giải pháp nhằm có
ý nghĩa thực tiễn và khoa học nhất định
Trang 133.2 Nhiệm vụ
Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản như sau đây:
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vấn đề quản
lý nợ xấu, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, các biện pháp xử lý nợ xấu
- Phân tích, đánh giá thực trạng, cách thức quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản của hoạt động quản lý
nợ xấu tại Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến nợ xấu và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội
+ Về mặt thực tiễn: Tình hình quản lý nợ xấu tại NHCSXH huyện Quảng Trạch tỉnh, Quảng Bình, kết quả đạt được và những giải pháp nhằm quản lý tốt nợ xấu tại đơn vị
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Tại NHCSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình + Thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn được dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin
- Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn tác giả sử dụng các phương
pháp nghiên cứu mang tính định tính như sau: So sánh; Loại trừ; Thống kê; Phân tích
Tất cả các phương pháp nghiên cứu, đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm làm sáng tỏ và giải quyết các vấn đề đặt ra, đưa ra các căn cứ, số liệu minh họa cho các luận điểm, đồng thời góp phần vào dự đoán cho giai đoạn tiếp theo
Tác giả cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
Trang 14liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn có sử dụng các công trình đã công bố trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
6 Những đóng góp mới của luận văn
Dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng tác giả đưa ra được các giải pháp có khuynh hướng khả thi đối với vấn đề quản lý nợ xấu tại NHCSXH huyện Quảng Trạch tỉnh, Quảng Bình
Nâng cao nhận thức và hiểu biết về tầm quan trọng của công tác quản
lý nợ xấu tại Ngân hàng Chính sách xã hội nói chung và Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng
Đề tài còn để Ngân hàng Chính sách xã hội huyện có cái nhìn trực diện và bao quát về quản lý nợ xấu Những kết quả đã đạt được cũng như những yếu kém trong công tác quản lý nợ xấu để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp
Định hướng Ngân hàng Chính sách xã hội huyện theo hướng quản lý
nợ xấu hiệu quả, ngày cao nâng cao chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về hoạt
động tín dụng của NHCSXH và quản lý nợ xấu tại Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch
Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nợ xấu tại PGD
NHCSXH huyện từ năm 2014 đến nay, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm các nước và địa phương khác, chỉ ra những bất cập cần xử lý Nâng cao nhận thức hiểu biết về tầm quan trọng của công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng CSXH nói chung và Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Bình nói riêng
Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của công tác quản lý nợ xấu tại PGD NCHSXH huyện
Trang 158 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nợ xấu của Ngân hàng Chính
sách xã hội
Chương 2: Thực trạng quản lý nợ xấu tại Ngân hàng CSXH huyện
Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nợ
xấu tại Ngân hàng CSXH huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Trang 161.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng chính sách
Ngân hàng thương mại ra đời, tồn tại và phát triển với mục đích huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay trên nguyên tắc bù đắp chi phí hoạt động và có lãi Bởi vì là một hoạt động kiếm lời, nên NHTM có những quy định để bảo vệ lợi ích kinh tế cho mình, dẫn đến không phải ai cần vốn cũng đều được NHTM cho vay, đặc biệt là những người nghèo, những người không đủ điều kiện tín dụng đảm bảo Vì thế người nghèo luôn phải sống trong vòng lẩn quẩn “thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp, thu nhập thấp hơn” Theo thống kê của Liên hiệp quốc (LHQ), một nữa dân số thế giới sống với mức thu nhập dưới 2USD/ngày, trong đó có khoảng 1,2 tỉ người đang phải sống trong cảnh nghèo đói Điều đó cho thấy nghèo đói luôn là vấn nạn lớn của toàn cầu, và mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội luôn là mục tiêu hàng đầu mà các quốc gia muốn thực hiện Từ những nhu cầu khách quan đó, vào những năm 70, các nước trên thế giới đã bắt đầu nảy
ra một ý tưởng về một mô hình tín dụng cung cấp vốn cho người nghèo Tuỳ vào lịch sử hình thành và mục đích hoạt động, mà ở mỗi quốc gia có những cách gọi khác nhau cho loại hình tín dụng này Nhưng ta có thể hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất, đó là các ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng với hoạt động chủ yếu là phục vụ người nghèo và các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội đặc biệt của mỗi quốc gia [30]
Trang 17Mục tiêu chính của các NHCSXH không phải là lợi nhuận trong kinh doanh mà là hỗ trợ tối đa về vốn cho các đối tượng trên Chính vì thế, NHCSXH không phải là một NHTM và không đáp ứng các tiêu chí về kinh doanh thương mại
Dựa vào tính chất của đối tượng vay, hoạt động cho vay của NHCSXH
có thể phân thành 3 loại:
- Cho vay xoá đói giảm nghèo
- Cho vay hỗ trợ các chính sách xã hội, giáo dục, y tế
- Cho vay các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hoặc không đủ điều kiện vay thông thường hoặc với các điều kiện ưu đãi
Còn dựa vào nguồn gốc thành lập, NHCSXH được chia làm 2 loại: sở hữu tư nhân do tư nhân thành lập, kiểm sát và hoạt động; sở hữu nhà nước do nhà nước thành lập, kiểm sát và hoạt động Từ chỗ nguồn gốc thành lập, mà các hoạt động cho vay của các NHCSXH cũng bị ảnh hưởng nhiều
1.1.1.2 Khái niệm về nợ xấu
Theo Ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu, Nợ xấu trong các
ngân hàng bao gồm:
* Nợ không thể thu hồi được:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn
cứ đòi bồi thường từ nợ
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ
- Những khoản nợ mà Ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh
lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ
* Nợ có thể thu không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ Người mắc nợ không liên lạc với Ngân hàng để trả lãi hoặc
Trang 18gốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy đủ như:
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn
- Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc
Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ
Nợ xấu theo quan điểm của Ngân hàng Chính sách Xã hội
Theo quan điểm của Chính phủ và NHCSXH các khoản nợ xấu phát sinh trong quá trình hoạt động của NHCSXH bao gồm: Các khoản nợ tồn đọng, không có khả năng thu hồi của 3 chương trình tín dụng mà Ngân hàng Chính sách xã hội đã nhận bàn giao nguyên trạng từ năm 2003 từ Kho bạc Nhà nước (cho vay giải quyết việc làm), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (cho vay học sinh sinh viên), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (cho vay hộ nghèo) và các khoản nợ xấu phát sinh trong quá trình hoạt động của NHCSXH, các khoản nợ đã được khoanh nợ
Trang 19Nợ xấu theo quan điểm của NHCSXH thực chất là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn hoặc không trả nợ như đã cam kết dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng
- Các khoản nợ qua phát sinh trong quá trình hoạt động của NHCSXH
- Các khoản nợ đã được khoanh nợ
Nợ xấu nói chung được xem như một dấu hiệu của vấn đề rủi ro tiềm
ẩn Tuy nhiên, thực tế một khoản nợ xấu thì cho biết rất ít vấn đề, để xác định bản chất vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó Nếu khoản
nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước được trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng
Như vậy, có thể thấy bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, trước hết vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng
là tính thời hạn, sau nữa nó vi phạm đến đặc trưng thứ hai là tính hoàn trả đầy
đủ, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng
1.1.3.3 Quản lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách Xã hội
Theo quan niệm cũ: Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi
các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh từ đó làm tăng doanh thu, giảm chi phí nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Theo quan niệm mới: Quản lý nợ xấu không chỉ là việc xử lý như thế
nào khi đã có nợ xấu phát sinh mà nó bao gồm cả quá trình dự báo trước tình hình nợ xấu có thể xảy ra và việc xây dựng, thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được các mục
Trang 20tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản Nợ xấu đã phát sinh nhằm phù hợp đối với mục tiêu trong từng giai đoạn của mỗi ngân hàng
Quản lý nợ xấu chính là góp phần đáng kể vào mục tiêu ổn định và phát triển của nền kinh tế - xã hội của đất nước Vì nợ xấu phát sinh là do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn
bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
Nợ xấu tuỳ theo tính chất và mức độ, không chỉ ảnh hưởng tới Ngân hàng mà còn cả tới các doanh nghiệp, các cá nhân liên quan và toàn bộ nền kinh tế Trên giác độ vĩ mô, nợ xấu làm giảm tính tích cực của tín dụng đối với nền kinh tế, cản trở các ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian tín dụng, cung cấp vốn cho nền kinh tế Việc điều tiết vĩ mô kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng cũng trở nên kém hiệu quả
Ở mức độ trầm trọng, nợ xấu không chỉ gây mất vốn, mất khả năng thanh toán dẫn tới sự sụp đổ không chỉ của một Ngân hàng mà còn kéo theo ảnh hưởng dây chuyền làm chao đảo toàn bộ hệ thống Ngân hàng Điều đó gây rối loạn lưu thông tiền tệ trong nước, gây đình trệ sản xuất và khủng hoảng kinh tế
1.1.2 Vai trò của Ngân hàng chính sách
Ngân hàng Chính sách xã hội đóng vai trò không thể thay thế trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, do mỗi ngân hàng thương mại trong nước đều
có tính đặc thù và lĩnh vực hoạt động riêng, nên không thể tập trung vào đối tượng người nghèo và hộ cận nghèo
Việc thành lập NHCSXH nhằm khắc phục những hạn chế trước đây do việc hình thành các nguồn vốn cho vay chính sách nằm rải rác ở nhiều tổ chức tài chính, với cơ chế quản lý khác nhau đã gây nhiều trở ngại cho quá trình kiểm soát của Nhà nước, không tách được tín dụng chính sách với tín dụng
Trang 21thương mại NHCSXH sẽ tập trung vào hoạt động cho vay đối với người nghèo để phát triển sản xuất, kinh doanh và từng bước thoát nghèo, cho các đối tượng học sinh, sinh viên vay vốn; cho các đối tượng vay vốn để giải quyết việc làm, cho vay hỗ trợ nhà ở và cải thiện các hoạt động an sinh xã hội
Chính vì vậy mà NHCSXH có vai trò chủ đạo trong công cuộc xóa đói giảm nghèo được thể hiện ở những khía cạnh sau:
NHCSXH phát huy sức mạnh tổng hợp, khai thác được tiềm năng tó lớn về trí tuệ, sức của, sức người của toàn xã hội phục vụ cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo: là sự kết hợp giữa chính sách của chính phủ; kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi của chính quyền địa phương và nỗ lực thoát nghèo của người dân tạo lên sự đồng thuận mạnh mẽ vì mục tiêu chung Khoản vay cho hộ nghèo là một hình thức thông qua đó mà tổ chức chính trị cùng toàn thể xã hội giúp về vốn và cách sử dụng vốn để hộ nghèo có thêm động lực vươn lên để
có thể thoát nghèo
NHCSXH là một kênh dẫn vốn tin cậy chuyên trách phục vụ người nghèo: NHCS với mục đích tạo được một kênh dẫn vốn tin cậy cho người nghèo nguồn vốn ưu đãi trực tiếp, kịp thời đi đến với người dân cần vốn mang lại sự an tâm hơn cho người vay vốn trong quá trình sử dụng vốn Chính phủ giao hoàn toàn trách nhiệm cho ngân hàng chính sách thực hiện và có sự giám sát của các
tổ chức hội , đoàn thực hiện vay phục vụ nhu cầu về vốn của hộ nghèo
NHCSXH sẽ góp phần ngăn chặn được tệ nạn tham nhũng, cửa quyền của bên cho vay và bên sử dụng vốn vay: Trong quá trình cho vay hộ ngheo, việc thẩm định cấp vốn và sử dụng vốn của người dân đều được các tổ chức, hội thực hiện kết hợp với sự giám sát của ngân hàng nên hoàn toàn dân chủ và công khai Cho vay hộ nghèo khác với hoạt động cho vay thông thường phụ thuộc nhiều vào đạo đức của cán bộ thẩm định dễ gây ra hiện tượng tham nhũng, quan liêu gây khó khăn cho người cần vay vốn, thông qua các tổ chức cho vay hộ nghèo đã hạn chế được điều này
Trang 22Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế: khoản thu nhập của người vay vốn không còn vị chi quá nhiều cho chi phí sử dụng vốn mà được sử dụng để tiếp tục tái đầu tư sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người dân Có được nguồn vốn cho vay hộ nghèo từ ngân hàng chính sách, người nghèo không còn phải tìm đến những nguồn vốn vay nặng lãi khác mà hoàn toàn được NHCS tạo điều kiện trong quá trình trả nợ gốc và lãi
Giúp người nghèo nâng cao kiến thức và tiếp cận với thị trường: người vay vốn được hộ trợ ngay từ khi vay vốn tìm ra lĩnh vực đầu tư vốn thông qua hiệu quả cho tới kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh Người vay vốn chủ động trong việc tìm hiểu hướng sản xuất và đầu ra có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và tổ hội Khoản vay hộ nghèo sẽ giúp người vay vốn có động lực hơn trong việc phải tìm cách vươn lên thoát nghèo thông qua các phương thức sản xuất kinh doanh mới hiệu quả hơn phù hợp hơn
NHCSXH phát huy sức mạnh tổng hợp, khai thác được tiềm năng về trí tuệ, sức của, sức người của toàn xã hội phục vụ cho sự nghiệp xóa đói giảm nghèo: là sự kết hợp giữa chính sách của chính phủ; kỹ thuật sản xuất, chăn nuôi của chính quyền địa phương và nỗ lực thoát nghèo của người dân tạo lên sự đồng thuận mạnh mẽ vì mục tiêu chung Khoản vay cho hộ nghèo là một hình thức thông qua đó mà tổ chức chính trị cùng toàn thể xã hội giúp về vốn và cách
sử dụng vốn để hộ nghèo có thêm động lực vươn lên để có thể thoát nghèo
NHCSXH là một kênh dẫn vốn tin cậy chuyên trách phục vụ người nghèo: NHCS với mục đích tạo được một kênh dẫn vốn tin cậy cho người nghèo nguồn vốn ưu đãi trực tiếp, kịp thời đi đến với người dân cần vốn mang lại sự an tâm hơn cho người vay vốn trong quá trình sử dụng vốn Chính phủ giao hoàn toàn trách nhiệm cho ngân hàng chính sách thực hiện và có sự giám sát của các
tổ chức hội , đoàn thực hiện vay phục vụ nhu cầu về vốn của hộ nghèo
Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế: khoản thu nhập của người vay vốn không còn vị chi
Trang 23quá nhiều cho chi phí sử dụng vốn mà được sử dụng để tiếp tục tái đầu tư sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người dân Có được nguồn vốn cho vay hộ nghèo từ ngân hàng chính sách, người nghèo không còn phải tìm đến những nguồn vốn vay nặng lãi khác mà hoàn toàn được NHCS tạo điều kiện trong quá trình trả nợ gốc và lãi
Giúp người nghèo nâng cao kiến thức và tiếp cận với thị trường: người vay vốn được hộ trợ ngay từ khi vay vốn tìm ra lĩnh vực đầu tư vốn thông qua hiệu quả cho tới kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh Người vay vốn chủ động trong việc tìm hiểu hướng sản xuất và đầu ra có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và tổ hội Khoản vay hộ nghèo sẽ giúp người vay vốn có động lực hơn trong việc phải tìm cách vươn lên thoát nghèo thông qua các phương thức sản xuất kinh doanh mới hiệu quả hơn phù hợp hơn
1.1.3 Đặc điểm tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội
NHCSXH được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước
Hình thức cấp tín dụng của NHCSXH là cho vay tín chấp ủy thác qua hội đoàn thể của các xã, phường, thị trấn trên địa bàn hoạt động của NHCSXH cấp huyện, cấp tỉnh Với mức vốn cấp tín dụng cho hộ vay tương đối nhỏ nhưng khối lượng khách hàng rất lớn
Đối tượng cho vay là hộ nghèo theo quy định của pháp luật: NHCS được thành lập theo quy định của nhà nước với mục tiêu thực hiện thành công công cuộc xóa đói giảm nghèo nên đối tượng là hộ nghèo được quy định của nhà nước trong từng thời kỳ
Trang 24Mục tiêu cho vay: Cho vay xóa đói giảm nghèo nhằm vào việc giúp những người nghèo đói có vốn sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi lợi nhuận
Về món vay thường nhỏ: Đặc điểm của người đi vay là hộ nghèo, mà phần đông người lao động nghèo thường nhút nhát chỉ sản xuất kinh doanh nhỏ nên nhu cầu vay vốn của họ không lớn Mặt khác số lượng khách hàng có nhu cầu vay thì lớn trong khi đó nguồn vốn của Ngân hàng có hạn, vì vậy nên các món vay thường có hạn mức nhất định và thường nhỏ
Điều kiện cho vay: Tùy theo nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, địa phương khác nhau có thể qui định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với hộ nghèo đó là: Khi vay vốn không phải thế chấp tài sản cho nghĩa vụ trả nợ Là hình thức cho vay tín chấp dự trên uy tín của khách hàng, các tổ, hội đứng ra cam kết thực hiện đúng nghĩa vụ đơi với các khoản vay Đối tượng khách hàng là hộ nghèo, tài sản đảm bảo thường không có hoặc mang giá trị thấp, vì vậy NHCS đã tạo điều kiện cho hộ nghèo được vay vốn tín chấp thông qua các tổ hội để có thể
có nhiều hơn các hộ nghèo được tiếp cận với nguồn vốn chính sách
Thời gian cho vay dài: Thường các khoản vay đầu tư vào hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp có thời gian quay vòng vốn lớn, lợi nhuận thu được cũng không cao nên thời gian cho vay thường dài hơn so với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ Hơn nữa vì đối tượng cho vay là các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn nên NHCS đã chia nhỏ nghĩa vụ trả nợ tạo điều kiện cho hộ nghèo trả được đầy đủ nợ gốc và lãi nên thời gian cho vay thường kéo dài
1.2 Nội dung quản lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội
1.2.1 Nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu
Quan điểm của Ủy ban Basel là: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe dọa đến sự
ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó Vì vậy, nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính là điều mà Ủy ban Basel quan tâm Ủy ban Basel đã ban
Trang 25hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp: Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…) Trên cơ sở này, Ban Tổng giám đốc có trách nhiệm thực thi các định hướng này và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư
Thứ hai, Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh, cụ thể:
+ Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau
+ Ngân hàng phải có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng, các sửa đổi tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các
bộ phận tham gia
+ Ngân hàng cần phát triển đội ngũ nhân viên quản lý rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, kiến thức nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản lý rủi ro tín dụng
+ Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên, đặc biệt, cần có sự cẩn trọng và đánh giá hợp lý đối với các khoản tín dụng cấp cho các khách hàng có quan hệ
Thứ ba, Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp:
Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, bao gồm cập nhật hồ sơ tín dụng, thu thập
Trang 26thông tin tài chính hiện hành, dự thảo các văn bản như hợp đồng vay… theo quy mô và mức độ phức tạp của ngân hàng
Đồng thời, hệ thống này phải có khả năng nắm bắt và kiểm soát tình hình tài chính, sự tuân thủ các giao kèo của khách hàng… để phát hiện kịp thời những khoản vay có vấn đề
Ngân hàng cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề
Các chính sách rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản
lý các khoản tín dụng có vấn đề Trách nhiệm đối với các khoản tín dụng này
có thể được giao cho bộ phận tiếp thị hay bộ phận xử lý nợ hoặc kết hợp cả hai bộ phận này, tùy theo quy mô và bản chất của mỗi khoản tín dụng
Ủy ban Basel cũng khuyến khích các ngân hàng phát triển và xây dựng
hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng, giúp phân biệt các mức độ rủi ro tín dụng trong các tài sản có tiềm năng rủi ro của ngân hàng
1.2.2 Nội dung quản lý nợ xấu
Quản lý nợ xấu có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng nói chung Do vậy, công tác quản lý nợ xấu phải được xây dựng và triển khai một cách đúng đắn, khoa học và phù hợp Quản lý nợ xấu gồm các nội dung chủ yếu sau:
1.2.2.1 Xây dựng chiến lược hoạt động và chiến lược quản lý nợ phù hợp
Việc xây dựng chiến lược hoạt động cho một Ngân hàng cần phải mang lại thu nhập cho ngân hàng, mặt khác cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản Chiến lược hoạt động có một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Nó xuyên suốt trong toàn hệ thống ngân hàng,nó là cương lĩnh hoạt động của tất cả các cán bộ, công nhân viên, là kim chỉ nam dẫn đường cho từng bước đi của ngân hàng Do vậy, chiến lược hoạt động phải xây dựng một cách hợp lý, khoa học và thực tế
Ngân hàng xây dựng và triển khai sản phẩm, dịch vụ truyền thống và hiện đại nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như sự
Trang 27phát triển của nền kinh tế Trong hệ thống các hoạt động của ngân hàng, nhất
là hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải xác định mức độ rủi ro tối đa, giới hạn tỷ lệ nợ xấu Rủi ro luôn đi kèm với hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào, chúng ta có thể làm hạn chế tổn thất của chúng, nhưng không thể ngăn ngừa chúng xuất hiện Hoạt động ngân hàng nằm trong giới hạn rủi ro, đó là một thành công của ngân hàng
Việc xác định chiến lược hoạt động ngắn hạn và cả trung dài hạn đồng thời hạn chế những mặt còn chưa tốt trong nội tại của ngân hàng cần dựa trên
cơ sở những lợi thế của mình Tập trung hoạt động vào những điểm mạnh, khai thác thị trường dựa trên những ưu điểm của mình để không ngừng mở rộng mạng lưới phân phối, chiếm lĩnh thị phần, nâng cao sức cạnh tranh với các đối thủ Từ đó, chiến lược mới phát huy hiệu quả, đem lại nguồn thu cho ngân hàng,hình ảnh ngân hàng được nhiều cá nhân tổ chức biết đến
Ngân hàng cần đưa ra những sản phẩm và dịch vụ thu hút khách hàng với các chính sách về lãi suất, phí, khách hàng… hợp lý trên cơ sở nghiên cứu
kỹ hành vi,tâm lý khách hàng và thị trường Ngân hàng phải xây dựng danh mục tài sản với các rủi ro có thể chấp nhận được và danh mục nguồn vốn với chi phí thực sự hợp lý, phù hợp với khả năng thanh khoản và thực tế ngành kinh tế,vùng kinh tế và cả nền kinh tế
Bên cạnh đó, ngân hàng có thể triển khai các hoạt động bằng cách kết hợp với các ngân hàng, các định chế tài chính khác để có thể cùng nhau khai thác khách hàng, khai thác ngành và vùng kinh tế, khai thác thị trường dựa trên những lợi thế có sẵn của mỗi bên
Chiến lược quản lý nợ của mỗi Ngân hàng cần phù hợp với chiến lược kinh doanh của mình trong từng thời kỳ, và phải linh hoạt có thể điều chỉnh tùytheo diễn biến thị trường tín dụng Chiến lược quản lý rủi ro cũng phảichỉ
ra những điểm mạnh, điểm yếu của ngân hàng, cũng như cơ hội và thách thức đối với ngân hàng để phát huy tối đa tiềm lực của ngân hàng Như ta thấy rủi
ro là không thể tránh được đổi với mỗi ngân hàng, ngân hàng nào cũng phải
Trang 28chấp nhận rủi ro và các khoản nợ xấu.Vì thế cân phải xác định giới hạn cần thiết của nợ xấu hay cụ thế hơn là xác định mức độ và tỷ lệ của nợ xấu thích hợp Nếu ngân hàng duy trì tỷ lệ Nợ xấu quá cao hoặc không hợp lý thì nguy
cơ gặp rủi ro của ngân hàng cao, ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi xây dựng chiến lược quản lý nợ, mỗi ngân hàng đều xác định phần
bù rủi ro đối với mỗi khoản vay Nếu tỷ lệ Nợ xấu vượt quá giới hạn cho phép, phần thâm hụt nhiều hơn phần bù rủi ro thì ngân hàng sẽ bị thua lỗ
Ngoài ra, chiến lược quản lý tín dụng cần đặc biệt chú trọng đến việc
đa dạng hoá danh mục tín dụng nhằm giảm bớt rủi ro Tránh tình trạng “bỏ trứng vào một giỏ”, tín dụng chỉ tập trung vào một nhóm khách hàng hay một lĩnh vực nào đó Không chỉ thế cơ cấu tín dụng còn phải phù hợp với cơ cấu nguồn vốn huy động được
1.2.2.2 Phân loại, chấm điểm khách hàng và kiểm tra các khoản tín dụng để phòng ngừa nợ xấu phát sinh
Ngân hàng phải triển khai phân loại khách hàng, chấm điểm tín dụng với từng đối tượng khách hàng dựa trên các tiêu chí định tính cũng như định lượng Hầu hết các ngân hàng đều có tiêu chí xếp loại và phân loại nợ theo nhóm khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng Nợ của khách hàng nhóm A được coi là có rủi ro thấp nhất, và nợ khách hàng nhóm Cđược coi là
có khả năng mất vốn cao nhất
Mặt khác, ngân hàng có thể kiểm soát tín dụng bằng giới hạn tín dụng, giải ngân kèm chứng từ hàng hóa để hạn chế tổn thất cho vay Thực hiện các công cụ kiểm soát mới đồng thời làm giảm chi phí hoạt động của ngân hàng tăng lên, nhưng sẽ làm giảm tổn thất mà các rủi ro đã mang lại Các tổn thất này lớn hơn chi phí hoạt động của các công cụ này thì sẽ mang lại lợi nhuận, hiệu quả cho chính ngân hàng đó
Để phòng ngừa nợ xấu, việc kiểm tra đối với mỗi khoản tín dụng không chỉ trước khi giải ngân mà công việc kiểm tra giám sát tín dụng sau giải ngân
Trang 29cũng quan trọng không kém Việc này nhằm hạn chế hạn chế rủi ro đạo đức, nhằm đảm bảo rằng khách hàng vay không làm những việc rủi ro từ nguồn vốn vay Ngân hàng sẽ giám sát tình hình sử dụng vốn vay sau giải ngân bằng cách kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng định kỳ Các ngân hàng
có rất nhiều biện pháp khác nhau để kiểm tra giám sát các khoản vay, một số các biện pháp cơ bản hầu hết các ngân hàng đang sử dụng là:
Tiến hành kiểm tra theo định kì đối với tất cả các loại hình tín dụng, ví
dụ như kiểm tra theo chu kỳ 30,60 hay 90 ngày đối với những khoản vay lớn, đồng thời cũng tiến hành kiểm tra bất thường đối với những khoản cho vay có quy mô nhỏ
Cần lập chương trình, kế hoạch, nội dung kiểm tra giám sát một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản vay phải được kiểm tra
Những khoản cho vay lớn cần phải được kiểm soát và theo dõi thường xuyên bởi vì những khoản cho vay lớn này nếu xảy ra rủi ro sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh doanh của ngân hàng
Các khoản tín dụng có vấn đề phải được quản lý chặt chẽ và thường xuyên, tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện ra những dấu hiệu không lành mạnh có khả năng dẫn đến rủi ro liên quan đến khoản vay
1.2.2.3 Đàm phán, đôn đốc thu hồi nợ
Đây là biện pháp áp dụng đối với các khoản nợ có khả năng thu hồi (nợ nhóm 3, 4 và những khách hàng được quyết định duy trì mối quan hệ) Ngân hàng cần tiến hành phân loại, phân tích các khoản nợ xấu để từ đó đề ra biện pháp đôn đốc, thu hồi, xử lý phù hợp với từng khoản vay; cần quản lý tài chính chặt chẽ với các khách hàng có nợ xấu, đặc biệt là các khách hàng lớn Trên cơ sở xem xét khả năng phục hồi của khách hàng, sau đó tiến hành thương lượng với khách hàng các bước thực hiện cũng như yêu cầu khách hàng cam kết trả nợ Ngân hàng có thể sử dụng các biện pháp mang tính kỹ thuật nghiệp vụ như sau:
Trang 30+ Gia hạn nợ: là việc khách hàng được phép kéo dài thêm thời hạn trả
nợ cuối cùng Đây là phương án giúp khách hàng giảm bớt được áp lực thanh toán nợ trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó có thể phục hồi hoạt động kinh doanh cũng như thu xếp vốn để trả nợ ngân hàng
+ Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: là việc khách hàng được thay đổi thời gian trả từng phần của khoản nợ hoặc thay đổi số tiền từng kỳ trả nợ đã thỏa thuận ban đầu nhưng không làm thay đổi tống số tiền phải trả và thời hạn trả hết nợ cuối cùng
+ Cấp thêm vốn cho khách hàng: Ngân hàng chỉ xem xét cấp thêm vốn khi khách hàng chứng minh được kế hoạch kinh doanh sẽ giúp khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn và chắc chắn có hiệu quả Việc áp dụng phương pháp này có tính mạo hiểm vì thế cần được cân nhắc và kiểm soát chặt chẽ
+ Ngân hàng có thể chuyển các khoản nợ quá hạn thành vốn góp cổ phần trong các doanh nghiệp cổ phần Ngân hàng cũng có thể đứng ra làm trung gian, tạo điều kiện hỗ trợ việc chuyển nhượng cổ phần của khách hàng cho người thứ ba để ngân hàng có thế thu hồi được nợ Đây là biện pháp tạo nên sự linh hoạt trong việc xử lý nợ xấu của ngân hàng nhưng vẫn đảm bảo cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh Biệp pháp này áp dụng đối với các khách hàng gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan và có triển vọng khôi phục lại hoạt động kinh doanh
Việc đề xuất xử lý nợ xấu theo giải pháp này lại chỉ được áp dụng cho các khoản nợ nhóm 3 và nhóm 4, đối với các khách hàng để duy trì mối quan
hệ Khoản nợ có thể được quản lý qua việc kiểm soát chặt chẽ để bên vay thực hiện các hành động để vực dậy tình hình của họ, sửa chữa những thiết sót Nhất là trong trường hợp khách hàng không trả nợ lần đầu thì cần thuyết phục họ trong việc thực hiện các biện pháp cứng rắn để củng cố vị trí của
khách hàng
Trang 311.2.2.4 Xử lý tài sản đảm bảo, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu nhưng không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có khả năng cải thiện tình hình tài chính, chây ỳ trong việc trả nợ thì NHTM cần phải chủ động xử lý các tài sản đảm bảo nợ vay kể cả bất động sản thông qua các hình thức như sau:
Ngân hàng có thể nhận các khoản tiền hoặc tài sản từ người thứ ba khi thế chấp quyền đòi nợ, tò bên thứ có nghĩa vụ liên quan đến tài sản bảo đảm hoặc công ty bảo hiểm trong trường hợp thế chấp quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ Khi đó, vẫn phải thỏa hiệp và phải có cam kết bằng văn bản của bên bảo đảm về quyền truy đòi cho bên bảo đảm nếu không thu hoặc không đủ từ bên thứ ba bởi lý do nào đó
Đây là biện pháp không ngân hàng nào mong muốn vì việc phát mại tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh thường khá phức tạp cùng nhiều thủ tục, tốn kém thời gian, khả năng thu được nợ đầy đủ không cao, nhưng ngân hàng vẫn bắt buộc phải thực hiện để thu hồi vốn Đây là một trong số các giải pháp thu hồi vốn một cách hiệu quả nhất cho các ngân hàng, nhất là các khoản nợ bởi
cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng
án mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản, các khoản nợ chưa tới hạn được coi
là tới hạn Các chủ nợ không được tính lãi đối với thời gian chưa tới hạn Việc ngưng tính lãi không có lợi cho ngân hàng Trên thực tế, biện pháp này thường đem lại hiệu quả không cao cho việc đòi nợ của ngân hàng vì thủ tục khá phiền hà, khách hàng thường không có khả năng trả nợ Mặt khác, ở Việt
Trang 32Nam chế tài áp dụng cho việc thi hành án dân sự chưa cao nên kể cả Tòa án
đã xét xử nhưng để ngân hàng đòi được nợ vẫn là vấn đề nan giải
1.2.2.6 Bán các khoản nợ
Ngân hàng thường bán các khoản nợ mà không hề có tài sản đảm bảo hoặc không muốn mất thời gian để đòi nợ Ngân hàng sẽ chuyển nhượng quyền đòi nợ cho một tổ chức kinh tế,cá nhân có chức năng theo quy định để
có thể sớm thu hồi vốn của mình
Để thực hiện biện pháp này sao cho hiệu quả, ngoài việc đưa các khoản
nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản nhanh chóng thì các ngân hành thường thành lập tổ chức có chuyên môn cao gọi là công ty quản lý nợ và khai thác tài sản(AMC) Công ty AMC sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này ngân hàng thường phải chấp nhận bán lại các khoản nợ với giá trị thấp hơn quyền đòi nợ hiện tại, từ đó gây
ra những tốn thất nhất định đến kết quả kinh doanh của ngân hàng
1.2.2.7 Bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro sẽ được các Ngân hàng sử dụn để bù đắp các thiệt hại do nợ xấu gây ra Quỹ DPRR được trích từ nguồn lợi nhuận của các NHTM nhằm bù đắp những tốn thất trong hoạt động kinh doanh NHTM phải phân loại các khoản nợ xấu, xem loại nào thì được xử lý bằng quỹ DPRR Dự phòng rủi ro thì được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng
Những trường hợp nợ xấu được xử lý từ quỹ dự phòng là khi bên được bảo lãnh vay vốn, khách hàng vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bị phá sản, giải thể hoặc cá nhân bị mất tích, bị chết hay không thể thực hiện được các nghĩa vụ thuộc nhóm nợ có khả năng mất vốn
Đây là giải pháp rất chủ động cho các NHTM trong việc xử lý nợ xấu nên tất cả các ngân hàng đều áp dụng và sử dụng tương đối có hiệu quả Nhiều ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh đã xử lý nợ xấu chủ yếu bằng quỹ DPRR Nhược điểm của biện pháp này là đối với các ngân hàng quy mô
Trang 33nhỏ,vốn ít, tiềm lực tài chính yếu thì việc trích lập quỹ DPRR rất hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.2.2.8 Sự trợ giúp của Chính phủ
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách của Chính phủ, ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp của ngân sách nhà nước Thực chất các khoản vay theo chính sách này có thể coi như là các khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba là Chính phủ Vì vậy, ngân hàng không thể thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ phải đứng ra giải quyết cho ngân hàng
Chính phủ có thể sử dụng ngân sách mua toàn bộ nợ xấu của ngân hàng
để xử lý dần dần trong một số năm nhất định để giải thoát cho ngân hàng không bị sa lầy vào khủng hoảng của nợ xấu, giúp ngân hàng tập trung vào các hoạt động
1.2.2.9 Quy trách nhiệm đòi nợ đối với các nhân viên tín dụng
Đối với những khoản nợ có nguyên nhân chủ quan từ nhân viên tín dụng thì ngân hàng kiên quyết sử dụng biện pháp quy trách nhiệm đòi nợ cho nhân viên đó Trong trường hợp không đòi được nợ , người làm sai sẽ phải bồi thường cho ngân hàng và chịu thêm nhiều hình thức kỷ luật khác nữa Với những trường hợp gây hiệu quả nghiêm trọng, ngân hàng còn có biện pháp mạnh hơn đó là đuối việc, kiện ra Tòa đây là biện pháp vừa có tính hiệu quả cao, vừa có tính giáo dục đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ nhân viên tín dụng
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý nợ xấu
Trang 34- Mức giảm tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần „%‟ giữa nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5) và tổng dư
nợ cho vay ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, quý và cuối năm
Dƣ nợ trong kỳ báo cáo
Tỷ lệ DPRR phản ảnh khả năng chống đỡ của Ngân hàng đối với các khoản tổn thất tín dụng, chủ động đối phó với các khoản tổn thất dự kiến thông qua việc lập quĩ dự phòng rủi ro hàng năm Mức giảm tỷ lệ DPRR tăng cho thấy danh mục cho vay của Ngân hàng tăng rủi ro tiềm ẩn và ngược lại
Trang 35- Tỷ lệ xóa nợ
100% Tổng dƣ nợ vay
Nợ xoá ròng = dư nợ các khoản vay đã xoá nợ vì rủi ro – giá trị các khoản thu bù đắp thiệt hại Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu nợ từ các khoản nợ đã chuyển ra ngoại bảng và đang được ngân hàng sử dụng các biện pháp để đòi Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng quản trị RRTD kém
vì ngân hàng có quá nhiều các khoản nợ ngoại bảng mà không thể thu hồi và ngược lại
1.2.3.2 Các chỉ tiêu định tính
Khách hàng là đối tượng vay vốn của ngân hàng, là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.Vì vậy quá trình đánh giá khách hàng về các điều kiện vay vốn và hoàn trả nợ vay, trên cơ sở đó ra quyết định cho vay và giám sát khoản vay của ngân hàng Sau đây là những nội dung cần đi sâu phân tích:
- Người xin vay có tín nhiệm? Nội dung cần làm rõ trước hết là: Người vay có thiện chí trả nợ khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết tiêu chí đánh giá của người xin vay, bao gồm: Tư cách, năng lực, thu nhập, bảo đảm, điều kiện và kiểm soát Tất cả các tiêu chí này phải được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi
- Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng người xin vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn Nếu cán bộ tín dụng không biết chính xác được tại sao khách hàng lại xin vay tiền thì cần phải làm rõ mục đích xin vay là gì? Khi mục đích xin vay đã
rõ ràng, cán bộ tín dụng phải xác định xem có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không Nếu phát hiện thấy người vay giả dối trong sử dụng vốn và trả nợ như thỏa thuận thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho vay, nếu không rủi ro tín dụng sẽ phát sinh cho ngân hàng
- Năng lực pháp lý của người vay: Nếu khách hàng là cá nhân thì cá nhân đó phải có: (i) năng lực pháp luật dân sự; (ii) năng lực hành vi dân sự
Trang 36Nếu khách hàng là tổ chức, thì tổ chức đó phải: (i) được thành lập hợp pháp; (ii) có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (iii) có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; (iv) nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập
- Thu nhập của người vay: Tiêu chí thu nhập của người vay tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ? Nhìn chung, người vay có ba khả năng để tạo ra tiền là: (i) luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập; (ii) bán thanh lý tài sản; (iii) phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng Tuy nhiên, ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên và căn bản để trả nợ vay cho ngân hàng Điều này là vì: việc bán thanh lý tài sản có thể làm cho năng lực người vay trở nên yếu đi, khiến cho ngân hàng là chủ nợ trở nên ít được bảo đảm Ngoài ra, một sự thiếu hụt luồng tiền là biểu hiện không lành mạnh trong kinh doanh của con nợ, khiến cho quan hệ tín dụng trở nên có vấn đề
- Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín dụng phải tự hỏi: Người vay có sở hữu hợp pháp một giá trị nào hay tài sản nào có chất lượng để hỗ trợ cho khoản vay? Cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: Tuổi tác, điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản người vay Khía cạnh công nghệ cũng phải chú ý, bởi vì nếu tài sản của người vay có công nghệ lạc hậu thì giá trị giảm rất nhanh và rất khó tìm được người mua trong khi công nghệ lại thay đổi hàng ngày
- Các điều kiện của người vay: Cán bộ tín dụng cần phải biết được xu hướng về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng
- Khả năng kiểm soát khoản vay: Ngân hàng có kiểm soát được việc khách hàng sử dụng tiền vay hay không? Tập trung vào những vấn đề như: Các thay đổi trong luật pháp và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng?
Trang 371.3 Kinh nghiệm quản lý nợ xấu của Ngân hàng một số nước và bài học cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch
1.3.1 Ngân hàng Grameen (GB) - Bangladesh
GB do Giáo sư Muhammad Yunus khởi xướng vào năm 1974 như một
dự án cung cấp dịch vụ ngân hàng cho những hộ gia đình nghèo nhất, giúp họ
tự tạo việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp tràn lan ở nông thôn Bangladesh Mục tiêu của dự án là hỗ trợ vốn để người nghèo đầu tư vào các hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm tăng thu nhập (GB, 2010)
Điểm nhấn sáng tạo của dự án này là mô hình “nhóm tự quản” kết nối những người vay có hoàn cảnh tương tự để họ cùng chia sẻ trách nhiệm, sàng lọc, giám sát và quản lý lẫn nhau, giảm sự bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng Mỗi nhóm vay gồm 5 người, khoản vay đầu tiên dành cho 2 người, rồi tiếp đến người thứ 3, thứ 4 và người cuối cùng Hàng tuần nhân viên sẽ gặp khoảng 40 người (khoảng 7 - 8 nhóm), ở đây nhân viên tín dụng là cầu nối giữa các nhóm và thành viên, và chia sẻ những kinh nghiệm làm ăn, và/hoặc quản lý chi tiêu Đặc biệt, khi 1 thành viên trong nhóm không có khả năng trả nợ thì GB sẽ từ chối tất cả các khoản vay của các thành viên còn lại trong nhóm, do vậy, người vay bị hối thúc buộc phải làm
ăn để trả nợ, và nhiều người có thể cảm thấy ngại ngùng nếu không trả được
nợ góp phần gia tăng khả năng trả nợ (vì vậy, mà tỷ lệ trả nợ tại tổ chức TCVM thường rất cao)
Dự án đã chứng tỏ sự hiệu quả và được nhân rộng dần ra nhiều khu vực
ở Bangladesh Năm 1983, Chính phủ Bangladesh quyết định chuyển đổi dự
án này thành một ngân hàng độc lập Đây là mô hình ngân hàng có chế độ sở hữu đặc biệt: 90% thuộc những người nghèo vay vốn của nó và 10% thuộc Chính phủ Đến tháng 10/2011, GB có 8.349 triệu người vay, trong đó 97% là phụ nữ, phủ rộng trên 97% tổng số các làng ở Bangladesh (GB, 2011) GB theo đuổi mục tiêu phi lợi nhuận và được miễn thuế trong suốt quá trình hoạt động Ngân hàng đạt được bền vững tài chính và có quyền nhận tiền gửi từ công chúng
Trang 38GB đang duy trì cơ chế cho vay đối với các đối tượng: (1) cho vay người nghèo phục hồi thu nhập với lãi suất 20%/năm với thời hạn vay 1 năm; (2) cho người nghèo vay mua nhà với lãi suất 8%/năm, hoàn trả trong 5 năm, và có 7754 ngôi nhà được xây dựng năm 2010; (3) cho sinh viên vay chi trả cho học phí, chi phí thực phẩm, văn phòng phẩm, ăn và ở với lãi suất 0% trong thời gian học tập,
và 5%/năm sau thời gian học tập, có hơn 47 nghìn người được tham gia vay (năm 2010); (4) cuối cùng cho vay gần 113 nghìn đối tượng rất nghèo (như người ăn xin, tàn tật, mù lòa hoặc sức khỏe kém) với lãi suất 0% Tất cả các khoản vay đều được tính trên số dư giảm dần Tính đến cuối 2010, tổng số tiền cho vay tích lũy 594 tỷ BDT (10,12 tỷ USD), trong khi số tiền tích lũy của các thành viên hơn 56 tỷ BDT Ngoài ra, GB còn cho vay các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, để họ mở cửa hàng tạp hóa, cửa hàng dược, mua xe tải nhỏ, và xây dựng phát triển điện thoại đến với người nghèo…
Mặc dù, phải theo đuổi chính sách cho vay nhiều người nghèo với lãi suất 0%, nhưng lợi nhuận ròng của GB năm 2010 vẫn đạt 757 triệu BDT, năm
2011 đạt 683 triệu BDT và đảm bảo mức chia cổ tức 30% bằng tiền mặt của năm 2010 và 2011, cũng như lợi nhuận giữ lại khác
1.3.2 Kinh nghiệm của ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan
Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng (BAAC) là Ngân hàng quốc doanh do Chính phủ thành lập Hàng năm được Chính phủ tài trợ vốn để
hỗ trợ vốn thực hiện chương trình: hỗ trợ vốn cho nông dân nghèo Chuẩn mực phân loại nông dân nghèo được chính phủ quy định như sau
Những người có mức thu nhập dưới 1.000 Bath/ năm (tương đương 400USD/năm)
Những người nông dân có ruộng thấp hơn mức trung bình trong khu vực
Về cơ chế cho vay thì BAAC thực hiện như sau
Điều kiện cho vay thì ngân hàng cho vay mà không cần phải thế chấp tài sản, chỉ cần thế chấp bằng sự cam kết đảm bảo của nhóm, tổ hợp tác sản xuất
Trang 39Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèo thường được giảm từ 3%/năm Riêng cho vay khắc phục thiên tai lãi suất thấp hơn
1-Thời hạn vay được tính đến thời điểm người vay tổ chức sản xuất ổn định được cuộc sống
Phương thức thu nợ: Năm đầu người vay không phải tính lãi, từ năm thứ hai trả lãi và gốc được thu khi hết hạn nợ
Với quy mô hỗ trợ nông dân nghèo này thì hàng năm BAAC đã cho vay hàng vạn người dân nghèo với số tiền hàng triệu USD
Chính phủ qui định các NHTM khác phải dành 20% số vốn huy động được để cho người nghèo vay vốn
1.3.3 Kinh nghiệm của Ngân hàng nông nghiệp Malaysia
Trên thị trường chính thức hiện nay của Malaysia, việc cung cấp tín dụng cho người nghèo chủ yếu do Ngân hàng Nông nghiệp Malaysia đảm nhận Đây là Ngân hàng được Chính phủ thành lập và cấp 100% vốn tự có ban đầu BPM chú trọng cho vay trung và dài hạn theo các dự án và chương trình đặc biệt
Ngoài ra BPM còn cho vay hộ nông dân nghèo thông qua các tổ chức tín dụng trung gian khác như: Hợp tác xã nông thôn và hợp tác xã tín dụng
Chính phủ buộc các NHTM khác phải gửi 20,5% số tiền huy động được vào NHTW (trong đó có 3% dự trữ bắt buộc) để làm vốn cho vay đối với nông nghiệp - nông thôn
BPM không phải gửi tiền dự trữ bắt buộc ở ngân hàng trung ương và không phải nộp thuế cho nhà nước
1.3.4 Bài học kinh nghiệm đối với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch
Từ thực tế ngân hàng chính sách của một số nước trên thế giới, ngân hàng Chính sách xã hội nói chung và Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quảng Trạch nói riêng sẽ được học hỏi và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm
bổ ích để làm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng Tuy vậy, vấn
Trang 40đề là áp dụng như thế nào cho phù hợp với tình hình của Việt Nam lại là vấn
đề đáng quan tâm Chính vì thế cần phải vận dụng một cách sáng tạo vào mô hình cụ thể ở nước ta Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, mô hình tổ chức của hoạt động tín dụng được tách bạch, phân công rõ chức năng các bộ phận và tuân thủ các khâu trong quy trình giải quyết các khoản vay Đồng thời, quy trình tín dụng được xây dựng một cách khoa học, tránh chồng chéo giữa các bộ phận, gây mất thời gian cho khách hàng Ngoài ra, Quy trình tín dụng phải vừa phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng mình lại vừa đem lại hiệu quả hạn chế rủi ro cao
Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín dụng, tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng
Thứ ba, xây dựng chính sách và quy trình thủ tục để nhận dạng, đo lường, kiểm soát và hạn chế nợ xấu, tăng cường công tác thu thập, lưu trữ thông tin và giám sát khoản vay Công tác kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay được tăng cường giúp thu thập thêm thông tin để đánh giá, xếp hạng khách hàng hoặc khoản vay, từ đó có thể giúp ngân hàng Chính sách xã hội quản lý nợ xấu một cách toàn diện hơn
Thứ tư, giám sát các khoản vay bằng cách thu thập thông tin về khách hàng Thực hiện rà soát, đánh giá tình hình nợ thường xuyên, định kỳ và phân loại để nắm rõ thực trạng dư nợ, định kỳ rà soát, quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng để có các biện pháp xử lý kịp thời các tình huống
Thứ năm, có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để ban lãnh đạo có thể đo lường nợ xấu phát sinh trong các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý cần cung cấp đủ thông tin
về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các nợ xấu do tập trung vào một ngành, một lĩnh vực và một số đối tượng nhất định
Thứ sáu, nâng cao chất lượng công tác ủy thác của tổ chức chính trị
xã hội và các tổ Tiết kiệm và vay vốn tại các xã Các tổ chức chính trị xã