ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÙ THỊ KIỀU VÂN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN LUẬ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÙ THỊ KIỀU VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
NGOẠI NGỮ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÙ THỊ KIỀU VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
NGOẠI NGỮ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hữu Hoan
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các cán bộ, giảng viên Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Hữu Hoan - người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy (cô) và anh (chị) công tác tại Sở GD&ĐT tỉnh, Phòng GD&ĐT các huyện, Nhà quản lý, GV của 17 trường THPT tiến hành khảo sát ở tỉnh Điện Biên
Mặc dù có nhiều cố gắng, song luận văn này vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 13 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Lù Thị Kiều Vân
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BDNLGV Bồi dưỡng năng lực giáo viên BDNLNN Bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ
Trang 5iii
MỤC LỤC
Tra
ng
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
7 1.1.Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Các khái niệm cơ bản .11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Quản lý giáo dục 12
1.2.3 Đội ngũ giáo viên THPT 14
1.2.4 Bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ .14
1.3 Bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
17 1.3.1 Đặc thù của giáo viên tiếng Anh THPT 17
1.3.2 Vị trí vai trò của môn tiếng Anh ở trường THPT 18
1.3.3 Yêu cầu về năng lực ngoại ngữ đối với giáo viên tiếng Anh THPT
19 1.3.4 Khung năng lực ngoại ngữ 20
1.4 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT 22
1.4.1 Nhu cầu bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
22 1.4.2 Quản lý hoạt động lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT 24
1.4.3 Quản lý nội dung, hình thức bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT 24
Trang 6iv
1.4.4 Quản lý việc thực hiện tổ chức bồi dưỡng năng lực ngoại
ngữ cho giáo viên THPT 27
1.4.5 Quản lý việc giám sát, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT 28
1.4.6 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên THPT 29
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT 30 1.5.1 Những yếu tố chủ quan 30
1.5.2 Những yếu tố khách quan 31
Tiểu kết Chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN
34 2.1 Khái quát về tình hình phát triển giáo dục tỉnh Điện Biên
34 2.1.1 Khái quát chung tình hình giáo dục tỉnh Điện Biên
34 2.1.2 Tình hình giáo dục THPT tỉnh Điện Biên 38
2.1.3 Khái quát về đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở trường THPT tỉnh Điện Biên 43
2.2 Tổ chức thực hiện khảo sát 48
2.2.1 Mục đích khảo sát 48
2.2.2 Nội dung khảo sát 48
2.2.3 Đối tượng, địa bàn khảo sát 49
2.2.4 Tổ chức khảo sát 49
2.2.5 Xử lý số liệu và viết báo cáo kết quả khảo sát 49
2.3.Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường THPT tỉnh Điện Biên
49
2.3.1.Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về hoạt động bồi
Trang 7dưỡng năng lực ngoại ngữ cho GV tiếng Anh các trường THPT
tỉnh Điện Biên
49
2.3.2.Thực trạng đội ngũ giáo viên tiếng Anh các
trường THPT tỉnh Điện Biên tham gia bồi dưỡng
chuyên môn
51
2.3.3 Hiệu quả hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại
ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường THPT tỉnh
Điện Biên
52
2.4.Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng
lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh
2.4.2.Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động BDNLNN
cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 55
2.4.3.Thực trạng quản lý nội dung, hình thức tổ chức
BDNLNN cho giáo viên tiếng Anh các trường THPT tỉnh
Điện Biên
57
2.4.4.Thực trạng các điều kiện đảm bảo phục vụ hoạt động
bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
tỉnh Điện Biên
62
2.4.5.Thực trạng giám sát, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng
năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh
Điện Biên
63
2.5 Đánh giá chung 64 2.5.1 Điểm mạnh 64 2.5.2 Hạn chế 65
Trang 8vi
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 66 Tiểu kết Chương 2 68
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CHO
GIÁO VIÊN TIẾNG ANH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
69
3.1 Định hướng phát triển giáo dục trung học phổ
thông tỉnh Điện Biên trong giai đoạn tới 69 3.1.1 Định hướng chung 69 3.1.2 Định huớng phát triển đội ngũ giáo viên tiếng
Anh THPT
69
3.1.3 Định hướng dạy học tiếng Anh các trường trung
học phổ thông tỉnh Điện Biên 70 3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 71 3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 71
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và toàn
diện
71
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72 3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 72
3.3 Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực
ngoại ngữ cho GV dạy tiếng Anh THPT 73 3.3.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo
viên về hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho
GV tiếng Anh THPT
73
3.3.2.Quản lý xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực ngoại
ngữ cho giáo viên dạy tiếng Anh trung học phổ thông 76 3.3.3.Quản lý thực thi chương trình, nội dung bồi dưỡng năng
lực ngoại ngữ cho GV dạy tiếng Anh trung học phổ thông 79 3.3.4 Quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ bồi
dưỡng năng lực ngoại ngữ cho GV dạy tiếng Anh trung học phổ
thông
83
Trang 9vii
3.3.5.Tăng cường giám sát, kiểm tra hoạt động bồi
dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên THPT .86
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 91
3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi
của các biện pháp quản lý hoạt động BDNLNN
cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 92
0 PHỤ LỤC 10
3
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Kết quả xếp loại hạnh kiểm THCS, THPT năm học 2012
- 2013 .37 Bảng 2.2 Kết quả xếp loại học lực THCS, THPT năm học
2012-2013 .38 Bảng 2.3: Thực trạng nhận thức về mức độ quan trọng của
công tác BDNLNN cho GV tiếng Anh THPT tỉnh Điện
Biên 50 Bảng 2.4: Kết quả kiểm tra năng lực GV tiếng Anh
THPT tỉnh Điện Biên theo khung năng lực ngoại ngữ
chung châu Âu 52 Bảng 2.5: Thực trạng quản lý công tác BDNLNN cho
GV tiếng Anh THPT ở tỉnh Điện Biên 53 Bảng 2.6: Thực trạng nội dung quản lý công tác BDNLNN
cho GV tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 54 Bảng 2.7: Thực trạng kế hoạch hoá công tác BDNLNN
cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 56 Bảng 2.8: Thực trạng mức độ cần thiết của các nội dung
BDNLNN cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 59 Bảng 2.9: Hiệu quả các hình thức BDNLNN cho GV tiếng
Anh THPT tỉnh Điện Biên 60 Bảng 2.10: Thực trạng đội ngũ giảng viên dạy các lớp
BDNLNN cho GV tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 61 Bảng 2.11: Thực trạng trang thiết bị phục vụ công tác
giảng dạy và BDNLNN cho GV tiếng Anh THPT tỉnh
Điện Biên 62 Bảng 2.12: Các điều kiện phục vụ cho hoạt động
BDNLNN cho GV tiếng anh THPT tỉnh Điện Biên 62 Bảng 2.13: Thực trạng kiểm tra – đánh giá công tác
BDNLNN cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên 63 Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện
pháp quản lý công tác BDNLNN GV tiếng Anh THPT ở tỉnh 93
Trang 11ix
Trang Điện Biên Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện
pháp quản lý công tác BDNLNN GV tiếng Anh THPT ở tỉnh
Điện Biên 94
Trang 12Dương cho thấy tiếng Anh là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu
trong tiến trình hội nhập và phát triển
Nhận thức được điều đó, từ nhiều năm nay, Việt Nam đã đưa chương trình tiếng Anh vào giảng dạy ở tất cả các cơ sở giáo dục, từ phổ thông đến đại học, sau đại học
Ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020" với mục tiêu chung là; Đổi
mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực
sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tôt nghiêp trung cấp, cao đẳng
và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mục tiêu cụ thể là:
+ Triển khai thực hiện chương trình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3
Trang 132
môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông Từ năm 2010 - 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% số lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 - 2016; 100% vào năm 2018 - 2019;
+ Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp cho khoảng 10% số lượng học sinh dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp vào năm học 2010 - 2011, 60% vào năm 2015 - 2016 và đạt 100% vào năm học 2019 - 2020;
+ Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục đại học (cả các cơ sở đào tạo chuyên ngữ và không chuyên ngữ) cho khoảng 10% số lượng sinh viên cao đẳng, đại học vào năm học 2010 - 2011; 60% vào năm học 2015 - 2016 và 100% vào năm 2019 - 2020;
+ Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục thường xuyên với nội dung , chương trình đào tạo phù hợp vơi cac câp hoc , trình độ đào tạo, góp phần tích cực vào hoạt động BD, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa dạng hoá các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học Phấn đấu có 5% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020 [10]
Tiếng Anh chiếm vị trí quan trọng và đóng vai trò không thể thiếu được trong việc nâng cao và mở rộng kiến thức, tư duy, tầm hiểu biết về thông tin, văn hóa cho các em học sinh Chính vì vậy, việc dạy và học tiếng Anh hiện nay đang là vấn đề được học sinh, phụ huynh và cả xã hội quan tâm, đầu tư Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở các trường phổ thông Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả dạy và học môn tiếng Anh là đội ngũ giáo viên
Thời gian qua, việc dạy học tiếng Anh ở các trường THPT đã đạt được
Trang 143
những thành quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn một số bất cập như học sinh chủ yếu học ngữ pháp để nhằm mục đích thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, khả năng giao tiếp còn kém Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay Làm thế nào để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh là câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý giáo dục
Luật giáo dục năm 2005 - điều 72 đã nêu rõ nhiệm vụ của nhà giáo là:
"không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học"
Hoạt động đào tạo, BD nhà giáo đạt chuẩn, trên chuẩn còn nặng về số lượng chưa được quan tâm nhiều đến chất lượng, nhận thức của giáo viên về mục tiêu dạy và học ngoại ngữ chưa đúng với tinh thần đổi mới
Xuất phát từ những lý do trên, với vị trí là giáo viên ngoại ngữ và hiện là cán bộ quản lý hoạt động tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên, trực tiếp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho giáo viên tiếng Anh theo Đề án "Dạy
và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020", nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ
cho giáo viên tiếng Anh, tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề: “Quản lý hoạt động
bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường Trung học phổ thông tỉnh Điện Biên” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý bồi dưỡng giáo viên và đánh giá thực tiễn bồi dưỡng và quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường THPT tỉnh Điện Biên, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên với mục đích đáp ứng yêu cầu của Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” và góp phần vào thành công trong cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay
Trang 154
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động bồi dưỡng giáo viên và quản lý bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh trung học phổ thông
- Thực trạng bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên
- Đề xuất các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay
- Khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong luận văn
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên
5 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giáo viên tiếng Anh có vai trò quyết định tới việc đảm bảo chất lượng hiệu quả giáo dục môn tiếng Anh trong trường THPT Tuy nhiên so với yêu cầu về dạy và học tiếng Anh trong thời kì hiện nay thì năng lực giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên vẫn còn hạn chế Vì vậy nếu tìm ra các biện pháp quản lí bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT một cách khoa học hiệu quả và triển khai một cách đồng bộ hợp lí thì sẽ nâng cao năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu của Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” và góp phần vào thành công trong cuộc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay
Trang 165
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ và hoạt động quản lý bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên giai đoạn 3 năm từ 2011 đến nay
Đề tài khảo sát ý kiến 103 CBQL, GV bao gồm: 37 CBQL và 65 GV tiếng Anh THPT tỉnh Điện Biên thuộc 17 trường THPT trên địa bàn tỉnh
7 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống
hoá các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý
luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Mục đích chính của việc sử dụng phương pháp này là tìm hiểu về thực
trạng quản lý hoạt động BDGV tiếng Anh của các trường THPT tỉnh Điện Biên, qua phương pháp này, người nghiên cứu có thể khẳng định kết quả định tính của việc kiểm chứng các biện pháp quản lý do mình đề xuất
Bằng việc tổ chức các hội thảo, gặp gỡ, trao đổi ý kiến một cách chính thức, hoặc không chính thức như trao đổi, trực tiếp thảo luận, qua điện thoại hay thư điện tử (E-mail) bàn về những vấn đề có liên quan đến nội dung này với các chuyên gia (các cán bộ quản lý, tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, giáo viên dạy tiếng Anh có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy tiếng Anh của trường THPT trong tỉnh Điện Biên) Phương pháp này được sử dụng với mục đích tìm hiểu mức độ tán thành của các chuyên gia về các biện pháp dự kiến
đề xuất và mức độ vận dụng các biện pháp đó vào hoạt động BDGV dạy tiếng Anh Mặt khác, phương pháp này được dùng để xem xét tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp quản lý được bổ sung sau khi hoàn chỉnh các biện pháp dự kiến
Bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc
Trang 176
và nội dung chủ định của chúng tôi Phương pháp này được sử dụng với mục đích chủ yếu là thu thập các số liệu về quản lý hoạt động BDGV dạy tiếng Anh của cán bộ quản lý các trường THPT, cán bộ quản lý sở GD&ĐT tỉnh Điện Biên, nhằm minh chứng được thực trạng quản lý hoạt
động BDGV dạy tiếng Anh tại các trường THPT tỉnh Điện Biên
7.3 Nhóm phương pháp dùng các thuật toán thống kê: Sử dụng phương
pháp thống kê để xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu,
đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường Trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường Trung học phổ thông tỉnh Điện Biên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh các trường Trung học phổ thông tỉnh Điện Biên
Trang 187
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Từ xưa, người dân Việt Nam đã ý thức được rằng “Không thầy đố mày làm nên” Trong lịch sử phát triển của xã hội, vai trò của người thầy giáo được ghi nhận như một công đức lớn
Sự phát triển của giáo dục đòi hỏi ở người thầy phải được học tập, được
BD thường xuyên và nhận thức sâu sắc rằng muốn cống hiến được nhiều hơn cho giáo dục, cho xã hội thì phải biết tích lũy tri thức, muốn tích lũy tri thức thì phải thường xuyên rèn luyện, BD và học tập suốt đời
Trong suốt các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, vấn đề BD cán bộ luôn luôn được chú trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Người đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên, từng bước đủ về
số lượng và đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của Đảng
Các Nghị quyết Đại hội Đảng IV, V, đặc biệt là đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có giáo dục Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, BDGV Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Tuy vậy, những vấn đề lý luận về BDGV vẫn chưa được thể hiện rõ nét, ít có các công trình nghiên cứu, đây là một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ
Trang 198
hơn về lý luận và thực tiễn
Luật Giáo dục năm 2005 là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước ta, quy định sự hoạt động thống nhất, toàn diện trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, nhằm tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về giáo dục Đối với các trường THPT, “Điều lệ trường Trung học phổ thông” là cẩm nang trong việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục và định hướng cho việc xây dựng đội ngũ giáo viên THPT theo phương châm đào tạo kết hợp với sử dụng; BDGV trên cơ sở đề cao việc tự BD và tự học của giáo viên
Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục được ban hành đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng, BDGV trong đó có giáo viên dạy tiếng Anh ở các trường THPT theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ và từng bước hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài
Ngày 11 tháng 01 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” Mục tiêu của
Đề án là:
Xây dựng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình
độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội, vai trò, trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm
vụ xây dựng ĐNNG, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao, giỏi về chuyên
Trang 20và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước Để đạt mục tiêu
đó, ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt
Nam đã thông qua Quyết định số 1400 về phê duyệt đề án “Dạy và học ngoại
ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, trong đó nêu rõ
mục tiêu chung là: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [10, tr.2]
Từ đó cho thấy, để Việt Nam có thể đi tắt, đón đầu, vươn tới tầm cao về khoa học công nghệ trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay và tiến nhanh trên con đường CNH-HĐH, con đường hiệu quả nhất là đầu tư, phát triển giáo dục và lực lượng lao động phải biết ngoại ngữ
Ngày 22 tháng 10 năm 2009, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT về việc ban hành Quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, giáo viên THPT Văn bản này quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học bao gồm các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình đánh giá xếp loại giáo viên trung học Quy
Trang 21sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của giáo dục, phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Ở Điện Biên đã xây dựng “Kế hoạch phát triển Giáo dục - Đào tạo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020”, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã phê duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2010 - 2015” Vấn đề BDGV dạy tiếng Anh ở trường THPT chưa được bàn sâu, chưa có chiến lược dài hơi đối với hoạt động này [2] Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như:
- Đổi mới biện pháp quản lý dạy học của trung tâm ngoại ngữ Học viện
C.T.Q.G Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thiện Chí, trường Đại học sư phạm
Hà Nội (năm 2006)
- Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ của chủ nhiệm
bộ môn trường Cao đẳng sư phạm trung ương của tác giả Bùi Phi Yến, trường
Đại học sư phạm Hà Nội (năm 2006)
- Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh của hiệu trưởng các
trường trung học cơ sở quận Hoàn Kiếm – Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị
Mai Anh, trường Đại học sư phạm Hà Nội (năm 2007)
Trong thời gian qua để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động quản lý giáo dục nhưng các
đề tài này chủ yếu nghiên cứu về tổ chức quản lý quá trình GD&ĐT, về thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học ngoại ngữ tại các đại học, dạy học tiếng Anh tại các trường THCS, trung tâm ngoại ngữ, các trung tâm
Trang 2211
giáo dục thường xuyên, nghiên cứu về tổ chức quản lý hoạt động BDGV tiểu
học biện pháp quản lý hoạt động BDGV tiếng Anh ở trường trung học phổ
thông, là cấp học mà tiếng Anh là môn học chính khóa và là cơ sở cho các
chương trình dạy học tiếng Anh cho học sinh ở cấp học cao hơn
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao động mang tính đặc thù đó còn được gọi là hoạt động quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau, như:
+ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý (nhà quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật
lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [24, tr.7]
+ Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(nhà quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [24, tr 8]
+ Quản lý là bảo đảm sự hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự
biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống tới trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới [24, tr 8]
Theo Fredenck, W.Taylor, tác giả của học thuật quản lý theo khoa học
thì: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó
hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất"[9]
Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hành
Trang 23- Quản lý là thực hiện những tác động hướng đích từ chủ thể đến đối tượng Yếu tố con người, trong đó nhà quản lý và người bị quản lý, giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý
- Quản lý không chỉ thể hiện ý chí của chủ thể mà còn là sự nhận thức và thực hiện hoạt động theo quy luật khách quan Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
Từ những dấu hiệu đặc trưng nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng tổ hợp những cách thức, những phương pháp nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng, các cơ hội của cá nhân cũng như của tổ chức, để đạt được mục tiêu đã đề ra
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan của hệ thống Quản lý giáo dục vận dụng bốn chức năng quản lý: Lập kế hoạch; tổ chức triển khai kế hoạch; chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá để thực hiện nhiệm vụ hoạt động của mình
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho cả hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,
Trang 2413
thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội hiện nay [24]
Vậy quản lý giáo dục thực chất là quản lý quá trình hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình GD&ĐT nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đề ra
Quản lý giáo dục là nhân tố cơ bản thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống luôn ổn định, phát triển và đạt mục tiêu đã định [30]
Như chúng ta đã đề cập ở trên, khái niệm "quản lý giáo dục” là một khái
niệm có nội hàm rộng hẹp khác nhau, tùy theo cách ta tiếp cận khái niệm
“giáo dục" từ góc độ nào Được hiểu theo nghĩa rộng nhất thì quản lý giáo
dục là quản lý mọi hoạt động trong xã hội, tác động một cách có mục đích và
có kế hoạch vào toàn bộ các lực lượng giáo dục, nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của chúng, sử dụng một cách đúng đắn các nguồn lực và phương tiện, thực hiện có hiệu quả chỉ tiêu phát triển về số lượng và chất lượng của
sự nghiệp giáo dục theo phương hướng của mục tiêu giáo dục [1, tr 38]
Nếu chỉ đề cập tới hoạt động quản lý trong ngành GD&ĐT thì quản lý giáo dục được hiểu là quản lý hệ thống giáo dục từ Trung ương đến địa phương, bao gồm tất cả các ngành học, cấp học, trường học theo mục đích đặt
Trang 2514
học đến nhà trường, nhằm tổ chức tối ưu các quá trình dạy học, giáo dục thể chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới" [1, tr 40]
1.2.3 Đội ngũ giáo viên THPT
“Đội ngũ là một nhóm người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hay không nhưng đều có cùng một mục đích nhất định” [30] Như vậy
có thể hiểu khái niệm đội ngũ hàm chứa yếu tố sức mạnh và có những yêu cầu chặt chẽ về kỷ cương và chất lượng
1.2.4 Bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ
1.2.4.1 Năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do hoạt động, do tập luyện mà có Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn
1.2.4.2 Năng lực ngoại ngữ
Là khả năng sử dụng một ngoại ngữ ở các mức khác nhau về khả năng
nghe, nói, đọc, viết, hiểu về loại ngoại ngữ này Năng lực ngoại ngữ theo bộ giáo dục hiện nay được chia làm 6 bậc Mô tả tổng quát của bậc 6 này là: Có thể hiểu một cách dễ dàng hầu hết văn nói và viết Có thể tóm tắt các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại thông tin và trình bày lại một cách logic
Có thể diễn đạt tức thì, rất trôi chảy và chính xác, phân biệt được các ý nghĩa tinh tế khác nhau trong các tình huống phức tạp
Trang 2615
Mô tả cụ thể Kỹ năng nghe là: Có thể theo dõi và hiểu được các bài giảng hay những bài thuyết trình chuyên ngành có sử dụng nhiều lối nói thông tục, chứa đựng các yếu tố văn hóa hoặc các thuật ngữ không quen thuộc Có thể hiểu được những vấn đề tinh tế, phức tạp hoặc dễ gây tranh cãi như pháp luật, tài chính, thậm chí có thể đạt tới trình độ hiểu biết của chuyên gia Có thể nghe hiểu được mọi điều một cách dễ dàng theo tốc độ nói của người bản ngữ
Về Kỹ năng nói, bậc này yêu cầu: Có thể truyền đạt chính xác các sắc thái ý nghĩa tinh tế bằng cách sử dụng nhiều loại hình bổ nghĩa với độ chính xác cao Sử dụng thành thạo các cách diễn đạt kiểu thành ngữ hoặc thông tục với nhận thức rõ về các tầng nghĩa Có thể đổi cách diễn đạt để tránh gặp khó khăn khi giao tiếp và thể hiện một cách trôi chảy đến mức người đối thoại khó nhận ra điều đó
Kỹ năng đọc yêu cầu: Có thể hiểu, lựa chọn và sử dụng có phê phán hầu hết các thể loại văn bản, bao gồm các văn bản trừu tượng, phức tạp về mặt cấu trúc, hay các tác phẩm văn học và phi văn học Có thể hiểu được nhiều loại văn bản dài và phức tạp, cảm thụ được những nét khác biệt nhỏ giữa các văn phong, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng
Kỹ năng viết: Có thể viết bài rõ ràng, trôi chảy, bố cục chặt chẽ, chi tiết với văn phong phù hợp và cấu trúc logic, giúp cho độc giả có thể thấy được những điểm quan trọng trong bài viết [8]
1.2.4.3 Bồi dưỡng
UNESCO định nghĩa: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp
Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp” [3]
Từ quan niệm trên, ta thấy:
+ Chủ thể bồi dưỡng là những người đã được đào tạo và có trình độ chuyên môn nhất định
Trang 2716
+ Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó nhằm đáp ứng yêu cầu mới của chuyên môn nghiệp vụ
+ Mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang nâng cao hệ thống kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm
Bồi dưỡng thực chất là bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt về tri thức,
cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái đã có để mở mang, làm
cho chúng phát triển thêm, có giá trị làm tăng hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động Chính
vì thế BD còn được gọi là đào tạo lại
Theo xu hướng phát triển giáo dục là: “Giáo dục thường xuyên, học
tập suốt đời” thì việc đào tạo, BD và đào tạo lại là quá trình thống nhất BD
và đào tạo là sự tiếp nối quá trình đào tạo BD và đào tạo lại tạo ra tiền đề về tiêu chuẩn cho quá trình đào tạo chính quy ở bậc cao hơn về trình độ chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể [11]
1.2.4.4 Bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ
Đảng ta đã xác định rõ vai trò của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục
Để đáp ứng nhu cầu của kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập thì nguồn nhân lực phải có trình độ ngoại ngữ mà chủ yếu là tiếng Anh Người lao động phải giao tiếp được với người nước ngoài bằng tiếng Anh, tức là phải phát triển cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết Muốn có trò giỏi thì trước hết phải có thầy giỏi, vì vậy trong hoạt động quản lý dạy học tiếng Anh phải chăm lo BD chuyên môn, nâng cao năng lực ngôn ngữ cho đội ngũ giáo
Trang 2817
viên bằng nhiều hình thức: BD thường xuyên, BD theo chu kỳ; BD trực tiếp,
BD gián tiếp; BD tập trung, BD từ xa, tự bồi dưỡng Nhà quản lý phải chủ động liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế, tăng cường hoạt động xã hội hóa giáo dục để tổ chức các lớp BDGV và tập trung BD cả 4 kỹ năng:
+ Kỹ năng nói tiếng Anh: Phải đảm bảo chuẩn xác, đúng ngữ âm, ngữ điệu, lưu loát, vốn từ vựng phong phú, đặc biệt là phải hiểu được cách giao tiếp của người Anh
+ Kỹ năng nghe hiểu: Giáo viên phải được luyện nghe nhiều để hiểu được tiếng Anh trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng (tiếng Anh - Anh, Anh - Mỹ, Anh - Ấn Độ …)
+ Kỹ năng đọc hiểu: Giáo viên phải được BD, tự BD để củng cố và nâng cao vốn từ vựng, hiểu biết về văn học, đất nước học của nước Anh Đồng thời rèn luyện kỹ năng đọc hiểu nắm thông tin tổng hợp, nắm thông tin chi tiết qua các bài đọc
+ Kỹ năng viết: Giáo viên không những nắm chắc mẫu câu, ngữ pháp, cách dùng từ chuẩn xác mà còn phải có kỹ năng viết các dạng bài như viết thư, viết bản tin, viết bài bình luận, bài mưu tả theo văn phong của Anh [17] 1.3 Bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
1.3.1 Đặc thù của giáo viên tiếng Anh THPT
Ngoài những đặc điểm chung về lao động sư phạm của giáo viên THPT, lao động sư phạm của giáo viên dạy tiếng Anh có những đặc điểm riêng mà chúng ta cần quan tâm khi đào tạo, BD cũng như quản lý:
+ Giáo viên dạy tiếng Anh, ngoài việc giỏi tiếng Anh (giỏi cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết) còn phải am hiểu về phong tục, tập quán, văn hóa, đất nước, con người nước Anh để cùng chia sẻ, trao đổi, hướng dẫn và tổ chức cho học sinh học tập, nghiên cứu Công việc này đòi hỏi giáo viên phải
tự học, tự nghiên cứu, thường xuyên cập nhật thông tin, tích lũy kinh nghiệm
Trang 2918
+ Dạy tiếng Anh ở Việt Nam là dạy ngoại ngữ, không phải là dạy ngôn ngữ thứ hai như một số nước khác Học sinh chỉ được học và giao tiếp bằng tiếng Anh với bạn bè trong giờ học tiếng Anh, ngoài giờ học tiếng Anh, học sinh giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ Vì thế giáo viên dạy tiếng Anh phải
có phương pháp dạy học phù hợp, cách tổ chức dạy học riêng biệt nhằm tạo môi trường cho học sinh có cơ hội giao tiếp tiếng Anh với nhau
+ Tiếng Anh là chìa khóa để học sinh tiếp tục nghiên cứu, học tập ở bậc học cao hơn, đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế, đòi hỏi của học sinh, phụ huynh học sinh về học tiếng Anh ngày càng cao Với những lý do này, giáo viên dạy tiếng Anh ở trường THPT phải không ngừng BD nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
1.3.2 Vị trí vai trò của môn tiếng Anh ở trường THPT
Tiếng Anh với tư cách là một môn ngoại ngữ, là môn văn hoá cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông Tiếng Anh còn là một môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc đối với học sinh sau khi hoàn thành chương trình THPT
Tiếp nối chương trình tiếng Anh THCS, mục tiêu dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng ở các trường THPT là hình thành, bổ sung và phát triển ở học sinh những kiến thức, kỹ năng cơ bản về ngoại ngữ đã được học, góp phần phát triển trí tuệ cần thiết để có thể tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động Ngoài ra, nó còn cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế
Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Anh góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông
Trang 3019
Chương trình môn tiếng Anh ở THPT có hai nhánh chương trình: Chương trình chuẩn được sử dụng cho đối tượng HS ban KHTN và Ban cơ bản, chương trình nâng cao được dùng cho đối tượng HS ban KHXH-NV
1.3.3 Yêu cầu về năng lực ngoại ngữ đối với giáo viên tiếng Anh THPT
Theo thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam thì giáo viên trung học phổ thông phải có năng lực ngoại ngữ bậc 5/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc này Yêu cầu:
+ Kỹ năng nói tiếng Anh: Phải đảm bảo chuẩn xác, đúng ngữ âm, ngữ điệu, lưu loát, vốn từ vựng phong phú, đặc biệt là phải hiểu được cách giao tiếp của người Anh
+ Kỹ năng nghe hiểu: Giáo viên phải được luyện nghe nhiều để hiểu được tiếng Anh trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng (tiếng Anh - Anh, Anh - Mỹ, Anh - Ấn Độ …)
+ Kỹ năng đọc hiểu: Giáo viên phải được BD, tự BD để củng cố và nâng cao vốn từ vựng, hiểu biết về văn học, đất nước học của nước Anh Đồng thời rèn luyện kỹ năng đọc hiểu nắm thông tin tổng hợp, nắm thông tin chi tiết qua các bài đọc
+ Kỹ năng viết: Giáo viên không những nắm chắc mẫu câu, ngữ pháp, cách dùng từ chuẩn xác mà còn phải có kỹ năng viết các dạng bài như viết thư, viết bản tin, viết bài bình luận, bài mưu tả theo văn phong của Anh
Thứ nhất, GV tiếng Anh THPT được bồi dưỡng để đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ theo khung năng lực châu Âu Theo Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020”, giáo viên dạy ngoại ngữ phải có năng lực ngôn ngữ giảng dạy cao hơn trình độ chung của cấp dạy hai bậc Cụ thể, đối với GV tiểu học, THPT phải đạt bậc 5/6 do Hiệp hội các
Tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành (CEFR B2), tương đương chứng chỉ FCE tối thiểu 60 điểm, chứng chỉ TOEFL trên giấy tối thiểu 525
Trang 3120
điểm, chứng chỉ IELTS tối thiểu 5,5 điểm, chứng chỉ CAE tối thiểu 45 điểm, hoặc các chứng chỉ được công nhận tương đương khác, đạt năng lực ngoại ngữ bậc 4 (B2) trở lên, theo khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung châu Âu
GV Trung học phổ thông, Giáo dục thường xuyên, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp đạt bậc 5/6 KNLNN (CEFR C1), tương đương FCE tối thiểu
80 điểm, chứng chỉ TOEFL trên giấy tối thiểu 575 điểm, chứng chỉ IELTS tối thiểu 6,5 điểm, chứng chỉ CAE tối thiểu 60 điểm, hoặc các chứng chỉ được công nhận tương đương khác, đạt năng lực ngoại ngữ bậc 5 (C1) trở >lên, theo khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ châu Âu
Theo khung trình độ chung châu Âu (CEFR), năng lực ngoại ngữ của người học dựa trên 06 mức trình độ cụ thể là A1, A2, B1, B2, C1 và C2
- A1: Căn bản (Tốt nghiệp cấp I);
- A2: Sơ cấp (Tốt nghiệp cấp II);
- B1: Trung cấp (Tốt nghiệp cấp III và tốt nghiệp đại học không chuyên ngữ);
- B2: Trung cao cấp (Tốt nghiệp cao đẳng chuyên ngữ);
- C1: Cao cấp (Tốt nghiệp đại học chuyên ngữ);
- C2: Thành thạo
Thứ hai, GV THPT nói chung và giáo viên tiếng Anh THPT nói riêng trong một năm học mỗi giáo viên THPT phải thực hiện bồi dưỡng 120 tiết (60 tiết bắt buộc và 60 tiết tự chọn) theo chương trình bồi dưỡng thường xuyên của Bộ GD & ĐT Thứ ba, GV tiếng Anh THPT phải là một tấm gương tự học
và sáng tạo, phải tự học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn
1.3.4 Khung năng lực ngoại ngữ
Ban hành kèm theo Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01
năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo KNLNNVN được phát
triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và một số khung trình độ tiếng
Trang 3221
Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam KNLNNVN được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc 1 đến Bậc 6 và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR) Cụ thể như sau [3]:
Bậc 1 Có thể hiểu, sử dụng các cấu trúc quen thuộc thường nhật;
các từ ngữ cơ bản đáp ứng nhu cầu giao tiếp cụ thể Có thể
tự giới thiệu bản thân và người khác; có thể trả lời những thông tin về bản thân như nơi sinh sống, người thân/bạn bè v.v… Có thể giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm, rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ
Bậc 2 Có thể hiểu được các câu và cấu trúc được sử dụng
thường xuyên liên quan đến nhu cầu giao tiếp cơ bản (như các thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng, hỏi đường, việc làm) Có thể trao đổi thông tin về những chủ đề đơn giản, quen thuộc hằng ngày Có thể
mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xung quanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu
Có thể mô tả được những kinh nghiệm, sự kiện, giấc
mơ, hy vọng, hoài bão và có thể trình bày ngắn gọn các
lý do, giải thích ý kiến và kế hoạch của mình
Trang 3322
Bậc 4
Có thể hiểu ý chính của một văn bản phức tạp về các chủ đề cụ thể và trừu tượng, kể cả những trao đổi kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn của bản thân Có thể giao tiếp ở mức độ trôi chảy, tự nhiên với người bản ngữ Có thể viết được các văn bản rõ ràng, chi tiết với nhiều chủ đề khác nhau và có thể giải thích quan điểm của mình về một vấn đề, nêu ra được những ưu điểm, nhược điểm của các phương án lựa chọn khác nhau
Bậc 5 Có thể hiểu và nhận biết được hàm ý của các văn bản
dài với phạm vi rộng Có thể diễn đạt trôi chảy, tức thì, không gặp khó khăn trong việc tìm từ ngữ diễn đạt Có thể sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả phục vụ các mục đích xã hội, học thuật và chuyên môn Có thể viết
rõ ràng, chặt chẽ, chi tiết về các chủ đề phức tạp, thể hiện được khả năng tổ chức văn bản, sử dụng tốt từ ngữ nối câu và các công cụ liên kết
Bậc 6 Có thể hiểu một cách dễ dàng hầu hết văn nói và viết
Có thể tóm tắt các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại thông tin và trình bày lại một cách logic Có thể diễn đạt tức thì, rất trôi chảy và chính xác, phân biệt được các ý nghĩa tinh tế khác nhau trong các tình huống phức tạp
1.4 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
1.4.1 Nhu cầu bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
Hoạt động BDGV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động
Trang 3423
quản lý dạy học ở trường THPT Trong BDGV - giáo dục thì người dạy đóng vai trò quan trọng Hơn nữa, ngày nay là thời đại của khoa học công nghệ - thông tin dẫn đến nền kinh tế thay đổi với tốc độ nhanh, yêu cầu giáo dục phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế-xã hội Mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục thay đổi, buộc giáo viên phải cập nhật kiến thức mới, nội dung, chương trình mới Vì vậy muốn quản lý hoạt động của giáo viên đạt hiệu quả cao thì phải thường xuyên quan tâm hoạt động BD
Sự phát triển của giáo dục đòi hỏi ở người thầy phải học tập, BD thường xuyên và nhận thức sâu sắc rằng: muốn cống hiến được nhiều hơn cho giáo dục thì phải tích lũy kiến thức Muốn tích lũy kiến thức thì phải thường xuyên học tập, rèn luyện và BD, học tập suốt đời Quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, phải chú trọng xây dựng ĐNNG từng bước đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc
Đối với giáo viên tiếng Anh càng phải BD nhiều hơn, cập nhật thông tin mới, kiến thức mới, phương pháp hiện đại để đáp ứng nhu cầu hội nhập, mở cửa với các nước trên thế giới Bối cảnh dạy học đã có nhiều thay đổi, khiến cho việc đào tạo ban đầu cho giáo viên không đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế-xã hội, hoạt động BD nâng cao chất lượng giáo viên càng trở lên cấp bách Thực tiễn giáo dục cho thấy: chất lượng của đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh còn nhiều bất cập, khả năng nghe nói của giáo viên còn hạn chế Theo quan điểm truyền thống, giáo viên dạy tiếng Anh chỉ chú trọng dạy từ vựng, ngữ pháp, giảng giải các hiện tượng ngữ pháp nhằm mục đích cho học sinh thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học, cao đẳng, giáo viên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh Chính vì thế, nhiều giáo viên và học sinh nắm rất chắc về ngữ pháp nhưng khả năng giao tiếp
và làm việc với người nước ngoài bằng tiếng Anh rất hạn chế Mặt khác, hoạt động BDGV dạy tiếng Anh ở trường THPT chưa được chú trọng và quan tâm
Trang 351.4.2 Quản lý hoạt động lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
Kế hoạch có tầm quan trọng đặc biệt trong chức năng quản lý và duy trì
sự ổn định của tổ chức, kế hoạch giúp nhà quản lý hình dung trước công việc, trường hợp rủi ro, tạo điều kiện để nhà quản lý kiểm tra Kế hoạch còn giúp cho nhà quản lý nắm được công việc, quyền hạn trách nhiệm và chủ động tác nghiệp theo định hướng để hoàn thành công việc
Xây dựng kế hoạch BDCM cho GV tiếng Anh THCS là cơ sở để thực hiện, áp dụng các biện pháp triển khai nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động BDCM cũng như năng lực của đội ngũ GV tiếng Anh THCS
Kế hoạch BDCM cho GV tiếng Anh THCS có thể là kế hoạch ngắn hạn, hay dài hạn, quy mô kế hoạch có thể rộng hay hẹp nhưng phải đảm bảo 3 nội dung cơ bản:
1.4.3.1 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh THPT
Khối kiến thức bắt buộc thứ nhất là khối kiến thức đáp ứng nhiệm vụ năm học theo cấp học Khối kiến thức này nhằm tăng cường năng lực đáp ứng của GV tiếng Anh THPT đối với các yêu cầu đặt ra theo nhiệm vụ năm học
Trang 3625
Khối kiến thức bắt buộc thứ hai là khối kiến thức đáp ứng nhiệm vụ, yêu cầu giáo dục địa phương theo từng năm học (bao gồm cả các nội dung bồi dưỡng theo các dự án) Khối kiến thức này nhằm tăng cường năng lực đáp ứng của GV tiếng Anh THPT đối với các yêu cầu phát triển giáo dục hàng năm của địa phương
Khối kiến thức tự chọn nhằm giúp GV tiếng Anh THPT phát triển nghề nghiệp liên tục; nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo nhu cầu của từng GV; bao gồm các mô đun bồi dưỡng chia theo các yêu cầu chuẩn nghề nghiệp cần bồi dưỡng làm cơ sở cho giáo viên tiếng Anh THPT tự lựa chọn nội dung bồi dưỡng phù hợp để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng hàng năm
Chương trình BDCM cho GV tiếng Anh THPT được thực hiện trong phạm vi toàn quốc nhằm tổ chức bồi dưỡng cho GV tiếng Anh THPT nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng các yêu cầu đặt ra theo nhiệm vụ năm học, các yêu cầu phát triển giáo dục của địa phương và nhu cầu phát triển nghề nghiệp liên tục của mỗi GV
Kế hoạch bồi dưỡng hàng năm cho giáo viên tiếng Anh THPT được xây dựng trên cơ sở chỉ đạo của Bộ GD & ĐT đối với khối kiến thức bắt buộc thứ nhất, Sở GD&ĐT đối với khối kiến thức bắt buộc thứ hai và đề xuất của GV đối với khối kiến thức tự chọn trong chương trình khung
Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng là chính trên cơ sở được đáp ứng tài liệu
và có sự hỗ trợ, hướng dẫn (qua mạng hoặc tổ chức lớp tập trung); chú trọng các hình thức bồi dưỡng theo nhóm GV cùng trường hoặc cụm trường
Bộ GD&ĐT tổ chức thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả, quá trình bồi dưỡng và hướng dẫn các Sở GD & ĐT, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
GV thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng của GV tiếng Anh THPT tại địa phương
GV tiếng Anh THPT đạt kết quả bồi dưỡng hàng năm sẽ được cấp giấy chứng nhận Giấy chứng nhận được coi là căn cứ để xác định việc GV tiếng
Trang 3726
Anh THPT hoàn thành chương trình, kế hoạch bồi dưỡng theo năm học đồng thời làm căn cứ để đánh giá, thực hiện việc nâng bậc, nâng ngạch đối với GV tiếng Anh THPT theo quy định hiện hành
Như vậy yêu cầu đặt ra cho GV tiếng Anh không chỉ đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ theo khung năng lực chung châu âu theo Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” vừa phải hoàn thành chương trình bồi dưỡng thường xuyên GV trung học cơ sở theo thông tư số 31/2011/TT- BGDĐT ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT
1.4.3.2 Hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh THPT
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh THPT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay có 3 hình thức:
- Bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ
Loại hình bồi dưỡng này chia làm các giai đoạn kể từ năm 1995 đến nay, đội ngũ giáo viên phổ thông đã trải qua 3 chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên Hiện nay chương trình bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên tiếng Anh THPT đang thực hiện theo thông tư 31/2011/TT- BGDĐT
- Bồi dưỡng chuẩn hoá
BDCM cho GV tiếng Anh theo chuẩn nghề nghiệp là một dạng đào tạo lại, đào tạo đặc biệt, là công việc thường xuyên, liên tục, để bổ sung, nâng cao năng lực nghề nghiệp giáo viên trong suốt quá trình giảng dạy, hoạt động, là
sự nối tiếp tất yếu của đào tạo ban đầu Bên cạnh đó, bồi dưỡng chuẩn hoá có
ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt quyết định về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung Yêu cầu BDGV cho GV tiếng Anh được xuất phát từ năng lực thực sự của giáo viên tiếng Anh hiện nay và bao gồm bồi dưỡng chuẩn hoá cho giáo viên chưa đạt chuẩn và bồi dưỡng nâng chuẩn cho giáo viên có năng lực và có nhu cầu phát triển
Hiện nay nếu dựa vào khung năng lực ngoại ngữ chung châu Âu để đánh giá thì giáo viên THPT chưa đạt chuẩn rất nhiều do đó nhu cầu bồi
Trang 3827
dưỡng đạt chuẩn năng lực châu Âu để thực hiện đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” có ý nghĩa cấp thiết cao
- Bồi dưỡng thay sách để giảng dạy chương trình và sách giáo khoa mới Hình thức này mang ý nghĩa đào tạo lại cho GV đang giảng dạy hiểu rõ được tinh thần cơ bản, phương hướng, nguyên tắc xây dựng chương trình mới, nắm những điều thay đổi trong mục tiêu giáo dục Việc tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên tiếng Anh THPT được tổ chức theo ba hình thức:
+ Bồi dưỡng tập trung;
+ Bồi dưỡng tại chỗ;
+ Bồi dưỡng từ xa
1.4.4 Quản lý việc thực hiện tổ chức bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên THPT
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh THPT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay có 3 hình thức: BD thường xuyên theo chu
kỳ, BD chuẩn hoá, BD thay sách
Để hình thành và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua luyện tập các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng…cần quán triệt các nguyên tắc về phương pháp dạy học cơ bản sau:
- GV tổ chức và hướng dẫn HS tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và nhóm GV cần kết hợp hài hòa các phương pháp và kỹ thuật dạy học, sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho HS GV cần sử dụng tiếng Việt một cách hợp lý và có hiệu quả trong quá trình dạy học
- Với tư cách là người cố vấn, GV phải tạo điều kiện tối đa cho quá trình giao tiếp giữa GV với nhau; giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho GV
- Dạy học theo phương pháp gợi mở: GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đường đi của mình
Trang 39- Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product)
mà còn chú trọng cả quá trình (process) luyện tập và phương pháp học tập của HS
Để QL tốt việc sử dụng hiệu quả các phương pháp tiếng Anh THPT, người hiệu trưởng cần làm các việc sau:
- Định hướng đổi mới phương pháp dạy học cho GV, đồng thời tạo môi trường cho GV có điều kiện tiếp cận và sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là các phương pháp dạy học có đi kèm với ứng dụng CNTT & TT
- Quán triệt tinh thần dạy học tích cực, phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong mỗi tiết học, lấy đó làm một trong những tiêu chí đánh giá, phân loại GV
- Thường xuyên dự giờ, thăm lớp để kiểm tra việc sử dụng các phương pháp dạy học tiếng Anh của GV để có sự điều chỉnh kịp thời
1.4.5 Quản lý việc giám sát, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên tiếng Anh THPT
Đây là nội dung quan trọng của chủ thể quản lý vì chức năng này xuyên suốt quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp trong hoạt động quản lý
Kiểm tra là một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định Kiểm tra là một chức năng thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một số kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí
bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải cải tiến những hành động điều chỉnh, uốn
Trang 4029
nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: Đặt ra những chuẩn mực cần đạt của hoạt động, đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra, điều chỉnh các sai lệch, hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần Kiểm tra là quá trình nắm thông tin, xác định kết quả, đối chiếu với tiêu chuẩn, đối chiếu với mục tiêu kế hoạch đề ra để đánh giá tính hiệu quả của công việc
Trong hoạt động BDCM cho GV tiếng Anh THPT, kiểm tra giúp nhà quản lý nắm chắc tiến trình công việc hoạt động của bộ máy tổ chức, phát hiện những sai lệch để kịp thời điều chỉnh nhằm đảm bảo hoạt động BDCM theo kế hoạch đã xây dựng và đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, kiểm tra để có cơ sở cho việc lập kế hoạch các lớp bồi dưỡng tiếp theo
Trong bối cảnh hiện nay khi năng lực của GV tiếng Anh THPT được chuẩn hoá, hoạt động KT – ĐG phải dựa trên quy định của khung năng lực ngoại ngữ chung châu Âu đối với việc KT – ĐG đầy đủ các kỹ năng: Nghe - nói - đọc - viết đối với GV tham gia BDCM
1.4.6 Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ cho giáo viên THPT
Trong hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung và trong hoạt động bồi BDCM cho GV tiếng Anh THCS nói riêng CSVC và các trang thiết bị là một trong những điều kiện tiên quyết, cần thiết bởi do ngoại ngữ được thực hiện thông qua các kỹ năng thực hành tiếng: Nghe - nói - đọc - viết Chính vì vậy, bên cạnh việc quan tâm đến chất lượng đội ngũ báo cáo viên, sự đồng điều về chất lượng đầu vào GV tiếng Anh tham gia bồi dưỡng, nội dung, chương trình giáo trình bồi dưỡng,… hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV tiếng Anh THCS đạt hiệu quả cao khi và chỉ khi CSVC và trang thiết bị phục vụ được đảm bảo đúng theo yêu cầu và đặc thù của hoạt động dạy học ngoại ngữ