1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường bán lẻ ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp

24 6K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị trường bán lẻ ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2007-2010
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 239 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tình hình kinh doanh như hiện nay , kênh phân phối ngáy càng có vai trò quan trọng trong việc đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng .

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài:

Trong tình hình kinh doanh như hiện nay , kênh phân phối ngáy càng có vai tròquan trọng trong việc đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng Ngày nay , kênh phân phối hiện đại ngày càng phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là

sự kiện Việt Nam gia nhập WTO được ba năm , và một năm thị trường bán lẻViệt Nam mở cửa hoàn toàn cho các doanh nghiệp (DN) bán lẻ có 100% vốnnước ngoài Việt Nam từng được đánh giá là thị trường bán lẻ có sức hấp dẫnnhất thế giới Vậy trong những năm qua , thị trường bán lẻ của Việt Nam phát

triển như thế nào? Chính những băn khoăn đó mà tôi quyết định chọn đề tài “Thị

trường bán lẻ ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp ” làm đề tài môn học Mục tiêu nghiên cứu :

Tìm hiểu về thị trường bán lẻ Việt Nam trong thời gian qua Từ đó có nhữngnhận định và đề xuất một số biện pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu :

Tình hình thị trường bán lẻ ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

Tập trung nghiên cứu lĩnh vực bán lẻ ở Việt Nam từ năm 2007-2010

Phương pháp nghiên cứu : Nghiên cứu báo cáo

Kết cấu đề tài :

Kết cấu đề tài gồm ba chương :

Chương 1: Tổng quan về hình thức bán lẻ

Chương 2: Phân tích thực trạng thị trường bán lẻ ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp và kết luận

Kết quả nghiên cứu :

Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tôi đã hiểu hơn về thị trường bán lẻ, vai tròcủa hệ thống bán lẻ trong tiến trình phát triển kinh tế, và các biện pháp để nângcao hiệu quả hoạt động của thị trường bán lẻ

Trong khuôn khổ bài báo cáo chuyên đề môn học, tôi chỉ trình bày những vấn đềchính của thị trường bán lẻ Việt Nam hiện nay Trong bài báo cáo không tránhkhỏi những sai xót, mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô để tôi rút kinhnghiệm cho các bài nghiên cứu tiếp theo được tốt hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỤC LỤC

page

Lời mở đầu

Chương 1: Tổng quan về hình thức bán lẻ …… 1.1 Khái niệm và bản chất của việc bán lẻ … 5

1.2 Chức năng và tầm quan trọng của nhà bán lẻ ………5

1.3 Các hình thức bán lẻ chính …….5

1.3.1 Cửa hàng bán lẻ ….5

1.3.2 Bán lẻ không qua cửa hàng …6

1.3.3 Các tổ chức bán lẻ 7

CHƯƠNG 2: Phân tích thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam ……8

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hệ thống bán lẻ ở Việt Nam ……….8

2.2 Tình hình thị trường bán lẻ ở Việt Nam … 8

2.2.1 Các hệ thống bán lẻ chủ yếu và đặc điểm hệ thống bán lẻ ở Việt Nam 82.2.1.1Kênh truyền thống ….……… 8

2.2.1.2 Kênh hiện đại …… .9

2.2.2 Hiệu quả hệ thống bán lẻ …….….……12

2.2.3 Thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn hấp dẫn nhà đầu tư ……….12

2.2.4 Nhiều doanh nhiệp bán lẻ mở rộng hệ thống …….13

2.2.5 Người tiêu dùng đã quan tâm tới kênh phân phối hiên đại 15

2.2.6 Nhà bán lẻ Việt Nam : quyền lực nằm ở

đâu? 15

2.3 Đánh giá hệ thống bán lẻ Việt Nam ……….20

2.3.1 Hệ thống bán lẻ Việt Nam chưa bền vững ……….21

2.3.2 Thị trường bán lẻ Việt Nam thiếu mặt bằng kinh doanh … 22

Chương 3: Giải pháp cho hệ thống bán lẻ ở Việt Nam …23

Tài liệu tham khảo ……… 25

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÌNH THỨC BÁN LẺ

1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA VIỆC BÁN LẺ

Bán lẻ là tất cả hoạt động liên quan đến việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ trựctiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân,không kinh doanh

Mọi tổ chức làm công việc bán hàng này cho dù là người sản xuất, ngườibán sỉ hay người bán lẻ đều là làm công việc bán lẻ, bất kể là hàng hóa, dịch vụ

đó được bán như thế nào (trực tiếp, qua bưu điện, qua điện thoại hay máy tựđộng bán hàng) hay chúng được bán ở đâu (tại cửa hàng ngoài phố hay tại nhàngười tiêu dùng)

LẺ

Hệ thống phân phối, đặc biệt là dịch vụ bán lẻ là cầu nối quan trọng giữa sảnxuất với tiêu dùng Hệ thống phân phối tạo điều kiện để hàng hóa từ sản xuấttiếp cận đến người tiêu dùng giúp người tiêu dùng mua được các sản phẩmhàng hóa theo đúng yêu cầu về số lượng, chủng loại, chất lượng, đúng thờiđiểm, thuận lợi với chi phí thấp nhất, giúp sản xuất tiêu thụ các sản phẩm củamình Và còn kích thích, hỗ trợ sản xuất phát triển

 Tham gia tiến trình phân phối bằng cách tập hợp và phân loại sản phẩm từnhững nhà cung cấp khác nhau, đồng bộ, sắp xếp sản phẩm để phục vụnhu cầu phong phú và đa dạng của khách hàng

 Cung cấp thông tin cho người tiêu thụ thông qua quảng cáo, trưng bày,nhân viên bán Ngoài ra còn hỗ trợ nghiên cứu Marketing, cung cấp thôngtin phản hồi cho những thành viên phân phối khác trong kênh

 Dự trữ sản phẩm, ghi giá, chất xếp và những công việc chăm sóc, chuẩn

bị sẵn sàng sản phẩm bán ra

 Tạo thuận tiện và hoàn tất những giao dịch bằng cách cung cấp sản phẩmđúng vị trí, thời gian, các chính sách tín dụng và những dịch vụ khác chokhách hàng

Các tổ chức bán lẻ rất đa dạng, có ba hình thức bán lẻ chủ yếu: cửa hàng bán

lẻ, bán lẻ không qua cửa hàng và các tổ chức bán lẻ

1.3.1 Cửa hàng bán lẻ

Cửa hàng chuyên doanh: cửa hàng bán một chủng loại hẹp sản phẩm

nhưng rất đa dạng Ví dụ: cửa hàng quần áo, cửa hàng dụng cụ thể thao…

Cửa hàng bách hóa tổng hợp: Bán một số loại sản phẩm, thường là

quần áo, giày dép, mỹ phẩm, đồ trang sức, đồ gia dụng và đồ đạc trang trí

Trang 4

nội thất, trong đó mỗi loại được bán ở những gian riêng biệt do chuyênviên thu mua hay bán hàng quản lý.

Siêu thị: Đây là một loại cửa hàng tự phục vụ, qui mô tương đối lớn, có

chi phí bán hàng thấp và mức lời thấp, được thiết kế để phục vụ tất cả mọinhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, chăm sóc cá nhân, chăm sócgia dụng…

Cửa hàng hạ giá : Bán những sản phẩm tiêu chuẩn, thường xuyên với giá

thấp hơn do chấp nhận được mức lời thấp hơn và bán với khối lượng lớnhơn Để giảm chi phí họ sử dụng những cơ sở ở những khu vực giá thuênhà rẻ nhưng đông người qua lại Họ cắt giảm mạnh mức giá quảng cáorộng rãi và bán những sản phẩm có chiều rộng và chiều sâu vừa phải

Cửa hàng bán giá thấp: khác với những cửa hàng bán hạ giá thường

xuyên mua hàng với giá thấp hơn giá sỉ và bán cho người tiêu dùng vớigiá thấp hơn giá bình quân trên thị trường Hình thức phổ biến nhất củacửa hàng bán giá thấp là cửa hàng của nhà máy thuộc quyền sở hưu củangười sản xuất điều hành, thường bán các loại sản phẩm dư thừa, mặthàng đã chấm dứt sản xuất do sai quy cách

Phòng trưng bày catalog : cho người mua xem và lựa chọn sản phẩm

qua catalog Họ bán với giá hạ rất nhiều với các loại sản phẩm có thươnghiệu, lưu thông nhanh, giá trị cao như đồ kim hoàn, dụng cụ điện, máyảnh, túi xách… Họ kinh doanh theo cách cắt giảm chi phí và mức lời để

có thể bán được giá thấp hơn nhưng khối lượng bán lớn hơn

Các hình thức bán lẻ trên đây có thể chọn một trong bốn mức độ dịch vụ để

đa dạng hóa sự lựa chọn và thỏa mãn khách hàng:

_Bán lẻ tự phục vụ

_Bán lẻ tự chọn

_Bán lẻ phục vụ hạn chế

_Bán lẻ phục vụ đầy đủ

1.3.2 Bán lẻ không qua cửa hàng

Loại hình bán lẻ không qua cửa hàng ngày càng phát triển nhanh chóng vàchiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong doanh số bán lẻ Những hình thức chủyếu của bán lẻ không thông qua của hàng bao gồm:

Bán hàng trực tiếp : là hình thức đưa sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất

tới tận tay người tiêu dùng và chăm sóc khách hàng thông qua các nhàkinh doanh độc lập và có thể họ cũng là người tiêu dùng Loại hình nàythường kinh doanh về các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, chăm sóc sắcđẹp, chăm sóc cá nhân, chăm sóc gia dụng, trang sức, bất động sản…Loại

Trang 5

hình này đang rất phát triển và có một số tỷ phú cho rằng đây sẽ là hìnhthức bán hàng của tương lai Thu nhập của các nhà phân phối được chiatheo các mức hoa hồng được quy định (lợi nhuận bán lẻ, hoa hồng thànhtích, thưởng cuối năm…) Các công ty kinh doanh theo loại hình này đàotạo các nhà kinh doanh về bán hàng, quản lý , chăm sóc khách hàng…

Marketing trực tiếp : Marketing đơn hàng qua bưu điện, viếng thăm tại

nhà hay công sở, marketing qua điện thoại, giải đáp trực tiếp trên truyềnhình và mua hàng qua hệ thống internet

Bán hàng tự động : bán hàng cho khách hàng bằng các máy tự động

Dịch vụ mua hàng : là hình thức bán lẻ không có kho hàng, phục vụnhững khách hàng đặc biệt Những thành viên của dịch vụ mua này đượcquyên mua theo một danh sách chọn lọc nào đó của người bán lẻ với giátriết khấu

Thương mại điện tử: là hình thái hoạt động thương mại bằng phương

pháp điện tử ; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua cácphương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ragiấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn đượcgọi là “thương mại không giấy tờ”)

1.3.3 Các tổ chức bán lẻ

Mạng lưới công ty: Các cửa hàng của mạng lưới là hai hay nhiều cửa

hàng cùng thuộc một quyền sở hữu và kiểm soát, có chung một bộ phậnthu mua và tiêu thụ tập trung và bán những chủng loại hàng hóa tương tựnhau Qui mô của nó cho phép mua số lượng lớn với giá thấp hơn Mạnglưới tiết kiệm được chi phí khuyến mại vì chi phí quảng cáo của họ đượcchia cho nhiều cửa hàng và khối lượng tiêu thụ lớn

Mạng lưới tự nguyện và hợp tác xã bán lẻ: Thứ nhất là mạng lưới tự

nguyện gồm một nhóm người bán lẻ độc lập được người bán sỉ bảo trợthu xếp để mua số lượng lớn hàng hóa và cùng bán Thứ hai là hợp tác xãbán lẻ, gồm những người bán lẻ độc lập đứng ra thành lập một tổ chứcmua hàng tập trung và cùng hợp lực để thực hiện những biện pháp khuyếnmãi

Hợp tác xã tiêu thụ: là mọi công ty bán lẻ thuộc quyền sở hữu của chính

những khách hàng của nó Hợp tác xã tiêu thụ do dân cư của một cộngđồng lập ra khi họ thấy răng những người bán lẻ ở địa phương phục vụkhông chu đáo vì đòi giá quá cao hay bán những sản phẩm kém chấtlượng Họ chung tiền để mở cửa hàng của chính mình rồi biểu quyếtnhững chính sách của cửa hàng đó Cửa hàng có thể định giá thấp hoặcbán theo giá bình thường và các xã viên có quyền được chia lợi tức theo

số lượng đã mua

Trang 6

Tổ chức đặc quyền: là một sự liên kết theo hợp đồng giữa người cấp đặc

quyền và người hưởng đặc quyền Các tổ chức đặc quyền thường đượcxây dựng trên cơ sở một sản phẩm, dịch vụ độc đáo nào đó hay phươngpháp kinh doanh hay trên cơ sở tên thương mại, bằng sáng chế hay uy tín

mà người cấp đặc quyền đã tạo ra

Tập đoàn bán lẻ: là những công ty dạng tự do, kết hợp một số hướng và

hình thức khác nhau dưới quyền sở hữu tập trung với sự nhất thể hóa vớimột mức độ nào đó chức năng phân phối và quản lý của mình Trongtương lai phương thức bán lẻ đa dạng hóa chắc chắn sẽ được nhiều mạnlưới công ty chấp nhận

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG

_Chính sách phát triển, thuế, thủ tục hành chính…

_Tình hình nền kinh tế đang phát triển như thế nào?

_Lạm phát, CPI, GDP, tỷ giá hối đoái

_Cơ cấu dân số, văn hóa tiêu dùng, tình hình cung ứng mặt bằng, nguồn cungứng nhân lực,…

2.2.1 Các hệ thống bán lẻ chủ yếu và đặc điểm hệ thống bán lẻ ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam các hệ thống bán lẻ có các hình thức sau:

2.2.1.1 Kênh truyền thống:

Hiện nay người tiêu dùng Việt Nam vẫn có thói quen sử dụng kênh phânphối truyền thống(chợ, hàng rong, cửa hàng tạp hóa…) và thường xuyênvới thực phẩm tươi sống(tỷ lệ mua thịt heo tại các chợ truyền thống đượcquy hoạch chiếm đến 86,3% những người được hỏi, thuỷ hải sản chiếm

Trang 7

78,9%; thịt bò và thịt gia cầm tỷ lệ lần lượt là 78% và 74,8%) Hiện naykênh truyền thống chiếm hơn 75% trong hệ thống phân phối.

Những kênh phân phối truyền thống được mô tả như một tập hợp ngẫunhiên các doanh nghiệp và cá nhân độc lập về chủ quyền và quản lý vàmỗi thành viên kênh này ít quan tâm tới hoạt động của cả hệ thống Đó làmột mạng lưới rời rạc kết nối lỏng lẻo các nhà sản xuất, bán buôn và bán

lẻ do buôn bán trực tiếp với nhau, tích cực thương lượng về các điềukhoản mua bán và hoạt động độc lập Quan hệ mua bán giữa các thànhviên kênh không có sự liên kết ràng buộc với nhau Các thành viên trongkênh truyền thống hoạt động vì mục tiêu riêng của họ chứ không phảimục tiêu chung của cả kênh Họ có thể mua hàng hóa từ bất kỳ người bánnào và bán hàng hóa cho bất kỳ ai Do quan hệ phân phối hình thành mộtcách ngẫu nhiên nên mất công sức cho việc đàm phán Hàng hóa có thểphải qua nhiều khâu trung gian không cần thiết

2.2.1.2 Kênh hiện đại:

Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiên ích

Hiện nay ở Việt Nam các hệ thống phân phối hiện đại đang rất phát triểnkhoảng 20%/năm Và có rất nhiều trung tâm thương mại đang được xâydựng và chuẩn bị xây dựng Các trung tâm thương mại nổi tiếng hiện naynhư: Vincom, Tràng Tiền Plaza, Parkson, Diamond Plaza…Với cácdoanh nghiệp trong nước Co-op Mart, FiviMart, HaproMart, Marko, Thếgiới di động…và các doanh nghiệp nước ngoài như Metro Cash & Carry,Big C, Dairy Farm … Các kênh phân phối này có các đặc trưng:

_ Đóng vai trò cửa hàng bán lẻ: Thực hiện chức năng bán lẻ - bán hàng

hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ khôngphải để bán lại Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, đượcquy hoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô,

có trang thiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu

tư và quản lý, được Nhà nước cấp phép hoạt động

_ Áp dụng phương thức tự phục vụ (self-service hay libre - service):

Đây là phương thức bán hàng sáng tạo, được ứng dụng trong nhiều loạicửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hộivăn minh giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ có sự phân biệt:

+ Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hóa sẽ đến chỗ

người bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp

đỡ, hướng dẫn của người bán

+ Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc

xe đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Ngườibán vắng bóng trong quá trình mua hàng

Trang 8

_ Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hóa gắn mã số, mã vạch

được đem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tínhtiền bằng máy và tự động in hóa đơn Đây chính là tính chất ưu việt củacác hình thức này, đem lại sự thỏa mãn cho người mua sắm Đặc điểmnày được đánh giá là cuộc đại "cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bánlẻ

_ Sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá: qua nghiên cứu cách thức

vận động của người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị

có cách bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoáhiệu quả của không gian bán hàng Do người bán không có mặt tại cácquầy hàng nên hàng hóa phải có khả năng "tự quảng cáo", lôi cuốn ngườimua Các loại hình này làm được điều này thông qua các nguyên tắc sắpxếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi được nâng lên thành những thủ thuật.Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được ưu tiên xếp ở những vị trí

dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; những hàng hóa có liênquan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thu hút kháchhàng bằng những kiểu trưng bày đập vào mắt; hàng có trọng lượng lớnphải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn đểtạo cho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó được bán rất chạy

Bán hàng trực tiếp: Khoảng 65 triệu người trên khắp thế giới đang tham

gia bán hàng trực tiếp, một ngành kinh doanh thu về khoảng 114 tỷ USD.

Khi con người càng trở nên bận rộn, họ càng muốn tìm cách tiết kiệm thờigian trong các nhu cầu thiết yếu Bán hàng trực tiếp thỏa mãn được nhucầu đó vì các nhà phân phối sẽ giao sản phẩm đến tận nhà khách hàng.Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 30

Trang 9

doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức bán hàng trực tiếp: Amway ViệtNam với doanh thu 40 triệu usd , tốc độ phát triển khoảng hơn 30%/năm ;Oriflame; Agel, EPS Với doanh thu lên tới hàng nghìn tỷ đồng Dù chỉmới xuất hiện tại Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây, bán hàngtrực tiếp đã phát huy thế mạnh vốn có của ngành và thu hút sự tham giacủa một lượng lớn người lao động trong nước Đây là hoạt động kinhdoanh bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng, người tiêu dùng có thểtrực tiếp đến mua hàng tại công ty mà không phải qua các đại lý hay cửahàng bán lẻ Nhờ vậy, hình thức này còn tiết kiệm rất nhiều chi phí từ việcquảng cáo, khuyến mãi, tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển hàng hóa Và

ai cũng có thể tham gia hình thức này với vốn đầu tư thấp ( dưới 20usd) Tạo cơ hội kinh doanh cho chính người tiêu dùng Chế độ đãi ngộ dựatrên kết quả kinh doanh và nhà phân phối có quyền tự do lựa chọn sảnphẩm kinh doanh, thời gian làm việc, đối tác làm việc…

Thương mại điện tử: Hiện nay thương mại điện tử ở Việt Nam tương đối

phát triển Và có các thương hiệu nội đang nổi như : rongbay.com ;enbac.com ; raovat.net… Cùng với sự thâm nhập của các thương hiệu rấtlớn của thế giới như: ebay.com ; amazon.com…

Thương mại điện tử có các đặc điểm sau:

_Tốc độ: tốc độ giao dịch nhanh hơn

Trang 10

_Liên tục 24/7: hoạt động liên tục, không gián đoạn

_Phạm vi: mở rộng ra phạm vi toàn cầu, các rào cản thâm nhập thị trường

có thể bị hạ thấp, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin thị trường

_Đa dạng hóa sản phẩm: khách hàng có thể tiếp cận nhiều sản phẩm, dịch

vụ hơn đồng thời nhà cung cấp cũng có khả năng cá biệt hóa (customize)sản phẩm phù hợp với các nhu cầu khác nhau của khách hàng nhờ khảnăng khai thác và chia xẻ thông tin qua Internet

_Khả năng tương tác: chia xẻ thông tin với khách hàng 24/7

_Tự động hóa: các giao dịch cơ bản

_Tốc độ:Thông tin về sản phẩm dịch vụ được tung ra thị trường nhanhhơn

_Khách hàng tiếp cận những thông tin này cũng nhanh hơn

_Giao dịch được tiến hành trong một số trường hợp cũng nhanh hơn (đốivới hàng hoá số hoá, việc giao hàng được thực hiện nhanh và thuận tiệnhơn)

_Thông tin phản hồi từ phía khách hàng cũng nhanh hơn Thời gian hoạtđộng liên tục không bị gián đoạn

2.2.2 Hiệu quả hệ thống bán lẻ

Sau hơn 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trườngbán lẻ Việt Nam được đánh giá là đầy triển vọng, có sức hút lớn đối vớicác doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước Ước 10 tháng đầu nămnăm 2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạttrên 1.282 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ 2009

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Việt Namliên tục tăng cao qua các thời kỳ, giữ tốc độ 25% trong khoảng thời gian2006-2008

Tính đến cuối năm 2010, cả nước có khoảng 8.591 chợ trong quy hoạch(234 chợ hạng I, 887 chợ hạng II, 7470 chợ hạng III, 1130 chợ tạm và chợchưa xếp hạng), trong đó có 79 chợ đầu mối nông sản cấp vùng và cấptỉnh, thu hút sự tham gia của trên 2 triệu người

Nếu như năm 2005, tại 30/64 tỉnh, thành chỉ có khoảng 200 siêu thị thìnăm 2009 đã tăng tới 445 siêu thị, 78 trung tâm thương mại và khoảng2.000 cửa hàng tiện lợi tại khắp 63 tỉnh, thành phố Tuy nhiên, giá trị hànghóa lưu thông qua chợ chiếm khoảng 40%, qua các loại hình phân phốihiện đại chiếm khoảng 15 - 20%

2.2.3 Thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn hấp dẫn nhà đầu tư

Theo Báo cáo xếp hạng thường niên 211 nền kinh tế của Planet Retail,năm 2009, Việt Nam xếp thứ 48, đạt 39,757 tỷ USD trong thị trường bán

Trang 11

lẻ toàn cầu Tính đến tháng 6/2010, Việt Nam đã tăng 2 bậc, đạt 43,302 tỷUSD, vượt lên trên cả các nền kinh tế như New Zealand, Phần Lan,Singapore, Hungary, UAE, Hongkong, Bulgary, Uruguay Điều này chothấy thị trường phân phối - bán lẻ của Việt Nam đang phát triển rất mạnh

mẽ với nhiều phân khúc còn ở dạng tiềm năng

Năm 2009, có nhiều khó khăn, thách thức gay gắt khiến ngay cả các thịtrường bán lẻ lớn trên thế giới đều tăng trưởng "âm" nhưng doanh số bán

lẻ hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam vẫn tăng 18,6% (sau khi loại trừ yếu

tố tăng giá còn 12%) Tính hết 5 tháng đầu năm 2010, doanh thu thịtrường bán lẻ đạt 621.416 tỷ đồng, tăng 27,1% so cùng kỳ năm trước (saukhi loại trừ yếu tố tăng giá, mức tăng này vẫn đạt khoảng 16%) Hoạtđộng phân phối - bán lẻ đóng góp khoảng 14% GDP, sử dụng hơn 5 triệulao động, cao nhất trong các ngành dịch vụ

Năm 2008, AT.Kerney nhận định Việt Nam đứng đầu danh sách các thịtrường bán lẻ mới hấp dẫn nhất với tốc độ tăng trưởng FMCG (fast movingconsumer goods) nhanh thứ hai ở châu Á Quy mô thương mại hiện đại cònnhỏ, thương mại truyền thống còn phổ biến nhưng có tiềm năng to lớn chophát triển thương mại hiện đại (tăng 28% trong năm 2008)

Sự sụt giảm về thu nhập trong giai đoạn chỉ số giá tiêu dùng vẫn tăng, vềtổng thể không ảnh hưởng đến tổng chi tiêu cho tiêu dùng của người ViệtNam: cả 4 dòng thực phẩm, rau quả, mặt hàng khác và phi bán lẻ (bán buôn)tăng liên tục Theo Plalet Retail, dự kiến xu hướng tăng trưởng này vẫn tiếptục đến năm 2015, với tốc độ tăng chi tiêu tiêu dùng nhanh hơn tốc độ tăngchỉ số giá tiêu dùng

Theo nghiên cứu của TNS Vietnam, những người có thu nhập cao đang chitiêu nhiều hơn, nhưng những người có thu nhập trung bình và thấp chi tiêu íthơn, xét về tổng thể chi tiêu thì tiêu dùng vẫn tăng Tỷ lệ tiết kiệm vẫn tiếptục giảm xuống (12% năm 2006 xuống 9% năm 2008) cho thấy sự tự tintrong tiêu dùng của người Việt Nam nói chung

TNS Việt Nam cũng đã thống kê hơn 5.000 thương hiệu sản phẩm mới đượctung ra thị trường vào năm 2007 Đồng thời, các nhà sản xuất tin rằng 75%động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cho đến năm 2017 là nhờ vào cácthương hiệu mới

2.2.4 Nhiều doanh nghiệp bán lẻ mở rộng hệ thống

Năm 2009, Saigon Co.op đã mở thêm 20 cửa hàng trên toàn quốc, so với 83 cửahàng của G7 Mart và 57 cửa hàng của Hapro Mart Các thương hiệu nhỏ hơn nhưVissan, Shop & Go và Fivimart cũng tập trung cho mở các cửa hàng mới Trongngắn hạn, các khoản đầu tư mở rộng của các công ty bán lẻ trong nước phải chịu

Trang 12

áp lực tài chính lớn, tuy nhiên, nó sẽ giúp cho họ có lợi thế đối với các đối thủcạnh tranh từ nước ngoài sau này.

Nửa sau của năm 2009 đã có những chuyển động đáng chú ý của một số công tybán lẻ nước ngoài Circle K mở cửa hàng tiện lợi đầu tiên tại Tp HCM trongtháng 6/2009, và công bố mở rộng hơn nữa mạng lưới của mình trong các nămtiếp theo Aeon - hãng bán lẻ lớn ở Nhật Bản, cũng đàm phán với Chính phủ ViệtNam cấp giấy phép đầu tư Và trong vài năm tới, ngành bán lẻ của Việt Nam hứahẹn sẽ có sự tham gia đầy đủ của các công ty quốc tế Kênh phân phối - bán lẻhiện đại như siêu thị, đại siêu thị, cửa hàng tiện lợi đều sẽ phát triển nóng

Trong hai năm 2007 và 2008, các nhà bán lẻ Việt Nam tập trung các nguồn lựcvào các hoạt động chuẩn bị mở rộng mạng lưới bán lẻ, cải thiện vùng phủ sóng,tăng cường hình ảnh thương hiệu và thuê trước các địa điểm tốt Saigon Co.op,Hapro Mart và G7 là 3 doanh nghiệp nỗ lực mạnh nhất, với hy vọng chống lại sựcạnh tranh của các đối thủ bán lẻ hàng đầu thế giới khi họ xâm nhập vào ViệtNam Tổng số cửa hàng Saigon Co.op tăng gần 70% trong 3 năm (2007 - 2009).Hapro Mart mở rộng số lượng cửa hàng từ chỉ 3 trong năm 2006 lên đến 120trong năm 2008, trong khi con số cửa hàng G7 Mart tăng từ 300 đến gần 500.Nhờ vào sự phổ biến, thành công và nhận biết tốt của chuỗi siêu thị tiện lợi,Saigon Co.op đã quyết định mở rộng chuỗi bán lẻ cửa hàng thực phẩm đầu tiênvào cuối năm 2008 dưới thương hiệu Saigon Co.op Food, và nhanh chóng đạtđến con số 15 cửa hàng trong năm 2009 Co.op Food đã có vị trí ổn định trong hệthống phân phối thực phẩm, thuốc lá, đồ uống, gây áp lực lớn hơn cho đối thủcạnh tranh trực tiếp là cửa hàng tạp hóa truyền thống và sạp chợ Tương tự,Hapro Mart cũng đang phát triển một chuỗi cửa hàng tiện lợi bên cạnh chuỗi siêuthị của mình Citimart cũng có một chuỗi cửa hàng tiện lợi, với các cửa hàngnằm chủ yếu ở căn hộ cao cấp hoặc cao ốc văn phòng bên cạnh chuỗi siêu thịCitimart truyền thống

Các nhà phân phối (NPP) nước ngoài như Metro Cash&Carry (Đức), Casino(Big C - Pháp), Parkson (Ma-lai-xi-a)… với thế mạnh về tiềm lực tài chính, côngnghệ và trình độ quản lý, tính chuyên nghiệp cao, có khả năng cung cấp hàng hóarộng khắp với mức giá hấp dẫn đang chiếm lĩnh thị trường thương mại hiện đại.Cuối năm 2008, NPP và bán lẻ điện tử Best Denki (Nhật Bản) thông qua hợpđồng nhượng quyền của Carings, đã đi vào hoạt động với siêu thị điện máy tạitòa nhà Lotte ở quận 7, TP Hồ Chí Minh Đến đầu năm 2009, Tập đoàn Metro(Đức) đã xây dựng 8 trung tâm phân phối hàng hóa tại các thành phố lớn trên cảnước Năm 2010, tập đoàn bán hàng trực tiếp hàng đầu thế giới Amway mở thêm

3 trung tâm phân phối ở Cần thơ, Hải Phòng, Đà Nẵng và 1 Mini Shop ở Hà Nộivào tháng 1/2011

Tính đến cuối năm 2010, có khoảng 8.591 chợ trên cả nước (trong quy hoạch)

Về các loại hình bán lẻ hiện đại, nếu như năm 2005 Việt Nam chỉ có trên 200

Ngày đăng: 18/04/2013, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w