1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán ở việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện

109 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 10,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực hiện trước khi thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức vận hành, thậm chí trước khi thiết lập cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứns khoán nên n

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THANH MINH

PHÁP LUẬT VỂ Q UẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐ I VỚI CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Ở VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Luật Kinh tê

Mã số: 603850

THƯ VIÊ N

TRƯỜNG ĐAI HỌC LỦÂT h à n ộ i

PHONG GV 5-5 5.

LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC• ■ • •

HÀ NỘI - 2004

Trang 3

1.3 Lý luận chung về pháp luật quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị 23trường chứng khoán

CHÚNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN

2.1 Quy định pháp luật đối với cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng 28khoán và thị trường chứng khoán

2.2 Nội dung quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán 41

LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHÚNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN

Trang 4

M ặc dù vậy, thị trường chứng khoán - sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường - một công cụ để hiện đại hoá nền tài chính nước nhà trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế lại vẫn chưa phát huy được hết vai trò tích cực của mình Từ cuối năm 2001 cho đến giữa năm 2003, chỉ số VN-Index liên tục xuống dốc Số lượng doanh nghiệp niêm yết và các công ty chứng khoán đếm trên đầu ngón tay.

Bên cạnh những nguyên nhân về kỹ thuật, không thể không thừa nhận vai trò tổ chức và quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với thị trường Hành lang pháp lý mà quản lý nhà nước đặt ra cho hoạt động của thị trường chứng khoán được thiết lập từ trước khi có thị trường nên đã bộc lộ những bất cập nhất định khi đi vào thực tiễn

Có thể nói, ngay từ nhữns ngày đấu xây dựng khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán, chúng ta đã cố gắng đảm bảo một môi trường thông thoáng cho thị trường vạn hành đúng quy luật khách quan của nó Tuy nhiên, do còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn về quán lý loại hình hoàn toàn mới này nên đôi khi chúng ta đã có những biện pháp can thiệp chưa phù hợp và

Trang 5

Cho tới thời điểm hiện nay, quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứns khoán đã và vẫn là vấn đề có tính thời sự Nghị định mới về chứng khoán và thị trườne chứng khoán được ban hành vào cuối năm 2003 thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP song vẫn còn nhiều tranh luận, ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này.

Muốn có một thị trường chứng khoán hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, thực sự là một kênh huy động vốn hiệu quả, trước hết chúng ta cần xây dựng một môi trường pháp lý ổn định, thống nhất và đồng bộ trong quản

lý thị trường, tạo điều kiện cho các chủ thể khi tham gia thị trường Cũng chính

vì lý do này, chúng tôi quyết định chọn vấn đề Pháp luật về quản lý nhà nước

đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện làm đề tài nghiên cứu.

2 Tình hình nghiên cứu:

Chứng khoán và thị trường chứng khoán cho đến nay vẫn còn khá mới

mẻ với nhiều người Việt Nam nhưng hoàn toàn không phải là vấn đề xa lạ với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển

Mặc dù vậy, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học ở Việt Nam từ trước khi

có thị trườns Trong đó, ở phạm vi và mức độ khác nhau, có nhiều công trình

đã đề cập đến vấn đề pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán Có thể kể tên những công trình đề cập trực tiếp đến vấn

đề này như “Quản lý nhà nước về chứng khoán thị trường chứng khoán ở Việt Nam” của ThS Đặng Vũ Huân, đề tài luận án tốt nghiệp cao học Luật năm

1997 “Quản lý nhà nước về chứne khoán thị trường chứns khoán ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Binh Tuy nhiên, những công trinh này đều được

Trang 6

thực hiện trước khi thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức vận hành, thậm chí trước khi thiết lập cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứns khoán nên nhìn chung chỉ còn ý nghĩa lịch sử mà thiếu tính thời sự.

Ngoài ra, vấn đề pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán còn được đề cập gián tiếp ở một số công trình nghiên cứu khác với mức độ khác nhau

Phải thừa nhận rằng, đề tài “Pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam” không phải là nội dung hoàn toàn mới mẻ, song các công trình nghiên cứu như đã đề cập không còn đảm bảo được tính thời sự Kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp vấn đề này trong khi còn tồn tại nhiều bất cập trong công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Mặt khác, khoa học nói chung, khoa học pháp lý nói riêng là không có giới hạn nên chúng tôi quyết định chọn đề

tài “P háp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng

khoán ở Việt N a m ” để nghiên cứu, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị

nhằm hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán

3.Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn thạc sỹ luật học với đề tài Pháp luật vê' quản lý nhà nước đối

vói chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam - Thực trạng và giải p h á p hoàn thiện tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật Việt Nam

hiện hành thuộc nhiều ngành luật, nhiều văn bản pháp luật khác nhau có liên quan đến công tác tổ chức và thực hiện nội dung quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán để rút ra những vấn đề bất cập trong các quy phạm pháp luật và xây dựng phưưng hưứng cũng như các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Trang 7

Tuy nhiên, trong giới hạn luận văn Thạc sỹ, tác giả chỉ đề cập những nội dung chính của vấn đề quán lý nhà nước vẻ chứng khoán và thị trường chứng khoán ở những văn bản pháp luật thuộc ngành luật kinh tế là chủ yếu.

N soài ra, luận văn cũns đề cập những vấn đề lý luận tổng quan nhất về công tác quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới Việc nghiên cứu này nhằm tạo cơ sở cho quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý nhà nước đối với chứng khoán

và thị trường chứng khoán, thấy được những điểm đã và chưa phù hợp với thông lệ, những điểm bất cập để từ đó khắc phục

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Vấn đề quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán nằm ở nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau Do vậy, trong luận văn này, thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán, tác giả muốn làm sáng tỏ quan niệm, vai trò và nội dung của pháp luật

về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán Trên cơ

sở đó tìm ra những phương hướng và xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về kinh tế nói chung, về chứng khoán và thị trường chứng khoán nói riêng

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chứng khoán và thị trường chứng khoán như là đối tượng của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này

- Trình bày lý thuyết chung về công tác quản lý nhà nước như nguyên tắc tính tất vếu, vai trò của quản lý nhà nước Đây là cơ sở để xác định nội dung và giới hạn pháp luật đặt ra cho hoạt động quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 8

- N shiên cứu, phàn tích, đánh giá thực trạng nội duns cơ bản của quản

lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định pháp luật hiện hành

- Đề ra n h ữ n s định hướng, giải pháp nhằm xây dựns và hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trườne chứng khoán ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các neuyên tắc phương pháp luận của triết học Mác - LêNin và theo tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường vốn ở Việt Nam

Cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu và khái quát những nội dung pháp lý cơ bản của công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong lĩnh vực này

- Phương pháp so sánh để hiểu rõ hơn quy định pháp luật quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam so với các nước trên thế giới, thấy được những điểm giống và khác, những điểm đã và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế

- Phươns pháp thống kê, khảo sát thực tiễn nhàm đưa ra những số liệu thực tiễn phục vụ cho việc đánh giá của luận văn về hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật trên thực tế

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận ván bao 2ồm 3 chương

Trang 9

C hương 1:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHÚNG KHOÁN VÀ THI TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÚNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN:

1.1.1 Chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán:

1.1.1.1 Khái niệm và bẩn chất pháp lý của chứng khoán:

Chứng khoán - đối tượng giao dịch hay hàng hoá của thị trường chứng khoán là một khái niệm phức tạp bởi bản thân nó hàm chứa nhiều quan hộ kinh

tế Theo Điều 2 Khoản 1 Nghị định 48/1998/NĐ - CP ngày 11 tháng 7 năm

1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây gọi tắt là Nghị định 48/CP), “chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành”

Có thể thấy, dấu hiệu pháp lý cơ bản của chứng khoán là xác nhận quyền sở hữu tài sản nhất định và các quyền, lợi ích kèm theo hay quyền phát sinh từ việc sở hữu chứng khoán

Chứng khoán là loại hàng hoá mang tính đặc thù, thể hiện ở các đặc trưng sau: khả năng sinh lời, tính thanh khoản và tính rủi ro

Nếu khả năng sinh lời giúp người sở hữu chứng khoán được hưởng một khoản lợi nhuận trong tương lai, tính thanh khoản tạo cho họ có thể chuyển đổi

dễ dàng từ chứng khoán sang tiền mặt thì tính rủi ro lại lường trước trường hợp không thu hồi được vốn Ba đặc trưng này của chứng khoán có mối quan hệ tác độns lãn nhau Ví như, tỷ lệ nshịch với khả năng sinh lời và tính rủi ro, tính thanh khoán của chứng khoán càns trở nên thấp khi hai dặc trưng còn lại lên

Trang 10

ngôi Chính mối quan hệ qua lại này làm cho chứng khoán đáp ứng được nhu cầu đa dạns của nhà đầu tư.

1.1.1.2 Phán loại chứng khoán:

Với tính chất là loại hàng hoá đặc thù, hình thức tồn tại của chứng khoán khá đa dạns Ví dụ Điều 2 Khoản 1 Luật Giao dịch chứng khoán Nhật Bản quy định tới 21 loại chứng khoán khác nhau

ở Việt Nam, cho tới thời điểm hiện tại, chứng khoán gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ Quỹ đầu tư chứng khoán và các loại chứng khoán khác theo quy định của pháp luật Cụ thể, Điều 3 Nghị định 144/2003/NĐ - CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán (sau đây gọi tắt

là Nghị định 144/CP) đề cập đến một số loại chứng khoán phái sinh như chứng quyền, quyền mua cổ phần, cổ phiếu quỹ

Nhưng tựu trung lại, có hai loại chứng khoán chủ yếu được giao dịch là trái phiếu và cổ phiếu

Theo Thông tư số 01/1998/TT-UBCK ngày 13/10/1998 hướng dẫn Nghị định 48/CP về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, “trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành với người sở hữu” còn “cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần”

Theo đó, có thể hiểu trái phiếu là giấy nhận nợ, được phân biệt với hình thức nhận nợ khác ở khả năng trao đổi Loại chứng khoán này mang lại cho người sở hữu chúng một khoản lợi tức cố định và địa vị chủ nợ đối với tổ chức phát hành

Khác với trái phiếu, cổ phiếu là chứns chỉ 2Óp vốn vì thế còn được gọi là chứng khoán vốn Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông, thành viên của công ty,

Trang 11

có quyền tham aia biếu quyết những vấn đề quan trọng của công ty Mặt khác, không phái lúc nào loại hình chứng khoán nàv cũng mang lại cho chủ nhân của chúng một khoản lợi nhuận như mong muốn hay nói khác đi, lợi tức cổ phiếu thay đổi phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.

Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán là loại chứng khoán do công ty quản

lý quỹ hoặc các quỹ đầu tư phát hành, xác nhận phần vốn góp và quyền hưởng lợi của người đáu tư đối với quỹ v ề bản chất, đây chính là loại chứng khoán vốn

1.1.2 Thị trường chứng khoán:

1.1.2.1 K hái niệm:

Thị trường chứng khoán - khu vực nhạy cảm của thị trường tài chính là một hiện tượng lịch sử đã ra đời và tồn tại gần 5 thế kỷ Khi nói đến sự xuất hiện của thị trường chứng khoán, các nhà kinh tế thường lấy cái mốc là phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Cùng với sự phát triển các quan hệ kinh tế - xã hội, thị trường chứng khoán đã trở thành bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường, trong đó khái niệm về thị trường chứng khoán cũng có sự thay đổi

Thị trường chứng khoán được hiểu là nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Song, về bản chất, thị trường chứng khoán không chỉ phản ánh các quan hệ trao đổi mua bán một số lượng chứng khoán đơn thuần mà là mua bán “quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền”.[28 - trló ]

Đặc điểm cơ bản của thị trường chứng khoán là thị trường tự do, luôn tổn tại khâu trung gian Trên thị trường này, mọi sự độc đoán hay cưỡng ép về giá đều bị loại trừ Phương thức mua bán chủ yếu áp dụng là đấu giá Dù có yêu cầu sons cả người mua và nsười bán đều khôns quvết định giá giao dịch

mà hoàn toàn do trunơ gian quyết định

Trang 12

1.1.2.2 Các loại thị trường chứng khoán :

Về cơ cấu, thị trường chứng khoán gồm 2 bộ phận: thị trường sơ cấp và thị trườns thứ cấp

Thị trường sơ cấp là nơi diễn ra quá trình mua bán lần đầu các chứng khoán mới phát hành, vì thế còn được gọi là thị trường cấp một hay thị trường phát hành Ở đây, chức năng quan trọng nhất của thị trường chứns khoán được thực hiện, đó là huy động vốn đầu tư cho tổ chức phát hành

Thị trường thứ cấp - nơi mua bán các loại chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp còn được gọi là thị trường cấp hai Với vẻ bề ngoài thật sôi độns song thực tế là mọi giao dịch trên thị trường này lại không làm tăng vốn đầu tư cho tổ chức phát hành

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gắn kết với nhau bởi mối quan hệ nội tại Thị trường sơ cấp là tiền đề, thị trường thứ cấp là động lực Thị trường

sơ cấp quyết định sư tồn tại của thị trường chứng khoán Bởi lẽ, nếu không có thị trường sơ cấp, sẽ không có chứng khoán tức hàng hoá làm đối tượng giao dịch trên thị trường Ngược lại, thị trường thứ cấp có tác dụng đối với sự lưu chuyển vốn giữa các nhà đầu tư và hoạt động, vị thế, đặc biệt là thị giá chứng khoán

Thông thường, thị trường thứ cấp thường được tổ chức theo 2 phương thức là thị trường giao dịch tập trung và thị trường phi tập trung

Thị trường giao dịch tập trung là thị trường trong đó các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch Theo quy định tại Điều 2 Khoản 19 và Điều 20 Đoạn 1 Nghị định 48/CP “thị trường giao dịch tập trung là địa điểm hoặc hệ thống thông tin tại

đó các chứng khoán được mua, bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứns khoán” và ở Việt Nam, “thị trườns giao dịch tập trung được tổ

Trang 13

chức từns bước từ Trung tâm giao dịch chứng khoán lên sở siao dịch chứng khoán”.

Thị trường phi tập trung (Over the counter market - OTC) là thị trườns trong đó việc giao dịch mua bán chứng khoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung Ở thị trường này, các công' ty chứng khoán được phép thương lượng

và giao dịch trực tiếp với nhau Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật truyền thông, giao dịch trên thị trường phi tập trung được tiến hành dưới nhiều hình thức: giao dịch nối mạng và giao dịch riêng lẻ

Sự khác biệt cơ bản giữa thị trường giao dịch tập trung và thị trường OTC thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Tt Nội dung so sánh Thị trường GDTT Thị trường OTC

1 Địa điểm kinh doanh Tập trung Phân tán

2 Người điều hành Sở giao dịch Thường là hiệp hội

3 Quyết định giá Bằng đấu giá Bằng thương lượng

4 Chứng khoán Đã niêm yết Thường chưa niêm yết

6 Điều kiện tham gia thị trường Ngặt nghèo hơn Nới lỏng hơn

Việc phân loại thị trường, nhận thức đầy đủ về tính chất cũng như tổ chức hoạt động của từng loại giúp cơ quan quản lý nhà nước có những biện pháp tác động phù hợp, thực sự đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển của thị trường chứng khoán

1.1.2.3 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán :

Như các thị trường hàng hoá khác, thị trường chứng khoán vận hành theo những quy luật chung của quan hệ thị trường như quy luật cung - cáu, quy

Trang 14

luật giá trị, Song do tính chất đặc thù của hàng hoá nên tổ chức và hoạt động của thị trườns này còn phải tuân thủ những nguyên tắc riẻnơ Đó là nauyên tắc côns khai, nauyên tắc trung sian và nguyên tắc đấu ơiá.

Nguvên tắc công khai được áp dụng đối với mọi hoạt độnơ trên thị trường chứng khoán Chứng khoán, giá cả chứng khoán, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, người lãnh đạo, cổ đông lớn của tổ chức phát hành hay số lượng giao dịch, tất cả đều phải được công bố rõ ràng Không chỉ cụ thế hoá trong các điều luật từ thông tin trước khi phát hành (Điều 13), công bố việc phát hành (Điều 14) đến khi niêm yết (Điều 28), giao dịch, thanh toán, Nghị định 144/CP còn dành một chương riêng (chương VI) với 9 điều (Điều 51 đến Điều 59) quy định về công bố thông tin Nhờ đó, những thông tin cần thiết được cung cấp kịp thời cho nhà đầu tư, giúp họ có sự lựa chọn đúng đắn Đồng thời, đây cũng là cơ sở cho việc quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, đảm bảo loại thị trường có tính rủi ro hệ thống này vận hành trôi chảy

Như đã trình bày, đặc trưng của thị trường chứng khoán là thị trường tự

do, mọi giao dịch đều qua trung gian, ở thị trường sơ cấp, chứng khoán được phân phối dưới hình thức bảo lãnh hoặc đại lý phát hành Trên thị trường thứ cấp, người mua và người bán không trực tiếp gặp nhau mà thông qua người môi giới Được trang bị kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán,

có kỹ năng phân tích tình hình kinh tế cùng với sự đảm bảo về tài chính (ký quỹ một số vốn nhất định ở Sở giao dịch chứng khoán), người môi giới là nơi gửi gắm niềm tin của khách hàng Nguyên tắc trung gian đặt ra không ngoài mục đích bảo vệ người đầu tư, giúp họ tránh khỏi nhầm lẫn hoặc bị lừa gạt do thiếu hiểu biết về chứng khoán và thị trường chứng khoán Tuy nhiên nguyên tắc này chỉ coi là bắt buộc đối với phát hành ra công chúng và giao dịch tại thị trường tập truns

Trang 15

Nguyên tắc đấu giá - nguyên tắc nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên đòi hỏi việc định giá chứng khoán phải thực hiện thông qua phương thức đấu giá Theo đó, nhu cầu về giá chứng khoán của cả người bán và người mua được đáp ứng một cách tối ưu nhất, tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể Cho đến nay, có 3 phương thức đấu giá cơ bản là đấu giá trực tiếp giữa các nhà môi giới, đấu giá gián tiếp qua hệ thống nối mạng máy tính và đấu giá tự động do máy chủ tự động chốt giá trên cơ sở các lệnh mua bán được truyền đến.

Sự tồn tại của nguyên tắc trên đây phản ánh một đòi hỏi khách quan Lịch sử tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán cho thấy mọi biểu hiện

vi phạm nguyên tắc ở mức độ ít nhiều đều phá vỡ tính ổn định thị trường Vì lẽ

đó, nhà nước với “bàn tay hữu hình” cần có những tác động phù hợp, linh hoạt, bảo đảm tôn trọng nguyên tắc Chỉ có như vậy, hoạt động của thị trường chứng khoán mới diễn ra trôi chảy, thế mạnh của thị trường chứng khoán mới được khơi nguồn

1.1.2.4 Chủ th ể tham gia thị trường chứng khoán:

Thị trường chứng khoán, từ thưở sơ khai cho đến khi trở thành sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường, luôn có 2 loại chủ thể chủ yếu tham gia là nhà phát hành chứng khoán và nhà đầu tư chứng khoán

Theo quy định tại Điều 3 Khoản 6, Khoản 7 Nghị định 144/CP, tổ chức phát hành là tổ chức đã đăng ký chào bán một đợt chứng khoán có thể chuyển nhượng được cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành Tuỳ theo quy

mô thị trường, quy định về số lượng các nhà đầu tư có thể nhiều hoặc ít hơn

Nhà đầu tư là người mua chứng khoán, được phân thành 2 nhóm: nhà đầu tư có tổ chức và nhà đầu tư cá thể, trong đó nhà đầu tư có tổ chức thường

có tiềm năng lớn hơn Ngoài ra, xét theo khía cạnh quốc tịch, nhà đẩu tư còn được phân thành nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Nhàm mục đích bảo đảm an toàn cho nền kinh tế quốc dân, thông thường pháp luật các

Trang 16

quốc gia đều có hạn chế nhất định với sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trườns chứng khoán.

Nói tóm lại, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán giữa các chủ thể, có cơ cấu phức tạp và vận hành theo những nguyên tắc nhất định Trong các bộ phận thị trường, thị trường giao dịch tập trung có giá trị như “bộ mặt” thị trường chứng khoán quốc gia Do đó, các quốc gia đều có biện pháp kiểm soát chặt chẽ bộ phận thị trường này

1.1.2.5 Vai trò của thị trường chứng khoán:

- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán đồng thời là kênh huy động vốn hiệu quả, dẫn nguồn vốn tạm thòi nhàn rỗi cho hoạt động phát triển sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, thị trường chứng khoán có tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ nhu cầu chung của xã hội

- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng môi trường đầu tư lành mạnh với cơ hội lựa chọn phong phú Tuỳ thuộc vào khả năng tài chính và mục tiêu của mình, nhà đầu tư có thể lựa chọn loại chứng khoán phù hợp, tránh tình trạng “vốn chết”, qua đó góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia

nghiệp sử dụng vốn hiệu quả

Trang 17

Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, siúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt độnơ của các doanh nghiệp được nhanh chóng, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nàng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích

áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác bằng các chỉ báo của thị trường Giá chứng khoán tăng cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại giá chứng khoán giám chứng tỏ nền kinh

tế có dấu hiệu tiêu cực, cần có sự can thiệp kịp thời của Chính phủ qua chính sách kinh tế vĩ mô Mặt khác, thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát bằng việc mua và bán trái phiếu Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân đối nền kinh tế

1.2 K H Á I Q U Á T VỂ Q U Ả N LÝ N H À NƯỚC Đ Ố I V Ớ I C H Ứ N G K H O Á N

V À T H Ị T R Ư Ờ N G C H Ứ N G K H O Á N :

1.2.1 Quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

Quản lý nhà nước là hoạt động quản lý vĩ mô thuộc hệ thống tổ chức quốc gia, là sự quản lý của nhà nước với các hoạt độns kinh tế- chính trị - xã hội theo hướng điều tiết và định hướng

Trang 18

Quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán là hoạt động quản lý ở tầm vĩ mô của cơ quan nhà nước đối với loại hàng hoá đặc biệt

là chứng khoán và thị trường giao dịch của nó - thị trường chứng khoán, nhằm mục đích phát huy hiệu quả, vai trò tích cực của loại hình thị trường này

Quản lý nhà nước nói chung là một hệ thống lớn gồm hai phân hệ: nhà nước - chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong những môi trường nhất định (khách thể quản lý)

Vì vậy, muốn quản lý thành công, phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý, phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể Song trước hết phải biết định hướng đúng từ đó tạo ra mục tiêu đúng Mặt khác, chủ thể quản lý phải nắm được các quy luật có liên quan đến hoạt động của hệ thống Nhận thức vấn đề này, ngay từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã xác định: “ Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực

tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng” Bài học đó liên tục được các kỳ đại hội sau khẳng định

Trong quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán, có những quy luật kinh tế cơ bản như: quy luật tăng lợi nhuận, quy luật cung - cầu giá cả, quy luật về người mua và quy luật ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp,

Vận dụng quy luật vào quản lý, trước hết là việc đề ra các nguyên tắc quản lý Nghệ thuật của việc này là ở chỗ biến được đòi hỏi của quy luật khách quan thành nội dung của các nguyên tắc chỉ đạo, các tiêu chuẩn hành vi Nhìn chung ở các quốc gia, quản lý nhà nước thường dựa trên năm nguyên tắc: nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích, nguyên tắc sử dụng toàn diện các phương pháp quản lý, nguyên tắc nắm bao quát, chú

ý toàn diện, tập trung xử lý khũu yếu và nguyên tắc hiệu quả Bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc nói trên, quản lý nhà nước về chứng khoán và thị

Trang 19

trường chứng khoán còn phải tôn trọng các nguyên tắc hoạt động đặc thù của thị trường chứng khoán như nguyên tắc công khai, nguyên tắc trung gian và nsuvên tắc đấu giá Đây chính là kim chỉ nam để nhà nước thực hiện tốt các chức năng quản lý của mình, từ định hướng đến tổ chức, điều khiển, kiểm tra

và cuối cùng là điều chỉnh sao cho đạt được mục tiêu quản lý

1.2.2 Tính tất yếu của quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Quản lý nói chung, quản lý nhà nước nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và do đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi Các Mác

đã chỉ ra rằng: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [3 - tr480]

Nhìn lại quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới có thể thấy rằng

“bàn tay vô hình” với những quy luật kinh tế “vô định” theo lý thuyết của Adam Smith đã không thể đảm bảo điều kiện ổn định cho sự phát triển kinh tế Bằng chứng là cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 - 1933 mà khởi điểm là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán New York vẫn còn in đậm dấu

ấn trong lịch sử nhân loại Rõ ràng là nhà nước không thể đứng ngoài cuộc, không thể chỉ dừng lại ở vai trò “canh gác”, bảo vệ trật tự xã hội hay nói cách khác quản lý nhà nước về kinh tế trong đó có quản lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán là đòi hỏi khách quan

Hơn nữa, thị trường chứng khoán, như đã phân tích, có vai trò vô cùng quan trọng Đây là nơi tập trung nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do

đó có tác động rất lớn đến môi trường dầu tư nói riêns và nền kinh tế nói chung

Trang 20

Mặt khác, thị trư ờ n g chứng khoán là một thị trường cao cấp, nơi tập trung nhiểu đối tượng tham gia với mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các giao dịch và các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn Đặc tính này khiến thị trườnơ chứng khoán cũng là môi trường dễ xảy ra những hoạt đ ộ n s kiếm lời không chính đáng, những hành vi gian lận, không công bằng gây tổn thất cho các nhà đầu tư và nguy hiểm hơn cả là gây náo loạn thị trường, làm ảnh hưởnơ tới toàn bộ nền kinh tế qua phản ứns dây chuyền Hẳn nhân loại chưa quên ngày 29/10/1929, ngày thứ “Năm đen tối” của thị trường chứng khoán Tây, Bắc Âu, Nhật Bản và tiếp đến là ngày thứ “Hai đen tối” đã gày ra cơn lốc khủng hoảng tài chính - tiền tệ nghiêm trọng Gần gũi hơn với chúng ta là hình ảnh một thị trường chứng khoán Philippin kém hiệu quả do thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất 2 sở giao dịch Makita và Manila hay một thị trường chứng khoán Indonesia trì trệ qua thời gian dài do thiếu hàng hoá và không được sự quan tâm đúng mức.

Ở Việt Nam, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh tế

xã hội đất nước, việc tạo dựng các kênh huy động vốn cho đầu tư mở rộng sản xuất càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, trong đó thu hút vốn qua thị trường chứng khoán là một hình thức mới mẻ và hiệu quả cần được chú trọng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nêu rõ: “Phát triển thị trường vốn bằng nhiều hình thức, thu hút tiền gửi trung, dài hạn qua ngân hàng và các công ty Mở rộng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu và xúc tiến chuẩn bị về thể chế, cán bộ và các điều kiện cần thiết cho việc thiết lập thị trường chứng khoán và đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của thị trường này” [ 5 - tr236] Nhận thức được tầm quan trọng này, ngay từ những năm đầu thập kỉ 90, Chính phủ đã xúc tiến công tác chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán Đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức

đi vào hoạt động được hơn 4 năm, cũng trải qua bao bước thăng trầm Từng có lúc thị trường “đóng băng” một thời gian dài tưởng khó “hàm nóng” Nhưng

Trang 21

với nỗ lực của các nhà quản lý, thị trường chứng khoán đã dần trở lại trạng thái hoạt đônơ bình thườna.• o *—-

Vậy là, từ lý thuyết đến thực tiễn, tất cả đều chỉ ra rằng, quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trườno chứng khoán là tất yếu, xuất phát từ vai trò của nhà nước cũng như đặc tính của chứng khoán và thị trường chứng khoán

1.2.3 Tiếp cận các quy định về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán:

Quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán là đòi hỏi cưa bất kì quốc gia nào có nền kinh tế thị trường Theo đó, bàn về vấn đề này, người ta thường đề cập đến 2 phương diện chủ yếu:

- Chủ thể quản lý nhà nước hay cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

- Những nội dung cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

1.2.3.1 Cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán:

Thông thường, mỗi quốc gia đều thành lập một cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Tuỳ từng nước, cơ quan này có những tên gọi và mô hình tổ chức, quản

lý khác nhau

Về tên gọi, tại Đức, có Cục Chứng khoán thuộc Ngàn hàng Liên bang

dưới sự lãnh đạo của Ngân hàng trung ương

Ỏ Mỹ, Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán (SEC - Securities and Exchange Commission) là một cơ quan của liên bang có tư cách pháp lý

Trang 22

thực hiện việc kiểm soát thị trường chứng khoán Cơ quan này chịu sự lãnh đạo của Tổng thống Tất cả các tổ chức hoạt độna trons ngành chứns khoán đều phải đăníĩ ký, báo cáo và chịu sự kiểm tra giám sát của Uỷ ban chứns khoán và giao dịch chứng khoán.

Tại Nhật Bản, Uỷ ban giám sát chứng khoán và giao dịch chứng khoán (ESC - Exchange Surveillance Commision) được thành lập từ năm 1992 với chức năng cơ bản là tiến hành điều tra và xử lý các giao dịch gian lận trên thị trường chứng khoán Những chức năng quản lý thị trường chung do Bộ Tài chính đảm nhiệm

ở Anh, có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB - Securities Invesment Board) Đây là một tổ chức chịu sự thống lĩnh của Bộ Tài chính, được thừa nhận trong đạo luật về các dịch vụ tài chính ban hành năm 1986 Đến nay, cơ quan này được đổi tên là cơ quan quản lý các dịch vụ tài chính (FSA - Financial Services Authority)

Cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Pháp có tên gọi là Ưỷ ban điều hành sở giao dịch do Thủ tướng thống lĩn h

Tuy có tên gọi khác nhau ở mỗi nước song các cơ quan này đều là những tổ chức quan trọng Thể chế hoạt động của chúng khá mềm dẻo với những hệ thống chi nhánh để có thể thích ứng với sự thay đổi thường xuyên của thị trường

Về mô hình tổ chức, quản lý, trên thế giới chủ yếu áp dụng ba mô hình

là mô hình ngân hàng, mô hình phi ngân hàng và mô hình hỗn hợp

Mô hình ngân hàng còn được gọi là mô hình quản lý thị trường chứng khoán “kiểu Đức” , được áp dụng phổ biến ở châu Âu Theo đó, mọi hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán đều thông qua hệ thống ngân hàng Điểm mạnh của mô hình này là ở chỗ cho phép khai thác một cách triệt để nhất những lợi thế về nghiệp vụ lưu ký, thanh toán đa phương qua mạng lưới ngùn

Trang 23

hàng Mặt khác, sự quan lý, giám sát của ngân hàng cũng là tiền đề cho sự ổn định về vốn Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là sự hạn chế vể dun2 lượng của thị t r ư ờ n g chứns khoán, sự lạc hậu đối với việc khai thác sản phẩm mới của thị trường tài chính do chỉ sử dụng hệ thống ngân hàng VI vậy, trên thế giới chỉ có khoảng 10% thị trường chứng khoán áp dụng mô hình này.

Mô hình phi ngàn hàng được điển hình bời mô hình quản lý thị trường chứng khoán “kiểu M ỹ”, được áp dụng trên gần 45% thị trường chứng khoán thế giới Mồ hình này có ưu điểm ở chỗ hoạt động rất linh hoạt, năng động, cho phép thị trường chứng khoán có dung lượng lớn, phát triển với tốc độ cao nhờ sự đa dạng hoá thành viên, thu hút được các tổ chức tài chính phi ngân hàng như công ty tài chính, bảo hiểm, các quỹ đầu tư, tham gia trực tiếp vào thị trường Tuy nhiên, đây cũng chính là một trong những nhân tố dẫn đến hoạt động đầu cơ chứng khoán, làm tăng mức độ rủi ro trong đầu tư chứng khoán và làm thị trường thiếu ổn định

Mô hình hỗn hợp với tên gọi khác là mô hình quản lý thị trường chứng khoán “kiểu N hật” là sự kết hợp của hai mô hình ngân hàng và phi ngân hàng

Vì vậy, mô hình này cho phép khai thác, phát huy được những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế của mỗi mô hình nêu trên Khoảng 45% thị trườngchứng khoán thế giới áp dụng mô hình này, chủ yếu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương do chịu sự ảnh hưởng của thị trườnơ chứng khoán Nhật Bán Ngày nay, các quốc gia châu Âu đang có xu hướng áp dụng mô hình này

Ở Việt Nam, cơ quan có chức năng quản lý chuyên ngành về chứng

khoán là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Việc lựa chọn mô hình tổ chức, quản

lý của cơ quan này là một trong những vấn đề về chiến lược phát triển thị trường tài chính Vì vậy, sự lựa chọn ấy một mặt phải xuất phát từ những đặc điểm kinh tế - xã hội, vị trí địa lý của nước ta, mặt khác phủi phù hợp với các nước trong khu vực và khuynh hướng phát triển của thị trườns tài chính thế giới

Trang 24

I.2.3.2 Nội dung quản lý nhà nước vê' chứng khoán và thị trường chứng khoán:

Xét theo đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước về chứng khoán

và thị trường chứng khoán gồm 2 bộ phận cơ bản là quản lý nhà nước đối với chứng khoán (xét ở khía cạnh nguồn hàng hoá và chất lượng hàng hoá) và quản

lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán (thị trường giao dịch hàng hoá)

Theo đó, hoạt động này bao gồm các nội dung chính sau đây:

* Thứ nhất: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán

và thị trường chứng khoán; hoạch định chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển thị trường chứng khoán

Pháp luật là công cụ quản lý hữu hiệu đối với bất kì nhà nước nào Do

đó, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung chính của quản

lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Đồng thời, để thị trường phát triển ổn định, đúng hướng, việc quản lý phải dựa trên cơ sở các chính sách, kế hoạch và chiến lược đã được đề ra

* Thứ hai: Cấp, gia hạn, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc phát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán và thu lệ phí cấp giấy phép theo quy định của pháp luật

Đây thực chất là cơ chế quản lý việc tham gia hoạt động phát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của các chủ thể thông qua một trong hai cơ chế: cơ chế đăng ký và cơ chế cấp phép

Cơ chế đăng ký thường được áp dụng ở những nước có thị trường chứng khoán phát triển ở trình độ cao như Anh, Mỹ, Nhật Bản ở những nước này, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán chỉ đưa ra những tiêu chuẩn nhất định, chủ thể nào đáp ứng đủ tiêu chuẩn đó thì thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước

Trang 25

Cơ chế cấp phép đặt ra các điều kiện và thủ tục chặt chẽ nhằm đảm bảo

sự an toàn cho thị trườnơ chứng khoán Cơ chế này thường được áp dụng ở những nước có thị trường chứng khoán mới phát triển

ở Việt Nam, cơ chế quản lý hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng của các chủ thể là cơ chế đăng ký còn việc tham gia niêm yết, kinh doanh và dịch vụ chứna khoán thực hiện theo chế độ cấp phép

* Thứ ba: Tổ chức và quản lý thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổ chức phụ trợ hoạt động trên thị trường chứng khoán

Để thị trường có thể vận hành nhịp nhàng, việc tổ chức và quản lý thị trường giao dịch là điều tất yếu Mặt khác, để đảm bảo nguyên tắc trung gian được tôn trọng, đem lại sự công bằng cho các nhà đầu tư, vấn đề quản lý các tổ chức trung gian và tổ chức phụ trợ trên thị trường chứng khoán cũng cần được quan tâm

* Thứ tư: Thanh tra, giám sát và xử lý các vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Như đã đề cập, thị trường chứng khoán là nơi dễ xảy ra những hoạt động kiếm lời không chính đáng, những hành vi gian lận Vì vậy, công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động minh bạch, công khai và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường

Với mục đích trên, hoạt động thanh tra được tập trung chủ yếu vào vấn

đề tuân thủ quy định pháp luật của các chủ thể tham gia thị trường

* Thứ năm: Đào tạo nghiệp vụ, tuyên truyền phổ biến kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 26

So với nhiều ngành nshề khác, hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đòi hỏi phải có một lượng kiến thức tương đối bởi nó hàm chứa nhiều nguy cơ rủi ro Yêu cầu này đạt ra không chỉ đối với những người làm công tác quản lý mà với tất cả chủ thể tham gia thị trườns nói chung

từ tổ chức phát hành cho tới nhà đầu tư và các tổ chức trung gian phụ trợ khác

Do đó, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng công tác tổ chức, vận hành thị trường cũng như tuyên truyền, phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán là hoạt động luôn được chú trọng thực hiện ở hầu hết các quốc gia có thị trường

* Thứ sáu: Hợp tác quốc tế về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Từ nhiều thập kỉ nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã được thừa nhận như là một đòi hỏi tất yếu Là một nhân tố của nền kinh tế, một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán không thể phát triển ngoài xu thế chung đó Bởi vậy, ở mức độ này hay mức độ khác, các nước đều tiến hành hợp tác khu vực, hợp tác quốc tế về chứng khoán và thị trường chứng khoán Đây cũng là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước

về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 27

Như đã nêu ở mục 1.3.2, bàn về quản lý nhà nước đối với chứng khoán

và thị trườns chứng khoán, người ta thường đề cập đến 2 phương diện chủ yếu

- Chủ thể quản lý nhà nước hay cơ quan quản lý nhà nước về chứnơ khoán và thị trường chứng khoán

- Những nội dung cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Theo đó, pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm 2 bộ phận cơ bản là các quy định về địa vị pháp lý của Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước - cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứng khoán và quy định về nội dung quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán

Theo cách hiểu truyền thống, địa vị pháp lý của một cơ quan, tổ chức nói chung được đề cập ở một phạm vi hẹp Địa vị pháp lý của một tổ chức chỉ bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ mà họ phải thực hiện

Ngày nay, khoa học pháp lý hiện đại có cách tiếp cận mới mẻ về vấn đề này Khái niệm “địa vị pháp lý” được nhìn nhận ở một nghĩa rộng hơn Địa vị pháp lý của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là tổng thể các quy định pháp luật

về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước

Địa vị pháp lý của Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước được xác định chủ yếu trong Nghị định số 90/2003/NĐ - CP ngày 12/8/2003 của Chính phủ

Theo Điều 110 Nghị định 144/CP, quản lý nhà nước về chứng khoán và

thị trường chứng khoán có 6 nội duns cơ bản như đã nêu ở điểm 1 , 2 J z

Đây cũng là những nội dunơ chính mà đề tài tập truns nghiên cứu và được trinh bày ở chương 2 luận văn

Trang 28

1.3.2 Sơ lược lịch sử hình thành, phát triển các quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam:

Quản lý nhà nước về kinh tế nói chung, về chứng khoán và thị trường chứne khoán nói riêng là tất yếu khăch quan, là yêu cầu của bất kì quốc gia nào có nền kinh tế thị trường Trong đó, pháp luật chính là một trong những công cụ quản lý hữu hiệu nhất

Bởi vậy, ở nhiểu nước trên thế giới, nơi mà thị trường chứng khoán đã hình thành từ hàng trăm năm, hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã tương đối hoàn chỉnh, ở Việt Nam, môi trường thể chế cho sự phát triển thị trường chứns khoán mới bắt đầu được quan tâm thiết lập từ những năm 90 thế kỉ trước, khi đất nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có định hướng

xã hội chủ nghĩa Luật Công ty 1990 là cơ sở pháp lý đầu tiên ghi nhận sự cho phép hình thành thị trường chứng khoán tại Việt Nam Lần đầu tiên trong hệ thống pháp lý của Việt Nam đã đưa ra các quy định về việc thành lập công ty (gồm công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần), về các hoạt động liên quan đến việc phát hành chứng khoán như quy định về cổ phiếu, chuyển nhượng cổ phiếu và giấy phép phát hành

Từ những năm 1940, một số trái phiếu đã được phát hành Nhưng cho tới trước ngày 20/7/2000, Việt Nam vẫn chưa biết tới sự tồn tại của một thị trường chứng khoán Điểm khác biệt của pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam so với các nước khác là ở chỗ quy định về quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán lại ra đời trước khi có thị trường Thậm chí, những quy định này còn tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Trang 29

Một trong nhữna bước đi có ý nghĩa khởi đầu cho việc xây dựng thị trường chứng khoán ở nước ta là việc thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng thị trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước theo Quyết định số 207/QĐ-TCCB ngày 06/11/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước với nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập thị trường chứng khoán theo bước đi thích hợp Theo sự uỷ quyền của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của thị trường chứng khoán, đề xuất với Chính phủ mô hình thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tháng 9/1994, Ban soạn thảo Pháp lệnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán được Chính phủ thành lập Tiếp đó, ngày 19/6/1995, Ban Chuẩn

bị tổ chức thị trường chứng khoán ra đời theo Quyết định số 361/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ

Đây là những bước đi có ý nghĩa quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình hình thành thị trường chứng khoán, làm tiền đề cho sự ra đời cơ quan quản lý nhà nước với chức năng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn

Ngày 28/11/1996, Chính phủ ra r ?„( định số 75/CP thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Đây là cơ quan giúp Chính phủ xây dựng và quản lý thị trường chứng khoán

Với sự ra mắt chính thức của một cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng khoán và thị trường chứng khoán, công tác chuẩn bị cho thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động được xúc tiến mạnh mẽ Hàng loạt các văn bản quản lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã được ban hành trong thời kỳ này nhằm đảm bảo sự an toàn cho một thị trường chứng khoán Việt Nam còn trong giai đoạn trứng nước Có thể kể ra những văn bản chính như N shị định 48/CP về chứns khoán và thị trường chứng khoán, Thông

tư số 01/1998/TT-UBCK ngày 13/10/1998 hướng dãn Nghị định 48/CP về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, Quyết định số 04/QĐ-UBCK ngày

Trang 30

13/10/1998 về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, Quyết định số 05/QĐ-ƯBCK được ban hành cùng ngày về Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ,

Tuy nhiên, như đã trình bày, vì được ban hành trước khi có thị trường và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm tổ chức và quản lý của thị trườns chứnơ khoán nước neoài là chủ yếu nên trong quá trình thực hiện các quy định quản

lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã bộc lộ những điểm bất cập

Trước thực trạng đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành những văn bản để sửa đổi, bổ sung và thay thế những quy định cũ không còn phù hợp Mặc dù vậy, cho tới thời điểm hiện nay, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán Những hạn chế này sẽ đựơc trình bày trong chương 2 của luận văn thông qua việc phân tích thực trạng thi hành

Trang 31

Chương 2:

THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỂ CHÚNG KHOÁN YÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN ở VIỆT NAM

2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI c ơ QUAN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

VỂ CHÚNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHÚNG KHOÁN:

2.1.1 Vị trí pháp lý:

Trước khi tiếng chuông trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh “gióng” lên vào hồi 1 5 h l5 ’ ngày 20/7/2000 đánh dấu sự chào đời chính thức của thị trường chứng khoán Việt Nam, thì trước đó hơn 3 năm, u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước - cơ quan quản lý nhà nước đối với loại hình thị trường này đã được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996

Điều 1 Nghị định 75/CP xác định vị trí pháp lý của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là "cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước có tư cách pháp nhân, có con dấu hình quốc huy, có tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do Ngân sách Nhà nước cấp, biên chế của Ưỷ ban thuộc biên chế Nhà nước”

Với tư cách là một Ưỷ ban độc lập - một cơ quan nhà nước quản lý ngành thuộc Chính phủ, có thể nói Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có vị trí

pháp lý khá cao, ít nhất là so với mô hình uỷ ban thuộc bộ mà thường là bộ

quản lý về lĩnh vực kinh tế tài chính ví như Uỷ ban Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC - Securities and exchange Commision) và Ban Giám sát chứng khoán (Financial Supervision Commision) tại Hàn Quốc được đặt dưới

sự quản lý của Bộ Kinh tế Tài chính nước này

Trang 32

Nhầm kiện toàn một bước cơ cấu tổ chức của u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước trons quá trình hoạt độna và phát triển, ngày 12/8/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thay thế Nghị định 75/CP Một lần nữa, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được khẳng định là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về chứng khoán

và thị trường chứns khoán, quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật

Và để hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về chứns khoán và thị trường chứng khoán, ngày 16/3/2004, Lễ chuyển giao Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước vào Bộ Tài chính đã diễn ra tại trụ sở số 164 Trần Quang Khải, Hà Nội Theo quy định tại Nghị định số 66/2004/NĐ-CP ngày 19/2/2004, kể từ ngày 12/3/2004, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước sẽ được bàn giao nguyên trạng toàn

bộ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, cán bộ biên chế, tài chính, tài sản của Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước để Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý

Như vậy, từ vị trí là một cơ quan thuộc Chính phủ, đến nay Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan thuộc Bộ Tài chính Quy định này đặt ra không ngoài mục đích siết chặt mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển đồng bộ với thị trường tài chính, như Bộ trưởng Nguyễn Sinh Hùng đã nhấn mạnh trong buổi lễ bàn giao: “Giờ đây, Bộ Tài chính, Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước cùng chung một trận địa Trước đây, mối quan hệ này đã gắn bó, nay càng mật thiết hơn để cùng chung vai, sát cánh phát triển thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung” [13 - tr3]

Có thể thấy rằng, bằng sự thay đổi này, Chính phủ đã thể hiện rõ quyết tâm thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển nhưng có lẽ vẫn còn quá sớm

để đánh giá tác động của sự thay đổi cơ cấu tổ chức, íhav đổi vị trí pháp lý của

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 33

Kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là nước Anh đã chỉ rõ rằng, nhiều cơ quan quản lv sẽ dẫn tới tình trạna “một cổ nhiều tròng”, chồng chéo và tranh giành

về chức năng quản lý giữa các cơ quan quản lý thị trườnơ, dẫn đến sự chậm trễ trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh Chính vì vậy, cuộc cải cách về quản

lý nhà nước với các dịch vụ tài chính tại Anh đã bắt đầu thực hiện vào năm

1997 Bước đầu tiên là các bộ phận giám sát quản lý ngân hàng thương mại được tách khỏi Ngân hàng Trung ương Anh, cùng với cơ quan quan lý dịch vụ đầu tư nhập vào Ưỷ ban Chứng khoán và Đẩu tư, sau đó đổi tên thành cơ quan quản lý dịch vụ tài chính (FSA - Financial Services Authority) Tiếp theo, Đạo luật Dịch vụ và Thị trường tài chính được ban hành năm 2000 và giao cho FSA quyền quản lý nhiều lĩnh vực, nhập 11 cơ quan quản lý tài chính khác nhau vào FSA Sự thay đổi trên đã được các chuyên gia đánh giá là có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển nhanh chóng, hội nhập, đan xen phức tạp nhiều loại hình dịch vụ, định chế tài chính

Trong khi đó ở nước ta, với một đội ngũ chuyên gia được đào tạo khá bài bản, chuyên nghiệp nhưng thời gian qua u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước còn bị giới đầu tư than phiền là đã phản ứng chậm với diễn biến và đòi hỏi của thị trường Vậy khi chuyển giao về Bộ Tài chính, thêm một cấp quản lý, các quyết sách điều chỉnh thị trường có kịp thời với những biến động thị trường hay không? Điều này cần phải được kiểm nghiệm qua thực tế

2.1.2 Tính chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán

và thị trường chứng khoán:

Điều 2 Nghị định 90/CP quy định Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, cụ thể là về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Như vậy, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan quản lý chuyên ngành về thị trường chứng khoán So với mô hình cơ quan quản lý kiêm nhiệm,

mô hình này có nhiều ưu việt hơn bởi một cơ quan chuyên ngành với đội ngũ

Trang 34

cán bộ có đủ kiến thức chuyên môn về chứng khoán và thị trường chứng khoán

sẽ là đảm bảo cho việc quản lý thị trường đúng hướng, thực hiện tốt chức năng

và nhiệm vụ được giao do không bị phân tán bởi những nhiệm vụ khác

2.1.3 Cơ cấu, tổ chức:

Dù đã được chuyển giao vào Bộ Tài chính , tổ chức bộ máy của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước vẫn giữ nguyên trạng Cho đến nay, cơ cấu tổ chức của

cơ quan này vẫn được xác định theo Nghị định 90/CP

2.1.3.1 Về lãnh đạo u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước:

Theo Điều 4 Nghị định 90/CP, lãnh đạo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước gồm có:

- Chủ tịch, các Phó Chủ tịch;

- Các Uỷ viên kiêm nhiệm cấp thứ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chủ tịch, các Phó Chủ tịch u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức; các Uỷ viên kiêm nhiệm

- Vụ Quản lý phát hành chứng khoán: tham mun giúp Chủ tịch về quản

lý phát hành và niêm yết chứng khoán;

Trang 35

- Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán: tham mưu giúp Chủ tịch quản lý

về tổ chức và các hoạt động của các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán;

- Vụ Hợp tác quốc tế: tham mưu giúp Chủ tịch về hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán;

-Vụ Tổ chức cán bộ: tham mưu giúp Chủ tịch thực hiện các chủ trương, chính sách về tổ chức bộ máy, biên chế, đào tạo công chức, viên chức của Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước;

- Vụ K ế hoạch - Tài chính: tham mưu giúp Chủ tịch về công tác tài chính - kế toán, đầu tư và xây dựng đối với các tổ chức thuộc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước;

- Vụ Pháp chế: tham mưu giúp Chủ tịch trong việc thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán

- Thanh tra: tham mưu giúp Chủ tịch và thực hiện công tác thanh tra, giám sát về việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán

- Văn phòng: tham mưu giúp Chủ tịch tổng hợp, điều phối hoạt động các

tổ chức của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, thực hiện công tác hành chính, quản trị đối với các hoạt động của Uỷ ban

Ngoài ra, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước còn có văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh

2.1.3.3 Vê các tổ chức sự nghiệp thuộc u ỷ ban gồm có:

- Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Trung tâm Giao dịch

Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Đây là các tổ chức sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, quản lý, điều hành và giám sát các giao dịch chứng khoán tại trung tâm;

Trang 36

- Trung tâm Tin học;

- Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán ;

- Tạp chí chứng khoán

So với Nghị định 75/CP, cơ cấu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thêm Vụ K ế hoạch - Tài chính, Vụ Pháp chế Đồng thời, 5 tổ chức sự nghiệp thuộc Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng được thiết lập mới Như vậy, có thể nói, bộ máy của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước gồm các bộ phận với nhiệm

vụ khác nhau đủ để thực hiện chức năng vốn có của một cơ quan quản lý Tuy nhiên, nếu so sánh về quy mô, u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước có quy mô nhỏ hơn cơ quan quản lý khác Điều này cũng là phù hợp với yêu cầu quản lý thực

tế đặt ra với cơ quan này, phù hợp với mức độ phát triển thị trường chứng

khoán Việt Nam đang ở chặng đường đầu tiên Mặt khác, cơ cấu gọn nhẹ của

Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước còn đảm bảo được tính hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách hành chính nhà nước hiện nay

2.1.4 Nhiệm vụ, quyển hạn của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước:

Với cơ cấu tổ chức gồm 9 tổ chức trực thuộc và 5 tổ chức sự nghiệp, u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của một cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Theo Nghị định 90/CP thay thế Nghị định 75/CP, u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước có những nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán cụ thể như sau:

1 Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng được Thủ tướng Chính phủ phân công ký các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

2 Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm và các dự án quan trọng

Trang 37

của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước; tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt.

3 Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm chuyên môn nghiệp vụ và định mức kinh tế - kỹ thuật được áp dụng trong các tổ chức, đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật

về chứng khoán và thị trường chứng khoán

4 Cấp, gia hạn, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép phát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán, hành nghề kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật;

5 Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán, các thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức;

6 Tổ chức, quản lý Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán và các thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, các trung tâm lưu ký, đăng ký, thanh toán bù trừ chứng khoán;

7 Quản lý các hoạt động liên quan đến thị trường chứng khoán của tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết chứng khoán , tổ chức kinh doanh chứng khoán và tổ chức phụ trợ theo quy định của pháp luật;

8 Thanh tra, kiểm tra và giám sát các đối tượng tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán và xử lý các vi phạm về chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật;

9 Quản lý các dự án đầu tư và xây dựng thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật; tham gia thẩm định các đề án, dự án quan trọng thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

Trang 38

10 Hướng dãn, tạo điều kiện cho các tổ chức hiệp hội chứng khoán thực hiện mục đích, tôn chỉ và điều lệ hoạt động của hiệp hội; kiểm tra thực hiện các quy định của nhà nước, xử lý hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật của Hiệp hội chứng khoán theo quy định của pháp luật;

11 Tổ chức nghiên cứu khoa học về chứng khoán và thị trường chứng khoán; đào tạo chuyên mồn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức của

u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các đơn vị trực thuộc, nhân viên kinh doanh chứng khoán và các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán;

12 Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức về chứng khoán

và thị trường chứng khoán cho các tổ chức và công chúng;

13 Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật;

Ngoài các nhiệm vụ về quản lý ngành nêu trên, tương tự như nhiều cơ quan nhà nước khác, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước còn có nhiệm vụ thực hiện chương trình cải cách hành chính, quản lý bộ máy cơ quan mình, quản lý tài chính, tài sản được giao và tuân thủ chế độ báo cáo

So với Nghị định 75/CP - Nghị định ra đời trước khi thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức vận hành, Nghị định 90/CP đã mở rộng phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Từ 12 nhiệm vụ, quyền hạn, đến nay Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thêm 5 nhiệm vụ, quyền hạn Nội dung của các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định chi tiết và hợp lý hơn, tương xứng với cơ cấu tổ chức bộ máy của Ưỷ ban Đây cũng là điều dễ hiểu bởi Nghị định 90/CP được ban hành khi thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động được hơn 3 năm, bước đầu có được những bài học kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán

Trang 39

Tuy nhiên, bên cạnh đó, quy định pháp luật về cơ quan quản lý nhà nước

về chứng khoán và thị trường chứng khoán vẫn tồn tại một số điểm hạn chế nhất định, bộc lộ qua thực tế hoạt động của u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước cùng hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Thứ nhất, quy định về phạm vi nội dung quản lý nhà nước còn hẹp,

chưa bảo đảm tính khái quát

Pháp luật hiện hành xác định phạm vi quản lý của u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước khá rõ Cụ thể “Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về ngành”, “thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật” Nhìn khái quát, phạm vi quản lý của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước rất rộng song đi sâu vào phân tích thì hoạt động của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước mới chỉ dừng lại ở mức độ quản lý nhà nước về chứng khoán phát hành ra công chúng và quản lý thị trường tập trung Điều này có thể chấp nhận được khi thị trường chứng khoán Việt Nam còn trong giai đoạn “trứng nước”, v ề lâu dài, nếu các quy định này vẫn “dậm chân tại chỗ” thì vô hình chung quản lý nhà nước đã bỏ qua bộ phận thị trường quan trọng đó là thị trường riêng lẻ

Trong nội dung quản lý phát hành ra công chúng, quyền hạn của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng còn hạn chế Chẳng hạn như quy định về việc giám sát các công ty cổ phần có nguồn gốc từ doanh nghiệp nhà nước nằm ngoài tầm tay của u ỷ ban Công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán do u ỷ ban Chứng khoán Nhà nước đảm nhiệm nhưng trên thực tế Ưỷ ban Chứng khoán Nhà nước mới chỉ thực sự tiến hành việc quản lý nhà nước đối với những cổ phiếu của công ty niêm yết và những trái phiếu Chính phủ được chào bán, niêm yết tạí Trung tâm Giao dịch Chứng khoán

Trang 40

thành phố Hồ Chí Minh Việc phát hành và lưu thông cổ phiếu của hơn 900 công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước và các loại chứns khoán khác vẫn diễn ra hoàn toàn biệt lập và dường như khôns liên quan gì đến Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Đây là điều cần xem xét lại để có sự điều chỉnh hợp lý, bảo đảm công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán thực sự toàn diện, tránh tình trạng “bỏ sót”.

Thứ hai, sự can thiệp của cơ quan quản lý thị trường vào một số loại

giao dịch còn quá sâu, chưa phù hợp:

Xuất phát từ vai trò nhà nước xã hội chủ nghĩa, từ đặc điểm của nền kinh

tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ở Việt Nam, nhà nước có vị trí, vai trò rất quan trọng Mặc dù vậy, để đảm bảo thị trường vận hành theo đúng quy luật nội tại của nó, nhà nước chỉ tham gia vào thị trường với tư cách là nhà quản lý vĩ mô Bởi lẽ, như nhà kinh tế học người Mỹ Samuelson đã viết trong cuốn “Kinh tế học”: “Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó Chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế, chỉ tiêu, luật lệ Cả hai bên thị trường và Chính phủ đều có tính chất thiết yếu Điều hành một nền kinh tế không có cả Chính phủ lẫn thị trường thì cũng như người định vỗ tay bằng một bàn tay”[ 9 - tr225]

Trong khi đó, thực tế cho thấy hoạt động quản lý nhà nước đối với chứng khoán và thị trường chứng khoán thời gian qua có dấu hiệu “vượt ngưỡng” Chẳng hạn việc áp dụng “biên độ dao động cho phép” kết hợp với

“giá tham chiếu” để đánh giá, xác định giá cả cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đã làm cho giá cả thoát ly giá trị nội tại của các cổ phiếu, là kẽ hở để những người đầu cơ chứng khoán lợi dụng trục lợi

Thực tế cho thấy, sự can thiệp sâu của cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán là một trong những nguyên nhân làm mất đi cơ hội phát triển thị trường vào giữa năm 2001 khi thị trường đang hừng hực khí thế, đánh dấu bằng việc chỉ số VN - Index gia tăng liên tục tới đính

Ngày đăng: 16/08/2020, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w