Hiện nay đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, công cuộc trên cần sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Nhu cầu về vốn để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng trở nên bức thiết. Bên cạnh vốn của nhà nước cũng cần thêm các nguồn vốn nhàn rỗi nằm trong các tầng lớp dân cư và vốn đầu tư nước ngoài. Trước đây với các cách huy động vốn bằng trái phiếu, tín phiếu đã thu hút được một số vốn để đưa vào quá trình sản xuất nhưng chỉ là một lượng nhỏ trong vốn nhàn rỗi của dân cư. Để đáp ứng nhu cầu về vốn, nước ta đã xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán. Đây là hình thức huy động vốn còn khá mới mẻ ở nước ta. Để có một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này em xin chọn đề tài “ Thị trường chứng khoán ở Việt Nam thực trang và giải pháp phát triển “.
Trang 1về vốn, nước ta đã xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Đây là hình thức huy động vốn còn khá mới mẻ ở nước ta Để có một cái nhìn toàn diện hơn
về vấn đề này em xin chọn đề tài “ Thị trường chứng khoán ở Việt Nam thực trang và giải pháp phát triển “
Trang 2B – NỘI DUNG.
CHƯƠNG I – LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1 Khái niệm về thị trường chứng khoán.
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 ở tại thành phố trung tâm buôn bán của phương tây, các thương gia thường tập trung tại một số khu như quán cà phê để trao đổi mua bán các loại hàng hoá như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các chứng từ có giá Điểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với nhau bằng lời nói, không có hàng hoá thật Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng trao đổi mua bán ngay hoặc cho tương lai Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhóm người và sau đó đông dần cho đến khi nó trở thành một khu chợ riêng Thời gian họp chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó hàng tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày Trong các phiên họp chợ tại đây các thương gia thống nhất với nhau các quy ước cho việc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những ai muốn tham gia thị trường và thị trường chứng khoán hình thành từ đó Như vậy thị trường chứng khoán xuất hiện từ thế kỷ thứ 15 Sự hình thành thị trường chứng khoán cũng đồng thời với thị trường hối đoái và một số thị trường khác
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Như vậy xét về mặt hình thức, thị trường chứng khoán là nơi diễn
ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán, qua
đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán
2 Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán.
Trang 32.1 Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn thì thị trường chứng khoán được chia ra thành
2.1.1 Thị trường sơ cấp:
Là thị trường phát hành Đây là thị trường mua bán các chứng khoán phát hành lần đầu giữa nhà phát hành (người bán) và nhà đầu tư (người mua) Trên thị trường sơ cấp, chính phủ và các công ty thực hiện huy động vốn thông qua việc phát hành- bán chứng khoán của mình cho nhà đầu tư Vai trò của thị trường sơ cấp là tạo ra hàng hoá cho thị trường giao dịch và làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế Nhà phát hành là người huy động vốn trên thị trường sơ cấp, gồm chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty và các tổ chức tài chính Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp bao gồm cá nhân, tổ chức đầu tư Tuy nhiên, không phải nhà phát hành nào cũng nắm được các kiến thức và kinh nghiệm phát hành Vì vậy, trên thị trường sơ cấp xuất hiện một tổ chức trung gian giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, đó là nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán Nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán giúp cho nhà phát hành thực hiện việc phân phối chứng khoán mới phát hành và nhận từ nhà phát hành một khoản hoa hồng bảo lãnh phát hành cho dịch vụ này
2.1.2 - Thị trường thứ cấp:
Là thị trường giao dịch Đây là thị trường mua bán các loại chứng khoán
đã được phát hành Thị trường thứ cấp thực hiện vai trò điều hoà, lưu thông các nguồn vốn, đảm bảo chuyển hoá các nguồn vốn ngắn hạn thành dài hạn Qua thị trường thứ cấp, những người có vốn nhàn rỗi tạm thời có thể đầu tư vào chứng khoán, khi cần tiền họ có thể bán lại chứng khoán cho nhà đầu tư khác Nghĩa là thị trường thứ cấp là nơi làm cho các chứng khoán trở nên ‘lỏng’ hơn Thị trường thứ cấp là nơi xác định giá của mỗi loại chứng khoán mà công ty phát hành chứng khoán bán ở thị trường thứ cấp Nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp chỉ mua cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường thứ cấp sẽ
Trang 4Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là hai bánh xe của một chiếc xe.thị trương sơ cấp là bánh động lực còn thị trường thứ cấp là bánh cân bằng.Như vậy thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp là tiền đề còn thị trường thứ cấp là động lực.
2.2 Căn cứ vào phương thức hoạt động thì thị trường chứng khoán được chia thành thị trường tập trung và phi tập trung.
2.2.1 Thị trường chứng khoán tập trung:
Thị trường chứng khoán tập trung hay thị trường chứng khoán có tổ chức
là trung tâm mua bán chứng khoán được tổ chức một cách chặt chẽ và được gọi
là sở giao dịch chứng khoán Thường chỉ có chứng khoán của các doanh nghiệp lớn, doanh nghiêp có uy tín mới có đủ tiêu chuản niêm yết để mua bán trên thị trường này
2.2.2 - Thị trường chứng khoán phi tập trung:
Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường không có trung tâm giao dịch mà việc giao dịch mua bán chứng khoán được các công ty chứng khoán thực hiện thông qua mạng lưới điện tín, điện thoại với hệ yết giá tự động Một điều rất quan trọng là các nhà đầu tư trên thị trường OTC không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán chứng khoán như trong phòng giao dịch của SGDCK, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới giao dịch hộ thông qua hệ
Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán
Hệ thống đăng ký, thanh toán, bù trừ v à lưu ký chứng khoán
Hệ thống đăng ký, thanh toán, bù trừ v à lưu ký chứng khoán
Thị trường thứ cấp
SGDCK OTC OTC
Thị trường thứ ba
Thị trường thứ ba
Trang 5thống viễn thông Các công ty chứng khoán trên thị trường OTC có mặt ở khắp nơi trên đất nước, mỗi công ty chuyên kinh doanh buôn bán một số loại chứng khoán nhất định Các công ty chứng khoán giao dịch mua bán chứng khoán cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà tạo thị trường về các loại chứng khoán đó Các công ty cũng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán như: giao dịch mua bán cho chính mình, môi giới mua bán cho khách hàng, dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành Các chứng khoán mua bán trên thị trường OTC cũng phải được niêm yết công khai cho công chúng biết để có quyết định đầu tư Các chứng khoán được niêm yết trên thị trường OTC tương đối dễ dàng, các điều kiện niêm yết không quá nghiêm ngặt Như vậy, hầu như tất cả các chứng khoán không được niêm yết trên SGDCK đều được giao dịch
ở đây Các chứng khán buôn bán trên thị trường OTC thường có mức độ tín nhiệm thấp hơn các chứng khoán được niêm yết trên SGDCK Song, do thị trường nằm rải rác ở khắp các nơi nên độ lớn của thị trường khó có thể xác định chính xác được, thông thường khối lượng buôn bán chứng khoán trên thị trường này là lớn hơn SGDCK Từ điều kiện niêm yết thông thoáng hơn mà chứng khoán của các công ty được buôn bán trên thị trường này nhiều hơn, thậm chí một số chứng khoán được niêm yết trên SGDCK cũng được mua bán ở thị trường này
Hoạt động giao dịch buôn bán chứng khán trên thị trường OTC cũng diễn
ra khá đơn giản Khi một khách hàng muốn mua một số lượng chứng khoán nhất định, anh ta sẽ đưa lệnh ra cho công ty chứng khoán đang quản lý tài sản của mình yêu cầu thực hiện giao dịch hộ mình Thông qua hệ thống viễn thông, công
ty môi giới- giao dịch sẽ liên hệ tới tất cả các nhà tạo thị trường của loại chứng khoán này để biết được giá chà bán thấp nhất của loại chứng khán đó Sau đó công ty này sẽ thông báo lại cho khách hàng của mình và nếu khách hàng chấp thuận, thì công ty sẽ thực hiện lệnh này và giao dịch của khách hàng sẽ được thực hiện
Trang 6Căn cứ vào tính chất các các chứng khoán được giao dịch, thị trường chứng khoán có thể được chia thành thị trường cổ phiếu,thị trường trái phiếu, và thị trường các sản phẩm phái sinh.
2.3.1 Thị trường cổ phiếu
Là thị trường nơi các cổ phiếu được phát hành và giao dịch Thị trường cổ phiếu gồm có thị trường cổ phiếu sơ cấp và thị trường cổ phiếu thứ cấp
2.3.2 Thị trường trái phiếu
Là thị trường nơi các trái phiếu được phát hành và giao dịch, các tráI phiếu này bao gồm trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ.2.3.3 Thị trường các sản phẩm phái sinh
Thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua bán các chứng từ tài chính như : quyền mua cổ phiếu, các hợp đồng tương lai, các hợp đồng lựa chọn
3 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán.
3.1 Nguyên tắc cạnh tranh tự do.
TTCK phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự do Các nhà phát hành, nhà đầu tư được tự do tham gia và rút khỏi thị trường Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơ cấp các nhà phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán mà họ muốn đầu tư vào Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu
tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất
3.2 Nguyên tắc giao dịch công bằng.
Có rất nhiều người tham gia TTCK với những mục đích khác nhau Để đảm bảo lợi ích cho tất cả những người này, TTCK phải hoạt động dựa trên nguyên tắc giao dịch công bằng, tất cả mọi giao dịch phải thực hiện dựa trên những quy định chung, những người tham gia thị trường đều bình đẳng trong
Trang 7việc thực hiện những quy định này Các trường hợp giao dịch bất bình đẳng như giao dịch tay trong, sử dụng vốn lớn để đầu cơ lũng loạn giá…đều bị nghiêm cấm.
Trang 83.3 Nguyên tắc công khai.
Một yếu tố hết sức quan trọng đối với những người đầu tư chứng khoán
đó là thông tin, để TTCK hoạt động có hiệu quả và công bằng thì các tin tức có tác động đến sự thay đổi giá cả chứng khoán cần phải công khai cung cấp cho các nhà đầu tư nhằm tạo cho họ có cơ hội đầu tư như nhau đồng thời cũng là biện pháp quan trọng để ngăn chặn các hành vi gian lận trong kinh doanh chứng khoán Các thông tin được công khai thông qua các phương tiện thông tin đại chúng của sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác
3.4 Nguyên tắc trung gian mua bán.
Trên TTCK các giao dịch được thực hiện thông qua tổ chức môi giới để đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực tế và hợp pháp, tránh sự giả mạo lừa đảo trong giao dịch Các công ty chứng khoán bằng việc thực hiện nghiệp vụ của mình đảm nhận vai trò trung gian cho cung và cầu chứng khoán gặp nhau Trên thị trương sơ cấp các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp từ các nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này và bán cho các nhà đầu tư khác
4 Các chức năng cơ bản của TTCK.
4.1 Chức năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Sự hoạt động của thị trường chứng khoán tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Thị trường cung cấp phương tiện huy động
số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới….chức năng này được thực hiện khi công ty phát hành chứng khoán và công chúng mua chứng khoán Nhờ vào sự hoạt động của thị trường mà doanh nghiệp có thể huy động được một số lượng lớn vốn đầu tư dài hạn Khi mua chứng khoán do các
Trang 9công ty phát hành số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Trong quá trình này, TTCK đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh việc phát triển nền kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp.
Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
4.2 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán.
TTCK là nơi các chứng khoán được mua bán trao đổi bởi vậy nhờ vào TTCK các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt của chứng khoán Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả và năng động
4.3 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp.
TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình của nền kinh
tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường Từ đó tạo ra môI trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới cải tiến sản phẩm
4.4 Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô.
Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối với nền kinh tế
5 Các chủ thể tham gia TTCK.
Trang 10Các tổ chức và cá nhân tham gia vào TTCK có thể được chia thành 3 nhóm sau : Nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán.
Trang 115.1 Nhà phát hành.
Nhà phát hành là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán – hàng hoá của TTCK Thông thường nhà phát hành bao gồm : Chính phủ và chính quyền địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính
5.2 Nhà đầu tư.
Nhà đầu tư là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thu lời Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư chuyên nghiệp
5.2.1 Các nhà đầu tư các nhân
Nhà đầu tư cá nhân là những cá nhân tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, lợi nhuận luôn gắn liền với rủi ro Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn Do vậy, các nhà đầu tư phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với mình
5.2.2 Các nhà đầu tư chuyên nghiệp
Các tổ chức này thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn và
có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư Đầu tư thông qua các tổ chức này có ưu điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm cũng có thể trở thành những nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho mình
5.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
5.3.1 Công ty chứng khoán
Trang 12Là các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp chứng khoán với các nghiệp
vụ chính là bảo lãnh phát hành, môI giới chứng khoán và tự doanh chứng khoán…5.3.2 Các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại có thể sử dụng vốn để đầu tư chứng khoán nhưng chỉ được trong giới hạn nhất định để bảo vệ ngân hàng trước những biến động của giá chứng khoán
5.3.3 Các công ty tư vấn đầu tư chứng khoán
Là công ty có chức năng tư vấn giúp đỡ các nhà đầu tư trong việc ra quyết định đầu tư và thực hiện các quyết định đầu tư đó Công ty tư vấn đầu tư cũng
có thể đưa ra các lời khuyên về các hoạt động nghiệp vụ đối với các công ty chứng khoán và các tổ chức tài chính khác
5.3.4 Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Là công ty đứng ra quản lý tài sản của các quỹ tín thác đầu tư, công ty này dựa trên đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ tiến hành phân tích về TTCK để đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý
5.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
5.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán cơ quan này có những tên gọi khác nhau tuỳ từng nước Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán (SIB- Securities Investment Board), tại Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC - Securities And Exchange Comission) hay ở Nhật Bản có Uỷ ban giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (ESC - Exchange Surveillance Comission) được thành lập vào năm 1992 và đến năm 1998 đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency Và ở Việt Nam có Uỷ ban chứng khoán nhà nước được thành lập theo Nghị địng số 75/CP ngày 28/11/1996
5.4.2 Sở giao dịch chứng khoán
Trang 13Sở giao dịch chứng khoán là trung tâm giao dịch có tổ chức để giao dịch các chứng khoán được niêm yết Sở giao dịch thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên thị trường sở giao dịch Ngoài ra sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán ở sở, phù hợp với các quy định luật pháp về chứng khoán và giao dịch chứng khoán
5.4.3 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung Hiệp hội này có một số các chức năng chính sau:
Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán
Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định pháp luật về chứng khoán
Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên
Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán.5.4.4 Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ
5.4.5 Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm là các công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình và triển vọng của các công ty khác dưới dạng các hệ số tín nhiệm
5.4.6 Các tổ chức tài trợ chứng khoán
Là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích mở rộng và tăng trưởng của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động cho vay bảo lãnh, cho vay để mua cổ phiếu, cho vay chứng khoán cho các giao dịch chênh
Trang 14lệch… Các tổ chức tài trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, có một số nước không có loại hình tổ chức này.