1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lửa thiêng của huy cận từ góc nhìn văn hóa

64 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 694,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thơ Huy Cận đã có những định hướng lớn về nội dung tư tưởng, về thế giới thơ, về những nét lớn trong thi pháp thơ ông, nay chúng tôi xin đi vào vấn đề cụ thể Lửa thiêng của Hu

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS LA NGUYỆT ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến TS La

Nguyệt Anh - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian thực hiện khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Khóa luận được hoàn thành, song không tránh khỏi những sai sót, hạn chế, tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía các thầy giáo, cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015

Người thực hiện

Nguyễn Thị Thu

Trang 5

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của khóa luận 4

8 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 6

1.1 Khái niệm văn hóa, văn học 6

1.1.1 Khái niệm văn hóa 6

1.1.2 Khái niệm văn học 7

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 8

1.2 Huy Cận và quá trình kiến tạo những giá trị văn hóa 9

1.2.1 Tác giả Huy Cận và quá trính sáng tác 9

1.2.2 Tập thơ Lửa thiêng nhìn từ không gian văn hóa thời đại 11

Chương 2 CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG LỬA THIÊNG

CỦA HUY CẬN 14

2.1 Những trầm tích văn hóa trong Lửa thiêng 14

2.2.1 Cảm thức làng ấp iu, nồng đượm mang hơi thở ca dao 14

2.1.2 Cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á Đông 19

Trang 6

2.2 Văn hóa, thời đại trong Lửa thiêng 28

2.2.1 Nỗi sầu thời đại 28

2.2.2 Tình yêu thiên nhiên, khát khao gắn bó với đời, với người 35

Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG TẬP THƠ LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN 42

3.1 Thời gian nghệ thuật 42

3.1.1 Thời gian quá khứ 43

3.1.2 Thời gian hiện tại 45

3.1.3 Thời gian tương lai 47

3.2 Không gian nghệ thuật 48

3.2.1 Không gian trần thế 49

3.2.2 Không gian vũ trụ 50

3.3 Ngôn từ và giọng điệu 52

KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Huy Cận là một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt Nam

hiện đại Ông là một nhà thơ lớn, một nhà văn hoá có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn học Nổi tiếng từ phong trào Thơ mới đến nay Huy Cận đã có gia tài khá đồ sộ với 20 tập thơ Thơ Huy Cận kết hợp hài hoà giữa hai nền văn hoá Đông và Tây, thơ ông mang đậm sắc thái tinh thần văn hóa dân tộc Thơ Huy Cận luôn thu hút được sự chú ý của giới phê bình nghiên cứu và đông

đảo bạn đọc Tiếp cận Lửa thiêng của Huy Cận từ góc nhìn văn hóa chúng

ta sẽ hiểu hơn, có cái nhìn toàn diện hơn về Thơ mới nói chung và thơ Huy

Cận nói riêng

1.2 Huy Cận đến với thi đàn bằng tập thơ Lửa thiêng, đây là một trong

những tập thơ hay có giá trị trong sự nghiệp thi ca của ông Bằng tập thơ này

Huy Cận đã có vị trí vững chắc trong phong trào Thơ mới Mặc dầu Lửa

thiêng nói riêng, Thơ mới nói chung đã được xuất bản công khai, một số tác

phẩm đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, người ta đã thừa nhận giá trị của nó nhưng vẫn còn một số ý kiến đánh giá chưa xác đáng

Có người quá nhấn mạnh vào khía cạnh tiêu cực của Thơ mới, xem đó là khuynh hướng lãng mạn và thoát li Bên cạnh đó lại có một số ý kiến thừa

nhận Lửa thiêng và Thơ mới buồn nhưng đó không phải là “Cái buồn uỷ mị

dẫn đến bi quan, mất tin tưởng” mà thơ buồn, đau đời bởi yêu đời Những ý

kiến này dù đúng hay sai đều không đánh giá đúng giá trị của Lửa thiêng nói

riêng và Thơ mới nói chung bởi họ chỉ đứng từ góc nhìn chính trị - xã hội Để khẳng định hơn những giá trị của tác phẩm cần phải đứng từ góc độ văn hóa

để xem xét, nhìn nhận Tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng từ góc nhìn văn hóa giúp

chúng ta thấy được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đích thực của tập thơ,

Trang 8

thấy được sự sáng tạo độc đáo của tác giả Từ đó ta sẽ thấy rõ hơn nỗi buồn

trong Lửa thiêng không phải là nỗi buồn thê thiết uỷ mị, con người trong Lửa

thiêng không phải là con người thoát li hoàn toàn với cuộc sống nơi trời xa

cõi biếc Huy Cận tìm đến quá khứ không phải là để chối bỏ hiện tại, tìm đến

vũ trụ không chỉ để thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh bế tắc mà là để giữ tâm hồn mình trong sạch trước bụi bẩn trần gian

1.3 Thơ Huy Cận đã được đưa vào chương trình văn học ở trường phổ

thông Việc nghiên cứu đề tài này còn mang ý nghĩa thực tiễn, giúp cho việc giảng dạy thơ Huy Cận một cách tốt hơn, sâu sắc hơn Nghiên cứu thơ Huy Cận đã có những định hướng lớn về nội dung tư tưởng, về thế giới thơ, về những nét lớn trong thi pháp thơ ông, nay chúng tôi xin đi vào vấn đề cụ thể

Lửa thiêng của Huy Cận từ góc nhìn văn hóa để thấy những giá trị nội

dung cũng như giá trị nghệ thuật to lớn của tập thơ Đó cũng là lý do cơ bản của chúng tôi khi khảo sát nghiên cứu để tài này

2 Lịch sử vấn đề

Huy Cận là một trong những cây cổ thụ vĩ đại trong làn thi ca văn học hiện đại Hơn nửa thế kỷ cầm bút với 20 tập thơ, Huy Cận đã thu hút được đông đảo các nhà phê bình nghiên cứu văn học Đến nay đã có khá nhiều bài tiểu luận viết về thơ Huy Cận từ nhiều góc độ khác nhau Tiêu biểu trong đó

có tập thơ Lửa thiêng Đây là tập thơ đầu tay nhưng đã để lại ấn tượng sâu

sắc trong lòng bạn đọc, và là đề tài để cho nhiều nhà phê bình nghiên cứu

Tập thơ Lửa thiêng đã đưa Huy Cận trở thành ngôi sao sáng trong

phong trào Thơ mới, thu hút sự quan tâm của giới phê bình văn học Trước hết là lời giới thiệu đầy nhiệt tình của Xuân Diệu, người bạn thơ tri kỉ của nhà

thơ Sau đó là những nhận xét tinh tế của Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân

Việt Nam “ Buồn thương, sầu não là âm hưởng chính khiến Lửa Thiêng như

bản ngậm ngùi dài Tập thơ dằng dặc một nỗi buồn nhân thế, một nỗi đau đời

Trang 9

Nhà thơ đã gọi dậy cái hồn buồn của Ðông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” [19, tr.138] Sáu mươi

năm qua, từ khi Lửa thiêng ra đời các nhà nghiên cứu càng thấy rõ những

giá trị nổi bật của tập thơ cho dù đôi lúc bị ràng buộc bởi cái nhìn có phần

khắt khe của một giai đoạn lịch sử Trong chuyên luận Thơ mới những bước

thăng trầm Lê Đình Kỵ đã nhấn mạnh nguồn mạch truyền thống chảy dào

dạt trong những vần thơ Lửa thiêng Nhà thơ Trinh Đường trong tiểu luận

Huy Cận và Lửa thiêng hay trong bài Huy Cận, lửa vẫn còn thiêng của Trần

Mạnh Hảo đã cảm nhận sâu sắc nỗi buồn thương của Huy Cận về quê hương đất nước về kiếp người đau khổ và lòng yêu đời tha thiết của thi nhân Các ý kiến này đều chỉ ra được lòng yêu đời, tình yêu Tiếng Việt và vẻ đẹp trong trẻo của hồn thơ Huy Cận Hà Minh Đức có tiểu luận đánh giá lại toàn bộ hành trình thơ Huy Cận và khẳng định đóng góp của ông cho nền thơ Việt Nam: “Lửa thiêng đã đặt Huy Cận ở vị trí hàng đầu của phong trào Thơ Mới với một phong cách lãng mạn và trầm sâu, nhân hậu, chan chứa tình đời, tình người ” [11, tr.27] Ngoài ra khi nghiên cứu về tập thơ còn có những bài viết hoặc tiểu luận nghiên cứu của Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Mã Giang Lân…, một số chuyên luận của các tác giả Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức…

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu, nhà phê bình đều ít nhiều chỉ ra những nét đặc sắc của tập thơ ở phương diện nội dung hay hình thức, nhưng

chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về Lửa thiêng từ góc nhìn văn hóa

Đó là khoảng trống để chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những nét đặc sắc về

tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận dưới dóc nhìn văn hóa Từ đó để thấy được

những đóng góp quý báu của ông đối với nền văn học nước nhà, đồng thời

Trang 10

khẳng định một hướng tiếp cận có hiệu quả trong nghiên cứu và thưởng thức văn học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận dưới góc nhìn văn hóa trên

cả phương diện nội dung và hình thức thể hiện

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận khảo sát tập thơ Lửa thiêng của tác giả Huy Cận Nhà xuất

bản Đời nay, 1940

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận từ góc nhìn văn

hóa Tuy nhiên trong khuôn khổ khóa luận chúng tôi chỉ đi vào khảo sát được một số phương diện văn hóa cụ thể như: Những trầm tích văn hóa với cảm thức làng ấp iu mang hơi thở ca dao và cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á Đông, mạng lưới văn hóa tinh thần thời đại với nỗi sầu nhân thế, tình yêu thiên nhiên, khát khao gắn bó với đời, với người của nhà thơ… và một số

phương diện nghệ thuật đặc trưng

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, khóa luận vận dụng một số phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp liên ngành

7 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận là công trình khoa học tìm hiểu một cách hệ thống về tập thơ

Lửa thiêng Từ đó, thấy được đóng góp và vị trí của nhà thơ trong nền thi ca

Việt Nam và trong quá trình sáng tạo văn hóa dân tộc

Trang 11

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được triển khai thành ba chương:

Chương 1 Giới thuyết chung

Chương 2 Cảm thức văn hóa trong Lửa thiêng của Huy Cận

Chương 3 Nghệ thuật biểu hiện cảm thức văn hóa trong Lửa thiêng của

Huy Cận

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1 Khái niệm văn hóa, văn học

1.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa không phải là hiện tượng tĩnh tại, bất biến để chúng ta có thể

dễ dàng nắm bắt được bản chất của nó Đó là đối tượng luôn vận động, đã có quá trình chuyển hóa trong lịch sử lâu dài của mỗi dân tộc và quốc tế, đồng

thời nó đang tiếp tục quá trình chuyển hóa ấy trong hiện tại và tương lai

Có thể nói, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, hàng trăm định nghĩa về văn hóa nhưng vẫn chưa chọn được một định nghĩa cuối cùng Theo UNESCO, hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa Điều đó cho thấy việc xây dựng một định nghĩa khoa học, đầy đủ về văn hóa là vô cùng khó khăn Từ những góc độ và những cơ sở lý lẽ khác nhau, mỗi nhà văn đều cố gắng đưa ra cho mình một định nghĩa khả thể

Tổ chức văn hóa - giáo dục - khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO) định nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay

có thể coi là nhưng nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, phong tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình và một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên nhưng công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”

Trang 13

Ở Việt Nam, đã có rất nhiều định nghĩa về “văn hóa” Theo Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người tự nhiên và xã hội” [21, tr.10]

Từ những định nghĩa trên, có thể nhận ra nội hàm của khái niệm “văn hóa” bao gồm bốn nội dung quan trong sau:

1/ Tất cả hành động có ý thức của con người tác động vào thế giới vật chất và tinh thần hướng tới sự “hoàn thiện văn hóa” nhờ sự nỗ lực trí tuệ, học tập, kỹ năng, ý muốn

2/ Tất cả vật chất và tinh thần con người đạt được thông qua sự tương tác với thực tiễn

3/ Những hành động và thành tựu đó phải mang thuộc tính giá trị

4/ Những hành động, thành tựu và giá trị kết tinh thành bản sắc, qua đó nhận biết được đâu là dân tộc và nhân loại

Như vậy, “văn hóa” là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên trong quá trình hình thành và phát triển Thông thường, văn hóa được nói đến ở hai bộ phận: Văn hóa vật thể (công trình kiến trúc, đền, miếu…) và văn hóa phi vật thể (văn học, nghệ thuật, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo…) hay văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

1.1.2 Khái niệm văn học

Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua

sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn

Trang 14

ngữ, nghệ thuật ngôn từ Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống

1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Văn học là sự ý thức văn hóa, “Văn học là nghệ thuật dùng ngôn ngữ

và hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người” [21] Bởi vậy, văn học chẳng những là bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Văn học chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc

Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo đạo đức, phong tục… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hóa Nếu văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu trữ những thành quả đó một cách sinh động Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị nghệ thuật

Xét trong mối quan hệ giữa văn học và văn hóa có thể thấy giữa văn học và văn hóa là mối quan hệ hữu cơ, biện chứng Điều đó được thể hiện khá

rõ ở trong các tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà thơ Đó là bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố, trò chơi…), là những vẻ đẹp văn hóa truyền thống trong thơ của Tố Hữu, là những hình ảnh làng quê gần gũi trong thơ của Nguyễn Đình Thi…

Đối với tác phẩm văn học, nội hàm văn hóa là một mặt bao hàm trong những nhân tố của nội dung, mặt khác thể hiện một loại tiềm ẩn vô thức văn hóa trong hình thức ngôn ngữ văn bản Văn hóa tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà nó còn chi phối đến cách thể hiện chủ đề, cách xây dựng nhân

Trang 15

vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác Một nền văn hóa cởi mở mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển

Nếu văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học thì ngược lại văn học cũng tác động đến sự phát triển văn hóa Văn hóa không bao giờ

là hiện tương thuần nhất Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng đi cần thiết và có triển vọng Cùng với những cách tiếp nhận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học… thì cách tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hóa được bao hàm bên trong nó Những yếu tố văn hóa liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm

Nó cũng góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của dân tộc

Cách tiếp cận văn hóa như vậy thực chất là đặt văn học trong không gian văn hóa với những đặc trưng của nó để thâm nhập vào thế giới sáng tạo của nhà văn Có thể nói, nhà văn đích thực là nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa và người đọc là một người thụ hưởng văn hóa

1.2 Huy Cận và quá trình kiến tạo những giá trị văn hóa

1.2.1 Tác giả Huy Cận và quá trính sáng tác

Huy Cận tên đầy đủ là Cù Huy Cận sinh ngày 31/5/1919 tại làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay là huyện Ðức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) Phẩm chất thi sĩ của ông phần nào đã ươm mầm từ nhỏ Quê hương và gia đình đã trở thành môi trường thuận lợi nuôi dưỡng tình yêu và lòng đam mê nghệ thuật của cậu bé Nhà thơ kể: “Bố tôi rất mê văn chương, thuộc Kiều kình khủng và hay bình Kiều Ban đêm ông thường nằm nhà ngoài một mình

Trang 16

rồi đọc kiều sang sảng, rồi tự bình như giảng cho ai vậy Hàng xóm đều lắng tai nghe Mẹ tôi cũng nghe…”; “Còn làng tôi thì yêu văn nghệ vô cùng…” Lần giở lại tiểu sử của Huy Cận, có thể thấy bên cạnh môi trường văn hóa, thiên nhiên cũng có vai trò quan trọng liên quan đến thể tạng nhà thơ sau này

Ấy là miền sơn cước âm u đất Hà Tĩnh và cái mênh mang tĩnh lặng của xứ Huế, nơi Huy Cận theo học từ khi mới lên bảy cho đến tú tài toàn phần Tất cả

ăn sâu vào tiềm thức nhà thơ, kết thành một ám ảnh sáng tạo trong thế giới Huy Cận về sau Cảm quan vũ trụ trong thơ Huy Cận chắc hẳn có dây mơ rễ

má với những yếu tố địa văn hóa này Hướng về vũ trụ mà vẫn không nguôi khắc khoải về cõi thế, không thôi suy tưởng về lẽ đời, ấy là cái mạch nguồn thống nhất trong thế giới nghệ thuật của Huy Cận

Có thể nói hồn thơ Huy Cận thành hình và được vun đắp bởi truyền thống văn hóa của gia đình, quê hương

Tôi sinh ra ở miền sơn cước,

Có núi làm xương cốt tháng ngày

Ðất bãi tơi làm da thịt mát, Gió sông như những mảnh hồn bay

Học chữ Hán với bố và học đến lớp tư ở quê Từ lớp năm đến hết tú tài toàn phần: học ở Huế Kết bạn với Xuân Diệu từ 1936 Năm 1939, ra Hà Nội học Cao Ðẳng Nông Lâm Từ 1941, vừa học vừa tham gia mặt trận Việt

Minh Cách mạng tháng Tám thành công, giữ chức Bộ trưởng Canh Nông

trong chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Từ năm 1946 đến nay ông giữ nhiều chức vụ: Thứ trưởng Bộ Canh Nông, Thứ trưởng Bộ Kinh Tế… Hiện nay, Huy Cận là Phó chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp

các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

Ngoài những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa trong nước, Huy Cận còn là nhà hoạt động quốc tế năng động với nhiều đóng góp lớn Ông qua đời ngày 19/02/2005

Trang 17

Huy Cận bắt đầu sáng tác từ năm 1936 bằng những bài bình luận văn học đăng trên các báo Tràng An, Sông Hương với bút danh Hán Quỳ Từ

1938, Huy Cận có thơ trên báo Ngày nay Trong suốt quá trình sáng tạo và hoạt động cách mạng của mình, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm nổi tiếng nó

có giá trị văn hóa, văn học sâu sắc

Trước 1945: Lửa thiêng (1940), Vũ trụ ca (1942), Kinh cầu tự

(văn xuôi triết lý, 1942)

Sau 1945: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Ðất nở hoa (1960), Bài thơ

cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968), Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975), Hạt lại gieo (1984), Tuyển tập (1986)

1.2.2 Tập thơ Lửa thiêng nhìn từ không gian văn hóa thời đại

Văn hóa là môi trường sống của con người về mặt tinh thần và vật chất Sức sống của một nền văn hóa trong thời đại ngày nay chính là ở chỗ nó đang chấp nhận cộng sinh văn hóa, tiếp biến văn hóa Sự cộng sinh tiếp biến văn hóa để đi đến giao thoa, hội nhập theo xu hướng toàn cầu hóa Văn học góp

phần bảo lưu và sáng tạo văn hóa Thơ mới nói chung và tập Lửa thiêng nói

riêng có vị trí quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc

Nghiên cứu tập Lửa thiêng dưới góc nhìn văn hóa làm giàu có thêm sự độc

đáo của nền văn hóa dân tộc

Tập thơ đầu tay Lửa thiêng ra mắt độc giả vào tháng 11-1940, Ðây là

thời gian Huy Cận cùng sống với Xuân Diệu tại số 40 Hàng Than - Hà Nội

Tập thơ gồm 50 bài, một số đã đăng báo, Lửa thiêng nhanh chóng được độc

giả đón nhận Chính ngọn lửa thiêng thắm đượm tình người, tình đời đã giúp Huy Cận có được vị trí tiêu biểu trong làng Thơ mới khi đang ở giai đoạn cực

thịnh của nó Thơ mới nói chung và tập Lửa thiêng nói riêng xuất hiện trong

hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc, và phát triển như một hiện tượng lạ Đây là

Trang 18

minh chứng cho sự phát triển văn hóa dân tộc Vậy hiện tượng này được lý giải như thế nào? Phải chăng đó chính là sức sống của một nền văn hóa dân tộc tiềm ẩn trước đó đã đến lúc phải vươn dậy để khẳng định mình Đất nước như đang cựa mình, muốn khoác cho mình một chiếc áo mới Sức sống mới

về mặt tinh thần, văn hóa dân tộc như đang trỗi dậy Dân tộc đã làm nên những cuộc cải cách mới: phong trào duy tân hội, phong trào chấn hưng văn hóa Mọi người dân thực hiện việc học chữ quốc ngữ, thay đổi cách ăn, thay đổi đầu tóc, cuộc sống, tâm trạng của họ cũng biến chuyển Đây chính là quá trình phục hồi và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống Những giá trị mới ra đời trên tất cả các lĩnh vực Trong đó, văn học nghệ thuật đã thực sự bước vào quá trình hiện đại hóa Đó là sự khẳng định sức sống của văn hóa dân tộc Thơ Huy Cận cũng không nằm ngoài sự giao thoa Đông - Tây, góp phần khẳng định truyền thống vững bền và sức sống mới của dân tộc đang hòa nhập vào nhau tạo nên một dáng vẻ mới cho xã hội

Khi nghiên cứu thơ Huy Cận, không phải chỉ nói đến các yếu tố như kết cấu, thể loại, ngôn từ, giọng điệu, không gian nghệ thuật một cách thuần túy mà cần xem xét nó như là một biểu hiện phong phú và đa dạng của nền văn hóa dân tộc Bởi trong văn hóa Việt Nam có cả văn hóa nhân loại Đó là triết học cổ Trung Hoa, Phật giáo Ấn Độ, tinh thần lịch lãm của văn hóa Pháp… Thơ Huy Cận thấm đẫm tinh thần nhân văn của văn hóa Việt Nam

Tập thơ Lửa thiêng trước hết là tiếng lòng của một thanh niên (21 tuổi)

đang thể hiện niềm vui, nỗi buồn của chính mình Như đa số Thơ mới, tập thơ lấy tuổi trẻ và tình yêu làm đề tài chủ yếu Nhưng giữa lúc độc giả đã quá quen thuộc với giọng nỉ non, sầu não trong Thơ mới thì những cung bậc tình yêu dễ thương ở lứa tuổi học trò, lứa tuổi còn nhiều e ấp vẩn vơ, chưa nhuốm mùi nhục cảm - có sức hấp dẫn mới lạ Tình yêu thiên nhiên, sự khát khao giao cảm với đời, với người hay những vẻ đẹp văn hóa dân tộc có sức lôi

Trang 19

cuốn bạn đọc một cách mạnh mẽ Dù nói ở những góc độ, những khía cạnh nào thì giá trị nội dung văn hóa trong văn học và những giá trị tinh thần văn hóa của tập thơ vẫn không bị mất đi mà ngược lại nó càng làm thêm nét nổi bật trong thơ ông

Trang 20

Chương 2

CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG LỬA THIÊNG CỦA HUY CẬN

2.1 Những trầm tích văn hóa trong Lửa thiêng

2.2.1 Cảm thức làng ấp iu, nồng đượm mang hơi thở ca dao

Vẻ đẹp văn hóa được thể hiện từ những hình ảnh làng quê, những con sông, những con đường ngõ xóm, nỗi nhớ về cội nguồn dân tộc hay những nét sinh hoạt cổ xưa Tất cả điều đó đã được nhiều tác giả từ cổ đến kim đưa vào những trang thơ văn của mình Ngay từ thủa mới khai sinh, ca dao Việt Nam

đã mang đượm những truyền thống, những phong tục tập quán với sắc thái văn hóa của dân tộc Việt

Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

Trầu vàng nhá với cau xanh Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

(Ca dao) Thể thơ lục bát đặc trưng cho thể thơ truyền thống dân tộc Việt Nam, cùng với những hình ảnh “trầu - cau”, cách xưng hô quen thuộc trong ca dao

“chàng - thiếp”, ngôn ngữ gần gũi, giống với lời ăn tiếng nói hàng ngày

Trong ca dao hình ảnh làng quê thân thuộc hiện lên một cách thấp thoáng, hữu tình qua những vần thơ dân dã, mộc mạc đáng yêu Con người Việt Nam, người dân cần cù lao động, tự hào và yêu tha thiết làng quê yêu dấu Suốt một đời gắn bó với quê hương Họ đã nghĩ về nơi chôn rau cắt rốn của mình bằng những vần thơ đẹp nhất:

Làng ta phong cảnh hữu tình Dân cư giang khúc như hình con long

Nhờ trời hạ kế sang đông, Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi

(Làng ta phong cảnh hữu tình)

Trang 21

Hai tiếng “làng ta” cất lên nghe tha thiết và bồi hồi, phong cảnh làng ta

“hữu tình” nên thơ Làng ta có giếng nước, sân đình, có mái trường, con đường đi học và tình bạn tuổi thơ Niềm vui, nỗi buồn, tình thương nỗi nhớ của mỗi chúng ta đều gắn bó với làng quê yêu dấu với những con người cần

cù chịu thương chịu khó

Hình ảnh làng quê với với lời ăn tiếng nói gần gũi, giản dị cũng được nhiều tác giả trung đại nhắc đến trong các thi phẩm của mình

Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa

Ao sâu, nước cả khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà…

(Bạn đến chơi nhà - Nguyễn Khuyến)

Qua thơ Nguyễn Khuyến ta thấy rằng tuy cuộc sống nông thôn thiếu thốn đủ bề nhưng sự đầm ấm, chân tình luôn chất đầy không bao giờ vơi cạn Hình ảnh trong thơ gần gũi, ngôn ngữ dùng từ ngữ đời thường, giản dị, dễ học, dễ hiểu gần gũi với người dân lao động

Đến với Thơ mới, họ cũng dành những tình cảm đáng trân trọng với làng quê được viết lên bằng những vần thơ trong trẻo đến kì diệu Thơ Nguyễn Bính có cái vẻ mộc mạc của những câu hát đồng quê Nguyễn Đình Thư cũng chịu ảnh hưởng của ca dao, nhưng lại mượn ca dao ở cái vẻ tình tứ… Bên cạnh đó, hình ảnh làng quê với con cò, dòng sông, giếng nước, gốc

đa, mái đình… được các nhà Thơ mới đưa vào các thi phẩm của mình một cách gần gũi, nhẹ nhàng, tha thiết:

Hôm qua em đi tỉnh về Đợi em ở mãi con đê đầu làng Khăn nhung quần lính rộn ràng

Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!

(Chân quê - Nguyễn Bính)

Trang 22

Trong Chân quê, Nguyễn Bính - nhà thơ của hương đồng gió nội đã vẽ

lên một bức tranh quê chân thực, gần gũi với tình cảm đắm thắm của những con người Việt Nam

Thơ Nguyễn Bính thì vậy, với nhà thơ Huy Cận thì sao? Huy Cận được coi là một hiện tượng lạ trong phong trào Thơ mới, hình ảnh làng quê hiện lên

trong tập thơ Lửa thiêng vừa mộc mạc, đơn sơ song cũng đầy thi vị

Đường trong làng: hoa dại với mùi rơm…

Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm, Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tương

[…] Một buổi trưa không biết ở thời nào,

Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao,

Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ, […] Cả không gian hồn hậu rất thơm tho;

Gió hương đưa mùi, dìu dịu phất phơ…

(Đi giữa đường thơm)

Mở đầu bài thơ, tác giả đã cho ta cảm nhận được hương vị với mùi thơm của làng quê, hương đồng gió nội Phải là người thực sự yêu quê hương đất nước thì mới cảm nhận được mùi thơm của cỏ cây, rơm rạ Những câu văn trong bài thơ cho ta thấy rõ cảm thức làng ấp iu mang hơi thở ca dao trong thơ ông, với hình ảnh “bóng tre”, “bóng phượng”, “khóm trúc” hay tiếng “cu gáy”,

“bướm vàng” Đi giữa đường thơm, giữa lòng thời đại, nhưng bao trùm không gian, thời gian được tắm trong sự hồn hậu, thơm tho tự thủa nào Đến với thơ Huy Cận dường như ta được trở về với làng quê, với tuổi thơ nhiều mơ mộng

Bao trùm tập thơ Lửa thiêng là nỗi buồn sầu của nhà thơ trước hiện

thực đất nước, bên cạnh đó vẫn còn những vần thơ trong sáng viết về quê hương một cách gần gũi, thân thương Trong 50 bài thơ, có nhiều bài viết về

hình ảnh làng quê với mùi thơm kì lạ với hình ảnh con cò, khóm trúc, thuyền

Trang 23

và bến Tập thơ là tiếng lòng của nhà thơ muốn gửi gắm vào đó những tâm tư

thầm kín, niềm vui, nỗi buồn và tình yêu quê hương sâu sắc

Thơ của ông xuất hiện nhiều hình ảnh con thuyền - bến nước Một vẻ

đẹp cổ điển mà hết sức bình dị thôn quê, vẫn toát lên được hình ảnh vẻ đẹp làng quê, gợi nhớ nét đẹp cội nguồn dân tộc, những nét sinh hoạt cổ xưa

Buồn gieo theo gió ven hồ, Đèo cao quán chặt, bến đò lau thưa

Đồn xa quằn quại bóng cờ, Phất phơ buồn tự thủa xưa thổi về

Ngàn năm sực tỉnh lê thê Trên thành son nhạt - chiều tê cúi đầu…

(Chiều xưa)

Nhịp thơ chậm rãi, diễn tả được mạch sầu thiên cổ thổi về Nét bút chấm phá kiểu thi họa phương Đông của Huy Cận đã dựng lại được một chiều xưa biên ải Có đồn xa, bóng cờ Những lũy thành xưa thật hiu hắt Hai chữ

“sực tỉnh” thực ra là sự gắn nỗi hai khoảng không gian - thời gian xưa và nay

Xưa đang quằn quại, nay quá lê thê Đó là một trong những nét văn hóa dân

tộc ở thơ Huy Cận Thơ ông chịu ảnh hưởng nhiều của thơ ca phương Tây, đặc biệt là thơ ca Pháp, nhưng cội nguồn của nó vẫn là từ làng quê, đất nước Việt Nam

Trong tập Lửa thiêng, tác giả đã nhắc đến rất nhiều hình ảnh gần gũi

với làng quê, xuất hiện nhiều trong ca dao dân ca Hình ảnh “con cò” là một hình ảnh biểu tượng, nếu trong ca dao, khi nhắc đến con cò là người ta thường

nhắc đến thân phận người phụ nữ bất hạnh: Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải

cành mềm lộn cổ xuống ao… Nhưng với thơ Huy Cận lại khác, hình ảnh con

cò được xuất hiện nhiều trong thơ ông, vẫn là một hình ảnh quen thuộc trong

ca dao nhưng ở một không gian mới

Trang 24

Này lúc bên đường bóng đứng trưa, Thuyền em qua thác sóng xô lùa

Sông êm, bãi cát con cò đứng:

Khỏi vực, lòng em hết sợ chưa?

(Em về nhà)

ảnh quen thuộc khi viết về làng quê Việt Nam Chỉ có ở những nơi vùng quê đồng bằng chiêm trũng thì ta mới có thể cảm nhận được từng vẻ đẹp của hình ảnh làng quê thân thương

xuất hiện một hình ảnh độc đáo và lạ Đó là tiếng gà gáy ban trưa, tiếng gà gáy sớm mai Chỉ có ở quê, ta mới nghe thấy tiếng gà gáy như vậy Điều đó chứng tỏ nhà thơ là người rất yêu quê hương, luôn gắn bó với làng quê của mình

Tỉnh dậy lòng ơi, ê chề hãy tỉnh!

Gà gáy mai đem sức lại cho đời

(Vỗ về)

Hay:

Tới ngã ba sông, nước bốn bề

Nửa chiều gà lạ gáy bên đê

xa thấp thoáng sau những hàng tre trúc Hình ảnh hàng tre, khóm trúc là hình

ảnh gần gũi với làng quê, biểu tượng cho sức mạnh, tinh thần đoàn kết của người dân Việt Nam

Trang 25

Như vậy, trong tập Lửa thiêng, bên cạnh những vần thơ ảo não, buồn,

cô đơn, ở đó xuất hiện nhiều hình ảnh làng quê hồn hậu, vui tươi, giản dị mà gần gũi thân thương Đó là những vẻ đẹp văn hóa dân tộc Vẻ đẹp ấy được tác giả khắc sâu trong nhiều bài thơ với những chi tiết gần gũi, thân thuộc gợi lên nỗi nhớ về cội nguồn, những nét sinh hoạt cổ xưa của dân tộc

2.1.2 Cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á Đông

“Buồn” là một trạng tâm lý tình cảm của con người, đối lập với “vui” Nỗi buồn trong thơ Huy Cận cũng không nằm ngoài trạng thái tâm lý đó Nhà thơ buồn vì không gian, vì cảnh vật thiên nhiên, vì đất nước đang gặp hoàn cảnh đặc biệt mà ở đó các thi nhân chưa tìm ra được lối thoát cho riêng mình Thơ mới xuất hiện trong hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc, nó đã phát triển như một hiện tượng lạ Đây là một minh chứng cho sự phát triển của văn hóa dân tộc Vậy hiện tượng ấy được lý giải như thế nào? Phải chăng đó chính là sức sống của một nền văn hóa dân tộc tiềm ần trước đó đã đến lúc phải vươn dậy

để khẳng định mình Đất nước như đang cựa mình, muốn khoác cho mình một chiếc áo mới Sức sống mới về mặt tinh thần, văn hóa dân tộc như đang trỗi dậy Đây chính là quá trình phục hồi và thay đổi những giá trị văn hóa cũ Những giá trị văn hóa mới ra đời trên tất cả các lĩnh vực Trong đó văn học nghệ thuật thực sự bước vào quá trình hiện đại hóa Đó là sự khẳng định sức sống của văn hóa dân tộc Thơ mới cũng không nằm ngoài sự giao thoa văn hóa Đông Tây Thơ mới là kết quả của sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống dân tộc và văn hóa phương Tây

Xuất hiện trong hoàn cảnh như vậy nên Thơ mới đã kết tinh được nhiều giá trị văn hóa truyền thống, tinh hoa văn hóa nhân loại Bên cạnh việc hấp thụ những giá trị văn hóa phương Tây, văn minh phương Đông cũng ăn sâu vào tâm thức Việt Nam, “trong cái gen của họ, văn minh phương Đông đã trở thành máu thịt, từ cha ông truyền lại” (Ngô Văn Phú) dễ hiểu vì sao Thơ

Trang 26

mới đã “đi tới thơ Đường với một tấm lòng trong sạch và mới mẻ” (Hoài Thanh - Hoài Chân) Trước hiện thực đất nước với nhiều đau thương với sự xâm lược của bọn thực dân và đế quốc nên hầu hết các nhà Thơ mới đều mang trong mình một một nỗi buồn sâu sắc, một cảm thức hoài cổ với nỗi buồn của dân tộc

Tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận cũng không nằm ngoài luồng tư

tưởng đó, ra đời trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến cố lớn lao của lịch

sử Theo sự chuyển động của thời đại mưa Âu gió Mỹ, kiểu thi nhân trung đại

đã trở thành những người muôn năm cũ, thay vào đó là một kiểu nhà thơ mới

được trang bị Tây học, ngấm sâu tinh thần thời đại mới bước lên thi đàn Cùng với thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư…, trong thơ Huy Cận cũng chất chứa một nỗi buồn suy tư, tê tái không chỉ nằm ở tầng hữu thức mà đọng sâu vào vô thức, tạo thành ám ảnh không dứt của cả một thời đại: “Thực là chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao đến thế” [19] Hai chữ

xôn xao của Hoài Thanh đã diễn tả được chính xác tâm trạng của thế hệ thi

nhân trong thời đại Thơ mới Buồn đau, chán chường, bởi vậy hầu hết các nhà

Thơ mới đều hoài vọng về quá khứ Có người từng nhận xét thơ Huy Cận là

một khối sầu thiên cổ, một nỗi buồn Á Đông với giọng thơ sầu nào

Nằm trong dòng chảy Thơ mới, hơn nữa là đại diện suất sắc của phong

trào thơ này, thơ của Huy Cận buồn là điều dễ hiểu Trong Tràng giang ông viết Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Không phải chỉ đến Huy Cận thơ

ca Việt Nam mới biết buồn, mà nỗi buồn này được ông tiếp nối từ những cảm xúc buồn, sầu, tê tái chảy từ Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Du rồi đến Tú Xương, Tản Đà… để tạo thành một nỗi buồn thường trực Nhà thơ Hoài Thanh - Hoài Chân đã từng khẳng định: “Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rác rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não” [19]

Đọc 50 bài thơ trong tập Lửa thiêng, ta nhận thấy chữ buồn xuất hiện

tới 49 lần Sự xuất hiện dày đặc các cảm xúc buồn này không hề ngẫu nhiên

Trang 27

mà trên thực tế, làm hiện lên gam ngữ liệu chủ yếu của thơ Huy Cận trước

cách mạng Nỗi buồn ấy xuất phát từ cảm hứng và quan niệm nghệ thuật của

thi nhân Thơ ông là sự hợp lưu của nhiều nỗi buồn: Nhân thế, thời thế và

thân thế Trên thực tế, buồn đau là một nét phổ biến của các nhà thơ lãng

mạng Tuy nhiên, mỗi nhà thơ lại có một kiểu buồn riêng, một giọng điệu

riêng Đối với Huy Cận thời Lửa thiêng, đó là nỗi buồn từ nghìn năm, là cảm

thức hoài cổ với nỗi buồn Á Đông của dân tộc Đi sâu vào thế giới thơ của Huy Cận, ta nhận thấy một nỗi buồn sâu thẳm Nỗi buồn ấy như tụ vào nỗi sầu kim cổ Huy Cận buồn nhưng thế giới thơ ông không có những hình ảnh nước mắt, khóc than thông thường Huy Cận khóc bằng giọng:

Ta đã để hồn tan trong tiếng thở Kêu gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai

(Bi ca)

Đối với Huy Cận không thế, giọng thơ của ông, giọng thơ trầm tĩnh,

điềm đạm hơn nhiều Chất lửa nồng, chất gừng cay và lòng yêu đời “âm âm”,

“mãnh liệt” của Huy Cận được vùi xuống sau cái chất giọng lắng sâu, mang sắc màu suy tưởng Xuân Diệu đã từng nhận xét: “Huy Cận nói hộ cho ta đó; những giọt nước mắt thường đến quanh mi rồi ngừng Huy Cận vì đã vì ta mà rơi xuống má; cái linh hồn ấy bơ vơ không kể hết, kiếp người lang thang, đất trời trôi nổi, lạnh lắm nhân gian ơi” Từ mi “rơi xuống má” đó là một mức độ, một chiều sâu của nỗi buồn Có thể nói Huy Cận là một kẻ buồn nhất của thời đại Thơ mới:

Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển Suốt một đời như núi đứng riêng tây

(Mai sau)

Trong thơ Huy Cận hay nói đến hồn, đến lòng nhưng chủ yếu là hồn

đơn chiếc, hồn góa bụa, lòng đau xé, lòng quạnh hiu… Nỗi buồn của sự li tán,

Trang 28

sự chia xa Nhưng nhà thơ của chúng ta không kêu gào vật vã, cũng không nức nở mà lặng lẽ buồn, một nỗi buồn sầu kín, ngậm ngùi Nhà thơ biết “lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng, lặng lẽ của thế giới bên trong” và luôn “chú ý quan sát dòng ý thức, tâm tình, tình cảm trong tâm não mình” Nỗi buồn của Huy Cận không dừng lại ở sự gặp gỡ giữa “linh hồn trời đất” và

“khối sầu nhân thế” mà còn xuất phát từ những ám ảnh ấu thơ Yếu tố quan trọng nhất trong thơ Huy Cận là điệu buồn đã tựu sẵn trong cõi lòng ông Một

hồn đầu gặp gỡ với đời lạnh đã tạo nên những sợi buồn da diết và sâu lắng

Để hiểu được thơ của Huy Cận ta cần phải hiểu được chiều sâu, chiều xa nỗi

lòng của nhà thơ Hoài Thanh đã từng nhận xét “Cái buồn của Lửa thiêng là cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết đến ngoại cảnh”, nhà

phê bình đã nhận ra được chiều sâu trong giọng thơ ảo não của Huy Cận

Thơ của ông chất chứa một cảm thức hoài cổ với hồn buồn Á Đông, ông

đã cảm nhận thế giới bằng toàn bộ cảm giác và chiều sâu của mình Bởi vậy ông đã diễn tả được những âm vọng tưởng như không thể nào nắm bắt được

Nghe đi rời rạc trong hồn Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…

(Buồn đêm mưa)

Đây không đơn giản là những bước chân, những dặm mòn mỏi của hiện thực ngoài đời mà còn là những chuyển động rời rạc, lẻ loi, cô đơn của một hiện thực khác - hiện thực tâm trạng Chỉ trên cơ sở của sự cộng hưởng đấy ta mới nhận thấy được cái rã rời của những nhịp gõ bên trong tâm hồn của nhà thơ

Hồn buồn trong thơ Huy Cận thời Lửa thiêng thấm sâu cả vào những khoảnh khắc không gian và thời gian vũ trụ Nét độc đáo trong thơ ông buồn

bằng không gian Phong cảnh trong thơ ông được mô tả luôn đẹp, luôn đượm

buồn, hoặc nhẹ nhàng, êm ái, thanh, trong Có khi không có nguyên cớ nhưng ông vẫn buồn

Trang 29

Bỗng dưng buồn bã không gian, Mây bay lũng thấp giăng màn âm u

[…] Non xanh ngây cả buổi chiều,

- Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia

(Thu rừng)

Là người bị tước đoạt thiên đường nên ông nhìn đâu cũng thấy một không

gian bị cắt vụn, bị giới hạn Không gian trong Tràng giang là một không gian

như vậy Ngay trong câu đề từ ta đã cảm nhận được một nỗi buồn sâu sắc trong

thơ ông Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài Không gian thì rộng lớn nhưng

trong tâm tưởng của nhà thơ vẫn chất chữa một nỗi buồn sầu sâu sắc

Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy giòng

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

(Tràng giang)

Cảnh vật dường như bay hết sắc màu để cho âm vọng của những con sóng “buồn điệp điệp” vỗ mãi trong tâm trạng nhà thơ Không gian trong Huy

Cận có đủ ba chiều: sâu chót vót, sông dài, trời rộng, những các chiều không

gian ấy được nhìn bằng một chiều không gian từ cõi lòng của nhà thơ Một nỗi sầu với chiều sâu chăm ngả Bởi thế Huy Cận nhìn đâu cũng thấy buồn

Cả ba lớp không gian: vũ trụ, trần thế, địa ngục đều gặp nhau ở mỗi điểm: Thê

Lương Nói về không gian cũng chính nói về con người Ở khổ thơ thứ 2, nỗi

buồn lại càng thấm thía vào cảnh vật Cặp từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” càng gợi

Trang 30

lên một sự buồn lắng, lạnh vắng Dường như tác giả muốn phủ nhận tất cả

những gì thuộc về con người, chỉ còn cảnh vật đất trời Nắng xuống trời lên

sâu chót vót Đây là những câu thơ có giá trị đặc sắc, không gian được mở

rộng và đẩy cao thêm Từ “sâu” gợi không gian thăm thẳm, hun hút, “chót vót” khắc họa chiều cao vô tận Càng rộng, sâu, cao thì cảnh vật lại cảng thêm vắng lặng Chỉ có sông dài, trời rộng lẻ loi xa vắng Nỗi buồn tựa hồ thấm vào không gian ba chiều, con người ở đây trở nên nhỏ bé trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng và không thể cảm thấy lạc loài giữa mênh mông đất trời xa vắng

Tràng giang chính là một kiệt tác nói về nỗi cô đơn, nỗi buồn của con

người trước vũ trụ Nỗi buồn ở bài thơ này cũng như nỗi buồn phần nhiều của các nhà thơ mới Trước hết đó là nỗi buồn của thế hệ Việt Nam trong những năm ngột ngạt dưới ách thống trị của thực dân Pháp Hơn nữa, nỗi buồn này còn xuất phát từ những quan điểm mĩ học của các nhà thơ Theo họ, cái đẹp đi theo với cái buồn Cái buồn trong bài thơ này cũng là cái buồn trong sáng, góp phần phong phú thêm tâm hồn bạn đọc Thể thơ thích hợp, vận dụng tự nhiên, hiệu quả các từ láy

Hồn buồn trong thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám còn được

nói nhiều đến qua hình ảnh không gian chiều: chiều xế, chiều xa, chiều hiu

hiu, chiều vĩnh biệt, chiều tần thế… Đây là một kiểu chết bằng không gian, nó

phù hợp với “nỗi thê thiết của nhàn đời” Trong Lửa thiêng, Huy Cận nhiều

lần trực tiếp nói đến chết

Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!

Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương Của cuộc đời? Ai trút tự trong xương Tiếng nức nở gửi gió đường quạnh quẽ!

(Nhạc sầu)

Với ông, chết không làm người ta quá kinh hãi, nó là sự khai triển một

ý thức: lạc bước không gian, nó nằm trong sự hờ hững của những cõi lòng

Trang 31

không còn mối tương giao Thứ Nhạc sầu mà nhà thơ cảm thấy không xuất phát từ một hướng cụ thể nào, nó bao trùm cả vũ trụ, thành một nỗi Ê chề:

Linh hồn tôi góa bụa Đơn chiếc giữa đau thương

(Ê chề)

Trong thơ của ông, nỗi “quằn quại” của những kẻ bị Thiên đường rời

bỏ đã hắt vào không gian hiện lên qua sự quằn quại của ngoại cảnh:

Đồn xa quằn quại bóng cờ, Phất phơ buồn tự thủa xưa thổi về

Ngàn năm sực tỉnh lê thê Trên thành son nhạt - chiều tê cúi đầu…

(Chiều xưa)

Với nhịp thơ chậm dãi diễn tả được mạch sầu thiên cổ thổi về Nét bút chấm phá kiểu thi họa phương Đông của Huy Cận đã dựng lại được một chiều xưa biên ải Có đồn xa, có bóng cờ Những lũy thành xưa thật hiu hắt Hai chữ

“quằn quại” vừa tượng hình, vừa nỗi được nỗi niềm Hai chữ “sực tỉnh” thực

ra là sự gắn nối hai khoảng không gian - thời gian xưa và nay

Trong cái không gian bị chia cắt não nề ấy, tình yêu trong thơ Huy Cận cũng đầy giọng buồn, nhiều khi ảo não Hoàng Thiệu Khang đã từng nhận xét về tình yêu trong thở Huy Cận: “Tình yêu cũng được chuyển hóa thành một không gian thẩm mĩ Đó là không gian mang chất đẹp buồn… Huy Cận đã lấy hòa âm nơi không gian làm nhạc đệm cho bản ca khúc tình

Trang 32

trước cuộc đời, nẻo về của họ chỉ có thể tìm về quá khứ, những ngày mới quãng vắng còn xót lại

Đêm mơ lay lắt ánh trăng tàn Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn

(Chiều xưa)

Những khúc ca Ngậm ngùi của Huy Cận mang chất giọng Đường thi rõ

nét Việc nhìn thời gian theo kiểu “ở thời này cũng như thời xưa”, “không ở trong thời gian mà chỉ ở trong không gian” đã khiến cho nhịp thơ của Huy Cận trở nên “chậm dãi”, tuần hoàn nhưng “ảo não” và tê lạnh:

Hỡi mây trắng, hỡi nước buồn, gió cũ!

Sao chiều nay ảo não vị sơ xưa!

Lòng ta nữa cũng trở về một chỗ Trong nỗi đau thương vương tự bao giờ

(Bi ca)

Tìm hiểu giọng điệu ngậm ngùi của Huy Cận, thực ra đó là để hiểu hơn những chuyển động tinh tế trong dòng cảm xúc nhân thế của nhà thơ Nhà thơ nhận thấy những ảo ảnh, phù du của cõi nhân sinh Chỉ có nỗi buồn là có thật,

là hiện hữu Thơ Huy Cận vừa có cái man mác của Đường thi, vừa có cái

“bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, cái “nao nao” của lòng người những năm ba mươi

Đi rồi khuất ngựa sau non;

Nhỏ thưa tràng đạc tiếng còn tịch liêu…

Trơ vơ buồn lọt quán chiều, Mái nghiêng nghiêng gửi buồn heo hút người

(Đẹp xưa)

Sinh thể nghệ thuật thơ mới sau 1936, dù đã được cườm vào yêu tố tượng trưng và siêu thực, nhưng về bản chất thì vẫn nằm trong từ trường lãng

Ngày đăng: 08/10/2015, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w